Số bảng Tên bảng Trang 4.16 Thực trạng bãi tập kết bãi chôn lấp RTSH tại huyện Kim Động và 4.17 Công tác giám sát quản lý rác thải sinh hoạt ởhuyện Kim Động giai 4.18 Phản ứng khi gặp tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ XUÂN CƯƠNG
QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ : 60.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học:
TS QUYỀN ĐÌNH HÀ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đâu là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đươc trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa tùng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi thực hiện để tài
Hà Nội, ngày / /2015
Học viên
Vũ Xuân Cương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và các
cá nhân trong và ngoài trường
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và PTNT; Bộ môn Phát triển nông thôn và các Thầy, Cô giáo đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Quyền Đình Hà, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo UBND huyện Kim Động, phòng Tài nguyên & Môi trường, Chi cụ Thống kê huyện Kim Động, UBND xã Toàn Thắng, Mai Động, thị trấn Lương Bằng và những hộ dân, người bán hàng cùng công nhân vệ sinh môi trường đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi cung cấp số liệu,
tư liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày / /2015
Học viên
Vũ Xuân Cương
Trang 53.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động 47 4.1.1 Thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động 47 4.1.2 Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động 53 4.1.3 Đánh giá công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động 85 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rác thải trên địa bàn huyện Kim Động 86
4.2.3 Kinh phí cho hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động 94
4.2.5 Khoa học công nghệ trong quản lý rác thải sinh hoạt 101 4.3 Giải pháp giúp nâng cao quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa GTNT Giao thông nông thôn
RTRSH Rác thải rắn sinh hoạt
TN-MT Tài nguyên môi trường
TTCN - CN Tiểu thủ công nghiệp – công nghiệp
Trang 74.1 Tình hình rác thải của huyện Kim Động trong giai đoạn 2012 – 2014 484.2 Lượng rác thải sinh hoạt của 3 xã điều tra trong giai đoạn 2012 – 2014 504.3 Lượng RTSH của huyện Kim Động trong giai đoạn 2012 - 2014
4.4 Nguồn phát sinh và thành phần RTSH tại huyện Kim Động 564.5 Tình hình triển khai hướng dẫn phân loại RTSH ở huyện Kim Động 574.6 Tình hình phân loại RTSH của hộ dân và người bán hàng 584.7 Hình thức thu gom RTSH của hộ dân và người bán hàng 634.8 Thực trạng số tổ thu gom và trang thiết bị phục vụ công tác thu
gom RTSH của huyện Kim Động và 3 xã điều tra 644.9 Số công nhân VSMT được điều tra về tình hình thu gom RTSH 664.10 Số lượt công nhân VSMT theo ý kiến về khó khăn trong thu gom
4.11 Tình hình vận chuyển RTSH từ bãi tập kếtđến công ty Đại Đồng
4.13 Số lượt công nhân VSMT theo khó khăn, tồn tại trong hoạt động
4.14 Ý kiến của hộ gia đình về tồn tại trong quá trìnhvận chuyển RTSH
4.15 Các hình thức xử lý rác thải sinh hoạt của hộ gia đình 76
Trang 8Số bảng Tên bảng Trang 4.16 Thực trạng bãi tập kết bãi chôn lấp RTSH tại huyện Kim Động và
4.17 Công tác giám sát quản lý rác thải sinh hoạt ởhuyện Kim Động giai
4.18 Phản ứng khi gặp trường hợp vứt rác không đúng nơi quy địnhcủa
4.20 Đặc điểm của những người bán hàng được điểu tra 904.21 Đặc điểm của công nhân VSMT được điểu tra 904.22 Nhận thức của người dân về tác hại của rác thải sinh hoạt 924.23 Nhận thúc của hộ dân và người bán hàng đối với trách nhiệm quản
4.24 Ý kiến của công nhân VSMT về một số chỉ tiêu 954.25 Ngân sách hỗ trợ công tác quản lý rác thải 974.26 Trình độ chuyên môn cán bộ quản lý môi trường huyện 100
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.3 Hệ thống tổ chức quản lý về CTR ở một số đô thị tại Việt Nam 20 2.4 Quy trình quản lý rác thải ở thôn Lai Xá xã Kim Chung huyện
2.5 Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt ở thôn Lai Xá xã Kim Chung
4.4 Mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý RTSH cho huyện Kim Động 116
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2.1 Thành phần CTR toàn quốc năm 2008, xu hướng năm 2015 22 4.1 Số lượt hộ và người bán hàng được điều tra theo nguồn thông tin
Trang 10DANH MỤC HỘP
4.1 Tình hình thu gom RTSH tại một số trường học, công sở 684.2 Ý kiến của người dân về hoạt động vận chuyển RTSH tại địa phương 754.3 Ý kiến của cán bộ về tình hình giám sát quản lý rác thải tại địa phương 85
4.6 Ý kiến của cán bộ về nguồn quỹ cho quản lý RTSH 98
DANH MỤC HÌNH
4.1 Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại xã Mai Động 65
4.3 Nắp đậy hố rác di động, cấp miễn phí cho người dân 774.4 Bãi chôn lấp RTSH của thôn An Xá, xã Toàn Thắng và thôn Nho
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là nơi sinh sống của con người, đây cũng là nơi chứa đựng các rác thải được tạo ra từ mọi hoạt động của con người Trong quá trình phát triển của con người, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, con người đã phá hủy môi trường, đã thải ra môi trường quá nhiều rác thải mà không kiểm soát được, điều đó làm ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Vấn đề quản lý rác thải trở thành bài toán khó giải cho nhiều nước trên thế giới và Việt Nam là một trong những nước không tránh khỏi vấn đề này
Trong khi chất lượng cuộc sống của người dân chúng ta ngày càng được cải thiện và nâng cao thì ô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề gây bức xúc, không chỉ ở thành phố, đô thị mà còn ở vùng nông thôn Trước đây, nông thôn Việt Nam được xem là nơi thanh bình, trong lành, rác thải ra môi trường có khả năng đồng hóa tốt Nhưng hiện nay, ở nông thôn hiện tượng rác xả bừa bãi từ đầu làng đến cuối làng không còn là chuyện lạ nữa Ở khu vực nông thôn, rác thải hầu như không được thu gom, người dân vứt rác bừa bãi Công tác quản lý rác thải nông thôn còn kém hiệu quả và chưa được quan tâm đúng mức Chính điều đó làm ảnh hưởng tới sức khỏe, kinh tế của người dân nông thôn
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, nền kinh tế của Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, đặc biệt là vấn đề rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị
ô nhiễm
Kim Động là một huyện nằm liền kề với thành phố Hưng Yên có đường giao thông thuận lợi như: Quốc lộ 39A, 38, tỉnh lộ 195, 205, 208…nên các cơ sở
Trang 12sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được mở rộng thu hút một lượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác Dân số trong huyện tăng lên, năm 2014 có 111.930 nhân khẩu từ đó nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo, Các chợ, quán xá, các dịch vụ phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng, dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt tăng lên rất nhiều, năm 2012 là 16.153,7 tấn năm 2014 là 17.567,41 tấn (phòng Tài nguyên – Môi trường, 2012-2014) Vì chưa có một biện pháp quản lý đúng cách nên tình trạng người dân xả rác bừa bãi vẫn diễn ra phổ biến, quá sức chịu tải của môi trường Tại một số tuyến sông đã bắt đầu có dấu hiệu bị nhiễm bẩn Rác thải sinh hoạt không chỉ ảnh hưởng đến
mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe người dân
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động,
tỉnh Hưng Yên”, nhằm tìm ra biện pháp quản lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô
nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra trên địa bàn huyện Kim Động
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý rác thải sinh hoạt cho huyện Kim Động trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rác thải sinh hoạt; (2) Đánh giá thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên;
(4) Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý rác thải sinh hoạt trên địa
bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ra sao? (2) Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ra sao?
