Đối tượng nghiên cứu Những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi Cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, bao gồm: côn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
PHẠM VĂN HÙNG
QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC
THUẾ HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ HỮU ẢNH
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Phạm Văn Hùng
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Hữu Ảnh, Trưởng khoa Kế toán & QTKD, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, chỉ bảo tận tình
để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình
Trong quá trình thu thập thông tin, tôi còn được Ban lãnh đạo và cán bộ công chức của Chi cục Thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tạo điều kiện cũng như giúp đỡ nhiệt tình Vì vậy, tôi rất mong được gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp của tôi
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, luận văn nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Văn Hùng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang 62.4 Cơ sở thực tiễn 24
2.4.2 Bài học rút ra trong công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với Chi
3.2.4 Tình hình thu thuế ở Chi cục thuế huyện Kinh Môn giai đoạn 2012 -
4.1 Thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp
4.1.6 Tổng hợp ý kiến của doanh nghiệp điều tra về quản lý thuế giá trị gia
4.2 Đánh giá chung về công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại chi cục
Trang 74.2.1 Những kết quả đạt được 65
4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh
4.3.1 Phương hướng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh
4.3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý quản lý thuế giá trị gia tăng tại
Trang 8GTGT Giá trị gia tăng
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 94.5 Tổng hợp doanh thu kê khai thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp
4.6 Tình hình và kết quả ấn định doanh thu, điều chỉnh doanh thu tính
4.7 Tình hình khai thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp ngoài quốc
4.8 Tình hình nợ đọng thuế giá trị gia tăng của khu vực kinh tế ngoài quốc
4.9 Các hình thức cưỡng chế thuế đã thực hiện, kết quả thu nợ thuế qua
4.10 Tình hình quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh tế
4.12 Ý kiến của doanh nghiệp về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại
4.13 Tổng hợp đánh giá của doanh nghiệp về chính sách thuế và tình hình
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thời cũng
là một công cụ chính sách để Nhà nước thực hiện việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội, đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững và công bằng xã hội Do vậy, việc xây dựng, ban hành một hệ thống thuế tối ưu cùng với việc thực thi hiệu quả hệ thống thuế đó có vai trò to lớn, quyết định đến việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước thông qua thuế như đảm bảo chi tiêu công, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống thuế được quy định thành nhiều sắc thuế, trong
đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một trong những sắc thuế đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo nguồn thu cho NSNN Thuế GTGT có phạm vi áp dụng rộng, cơ
sở đánh thuế ổn định nên khả năng mang lại nguồn thu lớn, ổn định của thuế GTGT cho NSNN là rất lớn Chính vì vậy, để ổn định nguồn thu, đảm bảo sự ổn định và phát triển đất nước, công tác quản lý thu thuế GTGT ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay cần phải được tăng cường nhiều hơn nữa
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) ở nước ta là bộ phận có số lượng chủ thể kinh doanh, lực lượng lao động tham gia lớn nhất, có xu hướng tăng nhanh qua các năm và có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế -xã hội cũng như nguồn thu cho NSNN Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có ý thức chấp hành pháp luật nói chung, pháp luật thuế nói riêng còn hạn chế nên công tác quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực này còn rất nhiều khó khăn mặc dù công tác quản lý thuế thường xuyên được cải tiến, đổi mới
Thời gian qua, trước sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của khu vực kinh tế NQD trên địa bàn huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, công tác quản lý thu thuế GTGT của cơ quan thuế huyện Kinh Môn với khu vực kinh tế NQD đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao ý thức chấp hành của người nộp thuế, hạn chế thất thu NSNN Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số bất cập như: quản lý người nộp thuế chưa đầy đủ, chưa sát, chưa đúng; việc thực hiện hóa đơn, chứng từ,
Trang 12quản lý các căn cứ tính thuế, kê khai thuế chưa đúng với thực tế kinh doanh; tình trạng dây dưa nợ đọng còn nhiều và chưa đáp ứng được một cách đầy đủ các mục tiêu, yêu cầu trong quản lý thuế GTGT Thực tế đó cho thấy, việc đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế NQD tại huyện Kinh Môn cũng nằm trong thực trạng chung đó Do đó, công tác quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế NQD là vấn đề hết sức cấp thiết nên đề tài
“Qu ản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương” được lựa chọn nghiên cứu nhằm giải
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi Cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, bao gồm: công tác quản lý đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế GTGT, quản lý
kê khai, nộp thuế GTGT, công tác hoàn thuế GTGT và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế GTGT
Trang 131.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD tại Chi cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương do Chi cục thuế huyện Kinh Môn quản lý thu
- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Chi cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện dựa vào thu thập tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014 và giải pháp đến năm 2020
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của thuế giá trị gia tăng
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT tiếng anh là Value Added Tax (VAT), tiếng pháp là Taxe sur la Value Ajoutee (TVA) là loại thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng Thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều quốc gia, đến nay đã có trên trăm nước áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nước Châu Phi, Châu Mỹ la tinh, các nước trong khối cộng đồng châu Âu (EC) và một số nước Châu Á (Trương Quang Hùng, 2006)
Sự phổ biến của việc áp dụng thuế GTGT trên thế giới là nhờ vào tính ưu việt của loại thuế này và việc vận dụng vào Việt Nam là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10 đã nêu ra một số hướng xây dựng một hình thức GTGT phù hợp với đặc điểm của Việt Nam và thông lệ quốc
tế Thuế GTGT ra đời ở Việt Nam là nhằm thay thuế doanh thu vốn đã phổ biến song trong điều kiện mới của đất nước ta lại bộc quá nhiều nhược điểm Đây là một sắc thuế rất mới đối với nước ta nên sự hiểu biết trong nhân dân còn rất nhiều hạn chế dẫn tới nhận khác nhau về bản chất của thuế GTGT
Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung thuế doanh thu vẫn còn nhược điểm nổi bật là: thuế thu chồng chéo, trùng lặp đến năm 1954 Chính phủ Pháp đã ban hành loại thuế mới với tên gọi là thuế GTGT Quá trình thống nhất Châu Âu những năm 1950 đã có tác dụng thuận lợi để VAT được triển khai nhanh chóng ở các nước khác Việt Nam chính thức áp dụng thuế GTGT từ năm 1999