Trang 13(3) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
(4) Các giải pháp nào giúp tăng cường quản lý rác thải sinh hoạt ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
1.4 Đối tượng nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: công tác quản lý rác thải trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
1.4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể được đề cập trong nghiên cứu: hộ gia đình, người bán hành, công nhân vệ sinh môi trường (VSMT) và các cán bộ quản lý môi trường trên địa bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
1.5 Phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Phạm vi về nội dung
Do khuôn khổ thời gian có hạn và các điều kiện về kiểm soát kỹ thuật cho nên đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý rác thải rắn sinh hoạt, tìm hiểu thực trạng rác thải rắn sinh hoạt và các hoạt động quản lý rác thải rắn sinh hoạt ở huyện Kim Động, các yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý rác thải rắn sinh hoạt ở huyện Kim Động, các giải pháp tăng cường quản lý rác thải rắn sinh hoạt ở huyện Kim Động
Thời gian hoàn thiện đề tài: từ tháng 08/2014 – tháng 08/2015
Trang 14PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1 Một số khái niệm về chất thải, rác thải sinh hoạt
a Khái niệm chất thải
Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “Chất thải
là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Vì vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn,
đồ dùng, chất thải sản xuất, dịch vụ y tế…mà mọi người không dùng nữa và thải
bỏ đi
b Khái niệm chất thải rắn
Theo quan điểm chung: CTR là toàn bộ các tạp chất được con người loại
bỏ trong các hoạt động kinh tế, xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng), trong đó quan trọng nhất là các chất thải ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001)
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ Thêm vào đó, chất thải được gọi là chất thải rắn đô thị nếu được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu gom và phân hủy (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001)
c Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2010)
Trang 152.1.1.2 Một số khái niệm về quản lý, quản lý rác thải sinh hoạt
a Khái niệm quản lý
Theo Hồ Văn Vĩnh (2003), “Quản lý là sự tác động có tổ chức, hướng tới đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” Theo định nghĩa trên thì hoạt động quản lý có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất: Quản lý luôn là một tác động hướng đích, có mục tiêu
Thứ hai: Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, gồm chủ thể
quản lý (cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (bộ phận chịu sự quản lý), đây là mối quan hệ ra lệnh – phục tùng Không đồng cấp và có tính bắt buộc
Chủ thể qua các cơ chế quản lý (nguyên tắc, phương pháp, công cụ) tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu xác định Mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng quản lý tạo thành hệ thống quản lý
Sơ đồ 2.1 Hệ thống quản lý Nguồn: Hồ Văn Vĩnh, 2003
b Khái niệm quản lý rác thải
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn có quy định công tác quản lý rác thải rắn được thể hiện cụ thể như sau:
Hoạt động quản lý rác thải bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
Trang 16tư xây dựng cơ sở quản lý rác thải, các hoạt động phân loại, thu gom; lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại với môi trường và sức khỏe con người
Thu gom rác thải là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu trữ tạm thời rác thải tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận
Vận chuyển rác thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu trữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
Xử lý rác thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải
Chôn lấp rác thải hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh
2.1.1.3 Nguồn gốc phát sinh rác thải
Theo Nguyễn Ngọc Ân (2005), khối lượng rác thải ngày càng tăng cao do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển KT – XH, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và vùng nông thôn Các nguồn phát sinh chủ yếu rác thải được tóm lược qua sơ đồ 2.2
Hộ gia đình, khu dân cư: Rác thải phát sinh từ những thực phẩm thừa,
bao bì nilon, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, kim loại, tro bếp, lá cây, các chất thải đặc biệt (đồ điện, điện tử hỏng, lốp xe…) và các chất thải độc hại Thành phần chủ yếu của rác thải từ khu vực gia đình là rác hữu cơ Việc phân loại rác tại nguồn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của tái chế rác thải Tuy nhiên việc phân loại rác tại nguồn chưa được quan tâm đúng mức, gây những khó khăn trong xử lý
Thương mại: Rác phát sinh từ các nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng,
khách sạn
Các cơ quan công sở, trường học, bệnh viện: Chủ yếu là giấy nhựa, thực
phẩm thừa, thủy tinh, kim loại, chất thải nguy hại…
Trang 17
Sơ đồ 2.2 Nguồn phát sinh rác thải
Nguồn: Nguyễn Ngọc Ân, 2005
Xây dựng: Các công trình mới, tu sửa từ nhà ở đến công viên, trường
học, bệnh viện, khách sạn chủ yếu là vôi vữa bê tông, gạch thép, cốt pha…Nhìn chung rác thải từ xây dựng ít mang tính độc hại Loại rác này chủ yếu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Với khu vực mật độ dân số cao, khó khăn chủ yếu trong quản lý là bãi chôn lấp
Dịch vụ công cộng: Rửa đường, rác du lịch (rác công viên, bãi biển, các
danh lam thắng cảnh) Rác thải của khu vực này chủ yếu do đội tổ thu gom hay công ty môi trường đảm nhiệm Khó khăn trong quản lý loại rác phát sinh từ nguồn này là ý thức của người dân Việc để rác đúng nơi quy định và phân loại rác ở các nơi công cộng rất khó quản lý vì nhân viên môi trường không đủ để giám sát, người thải rác không ở một vị trí cố định
Công nghiệp: Công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đều phát sinh ra chất
thải, rác thải như giấy vụn, hóa chất…Các nhà máy sản sinh ra nhiều loại chất thải: rắn, lỏng, khí Vì mục đích lợi nhuận các công ty, nhà máy, xí nghiệp luôn tìm cách tối thiểu hóa chi phí, việc đầu tư cho xử lý các loại rác thải bị hạn chế Chính vì vậy nếu không có các biện pháp quản lý chặt chẽ từ các cơ quan chức năng rác thải từ khu vực này sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Nông nghiệp: Đốt tro, thuốc trừ sâu Trong sản xuất nông nghiệp, tồn dư
của thuốc trừ sâu ít nhưng khả năng gây ô nhiễm mạnh: ô nhiễm không khí, đất,
Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải
rác thải
DV công cộng
Xây dựng
Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp
Nhà dân, khu
dân cư
Thương mại
Cơ quan, trường học, bệnh viện
Trang 18nước Nông dân trực tiếp quản lý loại rác này Hiện nay ở nhiều địa phương chưa
có những giải pháp cụ thể để xử lý bởi nhận thức của người dân về xử lý đúng kĩ thuật loại rác này còn hạn chế
2.1.1.4 Nguyên tắc quản lý rác thải
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn, công tác quản lý rác thải hiện nay phải tuân theo nguyên tắc:
(1) Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh rác thải phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
(2) Rác thải phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng,
xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng
(3) Ưu tiên sử dụng các công nghệ xử lý rác thải khó phân hủy, có khả năng giảm thiểu khối lượng rác thải được chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai Hiện nay, nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải
2.1.1.5 Một số công cụ trong quản lý rác thải
a Các công cụ kinh tế trong quản lý rác thải
Theo Nguyễn Thế Chính (2003) Có 3 loại lệ phí được áp dụng cho việc thu gom và đổ bỏ rác thải: phí người dùng, phí đổ bỏ và phí sản phẩm (1) Phí người sử dụng dịch vụ (phí người dùng): Phí người dùng được áp dụng phổ biến cho việc thu gom và xử lý rác thải Chúng được coi là những khoản tiền phải trả thông thường cho các dịch vụ đó, rất hiếm khi được coi là biện pháp kích thích Trong phần lớn trường hợp, phí được tính toán để trang trải tổng chi phí
và không phản ánh những chi phí biên xã hội của các ảnh hưởng môi trường (2) Phí đổ bỏ (còn gọi là phí tiêu hủy cuối cùng) là loại phí đánh trực tiếp vào các chất thải độc hại, hoặc tại các cơ sở sản sinh ra hay tại điểm tiêu hủy Mục tiêu chính của những phí này là cung cấp cho công nghiệp những kích thích kinh tế để sử dụng các phương pháp quản lý rác thải như giảm bớt rác thải, tái chế và đốt là các phương pháp thân thiện với môi trường hơn là phương pháp chôn rác có nhiều nguy cơ làm ô nhiễm nước ngầm
Trang 19(3) Phí sản phẩm, phần lớn các phí sản phẩm đánh vào chất thải, đã được
áp dụng đối với các bao bì, dầu nhờn, các túi nhựa, phân bón, thuốc trừ sâu hại, nguyên vật liệu, các lốp xe và các nhiên liệu ô tô, không trả lại được
b Công cụ về pháp lý
Theo Nguyễn Thế Chinh (2003) Công cụ luật pháp chính sách hay còn gọi
là các công cụ pháp lý bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật (pháp lệnh, nghị định, quy định, các tiêu chuẩn môi trường, giấy phép môi trường .), các kế hoạch, chiến lược và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế và các địa phương
(1) Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc
tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia
và môi trường ngoài phạm vi sử dụng của quốc gia Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản trong số đó Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường do nhiều nước ký kết hoặc tham gia không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ quốc gia cụ thể Muốn thi hành trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nào đó, các qui phạm của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường cần phải được chuyển hoá thành quy phạm pháp luật quốc gia, nghĩa là Nhà nước phải phê chuẩn các văn bản này
(2) Luật Môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người Hệ thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp lý các thành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể ở một địa phương, một ngành (3) Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất về bảo vệ môi trường Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về xử phạt vi phạm hành chính
Trang 20về bảo vệ môi trường Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường cũng được đề cập trong các văn bản pháp luật khác (gọi là luật về các thành phần môi trường) như Luật Khoáng sản, Luật Phát triển và bảo vệ rừng, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Tài nguyên nước, Pháp lệnh đê điều, Pháp lệnh về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp lệnh về bảo vệ các công trình giao thông
(4) Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá hoặc hướng dẫn thực hiện các nội dung của luật Quy định có thể do Chính phủ, Trung ương hay địa phương, do cơ quan hành pháp hay lập pháp ban hành
(5) Quy chế là các quy định về chế độ thể lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường chẳng hạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa học, công nghệ và môi trường
2.1.1.6 Một số văn bản quy định về quản lý chất thải
Để bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều các văn bản, chính sách Mỗi văn bản đều có một mục đích nhất định và phù hợp với tình hình đất nước, địa phương qua từng giai đoạn, sau đây
là một số văn bản quy định về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải
a Chỉ thị
Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 25/6/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chỉ thị có nêu: Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn
đề môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta đã đạt được những kết quả bước đầu, đã xuất hiện những gương người tốt, việc tốt về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc bảo vệ môi trường ở nước ta hiện chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung môi
Trang 21trường nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng Việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường chưa nghiêm minh Ý thức tự giác bảo vệ
và giữ gìn môi trường công cộng chưa trở thành thói quen trong cách sống của đại bộ phận dân cư
b Luật
(1) Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005, được Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân trong bảo vệ môi trường
(2) Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014, được Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015
những hạn chế, bất cập của Luật BVMT 2005 Luật hóa chủ trương của Đảng, các chính sách mới về BVMT; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu BVMT trong giai đoạn mới Ngoài ra, Luật BVMT 2014 cũng đã
xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các nghị định về BVMT, sắp xếp lại trật tự các chương, điều, câu chữ đảm bảo tính logic và khoa học Luật BVMT 2014 gồm 20 chương và 170 điều
(2) Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn;
(3) Quản lý quá trình đầu tư thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý chất
Trang 22thải rắn;
(4) Thanh tra, kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động quản lý chất thải rắn
d Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm
2025, tầm nhìn đến năm 2050 Quyết định quy định quản lý tổng hợp chất thải rắn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý tổng hợp chất thải rắn Quản lý tổng hợp chất thải rắn là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệ môi trường góp phần kiểm soát ô nhiễm Hướng tới phát triển bền vững đất nước
Quản lý tổng hợp chất thải rắn phải đáp ứng theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; các tổ chức và cá nhân phát sinh chất thải, gây ô nhiễm Suy thoái môi trường có trách nhiệm đóng góp kinh phí, khắc phục Bồi thường thiệt hại Quyết định còn chỉ ra nhiệm vụ đặt ra là phải phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh chất thải rắn; thúc đẩy phân loại chất thải rắn tại nguồn; đẩy mạnh thu gom và vận chuyển chất thải rẳn; tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải rắn; xử