2.1.2 Khái niệm về thuế giá trị gia tăng
Thuế là khoản thu nhập được chuyển giao bắt buộc từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội cho Nhà nước với mức độ và thời hạn do pháp Luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Trang 15Thuế GTGT là sắc thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh qua các giai đoạn luận chuyển từ sản xuất, kinh doanh đến tiêu dùng
GTGT là khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ Phần giá trị tăng thêm ở mỗi giai đoạn bao gồm: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức cổ phần, tiền lãi vay ngân hàng phải trả và các khoản chi phí phát sinh Nói cách khác, GTGT là phần chênh lệch giữa giá đầu ra với giá đầu vào do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình thực hiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (Hoàng Đình Cơ, 2011)
2.1.3 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thông qua hành vi mua hàng hoá, dịch vụ đó (vì vậy thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng), là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT
- Thuế GTGT là loại thuế gián thu nên nó cũng mang tính chất luỹ thoái, do đó
nó không đảm bảo được sự công bằng giữa những người nộp thuế Tính chất luỹ thoái so với thu nhập được thể hiện ở chỗ: Người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ Như vậy khi so sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn so với người có thu nhập thấp (Hoàng Đình Cơ, 2011)
- Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh:
+ Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của
người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ
Trang 16+ Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia
quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít
2.1.4 Vai trò của thuế giá trị gia tăng
- Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của nền kinh tế (điều tiết gián tiếp) thông qua điều tiết phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được đưa ra tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, qua đó điều tiết sản xuất, tiêu dùng, trên cơ sở
đó điều tiết nền kinh tế
- Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN Do đối tượng điều chỉnh của thuế GTGT là vô cùng rộng, chỉ có một số ít đối tượng không thuộc diện chịu thuế đó là: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi của nông dân tự sản xuất, tự bán ra, sản phẩm muối, các dịch vụ không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận, các dịch vụ công cộng, dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, thông tin đại chúng… cho nên thuế GTGT tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN
Ở các nước trên thế giới, số thu từ thuế GTGT trong tổng số thu từ thuế chiếm
tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu ngân sách Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 20-23% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí
- Thuế GTGT không trùng lắp nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian tới
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế
- Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng từ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy doanh nghiệp hạch toán đầy đủ doanh số chưa có thuế, thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào và thực hiện tốt chế độ hoá đơn chứng từ, hạch toán kế toán
Trang 17Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế” Thuế GTGT đã đem lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia áp dụng nó thông qua việc khuyến khích sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thu thế giá trị gia tăng
2.1.5.1 Hệ thống pháp luật về quản lý thuế và thuế giá trị gia tăng
Theo Phạm Đình Thi (2008) Pháp luật về quản lý thuế và thuế GTGT đóng vai trò quyết định đến việc triển khai thực hiện công tác quản lý thu thuế GTGT bởi đây chính là hành lang pháp lý để triển khai thực hiện các công tác quản lý thuế được chuẩn mực, thống nhất trên phạm vi cả nước
Để thuế GTGT phát huy được hiệu quả tích cực khi triển khai áp dụng đòi hỏi các quy định trong pháp luật thuế GTGT phải chặt chẽ, đơn giản, rõ ràng khi áp dụng, tránh việc quy định không rõ ràng, có tính chung chung dẫn đến hiểu sai hoặc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau khi thực hiện Đồng thời, thuế GTGT là sắc thuế
có phạm vi rất rộng, liên quan đến hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế - xã hội nên các quy định về quản lý thuế GTGT phải rõ ràng để cơ quan thuế có thể thực hiện tốt công tác quản lý, đồng thời người nộp thuế có thể tuân thủ được đầy đủ, kịp thời nhất pháp luật thuế GTGT Theo quy định của Luật quản lý thuế (2006) và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật quản lý thuế (2012) thì Việt Nam áp dụng cơ chế quản lý thuế là người
nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai Đây được coi là cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, dựa trên ý thức tuân thủ tự giác của người nộp thuế Đồng thời, cơ quan quản lý thuế cũng tăng cường các biện pháp theo dõi giám sát, kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế, tránh gây thất thu cho NSNN
Về thuế GTGT, từ năm 2009 đến hết năm 2013, thuế GTGT được thực hiện theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 Bắt đầu từ 01/01/2014, Luật sửa đổi, bổ sung số 31/2013/QH13 ngày 19/06/2013 có hiệu lực thi hành, trong đó có một số điểm thay đổi về phương pháp tính thuế GTGT
Trang 18Luật thuế GTGT quy định đối tượng chịu thuế giá trị GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài) và có loại trừ 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ được quy định chi tiết tại Điều 4, Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013
Thuế GTGT được tính dựa trên hai căn cứ đó là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh trong nước được xác định theo nguyên tắc chung là giá chưa có thuế GTGT (đã có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường nếu hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu các sắc thuế này) và được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành Thuế suất thuế GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại Hiện hành các mức thuế suất GTGT bao gồm: 0%, 5%, 10% Thuế GTGT được xác định theo hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp Pháp luật về thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam cũng quy định các trường hợp được hoàn thuế GTGT
2.1.5.2 Ý thức và hành vi của người nộp thuế giá trị gia tăng
Người nộp thuế là các chủ thể chính thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước Một khi người nộp thuế thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ thuế của mình, kê khai đúng số thuế phải nộp, nộp thuế đúng thời hạn quy định thì hoạt động quản lý thu thuế của cơ quan thuế sẽ được tiến hành thuận lợi, đảm bảo hiệu quả cao Ngược lại, khi người nộp thuế không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc có sự gian lận trong kê khai để giảm số thuế phải nộp thì hoạt động quản lý thuế của cơ quan thuế sẽ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi cần phải có sự cố gắng trong nội bộ ngành thuế và cả sự hỗ trợ, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành khác để có thể quản lý được việc thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật (Đỗ Ngọc Huỳnh, 2006)
Do đó, ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phạm vi và nội dung hoạt động trong công tác quản lý thuế của
cơ quan thuế
Trang 192.1.5.3 Năng lực hoạt động của cơ quan thuế và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan
Thực tế cho thấy, năng lực hoạt động của cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế trước hết phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ thuế
Với tính chất nghề nghiệp phải luôn tuân thủ theo các quy định của Nhà nước
về thuế nên đòi hỏi các cán bộ thuế phải nắm chắc, nắm vững các quy định về thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng Chỉ khi nắm chắc, nắm vững thì mới có thể thực hiện tốt được công tác quản lý thuế và có thể hướng dẫn, hỗ trợ dân khi dân có yêu cầu Nếu khi tiến hành thanh tra, kiểm tra hoặc tiến hành hỗ trợ cho người nộp thuế
là người nước ngoài mà các cán bộ thuế không biết ngoại ngữ thì không thể thực hiện được công việc của mình Ngoài ra, thái độ làm việc của các cán bộ thuế cũng
là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Do
đó, có thể nói trình độ, năng lực và thái độ làm việc của các cán bộ thuế có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc cũng như hiệu quả của công tác quản lý thuế (Nguyễn Thị Huệ, 2012)
Bên cạnh vấn đề chất lượng cán bộ thuế thì số lượng cán bộ thuế cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý thu thuế Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế như thế nào là hợp lý để vừa đảm bảo thực hiện được các chức năng quản lý thu thuế vừa đảm bảo xây dựng một bộ máy quản lý nhà nước không mang tính cồng kềnh, được tinh giản đến mức hợp lý là vấn đề rất quan trọng
Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan cũng là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động quản lý thu thuế GTGT Do thuế là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội, hay nói cách khác, thuế là một phạm trù kinh tế - chính trị tổng hợp nên thực hiện hoạt động quản lý thuế không phải là công việc đơn phương của ngành thuế mà cần có sự phối hợp với các tổ chức chính trị, các đoàn thể và cơ quan có liên quan của hệ thống chính trị để triển khai đồng bộ việc thi hành chính sách thuế với các chính sách khác về quản lý kinh
tế - xã hội trên địa bàn
Trang 202.2 Đặc điểm, vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Kinh tế ngoài quốc doanh là loại hình kinh tế khá phong phú, bao gồm mọi loại hình kinh doanh cá thể, tổ hợp, hợp tác xã, công ty TNHH, công ty Cổ phần, DNTN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Với lĩnh vực tham gia rộng rãi như vậy, kinh tế ngoài quốc doanh đã tạo một phần không nhỏ GDP, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước, thu hút lao động xã hội, tận dụng, khai thác tiềm năng của đất nước Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định đường lối phát triển kinh tế theo hướng:
"kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN" Sự khẳng định này khiến cho kinh tế quốc doanh không còn vị trí độc tôn như trước nữa, thay vào đó là chủ sở hữu tư nhân được thừa nhận, kinh tế ngoài quốc doanh được tồn tại và phát triển bình đẳng với kinh
tế Nhà nước (Đào Thị Phúc, 2012)
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các đơn vị kinh doanh có tính chất tư hữu (không kể các đơn vị đầu tư nước ngoài) Xét về loại hình doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã (HTX)
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển kinh tế nước ta bằng con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi sự khác nhau của các thành phần kinh tế Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia ngày càng tích cực vào thị trường, làm tăng sự sôi động trong nền kinh tế
2.2.1 Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay
Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chính sách kinh tế mở đã tạo cơ hội cho kinh tế ngoài quốc doanh phát huy hết khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều co quyền bình đẳng, chính điều này đã tạo nên sức mạnh và những thế mạnh riêng cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nước ta có những đặc điểm sau:
Trang 212.2.1.1 Chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dễ thích ứng
Người quản lý thường là chủ sở hữu hoặc là người có vốn lớn nhất nên họ được quyền đưa ra các quyết định Cũng do quy mô hoạt động nhỏ nên họ được tự do hành động, họ có khả năng tự quyết, nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường Việc thâm nhập vào thị trường hàng hóa trong giai đoạn này, sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành công và khi sản phẩm bị thị trường từ chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn mặt hàng kinh doanh khác trong phạm vi được phép sao cho
có lợi nhất phù hợp với khả năng của mình Vi vậy đây là một thế mạnh để doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia thị trường với các doanh nghiệp Nhà nước (Đào Thị Phúc, 2012)
2.2.1.2 Cơ cấu quản lý linh hoạt
Các doanh nghiệp ngoai quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu tổ chức đơn giản Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm nhận công việc theo kiểu đa năng Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm nhận vai trò quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên) vừa phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư) Mặt khác, vốn của thành phần kinh tế này là do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng góp, do các cổ đông đóng góp hay do liên doanh liên kết bằng tiền hoặc tài sản Vì thế họ có toàn quyền quyết định ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng, trình độ nhu cầu của thị trường đối với loại hàng hóa mà họ sẽ kinh doanh Mặc dù quy mô hoạt động khá bé nhỏ, song đó lại là một lợi thế cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (Đào Thị Phúc, 2012)
2.2.1.3 Chi phí gián tiếp thấp
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một người chủ và số nhân viên làm việc không thường xuyên, giúp cho chi phí thấp Chi phí gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng Chủ doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự thành bại của doanh nghiệp Cũng chính vì vậy, họ đòi hỏi nhân viên lam việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở các doanh nghiệp quốc doanh Do vậy khối luợng vốn để
Trang 22hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ không lớn, hiệu quả và sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh (Đào Thị Phúc, 2012)
Tuy nhiên, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng có không ít những hạn chế của nó
- Khả năng tài chính còn nhỏ bé: Trong giai đoạn đầu, phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều gặp phải vấn đề thiếu vốn Các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp ngoai quốc doanh này vì họ chưa có quá trình kinh doanh, chưa có uy tín và chưa thể tạo lập được khả năng trả nợ Do vậy, cac doanh nghiệp ngoài quốc doanh phần lớn dựa vào nguồn vốn chính từ bạn bè, thu hút vốn qua hinh thức mua bán chịu Việc mở rộng doanh nghiệp luôn bị hạn hẹp về nguồn vốn
- Trình độ công nghệ sản xuất còn ở mức thấp: Trình độ công nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Hiện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có công nghệ hiện đại không nhiều, chỉ có một số công ty liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài được trang bị máy móc và dây truyền tiên tiến, còn lại sử dụng các công cụ thủ công, thiếu đồng bộ
- Môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ, không tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung và nền kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, phát triển (Đào Thị Phúc, 2012)
2.2.2 Vai trò của kinh tế ngoai quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta
Trong cơ chế mới, khu vực kinh tế ngoai quốc doanh đã được phục hồi dần, tạo điều kiện cho cac thành phần kinh tế có khả năng cạnh tranh bình đẳng trên thị trường Với tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo, kinh tế ngoài quốc doanh đã sớm thích nghi với những biến đổi thường xuyên của thị trường, đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế
và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu được của mình trong nền kinh tế (Đào Thị Phúc, 2012)
Thứ nhất, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao động, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội
Trang 23Như chúng ta đã biết, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với quy mô vốn đầu tư không nhiều có thể dễ dàng thành lập bởi một số cá nhân, gia đình hay một số tổ chức, cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương ứng nhiều lao động vì đây là nơi cung cấp việc nhanh nhất, giúp tạo việc làm với số vốn thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp có quy mô lớn
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động được giải quyết việc làm bằng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, đã có khá nhiều lao động có thêm việc làm do các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào kinh doanh Hàng năm có khoảng một triệu lao động có việc làm được tạo ra chủ yếu nhờ khu vực kinh tế này
Thứ hai, kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh lanh mạnh, là động lực
phát triển của nền kinh tế
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều
do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận Sự phát triển của kinh tế ngoai quốc doanh
đã tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp này phải đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Như vậy, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị trí của chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh nghiệp Nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh
Thứ ba, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách
Nhà nước
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu ngân sách Nhà nước
Do vậy, để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất là không ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển là phần đóng góp to lớn cho ngân sách Nhà nước (khoảng 30%) thông qua thuế và các khoản khác Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò điều hòa thu nhập cũng như đóng góp vào ngân sách Nhà nước
Thứ tư, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp cho nền kinh tế một khối
lượng hàng hóa lớn, dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 24Bằng việc sản xuất hàng hóa, khu vực kinh tế ngoai quốc doanh đã góp phần to lớn vào việc tạo ra sự phong phu về chủng loại hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước cải thiện nâng cao đời sống nhân dân Do đo, cơ hội lựa chọn hàng hóa và dịch vụ của người dân tăng lên và cac doanh nghiệp phải ra sức cạnh tranh để
có thể tiêu thụ sản phẩm của mình nhanh nhất Để thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phi để từ đó giảm giá thành
Thứ năm, kinh tế ngoài quốc doanh là thị trường để ngân hàng huy động vốn,
góp phần ổn định lưu thông tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và cá thể Kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lượng Các nhà sản xuất đều mở tài khoản tiền gửi tại hệ thống ngân hàng thương mại Đây có thể coi là nguồn vốn rẻ và dồi dào cho việc huy động vốn của ngân hàng thương mại nếu họ biết tổ chức tốt công tác thanh toán, tạo ra nhiều dịch vụ hơn và thay đổi phong cách làm việc với khách hàng
2.3 Quản lý thu thuế giá trị gia tăng của cơ quan thuế
2.3.1 Mục tiêu, nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng
2.3.1.1 Mục tiêu quản lý thu thuế giá trị gia tăng
Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện những quy định trong Luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào NSNN theo luật định Quản lý thuế nói chung, quản lý thu thuế GTGT nói riêng có những đặc điểm chính sau:
- Chủ thể thực thi các giải pháp thu thuế là các cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương Cơ quan thuế là cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm chính trong việc tổ chức quản lý thu thuế Tuy nhiên, để công tác quản lý thu thuế đạt hiệu quả cao, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và các cơ quan, ban ngành chức năng có liên quan
- Đối tượng chịu sự quản lý là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân
có các hoạt động kinh tế thuộc diện điều chỉnh của Luật quản lý thuế và các Luật thuế Trong đó, trách nhiệm chính của các đối tượng này là hiểu và tuân thủ đầy đủ
Trang 25các quy định của pháp luật thuế về đăng ký, kê khai, xác định nghĩa vụ thuế và nộp thuế vào NSNN
- Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức, cá nhân trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý (người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN Đồng thời, phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn thể hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Bên cạnh các mệnh lệnh hành chính đó, trong quản lý thuế còn có các phương pháp về tuyên truyền, hỗ trợ, khuyến khích lợi ích vật chất, tinh thần để đạt được hiệu quả mong muốn (Nguyễn Thị Huệ, 2012)
Thuế GTGT là một sắc thuế rất quan trọng trong hệ thống thuế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Công tác quản lý thu thuế GTGT phải hướng tới đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các Luật thuế, trong đó có Luật thuế
GTGT, đảm bảo việc tuân thủ đầy đủ của người nộp thuế trong việc nộp đúng, nộp
đủ và nộp thuế kịp thời tiền thuế vào NSNN
Hai là, đề cao ý thức tự giác chấp hành chính sách, pháp luật về thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế; xoá bỏ những thủ tục không cần thiết gây phiền hà và tốn kém cho người nộp thuế
Ba là, cải tiến thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ ràng, chuẩn hoá dần công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế, nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế
2.3.1.2 Nguyên tắc quản lý thu thuế giá trị gia tăng
Quản lý thuế nói chung, quản lý thu thuế GTGT nói riêng phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau đây:
Trang 26a Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Nguyên tắc này chi phối hoạt động của các bên trong quan hệ quản lý thuế bao gồm cả cơ quan Nhà nước và người nộp thuế Nội dung của nguyên tắc này là quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đều do pháp luật quy định Trong quan hệ quản lý, các bên liên quan có thể được lựa chọn những hoạt động nhất định nhưng phải trong phạm vi quy định của pháp luật về quản lý thuế
b Nguyên tắc tập trung, dân chủ
Nguyên tắc tập trung, dân chủ quy định trước hết là sự lãnh đạo tập trung đối với những vấn đề cơ bản chính yếu nhất, bản chất nhất trong quản lý thuế Sự tập trung đó đảm bảo khả năng thực hiện các quyết định của cơ quan cấp trên cũng như đảm bảo tính sáng tạo, chủ động của các cơ quan cấp dưới trong quá trình thực hiện các nội dung quản lý thuế
c Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Giống như mọi hoạt động quản lý khác, hoạt động quản lý thuế phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả Các hoạt động quản lý thuế được thực hiện, các phương pháp quản lý được lựa chọn phải đảm bảo số thu vào NSNN là lớn nhất theo đúng Luật thuế Đồng thời, chi phí quản lý thuế là tiết kiệm nhất Ví dụ như sự lựa chọn quy trình, thủ tục về thuế rõ ràng, đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn nhất định và trình độ của người nộp thuế sẽ hứa hẹn mang lại nguồn thu cao hơn do tiết kiệm được chi phí vận hành bộ máy thu thuế và chi phí của người nộp thuế so với việc áp dụng một quy trình, thủ tục phức tạp hơn