lý chất thải rắn và phục hồi môi trường các cơ sở xử lý chất thải rắn
e Một số văn bản của tỉnh Hưng Yên và huyện Kim Động
(1) Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND ngày 20/7/2010 của UBND tỉnh Hưng Yên về việc quy định quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Quyết định đưa ra nguyên tắc quản lý chất thải rắn thông thường, một số quy định cụ thể về việc phân loại thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn không nguy hại, những vi phạm và xử lý vi phạm hành chính làm ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường
(2) Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 24/12/2011 của HĐND huyện Kim Động về việc quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Kim Động Nghị quyết yêu cầu cần thực hiện ngay nhiệm vụ và các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường gây bức xúc trên địa bàn huyện
Trang 23(3) Quyết định số 16/QĐUBND ngày 27/01/2012 của UBND huyện Kim Động về việc quản lý rác thải sinh hoạt trên đại bàn huyện Kim Động Quyết định giao phòng TN-MT huyện là cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện quản lý công tác vệ sinh môi trường của huyện đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn và theo dõi việc xây dựng kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý RTSH trên địa bàn huyện (4) Kế hoạch số 05/KH-UBND ngày 25/01/2013 của UBND huyện Kim Động về tăng cường công tác phân loại rác thải hữu cơ tại hộ gia đình trên địa bàn huyện Kim Động năm 2013 Kế hoạch yêu cầu các xã, thị trấn trên địa bàn huyện xây dựng kế hoạch thực hiện công tác phân loại rác thải hữu cơ, đồng thời khuyến khích người dân tham gia công tác xử lý rác thải sinh hoạt theo hình thức hố rác di động
2.1.2 Nội dung nghiên cứu về quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.2.1 Nguyên tắc quản lý rác thải
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, công tác quản lý rác thải hiện nay phải tuân thủ theo nguyên tắc:
(1) Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh rác thải phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển, và xử lý rác thải
(2) Rác thải phải được thu gom, phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng, xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng
(3) Ưu tiên sử dụng các công nghệ xử lý rác thải khó phân hủy, có khả năng giảm thiểu khối lượng rác thải được chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai
(4) Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải
2.1.2.2 Hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt
a, Phân loại rác thải sinh hoạt
Để thực hiện được quản lý rác thải sinh hoạt, trước tiên cần phải phân loại rác thải Từ đó xây dựng kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý… rác thải sinh
hoạt Đây là nội dung đầu tiên và quan trọng nhất khi triển khai các hoạt động
quản lý rác thải sinh hoạt Nghiên cứu về phân loại rác thải sinh hoạt là nghiên
Trang 24cứu về rác thải gồm những loại nào? Cần thu gom, vận chuyển, xử lý thế nào… thời gian như tế nào? (Trần Hiếu Huệ, 2010)
b, Thu gom rác thải sinh hoạt
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, thu gom rác thải sinh hoạt là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời rác thải sinh hoạt tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
Như vậy việc nghiên cứu về thu gom rác thải sinh hoạt là nghiên cứu về các hình thức thu gom rác thải sinh hoạt, số lượng người tham gia thu gom, cách thu gom từng loại rác, lưu trữ rác thải sinh hoạt như thế nào…
c, Vận chuyển rác thải sinh hoạt
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, vận chuyển rác thải là quá trình chuyên chở rác thải từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
Nghiên cứu về vận chuyển rác thải sinh hoạt là nghiên cứu về phương thức vận chuyển, công cụ vận chuyển, số lượng máy móc, thiết bị số lao động tham gia vào vận chuyển…
d, Xử lý rác thải sinh hoạt
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản
lý chất thải rắn, xử lý rác thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong rác thải; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải
Nghiên cứu về xử lý rác thải sinh hoạt là nghiên cứu về hình thức xử lý rác thải, địa điểm xử lý rác thải sinh hoạt, công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt…
e, Giám sát thực hiện quản lý rác thải sinh hoạt
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, giám sát thực hiện quản lý rác thải sinh hoạt là hoạt động theo dõi chung về quá trình thực hiện quản lý rác thải sinh hoạt, hoạt động này
Trang 25không chỉ có các cán bộ địa phương mà còn có sự tham gia của người dân Nghiên cứu về giám sát thực hiện quản lý rác thải sinh hoạt là nghiên cứu về đánh giá của cán bộ địa phương, sự quan tâm của người dân, sự bình bầu của người dân trong các cuộc họp về rác thải, hoạt động thi đua khen thưởng về phong trào quản lý rác thải sinh hoạt ở từng địa phương…
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.3.1 Cơ chế chính sách
Trong những năm qua, công tác quản lý rác thải đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện bằng các văn bản chính sách, pháp luật quản lý rác thải, chính sách xã hội hóa công tác quản lý rác thải nilon thân thiện môi trường… đã được khuyến khích phát triển Các chiến lược, chính sách này
đã đặt ra các mục tiêu cụ thể có ý nghĩa định hướng cho công tác quản lý rác thải hiện nay
Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn hạn chế so với yêu cầu của Chiến lược đề ra, các mục tiêu quản lý rác thải đặt ra còn gặp nhiều khó khăn trong công việc triển khai thực hiện cũng như hoàn thành mục tiêu Nguyên nhân là do một số chính sách được ban hành nhưng thiếu cơ chế triển khai cũng như vận hành hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc triển khai không hiệu quả hoặc không thể phù hợp với thực tế Thêm vào đó, hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật quy định về một số vấn đề then chốt đối với quản lý rác thải như nhân lực, bộ máy tổ chức, trình độ, các hướng dẫn kỹ thuật… vẫn còn thiếu, dẫn đến các hoạt động khó khăn khi triển khai, đặc biệt đối với công tác quản lý chất thải nguy hại
2.1.3.2 Đặc điểm của người dân
Khi triển khai thực hiện chính sách ở địa phương cần nghiên cứu đặc điểm của dân cư địa phương Đặc điểm của người dân bao gồm trình độ dân trí, độ tuổi, giới tính, thu nhập Trình độ dân trí, tuổi thể hiện hiểu biết của người dân quản lý rác thải sinh hoạt, lợi ích của quản lý rác thải sinh hoạt Chính vì vậy, nghiên cứu về quản lý rác thải sinh hoạt cần nghiên cứu về đặc điểm dân cư
2.1.3.3 Kinh phí cho hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần đến vốn, hoạt động
Trang 26quản lý rác thải sinh hoạt cũng cần đầu tư kinh phí cho bộ máy vận hành, cho máy móc công nghệ trong xử lý rác, kinh phí cho công nhân thu gom Kinh phí cho hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng cho quá trình thực hiện các hoạt động quản lý rác thải diễn ra nhanh, hiệu quả