d Nguyên tắc công khai, minh bạch
Công khai minh bạch là một trong những nguyên tắc quan trọng của quản lý thuế Nguyên tắc công khai đòi hỏi mọi quy định về quản lý thuế, bao gồm pháp luật thuế và các quy trình, thủ tục thu nộp thuế phải công bố công khai cho người nộp thuế (NNT) và tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan được biết Nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về quản lý thuế phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và
Trang 27diễn đạt sao cho chỉ có thể hiểu theo một cách nhất quán, không hiểu theo nhiều cách khác nhau Nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi không quy định những ngoại lệ trong thực thi pháp Luật thuế, theo đó, cơ quan thuế hoặc công chức thuế được quyết định
áp dụng những ngoại lệ cho những NNT khác nhau Thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch là để hoạt động quản lý thuế của Nhà nước được mọi công dân giám sát, là môi trường tốt để phòng chống tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu; qua đó, thúc đẩy hoạt động quản lý thuế đúng Luật, trong sạch và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
e Nguyên tắc tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế cho mỗi nước Đồng thời, quá trình hội nhập cũng đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những thay đổi quy định về quản lý, cũng như các chuẩn mực quản lý phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế Việc thực hiện các cam kết và thông lệ quốc tế về thuế tạo điều kiện cho hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước hội nhập với hệ thống quản lý thuế thế giới Tuân thủ thông lệ quốc tế cũng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
2.3.2 Nội dung của công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng
Theo quy định của Luật Quản lý thuế (2006) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế (2012) thì đối với hoạt động quản lý thu thuế GTGT, cơ quan thuế thực hiện quản lý các nội dung sau:
2.3.2.1 Quản lý người nộp thuế
Quản lý người nộp thuế (NNT) là một nội dung quản lý rất quan trọng nhằm đưa các cơ sở sản xuất, kinh doanh vào diện quản lý của cơ quan thuế Thực hiện quản lý tốt nội dung này vừa góp phần tránh được thất thu thuế do không bao quát hết số đối tượng nộp thuế, đồng thời đảm bảo sự đóng góp công bằng giữa các cơ sở kinh doanh
Trong điều kiện hiện nay, nhiều cơ sở kinh doanh mới được thành lập, lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngày một đa dạng, do đó công tác quản lý người nộp thuế
Trang 28cần được chú trọng và tăng cường trên tất cả các phương diện như quản lý việc đăng ký thuế của người nộp thuế; quản lý về số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh; quy mô, ngành nghề, địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh; phương pháp nộp thuế GTGT
Để quản lý tốt người nộp thuế GTGT, trước hết, cần có sự cố gắng nỗ lực của
cơ quan quản lý thu thuế Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế để có thể nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh từ đó có biện pháp quản lý thích hợp, phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật của các cơ sở kinh doanh (Hoàng Đình Cơ, 2011)
Các nội dung chính của công tác quản lý người nộp thuế GTGT bao gồm:
- Quản lý đăng ký thuế: Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai với cơ
quan thuế các thông tin định danh của mình (đây là các thông tin cơ bản để phân biệt người nộp thuế này với những người nộp thuế khác) Với cá nhân thì đó là các thông tin về họ tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ Với tổ chức kinh doanh thì đó là các thông tin về tên tổ chức, trụ sở chính, địa chỉ các cơ sở sản xuất và cửa hàng, vốn kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, người đại diện theo pháp luật
Đối tượng đăng ký thuế phải đăng ký thuế trong thời hạn mười ngày làm việc,
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập
và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư; hoặc bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với tổ chức không thuộc diện đăng ký kinh doanh hoặc hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay; hoặc phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân; hoặc phát sinh yêu cầu được hoàn thuế (Hoàng Đình Cơ, 2011)
- Quản lý số lượng người nộp thuế: thông qua quá trình quản lý đăng ký kinh
doanh, đăng ký nộp thuế nói chung và tình hình sản xuất kinh doanh trên thực tế của các chủ thể nói riêng, cơ quan quản lý thuế phải xác định được những chủ thể nào phải có nghĩa vụ khai, nộp thuế GTGT; nhanh chóng đưa các chủ thể này vào diện quản lý thuế GTGT và có sự quan tâm, theo dõi sát sao trong việc thực hiện
Trang 29nghĩa vụ thuế của các chủ thể này nói chung, nghĩa vụ thuế GTGT nói riêng Việc quản lý số lượng người nộp thuế GTGT không chỉ dừng lại về mặt số lượng đơn thuần mà còn quản lý về quy mô hoạt động sản xuất, kinh doanh; loại hình, địa bàn hoạt động làm cơ sở quan trọng trong việc quản lý thu thuế GTGT đối với các chủ thể này (Hoàng Đình Cơ, 2011)
- Quản lý các hoạt động liên quan đến nghĩa vụ thuế GTGT của các chủ thể nộp thuế: hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT là các hoạt động liên quan đến nghĩa vụ thuế GTGT của các chủ thể này Do
đó, trong công tác quản lý người nộp thuế, đòi hỏi cơ quan quản lý thuế phải theo dõi sát sao, nắm bắt được các hoạt động này của người nộp thuế Mặc dù trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, việc kê khai do người nộp thuế tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn nhưng cơ quan thuế cần có được những thông tin và nắm bắt được những tình hình thực tế để có thể kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý các sai sót, gian lận của người nộp thuế gây ra trong quá trình tuân thủ pháp luật thuế
- Quản lý quá trình tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế: đây là nội
dung rất quan trọng trong công tác quản lý người nộp thuế Quản lý quá trình tuân thủ pháp luật thuế của họ là quản lý, nắm bắt được thực tế tình hình chấp hành pháp Luật thuế về đăng ký, kê khai thuế, nộp thuế và tuân thủ các thủ tục hành chính thuế của họ Một mặt, công tác này sẽ giúp cơ quan thuế phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các sai sót, gian lận; mặt khác, thông qua các thông tin nắm bắt được về người nộp thuế, cơ quan thuế sẽ xây dựng được các giải pháp cụ thể thích ứng với thực trạng tuân thủ thuế của người nộp thuế, nâng cao được hiệu quả của công tác quản lý thuế (Hoàng Đình Cơ, 2011)
- Xây dựng và quản lý thông tin người nộp thuế: Tất cả các thông tin về người
nộp thuế nêu trên phải được cơ quan thuế tổng hợp, lưu trữ và quản lý đầy đủ, phục
vụ cho công tác quản lý thuế nói chung, quản lý thu thuế GTGT nói riêng Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin người nộp thuế thống nhất
từ Trung ương đến địa phương; đảm bảo cơ sở dữ liệu tập trung về Trung ương; xây dựng chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, định kỳ giữa cơ quan quản lý thuế các cấp
Trang 302.3.2.2 Xác định căn cứ tính thuế và khai thuế giá trị gia tăng
Căn cứ tính thuế luôn là vấn đề phức tạp, nan giải Vì đứng trên lợi ích của doanh nghiệp thì căn cứ tính thuế sẽ quyết định số thuế phải nộp là nhiều hay ít, do
đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của họ Còn ở góc độ quản lý, căn cứ tính thuế là căn cứ quan trọng để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời vào NSNN Hiện nay, thực hiện cơ chế “Tự kê khai, tự tính, tự nộp” nên công tác quản lý căn cứ tính thuế càng trở nên quan trọng, nếu không kiểm soát, nắm bắt được tình hình thì sẽ là
lỗ hổng để người nộp thuế luồn lách, gian lận thuế Tuy nhiên, trong cơ chế này, cơ quan quản lý thuế không trực tiếp quản lý các căn cứ tính thuế này của người nộp thuế tại các khâu kinh doanh của họ mà thông qua nội dung quản lý, kiểm tra việc khai thuế, tính thuế và tuân thủ các quy định trong pháp luật thuế của họ (Nguyễn Thị Huệ, 2012)
Theo quy định hiện nay, việc khai thuế GTGT do người nộp thuế tự thực hiện
và nộp cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp theo các thời hạn đã được quy định trong Luật quản lý thuế Việc quản lý khai thuế GTGT của cơ quan quản lý thuế ngoài việc đảm bảo người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế đầy đủ, đúng thời hạn còn phải đảm bảo chất lượng hồ sơ khai thuế phải đảm bảo chính xác Điều này thể hiện ở việc tính toán, xác định các căn cứ tính thuế GTGT của người nộp thuế trên hồ sơ khai thuế GTGT
Các căn cứ tính thuế GTGT mà cơ quan thuế cần kiểm tra, xem xét trên hồ sơ khai thuế GTGT của người nộp thuế bao gồm:
- Xác định giá tính thuế GTGT: Cơ quan thuế tổ chức quản lý theo dõi doanh nghiệp xác định giá tính thuế có đúng thực tế không, có thực hiện đúng luật thuế GTGT không
- Xác định mức thuế suất thuế GTGT: người nộp thuế GTGT thực hiện việc sản xuất, kinh doanh tất cả các lĩnh vực, mặt hàng rất phong phú, đa dạng Do đó, việc xác định chính xác mức thuế suất thuế GTGT áp dụng cho từng loại hàng hóa, dịch vụ là điều không hề đơn giản Chính vì vậy, cơ quan thuế cũng cần phải tập trung xem xét việc xác định thuế suất thuế GTGT của người nộp thuế đã chính xác hay chưa để xử lý kịp thời, tránh các sai sót, gian lận thuế xảy ra
Trang 31- Xác định thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và thuế GTGT phải nộp: Đây là vấn đề đặc biệt được quan tâm bởi nó ảnh hưởng đến số thuế GTGT đã phải nộp của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý thuế cần đặc biệt quan tâm đến nội dung quản lý việc sử dụng hóa đơn, chứng từ của người nộp thuế Hoá đơn chứng từ là căn cứ quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế GTGT Đặc thù của sắc thuế này là việc khấu trừ thuế và hoàn thuế mà hiệu quả của việc thực hiện nó phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý hoá đơn, chứng từ làm cơ sở xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp và số thuế GTGT được hoàn Nếu công tác quản lý hoá đơn, chứng từ không tốt sẽ có hậu quả không nhỏ, mà nổi cộm nhất là vấn đề trốn lậu thuế gây thất thoát lớn cho NSNN Để quản lý tốt hoá đơn chứng từ, về phía cơ quan quản lý cần có quy định chặt chẽ rõ ràng chặt chẽ từ khâu
in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn; quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm Ngoài ra, để công tác quản lý hoá đơn chứng từ có hiệu quả, cần tăng cường công tác thanh kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc cấp phát và sử dụng hoá đơn chứng từ, thực hiện xử lý nghiêm minh và có hình phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm Hơn nữa, cần có biện pháp thích hợp khuyến khích các đối tượng tiêu dùng, đặc biệt là dân cư khi mua hàng phải lấy hoá đơn (Nguyễn Thị Huệ, 2012)
2.3.2.3 Quản lý thu nộp thuế và xử lý nợ thuế giá trị gia tăng
Công tác quản lý thu nộp thuế GTGT cần được tập trung vào nội dung xem xét, kiểm tra việc nộp thuế của người nộp thuế được thực hiện như thế nào? Cơ quan thuế cần phải kiểm soát được thời hạn và số tiền nộp của người nộp thuế có đúng thời hạn quy định không? Hiện nay, với việc thực hiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế với các ngân hàng thì người nộp thuế có thể thực hiện nộp thuế tại các ngân hàng và số tiền nộp thuế sẽ được chuyển qua tài khoản chuyên thu của ngân sách tại kho bạc Nhà nước, do đó đòi hỏi giữa cơ quan thuế và ngân hàng phải có sự liên kết thông tin chặt chẽ để có thể kiểm soát kịp thời được tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (Hoàng Đình Cơ, 2011)
Trang 32Trong trường hợp người nộp thuế không nộp đầy đủ, đúng thời hạn số thuế phải nộp theo quy định, làm phát sinh nợ thuế, cơ quan thuế phải tổ chức rà soát các khoản
nợ, phân loại nợ thuế, chốt nợ thuế, thực hiện đối chiếu thuế với người nộp thuế nhằm giảm thiểu tình trạng nợ do nhầm lẫn chờ xử lý Trên cơ sở số thuế nợ đọng đã được xác nhận, cơ quan thuế kịp thời ra thông báo nợ thuế, thông báo tiền chậm nộp thuế
và triển khai các biện pháp đôn đốc thu nợ thuế
Việc quản lý thu nộp thuế và xử lý nợ thuế nếu được thực hiện tốt sẽ đảm bảo NSNN thu được số thuế đầy đủ, kịp thời; hạn chế được tình trạng dây dưa, nợ đọng tiền thuế; đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách của người nộp thuế
2.3.2.4 Quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng
Trong chính sách thuế GTGT, hoàn thuế là một nội dung rất quan trọng, thể hiện
cơ chế tính thuế GTGT khi phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết Việc hoàn thuế GTGT một mặt đảm bảo quyền lợi cho người nộp thuế trong thực hiện nghĩa vụ thuế; mặt khác thể hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, đổi mới, mua sắm tài sản cố định, dây chuyền công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất; ngoài ra, hoàn thuế GTGT cũng thể hiện sự tuân thủ các quy định theo thông lệ quốc tế của chính sách thuế GTGT Việt Nam
Tuy nhiên, nếu cơ quan thuế và người nộp thuế không chấp hành tốt các qui định trong công tác hoàn thuế GTGT sẽ không đáp ứng được các mục đích của hoàn thuế, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế - xã hội Nhà nước sẽ thất thoát nguồn thu, người nộp thuế không được trả vốn kịp thời làm trì trệ sản xuất, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh, tạo đà cho các hành vi gian dối của người nộp thuế Do đó, quản lý hoàn thuế GTGT cần được cơ quan thuế quan tâm thỏa đáng, phải được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo vừa hoàn thuế đúng, kịp thời cho các đối tượng được hoàn, vừa phải kiểm tra kiểm soát, phát hiện và ngăn ngừa sự chiếm đoạt tiền thuế của NSNN
Trang 33Công tác hoàn thuế GTGT phải được thực hiện đúng, đầy đủ các yêu cầu sau:
- Đối với cơ quan thuế: cần thực hiện kiểm tra và xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT
đảm bảo ba điều kiện: đúng, đủ, kịp thời Hoàn thuế phải đúng đối tượng, đúng trường hợp được hoàn thuế, đúng số thuế hoàn Để đáp ứng yêu cầu này đòi hỏi cán
bộ thuế phải thực hiện đúng quy trình hoàn thuế do Tổng cục thuế ban hành Để hoàn thuế đủ và kịp thời đòi hỏi trong vòng một thời hạn nhất định, cơ quan thuế phải tiến hành xem xét, giải quyết hồ sơ hoàn thuế; sau khi có quyết định hoàn, Kho bạc phải tiến hành chi hoàn ngay cho người nộp thuế số tiền hoàn thuế theo quy định
- Đối với người nộp thuế: cần phải xác định đúng trường hợp được hoàn thuế
GTGT; hồ sơ đề nghị hoàn thuế phải được lập đầy đủ, đúng quy định; các số liệu tự khai trong hồ sơ phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, mọi sai sót doanh nghiệp hoàn toàn chịu trách nhiệm; phải chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan thuế trong quá trình thực hiện công tác hoàn thuế (Hoàng Đình Cơ, 2011)