2.1.3.4 Nguồn nhân lực
Năng lực của cán bộ các cơ quan điều hành quản lý rác thải sinh hoạt có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động Nếu đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý tốt thì tiến độ thực hiện sẽ dễ dàng, chất lượng công việc cao Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn thấp, thiếu năng lực quản lý thì sẽ làm chậm tiến độ công việc và chất lượng của công việc
sẽ không cao Chính vì vậy nghiên cứu quản lý rác thải sinh hoạt cần nghiên cứu đến trình độ, năng lực của cán bộ địa phương
2.1.3.5 Khoa học kỹ thuật, công nghệ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý rác thải, các ứng dụng từ nước ngoài cũng như việc đầu tư cho các mô hình xử lý rác thải với công nghệ hiện đại Tuy nhiên, hoạt động quản lý RTSH vẫn còn đang là vấn đề quan tâm của nhiều nhà khoa học và của Nhà nước do nguồn lực có hạn nên việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại cho quản lý RTSH diễn ra chậm, chủ yếu là áp dụng các biện pháp phổ thông
Ở Singapore có hai thành phần tham gia chính vào đầu tư cho thu gom và
Trang 27xử lý rác thải là: tổ chức thuộc Bộ khoa học công nghệ và môi trường chủ yếu thu gom rác thải sinh hoạt tại các khu dân cư và các công ty và hơn 300 công ty
tư nhân của Singapore chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất
cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra của Bộ khoa học công nghệ và môi trường (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Ngoài ra, các công ty và các hộ dân ở Singapore được khuyến khích tự thu gom và tự xử lý rác thải để có thể giảm được chi phí Bộ khoa học công nghệ và môi trường quy định cụ thể phí thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân và các công ty Chẳng hạn đối với các hộ dân, thu gom trực tiếp rác tại nhà phải trả
17 đô-la Singapore/tháng, thu gom rác thải gián tiếp tại khu dân cư thì chỉ phải trả phí 7 đô-la Singapore/ tháng (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
2.2.1.2 Ở Nhật Bản
Tại Nhật Bản có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm trong quản lý chất thải: chất thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của nhà nước, còn chất thải từ các công ty, nhà máy thì giao cho tư nhân đấu thầu hoặc các công
ty do chính quyền địa phương chỉ định xử lý; các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về rác thải của mình…nên việc xử
lý rác thải ở đất nước này rất nhịp nhàng (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Luật bảo vệ môi trường của Nhật Bản bắt buộc các công ty sản xuất các sản phẩm đồ dùng điện tử phải có trách nhiệm tái chế các sản phẩm hư cũ của mình; còn người tiêu dùng phải có trách nhiệm chi trả việc vận chuyển và tái chế cho các sản phẩm điện tử do họ thải ra Khi mua sản phẩm mới, nếu có đồ cũ, người tiêu dùng được công ty trả tiền cho khoản rác thải điện tử họ có Vì thế, hầu hết các công ty sản xuất đồ dùng điện tử như Sony, Toshiba… của Nhật Bản đều có nhà máy tái chế riêng (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Tại các thành phố lớn như Tokyo, Osaka, Kobe…Chính quyền mỗi quận đều đầu tư xây dựng nhà máy chế biến rác thải có công suất chế biến khoảng 500-1000 tấn rác/ ngày, với kinh phí khoảng 40-60 USD/ nhà máy Ở thành phố
Trang 28nào rác thải cũng được phân loại triệt để đến mức nhỏ nhất Dọc hai bên đường ở Nhật Bản, các thùng rác được đặt ở hai bên vệ đường Trên các thùng rác này được vẽ hình những loại rác được phép bỏ vào đó Mỗi thùng rác có màu sắc riêng, ký hiệu để mọi người đi đường dễ phân biệt khi bỏ rác vào thùng Họ phân thành bốn loại chính: rác cháy được, rác không cháy được, rác tái sinh và rác cồng kềnh (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Do Chính phủ Nhật Bản chính thức khuyến khích tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải tái chế, do đó mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55-60 triệu tấn rác, nhưng từ năm 1991, chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa đến bãi chôn lấp, còn phần lớn là đưa đến các nhà máy để tái chế Nước Nhật đề cao việc tái chế rác thải Tuy nhiên, việc tái chế một số vật cũng gặp khó khăn, ví dụ như tái chế bê tông thành cát, chi phí bỏ ra để tái chế còn cao hơn chi phí việc nhập khẩu vật liệu tương tự nhưng không tái chế sẽ ô nhiễm môi trường (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác như một nguyên liệu sản xuất Chính phủ từng hỗ trợ 30 USD/ máy để người dân mua máy tự xử lý rác thải hữu cơ làm phân composit bón cho cây trồng (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
2.2.1.3 Ở Hà Lan
Hà Lan là một nước không lớn nhưng những kết quả của hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của nước này dư luận được cả thế giới chú ý Một trong những hoạt động của Hà Lan theo hướng bảo vệ môi trường là xử lý các chất thải Việc xử lý các chất thải ở Hà Lan có sự tham gia của chính quyền, xã hội, cũng như các cơ quan chuyên ngành bởi vì khối lượng công việc rất lớn Chất thải từ đất nước này được xử lý bằng nhiều cách, một phần các chất thải được tiêu hủy, một phần khác được đưa vào tái chế (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Đối với các chất thải của ngành công nghiệp hóa chất thì việc xử lý phức tạp hơn, hàng năm, Hà Lan có tới 21 triệu tấn chất thải, 60% đổ ở các bãi chứa, phần còn lại được đưa vào các lò thiêu hủy hay đưa vào tái chế Để bảo vệ môi trường, Hà
Trang 29Lan đã đề ra mục tiêu giảm khối lượng chất thải hàng năm để chất thải tồn tại ở các bãi không quá 30% khối lượng chất thải hiện nay (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Trước đây, trong một thời gian dài, các chất thải ở Hà Lan được chuyển ra nước ngoài Hiện nay, cách giải quyết này không thể tiếp tục nên vấn đề cơ bản
là phải xử lý chất thải công nghiệp và mở rộng các lò đốt phế thải Nhiệt năng do các lò thiêu rác gây ra sẽ được hòa nhập vào năng lượng chung của đất nước Trong vòng nhiều năm, Hà Lan tiến hành thiêu hủy chất thải công nghiệp ngoài biển, nhưng từ năm 1990 cách xử lý như vậy đã được chấm dứt Chính phủ Hà Lan không chỉ quan tâm đến phương pháp và quy trình công nghệ được sử dụng
để hủy các chất thải mà còn quan tâm tới việc hình thành dư luận xã hội về vấn
đề này (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Hà Lan đạt được bước chuyển biến lớn trong việc mở rộng chương trình giáo dục trong trường học trong các xí nghiệp công nghiệp và những người nội trợ về sự cần thiết phải bảo đảm cho môi trường sống được trong sạch Nhờ đó chất thải rắn được chứa bằng túi ni lông và được phân loại ngay tại khâu này Do được giáo dục tốt nên người dân của đất nước Hà Lan có ý thức rất cao trong việc phải phân loại chất thải ngay tại nguồn, nhờ đó các chất thải được phân loại trước khi chúng được tiến hành thu gom Đây là điểm
mà Việt Nam ta phải chú ý để đưa vào ứng dụng thực tế (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