- Ngoài ra, để thực hiện tốt việc hoàn thuế GTGT, cần có quy trình hoàn thuế
rõ ràng, cụ thể; tăng cường phối kết hợp kiểm tra, thanh tra trong nội bộ ngành thuế, nâng cao trình độ trách nhiệm của cán bộ làm công tác hoàn thuế Ngoài ra, cần chủ động chuyển dần sang áp dụng các công nghệ hiện đại, ứng dụng tin học trong quản
lý thuế
2.3.2.5 Thanh tra, kiểm tra thuế giá trị gia tăng
Thanh tra thuế: là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác
kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và
xử lý những hành vi trái pháp luật Đây là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tính hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong các lĩnh vực kinh tế
- xã hội
Thanh tra thuế nói chung, thanh tra thuế GTGT nói riêng tập trung vào các nội dung chính là: thanh tra việc chấp hành các quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế; thanh tra về việc chấp hành chế độ kế toán - thống kê, hóa đơn - chứng từ; thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước
Trang 34Kiểm tra thuế: là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực
tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra Kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức là kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Việc kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện chủ yếu là kiểm tra hồ sơ khai thuế Cán bộ thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế với cơ sở dữ liệu người nộp thuế tương đồng để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế Khi kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, cơ quan thuế tiến hành kiểm tra, đối chiếu nội dung trong hồ sơ thuế với sổ sách kế toán, chứng
từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu liên quan và tình trạng thực tế trong phạm
vi của cơ quan thuế để phát hiện các sai sót, gian lận Quá trình kiểm tra phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng, hạn chế gian lận Khi có vi phạm cần giải quyết nghiêm minh, đảm bảo công bằng cho các đối tượng kiểm tra
2.4 Cơ sở thực tiễn
2.4.1 Bài học kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
2.4.1.1 Kinh nghiệm quản lý của Cục thuế tỉnh Thanh Hóa đối với các Chi cục trong tỉnh
Trước tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, việc nợ thuế có chiều hướng gia tăng, ngay từ đầu năm, Cục thuế tỉnh Thanh Hóa đã triển khai nhiều biện pháp phân loại nợ đọng tiền thuế, quản lý thu nợ, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các chi cục thuế, phòng thu ngân sách thực hiện kế hoạch giảm nợ Các chi cục thuế xây dựng chương trình, kế hoạch thu nợ, giao chỉ tiêu thu nợ thuế cụ thể đến từng cán bộ thuế, từng địa bàn cụ thể để tăng cường quản lý, tăng thu, giảm nợ đọng tiền thuế Ngành thuế phấn đấu tỷ lệ nợ thuế so với số thực hiện thu ngân sách trên địa bàn năm 2014 không vượt quá 5% (Báo cáo Cục thuế tỉnh Thanh Hóa, 2014)
Qua phân loại, đối với nợ tiền thuế có khả năng thu, ngành thuế tăng cường công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để NNT hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, nâng cao ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN đúng thời hạn quy định; ngành phân công cụ thể cán bộ quản lý theo từng DN nợ, thông báo “mẫu 06/QTR-QLN” đến tất cả các tổ chức, cá nhân còn nợ đọng tiền thuế,
Trang 35đồng thời xác định nguyên nhân và lập biên bản yêu cầu nộp thuế đối với những trường hợp có khả năng thu nhưng chây ỳ, ngành thuế sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ thuế Đối với những khoản nợ thuế khó thu, ngành thuế tập trung rà soát, phân loại và củng cố hồ sơ pháp lý để xử lý dứt điểm và kiến nghị cấp
có thẩm quyền xóa nợ theo quy định Đối với các khoản nợ của NNT đang trong giai đoạn điều tra, khởi tố hình sự, ngành thuế lập hồ sơ để chờ kết quả điều tra, xử
lý của cơ quan có thẩm quyền Đối với những khoản nợ chờ xử lý, ngành thuế tiến hành rà soát các khoản nợ mà NNT có thể nộp nhầm, nộp sai mục lục ngân sách, do chứng từ luân chuyển chậm dẫn đến các khoản thừa thiếu để tiến hành điều chỉnh và
do NNT không kê khai rõ trường hợp được giảm nộp theo quy định
Thông qua công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế năm 2014 cho thấy, đã
có nhiều chuyển biến quan trọng về chất lượng, ý thức chấp hành Pháp luật thuế của các DN trên địa bàn đã được nâng lên rõ rệt Đa số các DN thực hiện kê khai đã chủ động nộp thuế vào NSNN Tuy nhiên, bên cạnh đó cho thấy số nợ đọng tiền thuế GTGT vẫn còn ở mức cao (7,37%) Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế ở các chi cục thuế mới dừng lại ở việc phong tỏa tài khoản thông qua việc nắm bắt thông tin từ ngân hàng Việc thu thập thông tin về tài khoản của NNT mất nhiều thời gian do NNT mở tài khoản tại nhiều ngân hàng Trong các DN có số tiền nợ thuế lớn thì hầu hết không có tiền trong tài khoản tại các ngân hàng nên ngành thuế không thể thực hiện cưỡng chế theo quy định Một số DN có thói quen thanh toán bằng tiền mặt hoặc thường xuyên thay đổi tài khoản tại ngân hàng, mở tài khoản tại ngân hàng ngoài tỉnh nhưng không khai báo với cơ quan thuế nên việc thực hiện cưỡng chế nợ thuế kéo dài, hiệu quả chưa cao (Báo cáo Cục thuế tỉnh Thanh Hóa, 2014)
Để hoàn thành kế hoạch quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế năm 2015, thời gian tới, ngành thuế thường xuyên thực hiện công tác rà soát NNT còn nợ thuế để đưa vào quản lý nợ thuế theo quy định, tăng cường các biện pháp cưỡng chế NNT có số thuế nợ đọng lớn, đồng thời hướng dẫn NNT thực hiện các thủ tục gia hạn đối với các trường hợp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (XDCB) có số tiền nợ do nguyên nhân chưa được thanh toán vốn đầu tư từ NSNN
Trang 36
2.4.1.2 Cục thuế thành phố Hà Nội triển khai đến các Chi cục thuế
Năm 2014 hoạt động kiểm tra thuế về thuế GTGT tại Cục thuế Hà Nội đạt được kết quả nổi bật: kiểm tra tại bàn đối với 185.568 lượt hồ sơ thuế GTGT, tăng 47%; trong đó điều chỉnh 1.385 lượt hồ sơ, tăng thu thuế GTGT 748 tỷ đồng Kiểm tra tại trụ sở NNT 5.311 cuộc truy thu, truy hoàn, phạt sau kiểm tra 669 tỷ đồng (trong đó thuế GTGT là 215 tỷ đồng) Cục thuế đã tổng hợp các hành vi vi phạm đối với 4 sắc thuế, với 18 nhóm theo lĩnh vực, ngành nghề bổ sung vào sổ tay kỹ kiểm tra
để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra Ðồng thời rút ra 8 bài học kinh nghiệm và đề ra 5 nhóm giải pháp chính trong triển khai nhiệm vụ năm 2015 (Báo cáo Cục thuế thành phố Hà Nội, 2014)
Xây dựng và ban hành quy chế giám sát đoàn kiểm tra với mục tiêu là giám sát nhằm chuẩn hóa các nội dung công việc bảo đảm tính minh bạch, tăng cường tính giám sát của cấp trên đối với cấp dưới, của trưởng đoàn với thành viên Tăng tính tuân thủ của cán bộ kiểm tra thuế, tuyên truyền để DN được kiểm tra hiểu được quyền và trách nhiệm của mình; Cục thuế xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ
có hành vi chưa đúng mực, thiếu văn minh trong giao tiếp ứng xử, gây phiền hà cho
DN cũng như vi phạm pháp luật
Cục thuế đã thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra tại trụ sở Cơ quan thuế, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế tại trụ sở DN Quan tâm xây dựng cơ sở dữ liệu DN và lập kế hoạch kiểm tra đối với các Phòng Kiểm tra và các Chi cục thuế trong quản lý rủi ro Tăng cường đào tạo, tự đào tạo cho cán kiểm tra thuế, đi đôi với kiểm tra các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá
2.4.2 Bài học rút ra trong công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với Chi cục thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Thứ nhất: xu hướng cải cách quản lý thuế đối với doanh nghiệp đó là nâng