Hà Lan đã xây dựng một nhà máy xử lý chất thải để bảo vệ môi trường Tại đây họ sẽ chôn lấp một khối lượng lớn chất thải độc hại (những chất trước đây thường được hủy ngoài biển) sau khi chúng đã được xử lý bằng các phương pháp cần thiết Chất thải như chất thải dung môi, cao su và mủ cao su, rác bệnh viện, rác dược phẩm, nhựa đường axit và đất sét đã sử dụng, các chất thải đã nhiễm khuẩn bởi các hóa chất độc hại…được đưa về các nhà máy đốt chất thải đang áp dụng công nghệ hiện đại, đảm bảo được các tiêu chuẩn về môi trường Hoặc tổ chức việc sản xuất phân ủ từ chất thải với kỹ thuật hiện đại nhất hoặc
Trang 30ứng dụng những quy trình đặc biệt nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu mới, thuận lợi cho công việc chế biến (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
2.2.2 Tình hình quản lý và xử lý rác thải tại Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình quản lý rác thải tại Việt Nam
Ở nhiều nước trên thế giới, việc bảo vệ môi trường (BVMT) trở thành 1 quốc sách lớn Hệ thống các văn bản pháp luật về BVMT được ban hành đầy đủ, huy động nhiều nhân lực, vật lực và tài lực để BVMT Những năm gần đây tổ chức quản lý rác thải sinh hoạt tại các địa phương đã được chú ý hơn trước, nhưng cơ bản về hình thức và nội dung hoạt động vẫn chậm đổi mới Một cách tổng quát, các hợp phần chức năng của hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn được thể hiện ở sơ đồ 2.3
Sơ đồ 2.3 Hệ thống tổ chức quản lý về CTR ở một số đô thị tại Việt Nam
Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010 Việc BVMT ở nước ta cũng như công tác kiểm tra, chống ô nhiễm môi trường (ONMT) được quan tâm rất muộn Mãi đến năm 1980, Hiến pháp sửa đổi mới có điều 36 quy định về nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái
Trang 31sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN), bảo vệ và cải thiện môi trường sống đối với mọi công dân (Báo cáo Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
2.2.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn toàn quốc
Theo Bộ Tài nguyên & Môi trường (2010), Quá trình phát sinh CTR gắn liền với quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người, khi đời sống của nhân dân được nâng lên cũng là lúc lượng rác thải tăng lên rất nhiều Tuy nhiên vấn đề thống kê số liệu về CTR chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, số liệu thống
kê chưa đầy đủ
Theo thống kê năm 2004, lượng CTR đô thị là 0,7 kg/người/ngày và nông thôn là 0,3 kg/người/ngày thì đến năm 2008 con số này đã tăng lên đáng
kể, lượng CTR đô thị thống kê trong năm này là 1,45 kg/người/ngày và vùng nông thôn là 0,4 kg/người/ngày Chúng ta có thể thấy rằng tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng, dân cư ngày càng đông đúc và lượng rác phát sinh ngày một diễn biễn phức tạp
Bảng 2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn ở Việt nam
Tổng lượng chất thải rắn đô thị 1000 tấn/năm 15.459,9 27.868,0
1 Chất thải rắn đô thị 1000 tấn/năm 6.400,0 12.802,0
2 Chất thải rắn Nông thôn 1000 tấn/năm 6.400,0 9.078,0
3 Chất thải rắn công nghiệp 1000 tấn/năm 2.638,0 4.786,0
4 Chất thải rắn y tế 1000 tấn/năm 21,5 179,0
5 Chất thải rắn làng nghề 1000 tấn/năm 774,0 1.023,0
Một số chỉ tiêu chính
1 Phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt trung
bình tại khu vực đô thị Kg/người/ngày 0,7 1,5
2 Phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt trung
bình tại khu vực nông thôn Kg/người/ngày 0,3 0,4
Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010
Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng CTR phát
Trang 32sinh trung bình từ 150 – 200%, CTR sinh hoạt đô thị tăng lên 200%, CTR công nghiệp tăng lên 181% và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Dự báo của Bộ tài nguyên & môi trường đến năm 2015, khối lượng CTR phát sinh ước tính khoảng 44 triệu tấn/năm, đặc biệt là CTR đô thị và công nghiệp
Tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc khoảng 35.000 tấn/ngày, CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTR sinh hoạt chiếm 60-70% tổng lượng CTR
đô thị (một số đô thị tỷ lệ này còn lên tới 90%) Cũng theo kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt từ đô thị có xu hướng tăng đều, trung bình 10-16% mỗi năm
Biểu đồ 2.1 Thành phần CTR toàn quốc năm 2008, xu hướng năm 2015
Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010 Chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, với dân số năm 2010 là gần 8 triệu người (khách vãng lai khoảng 2 triệu), mỗi ngày TP HCM thải ra khoảng 7.000-7.500 tấn CTR đô thị, trong đó, thu gom được khoảng 5.900-6.200 tấn/ngày , tái chế, tái sinh khoảng 900-1.200 tấn, khối lượng còn lại chủ yếu là chất hữu cơ được thải bỏ vào đồng ruộng, vườn cây nông nghiệp làm phân bón Lượng CTR thải bỏ vào kênh rạch 350-400 tấn/ngày đều được thu gom vận chuyển đến các
bãi chôn lấp
Trang 332.2.2.3 Hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010 của Bộ Tài nguyên
& Môi trường, công tác thu gom và vận chuyển CTR đô thị vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khi mà lượng CTR phát sinh không ngừng tăng lên, tỷ lệ thu gom trung bình không tăng tương ứng, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước mặt, không khí, đất, cảnh quan đô thị và tác động xấu đến sức khỏe
cộng đồng (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
Mặc dù công tác thu gom và vận chuyển CTR ngày càng được chính quyền các địa phương quan tâm nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Năng lực thu gom và vận chuyển CTR cả về nhân lực và vật lực đều chưa đáp ứng được nhu cầu, mạng lưới thu gom còn yếu và thiếu Bên cạnh đó do nhận thức chưa cao của người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường nên hiện tượng đổ rác thải bừa bãi vẫn còn diễn ra phổ biến không chỉ ở khu vực nông thôn mà còn tại các khu vực nội thị Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn, được thu gom lẫn lộn và chuyển đến bãi chôn lấp Công việc thu nhặt và phân loại phế thải có khả năng tái chế, hoàn toàn do những người nghèo sinh sống bằng nghề bới rác thực hiện (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị trên địa bàn toàn quốc tăng lên từ 65% năm 2003 lên 72% năm 2004 và lên đến 80-82 % năm 2008 Đối với khu vực nông thôn, tỷ lệ thu gom đạt trung bình từ 40-55% (năm 2003, con số này chỉ đạt 20%) Hiện có khoảng 60% số thôn, xã tổ chức dọn vệ sinh định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản (Bộ Tài nguyên &
Môi trường, 2010)
2.2.2.4 Hiện trạng xử lý và quản lý chất thải rắn
Công nghệ xử lý CTR còn nhiều vấn đề bức xúc, việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục và công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương Các công trình xử lý CTR còn manh mún, phân tán theo đơn vị hành chính nên công tác
Trang 34quản lý chưa hiệu quả, suất đầu tư cao, hiệu quả sử dụng thấp, gây lãng phí đất (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
Công tác xử lý CTR đô thị hiện nay vẫn là chôn lấp với số lượng trung bình
là 1 bãi chôn lấp/1 đô thị (Hà Nội và TP HCM, mỗi đô thị có từ 4-5 bãi chôn lấp/khu xử lý) Trong đó 85% đô thị (từ thị xã trở lên) sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh Thống kê, hiện toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành nhưng chỉ 16 bãi thải được coi là chôn lấp hợp vệ sinh (tập trung ở các thành phố lớn) Các bãi còn lại, CTR phần lớn được chôn lấp
sơ sài (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2010)
Theo Bộ Tài nguyên & Môi trường (2010) Tình hình xử lý CTR sinh hoạt tại các khu xử lý CTR của Tp HCM cụ thể như sau;
(1) Khu xử lý rác Gò Cát (Quận Bình Tân): Diện tích 25ha; công suất 2.000 tấn/ngày; khối lượng rác đã tiếp nhận xử lý từ năm 2005-2007 là 2,93 triệu tấn; là bãi chôn lấp CTR sinh hoạt hợp vệ sinh, hiện đang ngưng tiếp nhận rác; (2) Khu xử lý rác Phước Hiệp (Huyện Củ Chi): Diện tích 44,9ha; công suất 3.000 tấn/ngày; khối lượng rác đã tiếp nhận xử lý từ năm 2005-2007 là 2,61 triệu tấn; là bãi rác chôn lấp CTR sinh hoạt hợp vệ sinh;
(3) Khu xử lý rác Đông Thạnh: Diện tích 43,5ha; công suất 1.000 tấn/ngày; đã đóng cửa tháng 01/2003, hiện đang sử dụng để chôn lấp vật liệu xây dựng; từ 01/2007 đã triển khai xử lý phân bồn cầu;
(4) Khu xử lý rác Đa Phước (Huyện Bình Chánh): Diện tích 128ha; công suất hiện tại 3.000 tấn/ngày (Công suất thiết kế là 6.000 tấn/ngày); sử dụng máy xịt phủ lấp rác Posi-Shell; hệ thống xử lý nước rỉ rác với công suất thiết kế 1.000 m3/ngày
2.2.3 Một số mô hình quản lý rác thải ở một số địa phương
2.2.3.1 Mô hình thu gom và xử lý rác thải nông thôn ở Thái Bình
Thái Bình có hơn 90% dân số sống ở khu vực nông thôn, nghề chính là làm ruộng Trong chính sách mở cửa để phát triển kinh tế ở Thái Bình nói riêng
và cả nước nói chung theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đời sống người dân nông thôn được cải thiện Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình phát
Trang 35triển cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng ở nông thôn như: cung cấp nước sinh hoạt, rác thải, nước thải tại các làng nghề, thị trấn, thị tứ Phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp ngoài một phần làm thức ăn gia súc, phân bón, chất đốt, phần còn lại bị vương vãi trong đường làng, ngõ xóm Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thải ra một lượng đáng kể vỏ bao bì gồm: túi ni-lông, chai lọ thuỷ tinh, chai nhựa, bị vứt bỏ bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương, ao
hồ (Nguyễn Hồng Quang, 2004)
Từ thực trạng nêu trên, Thái Bình đưa ra một mô hình thu gom và xử lý chất thải rắn đã được một số cơ sở trong tỉnh áp dụng hiệu quả, góp phần vào công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững địa phương Mô hình được áp dụng theo quy mô nhỏ ở cấp thôn hoặc xã Thành lập một tổ thu gom rác thải từ năm đến bảy người có quy chế hoạt động cụ thể và chịu sự quản lý của chính quyền xã hoặc thôn
Tổ thu gom rác được trang bị xe chở rác, các vật dụng cần thiết gồm: cuốc, xẻng, quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, chổi Tổ thu gom hoạt động hằng ngày vào các giờ quy định (thường từ 15 đến 16 giờ), trong khoảng thời gian này, các nhân viên thuộc tổ thu gom có trách nhiệm thu gom rác và vệ sinh đường làng, ngõ xóm trong thôn hoặc xã Rác thải sau khi thu gom được vận chuyển đến bãi rác đã được quy hoạch thuộc địa giới hành chính của thôn, xã Tại bãi rác, các nhân viên tiếp tục thực hiện các công đoạn xử lý tiếp theo Đối với chất thải rắn nông thôn họ đã lựa chọn phương pháp xử lý bằng cách chôn lấp dễ thực hiện và đạt hiệu quả kinh tế (Nguyễn Hồng Quang, 2004)
Vị trí bãi chôn lấp phải nằm trong tầm khoảng cách hợp lý tới nguồn phát sinh phế thải, tại khu đất trống, không phá hoại cảnh quan, xa khu vực dân cư và nên khuất gió Diện tích bãi chôn lấp tuỳ theo khối lượng rác thải và điều kiện của từng địa phương Bố trí bãi chôn lấp cách xa nguồn nước mặt, các dòng chảy Ngăn chặn sự rò rỉ của nước bãi rác thải với nước ngầm bằng các lớp lót chống thấm và thành đê bao của bãi chôn lấp Các yêu cầu thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng quy định, chú ý lớp lót chống thấm, hệ thống đê kè chung quanh bãi rác Lớp lót chống thấm có thể được sử
Trang 36dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 1m (Nguyễn Hồng Quang, 2004)
Đây là phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường Lệ phí thu gom, thu từ nhân dân theo đơn
vị gia đình bằng tiền mặt hoặc thóc để mọi người dân đều có ý thức, trách nhiệm gìn giữ vệ sinh môi trường và có nguồn tài chính trả công cho nhân viên lao động trực tiếp thu gom và xử lý chất thải (Nguyễn Hồng Quang, 2004)
Trên địa bàn nông thôn Thái Bình hiện nay đã có nhiều nơi áp dụng mô hình trên như: thôn Hiệp Lực, làng Lộng Khê, xã Quỳnh Minh, xã An Đồng, huyện Quỳnh Phụ, xã Thuỵ Sơn, xã Thái Dương, huyện Thái Thuỵ (Nguyễn Hồng Quang, 2004)
2.2.3.2 Mô hình thu gom và xử lý rác thải nông thôn tại thôn Đình Sen – Xã Nghĩa Hưng – Huyện Vĩnh Tường – Tỉnh Vĩnh Phúc
Nghĩa Hưng là một xã thuần nông thuộc huyện Vĩnh Tường có diện tích đất tự nhiên 450 ha Toàn xã có 7 thôn với 1450 hộ, 7560 nhân khẩu Kết cấu hạ tầng của địa phương đều trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng với tiến trình phát triển kinh tế Nguồn rác thải hàng ngày chủ yếu là từ sinh hoạt, chăn nuôi, nông nghiệp, các nghề phụ, chợ của địa phương Trong khi đó
xã vẫn chưa có đội VSMT nên rác thải vẫn được người dân vứt tự do ra môi trường (Nguyễn Hoàn, 2008)
Khối lượng các loại rác thải sinh hoạt của xã là 1632 tấn/năm, rác thải từ nông nghiệp 10.489 tấn/năm, rác thải từ chăn nuôi 5.350 tấn/năm, rác thải rắn xây dựng từ 136-1008 tấn/năm, rác thải rắn nguy hại từ sinh hoạt 980 tấn/năm Nhằm từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, mới đây UBND xã Nghĩa Hưng phối hợp với Hội Nông dân tỉnh mở 3 lớp tập huấn, tuyên truyền về công tác bảo vệ môi trường cho 450 nông dân, nội dung tập huấn tuyên truyền tập trung vào việc xây dựng mô hình nông nghiệp sinh thái (quy trình xây dựng nhà vệ sinh, nhà trẻ, trường học đạt tiêu chuẩn; quy trình xây dựng hầm biôgas, quy trình ủ, bón phân vi sinh…), bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng
Trang 37đất đai, hướng dẫn kỹ thuật tập trung, thu gom, xử lý rác thải Thông qua 3 lớp tập huấn trên, tháng 10/2007 xã Nghĩa Hưng đã triển khai xây dựng mô hình thí điểm đội vệ sinh môi trường tại thôn Đình Sen Đội gồm 20 người, hoạt động 2 lần trên tuần, địa điểm tập trung rác tại đầu mỗi ngõ, phí đóng góp 1000đ/khẩu/tháng Xã đã hỗ trợ cho Đội vệ sinh môi trường thôn Đình Sen 10 xe chở rác, 20 bộ quần áo bảo hộ, 20 đôi găng tay, 20 đôi ủng bảo hộ, 10 xẻng, 10 chổi vệ sinh, 10 quốc chia Xã quy hoạch 300m2 tại thôn Đình Sen để xây dựng bãi tập trung, xử lý rác của thôn với phương pháp xử lý là chôn, đốt Sau 1 năm hoạt động, điểm thu gom và xử lý rác thải nông thôn tại thôn Đình Sen bước đầu đã cho hiệu quả rõ rệt Cảnh quan (đường làng, cống rãnh ) trước khi có mô hình rất bừa bộn, mất vệ sinh, địa điểm, thời gian vứt rác tự do nhiều, không tập trung, không khí ngột ngạt Sau khi có mô hình thu gom, xử lý rác thải cảnh quan trong thôn rất thông thoáng, địa điểm, thời gian vứt rác tập trung, theo lịch, không khí thoáng đãng, người dân đã có ý thức về môi trường (Nguyễn Hoàn, 2008)