cao tính tự giác tuân thủ của doanh nghiệp bằng các biện pháp tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp, tạo thuận lợi và giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp; Công tác này được quan tâm và trở thành một ưu tiên của
cơ quan thuế, được thực hiện dưới nhiều hình thức; cùng với nó là nâng cao các
Trang 37biện pháp kiểm tra và chế tài xử lý được tăng cường để bảo đảm rằng các đối tượng không tuân thủ sẽ bị phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật
Thứ hai: song song với việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp nhằm tăng cường
tính tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp, cơ quan thuế các nước rất chú trọng đến
việc kiểm tra các doanh nghiệp lớn Ở nhiều quốc gia, cơ quan thuế đã thành lập bộ phận kiểm tra các doanh nghiệp lớn tại Tổng cục thuế (ở Trung ương) hoặc Cục thuế nhằm mục đích kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp có số thu chiếm
tỷ trọng lớn
Thứ ba: hiện đại hóa ngành thuế bằng công nghệ thông tin, khai thuế điện tử, cải
tiến hơn nữa các phần mềm tiện ích phục vụ cho công tác kiểm tra thuế
Thứ tư: các nước trên thế giới đều tập trung rất lớn nguồn nhân lực trong
công tác kiểm tra, ở Việt Nam cần tăng cường cán bộ thuế cả về số lượng và chất lượng làm công tác kiểm tra thuế
Thứ năm: một số nước trên thế giới có chức năng và có bộ phận điều tra thuế,
có thêm chức năng này sẽ giúp cho công tác kiểm tra thuế có hiệu quả hơn và ngành thuế có thể độc lập điều tra, xử lý các vụ việc nghiêm trọng, như vậy sẽ chủ động hơn trong công tác kiểm tra, xử lý và có tính răn đe cao hơn đối với doanh nghiệp
Thứ sáu: thường xuyên tổ chức kiểm tra theo chuyên đề như các doanh
nghiệp âm thuế thường xuyên, doanh nghiệp không có số thuế nộp ngân sách, doanh nghiệp hoàn thuế lớn Ngoài ra tập trung kiểm tra các doanh nghiệp có độ rủi
ro cao về thuế, thường xuyên rút ra các kinh nghiệm bài học, tổ chức hội thảo, tập huấn về công tác kiểm tra
Trang 383 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện kinh môn, tỉnh hải dương
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Kinh Môn nằm ở phần lãnh thổ phía Đông của tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía Tây nam giáp huyện Kim Thành, phía Tây Bắc giáp huyện Nam Sách và Chí Linh của tinh Hải Dương Huyện nằm kề bên 2 tuyến đường quốc lộ 5A và 18 là 2 tuyến giao thông quan trọng của quốc gia và vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc Huyện được bao bọc
và chia cắt bởi 4 sông lớn (sông Kinh Môn, sông Kinh Thầy, sông Đá Vách, sông Hàn Mấu)
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện khá lý tưởng: cách Hà Nội khoảng 80 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, lại nằm kế bên 2 trung tâm kinh tế lớn
là Quảng Ninh và Hải Phòng, giao thông thuỷ bộ tương đối thuận lợi nên có điều kiện giao lưu kinh tế với bên ngoài và đón nhận các cơ hội đầu tư
Địa hình: Huyện có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, nhiều sông ngòi chia cắt nên nơi cao, nơi thấp Hiện còn khoảng 300 ha đất canh tác ven đồi thuộc địa hình cao và 700 ha đất ruộng trũng thường bị ngập úng vào mùa mưa Địa hình như vậy cho phép huyện phát triển một nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá đa dạng, toàn diện
Khí hậu - thuỷ văn: Hàng năm được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau thường mưa ít (chiếm 15% tổng lượng mưa trong năm), nhiệt độ thấp, nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình 13,80C Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 thường nhiệt độ cao (nhất tháng 7 nhiệt độ trung bình 32,40C), mưa nhiều chiếm 85% lượng mưa cả năm tập trung vào tháng 7, 8 Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.700 mm, nhiệt độ trung bình cả năm 23,50C Thuỷ văn nước lên xuống trong ngày, hàng năm từ tháng 7 đến tháng 9 có từ 2-3 lần xuất hiện lũ ở mức báo động cấp 3
Khí hậu, thuỷ văn đã tạo cho Kinh Môn có hệ thống cây trồng phong phú cả cây nhiệt đới, ôn đới
Trang 393.1.1.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
+ Tài nguyên đất: huyện Kinh Môn có diện tích tự nhiên 16.326,31 ha trong
đó đất nông nghiệp 8.900 ha (chiếm 55%) có 7.300 ha đất trồng cây hàng năm còn lại là đất trồng cây ăn quả lâu năm và nuôi trồng thuỷ sản, đất thuộc phù sa cổ của sông Thái Bình có độ PH từ 5,5 - 6,5, độ phì thấp
+ Tài nguyên nước: Huyện có 4 sông lớn chảy qua lên nguồn nước mặt
phong phú đủ đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân Nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, hàm lượng sắt cao không sử dụng được
+ Tài nguyên rừng: Kinh Môn có 1.812 ha rừng trồng trên các đồi núi đất
trong đó có khoảng 300 ha ven các đồi trồng cây ăn quả (nhãn, vải, na) và hơn 15.000 ha rừng đặc dụng đã bắt đầu khép tán
+ Tài nguyên khoáng sản:
Đá vôi: Trữ lượng khoảng 300 - 400 triệu tấn trong đó khoảng 200 triệu tấn chất lượng tốt (hàm lượng CaCO3 đạt 90 - 97%) có thể khai thác làm xi măng, số còn lại làm vôi và đá xây dựng
Cao lanh trữ lượng khoảng 40.000 tấn, bô xít 20 vạn tấn Đất sét và đá phiến sét trữ lượng hạng chục triệu tấn khai thác phục vụ cho sản xuất xi măng, ngoài ra còn hàng triệu m3 cát ở các dòng sông
Tiềm năng khoáng sản của huyện khá phong phú đặc biệt là vật liệu xây dựng là
ưu thế lớn của huyện làm tiền cho để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng nhất là sản xuất vật liệu xây dựng (đá, xi măng, cát)
+ Tài nguyên nhân văn: Kinh Môn có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích
lịch sử được xếp hạng quốc gia như đến An Phụ, Động Kính Chủ, Động Hàm Long, Tâm Long, Đình Huề Trì, Đình Ngư Uyên Hàng năm thu hút hàng chục vạn
du khách thập phương thăm quan
Nhìn chung vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên của Kinh Môn rất thuận lợi cho phát triển kinh tế toàn diện Song do địa hình bị chia cắt bởi sông ngòi, đồi núi nên cần 1 lượng vốn đầu tư ban đầu khá lớn để làm đường, làm cầu, trạm bơm tưới, tiêu
Trang 403.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
Toàn huyện có 44.900 hộ dân, có 6 doanh nghiệp nhà nước và 758 doanh nghiệp gồm có công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và Hợp tác
xã đang tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh, góp phần chuyển dịch mạnh về
cơ cấu kinh tế trong những năm qua
Hiện nay, huyện Kinh Môn có 03 thị trấn và 22 xã: Bao gồm thị trấn Kinh Môn, thị trấn Minh Tân, thị trấn Phú Thứ và các xã: Hiệp An, Long Xuyên, Hiến Thành, Minh Hoà, Thái Thịnh, An Phụ, Thượng Quận, Hiệp Hoà, Lạc Long, Thăng Long, Phúc Thành, Quang Trung, Hiệp Sơn, An Sinh, Phạm Mệnh, Thái Sơn, Thất Hùng, Bạch Đằng, Lê Ninh, Hoành Sơn, Tân Dân, Duy Tân
Tổng giá trị sản xuất (giá so sánh 1994) năm 2014 ước đạt 3,341.0 tỷ đồng bằng 100,3% so với kế hoạch và bằng 111% so cùng kỳ năm trước; giá trị tăng thêm đạt 1,403 tỷ đồng Tốc độ tăng trường 11% Trong đó:
3.1.2.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp - thuỷ sản
Giá trị sản xuất ngành Nông, lâm nghiệp - thuỷ sản (giá so sánh 1994) ước đạt 457,7 tỷ đồng bằng 98,3 % so với kế hoạch và bằng 101,2 % so với cùng kỳ; giá trị tăng thêm đạt 228 tỷ đồng tăng 1,2 % so với cùng kỳ, bảng 3.1
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất của huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương qua 3 năm từ
DV 1.401.000 1.635.000 1.882.000 116,7 115,1 115,9
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Kinh Môn