Mô hình điểm thu gom và xử lý rác thải nông thôn Đình Sen không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế, xã hội, môi trường mà nó còn mang lại lợi ích mọi mặt về lâu dài, từ đó có thể tác động lên ý thức, hành vi của mỗi người dân, đặc biệt là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, nghĩa vụ của các cấp, các ngành Sau nữa là giảm chi phí khắc phục môi trường cho nông nghiệp, người dân, tăng đầu tư, cải thiện sức khoẻ, tăng thu nhập tại chỗ cho địa phương, người dân sở tại, tạo nên sự phát triển môi trường sinh thái bền vững góp phần xây
dựng nông thôn mới văn minh, xanh- sạch- đẹp (Nguyễn Hoàn, 2008)
2.2.3.3 Một mô hình thu gom rác thải nông thôn Xã Đầm Hà - Quảng Ninh
Trong chương trình hoạt động công tác Hội về nâng cao nhận thức cho nông dân trong bảo vệ môi trường, từ tháng 9- 2009 Hội Nông dân tỉnh Quảng Ninh đã triển khai thực hiện mô hình thu gom rác thải tại xã Đầm Hà (huyện Đầm Hà) Đây là xã thuần nông nằm dọc QL18A, nông dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh mới đạt 30% Việc thu gom, xử lý rác thải từ trước đến nay do từng hộ dân
Trang 38tự xử lý, xã chưa có lực lượng thu gom Vì vậy tình trạng rác thải vứt bừa bãi, hôi thối, gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đời sống của các hộ dân trong xã mà còn ảnh hưởng đến mỹ quan chung của huyện Nhận thức của người dân về việc thu gom, xử lý rác thải trong quá trình chăn nuôi và sinh hoạt lại chưa cao, xác súc vật chết đều đổ ra khe, suối gần nhà và quanh vườn; nhà tiêu không đảm bảo vệ sinh Đây là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh trên địa bàn xã thời gian qua, ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng, phá huỷ cân bằng môi trường
Việc xây dựng dự án “Mô hình điểm về thu gom rác thải vệ sinh môi trường nông thôn” tại xã Đầm Hà, nhằm góp phần cải thiện môi trường, nâng
cao đời sống văn hóa cho người dân; thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người nông dân theo hướng tích cực, ứng xử thân thiện với môi trường 130 hội viên nông dân được tập huấn nâng cao nhận thức về môi trường trong việc bảo
vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng Sau khi tập huấn các hội viên này tham gia thu gom rác thải sinh hoạt cũng như xử lý rác thải chăn nuôi và vận động gia đình, người thân cùng tham gia Đặc biệt vận động họ tích cực áp dụng khoa học
kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi, trồng trọt, đi đôi với xử lý rác thải, rác thải gây ô nhiễm môi trường Tăng cường ý thức, năng lực về quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ vệ sinh môi trường nông thôn Phát huy nội lực tại chỗ, kết hợp lồng ghép với các nguồn lực khác để người dân tự nguyện đóng góp kinh phí, vật liệu, công sức, đất đai để xử lý rác thải, tổ chức thu gom, xây dựng công trình nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi người nông dân
Hội tạo điều kiện cho 150 hộ dân sử dụng phương tiện, công trình mà dự
án hỗ trợ để tổ chức thu gom xử lý rác thải, tạo bộ mặt mới cho môi trường của thôn, bản, xây dựng nếp sống thân thiện với môi trường, sống hợp vệ sinh, góp phần nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường Huy động nguồn lực tại địa phương để xây dựng bể chứa rác trung chuyển Trang bị 15 xe thu gom rác và
260 thùng đựng rác tại hộ gia đình; duy trì hoạt động của tổ vệ sinh thu gom rác thải góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại khu trung tâm và toàn xã để
Trang 39nâng cao điều kiện sống của người dân Dự án đặt mục tiêu 80% rác thải trong xã được thu gom, xử lý và 80% người dân trong xã được nâng cao nhận thức, ý thức
về bảo vệ môi trường
Từ kinh nghiệm của xã Đầm Hà ta thấy việc quản lý rác thải phải dựa vào chính cộng đồng đó, chúng ta phải huy động và phát huy nội lực chính địa
phương dưới sự hỗ trợ của các cơ quan chính quyền địa phương
2.2.3.4 Mô hình quản lý RTSH tại Xã Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội
a, Xây dựng mô hình quản lý rác thải tại xã Kim Chung
Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn, đã có nhiều cơ quan nghiên cứu giải quyết, trong đó có tổ chức từ thiện nước ngoài YWAM có đề án giải quyết vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam Nguyên tắc của tổ chức này
là không đầu tư 100%, mà cần có sự đóng góp của chính quyền địa phương và người dân Để thực hiện dự án quản lý và xử lý rác thải tại thôn Lai Xá - xã Kim Chung cần khoản kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành mô hình khoảng 400 -
500 triệu VN đồng (kể cả chi phí cho tuyên truyền và tập huấn)
b, Các bước tiến hành xây dựng mô hình
- Điều tra, khảo sát tình trạng ô nhiễm do rác thải sinh hoạt của địa phương
- Tuyên truyền vận động người dân và chính quyền hưởng ứng việc thu gom, xử lý rác
- Lên phương án khả thi về xây dựng và tổ chức thực hiện
- Dựa trên phương án khả thi, phân bổ nguồn kinh phí do Tổ chức ủng hộ
và phần kinh phí do tỉnh, huyện và nhân dân cần phải đóng góp để thực hiện dự
án Địa phương dành 1.500m2 tương lai 3.000m2) để xây dựng mô hình tại địa điểm thích hợp xa nhà dân
- Tổ chức đội thu gom, vận chuyển và xử lý rác
- Tuyên truyền, tập huấn cho người dân từ khâu phân loại khi bỏ rác vào thùng và có thói quen đổ rác như ở các thành phố
- Việc phân loại rác được tiến hành từ các gia đình, tại trạm tiếp tục lựa chọn, phân loại tiếp trong quá trình tập kết, đảo rác
- Xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn theo quy trình công nghệ của các nhà khoa học Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 40c, Quy trình quản lý
Công tác quản lý RTSH ở thôn Lai Xá, xã Kim Chung được thực hiện hiện theo sơ đồ 2.4 cho thấy rác thải của các hộ dân được phân loại sơ bộ ngay tại gia đình, mỗi gia đình có 2 thùng rác, một thùng đựng rác hữu cơ (thực phẩm thừa, lá cây ), một thùng đựng rác vô cơ các loại không phân hủy được (thủy tinh, nylon, vỏ sò, vỏ ốc ) Hàng ngày công nhân của đội thu gom đi thu gom đưa về sân tập kết Ở đây, rác được tiếp tục phân loại để loại bỏ các chất
vô cơ Phần hữu cơ được trộn lẫn với chế phẩm vi sinh BioMicromix rồi đưa vào bể ủ Chế phẩm vi sinh BioMicromix là chế phẩm vi sinh vật ưa nhiệt, có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ, làm nhanh mất mùi hôi, không có ruồi muỗi Mỗi bể ủ có thể tích từ 30-40m3
Sơ đồ 2.4 Quy trình quản lý rác thải ở thôn Lai Xá xã Kim Chung
huyện Hoài Đức - Hà Nội
Nguồn: Tăng Thị Chính, 2006 Thôn Lai Xá có khoảng 5.000 dân, lượng rác thải khoảng 3 tấn/ngày Do kinh phí ít nên trạm xử lý rác không thể đầu tư máy móc quy mô lớn như có băng
Rác gia đình