1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh

147 543 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong việc thành lập, cho phép thành lập và kiểm tra, giám sát, xử lý n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

PHẠM THỊ NGỌC ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÌNH TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TẠI HUYỆN QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

PHẠM THỊ NGỌC ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÌNH TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TẠI HUYỆN QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ : 60.34.04.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VIẾT ĐĂNG

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Thị Ngọc Anh

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Viết Đăng Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách - Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã rất nhiệt tình, trách nhiệm, tận tâm hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Chi cục Dân KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ, các cơ quan, đơn vị, cá nhân, bạn bè, các đồng nghiệp và xin ghi nhận sâu sắc tình cảm của gia đình và những người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện

số-về mọi mặt để tôi vượt qua mọi khó khăn, vừa hoàn thành tốt công tác, vừa hoàn thành khóa học cũng như mong muốn hoàn thành tốt luận văn này

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu do điều kiện hạn hẹp về thời gian

và kiến thức của bản thân còn chưa thật đầy đủ về một lĩnh vực khoa học rộng lớn và phức tạp nên mặc dù luận văn đã được hoàn thành, song vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, Tôi mong nhận được sự chỉ bảo, có sự cảm thông, chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Phạm Thị Ngọc Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục các hình x

Danh mục hộp xi

Danh mục biểu đồ xii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH 4

2.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 4

2.1.1 Bản chất của quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 4

2.1.2 Vai trò quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 8

2.1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 8

2.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 9

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 15

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh 17

2.2.1 Khái quát quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta 17

Trang 6

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở một

số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20

2.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 32

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 36

3.1.1 Vị trí địa lý 36

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

3.2 Phương pháp nghiên cứu 44

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 44

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: 47

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Khái quát về tình hình sinh và mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 48

4.1.1 Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi 48

4.1.2 Tình hình Dân số -KHHGĐ của huyện Quế Võ 50

4.1.3 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 63

4.2 Thực trạng quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ 68

4.2.1 Ban hành và cụ thể hóa hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 68

4.2.2 Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về Dân số-KHHGĐ các cấp 69

4.2.3 Tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền giáo dục pháp luật và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về mất cân bằng giới tính khi sinh 74

4.2.4 Quản lý các cơ sở và dịch vụ y tế có liên quan đến lựa chọn, xác đinh giới tính thai nhi 77

4.2.5 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra 80

Trang 7

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi

sinh tại huyện Quế Võ 88

4.3.1 Ảnh hưởng của chính sách và pháp luật 88

4.3.2 Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa 90

4.3.3 Ảnh hưởng của phong tục tập quán giới tính khi sinh 93

4.3.4 Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi 95

4.3.5 Ảnh hưởng của mức sống gia đình 96

4.3.6 Ảnh hưởng nhận thức của người dân 97

4.4 Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 103

4.4.1 Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Quế Võ 103

4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh 106

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

5.1 Kết luận 115

5.2 Kiến nghị 117

5.2.1 Đối với Trung ương 117

5.2.2 Đối với UBND tỉnh 117

5.2.3 Đối với Sở Y tế 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 121

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình giáo dục của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm (2012 – 2014)

39

3.2 Các chỉ tiêu về Dân số huyện Quế Võ, 2012-2014 42

3.3 Số cán bộ tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ, 2012 - 2014 43

3.4 Số cán bộ Y tế ở các xã, thị trấn huyện Quế Võ, 2012-2014 44

3.5 Phân bổ mẫu điều tra ở huyện Quế Võ 45

4.1 Phân bổ dân số huyện Quế Võ theo giới tính và độ tuổi, 2014 48

4.2 Đội ngũ cán bộ tham gia công tác Dân số-KHHGĐ các cấp, 2012-2014 50

4.3 Trình độ và kinh nghiệm cán bộ Dân số-KHHGĐ các cấp huyện Quế Võ, 2014 51

4.4 Kết quả công tác Dân số, SKSS/KHHGĐ huyện Quế Võ, 2012-2014 59

4.5 Tỷ số giới tính khi sinh của các huyện, thị xã, thành phố tỉnh Bắc Ninh, 2012-2014 63

4.6 Số sinh và tỷ số giới tính khi sinh huyện Quế Võ, 2012-2014 64

4.7 Tỷ số giới tính theo thứ tự lần sinh huyện Quế Võ năm 2014 65

4.8 Tổng hợp các văn bản, quy định của pháp luật liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh 68

4.9 Kết quả tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, 2012-2014 74

4.10 Tổng hợp kết quả các hình thức tuyên truyền từ năm 2012-2014 75

4.11 Nhận biết của hộ điều tra về các văn bản chính sách và pháp luật liên quan đến việc nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi 76

4.12 Kết quả cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012 – 2014 77

4.13 Các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi trước khi sinh được áp dụng cho các hộ điều tra 79

4.14 Số đoàn thanh tra, kiểm tra các phòng khám sản khoa, siêu âm 81

4.15 Số cơ sở y tế chịu sự thanh, kiểm tra 2012-2014 81

Trang 10

4.16 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở và dịch vụ y tế, 2012-2014 82

4.17 Kết quả kiểm tra ở các cơ sở siêu âm và nạo phá thai ở huyện Quế Võ năm 2012-2014 83

4.18 Kết quả kiểm tra rà soát các sách, ấn phẩm có nội dung tuyên truyền phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi trên địa bàn huyện Quế Võ, 2012-2014 84

4.19 Phân bố số lần sinh bé trai, bé gái trong các hộ điều tra, 2014 89

4.20 Lý do muốn sinh con trai ở lần sinh gần đây trong các hộ điều tra, 2014 90 4.21 Mong muốn lần sinh gần đây là con trai/con gái, 2014 91

4.23 Tỷ lệ hộ biết chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi tại huyện Quế Võ, 2014 95

4.24 Nhận thức của hộ về hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh, 2014 98

4.25 Mức độ hiểu biết về hậu quả của mất cân bằng mất giới tính khi sinh trong các hộ điều tra, 2014 98

4.26 Phân bố số hộ theo nhóm tuổi 99

4.27 Phân bố số hộ theo giới tính, dân tộc và tôn giáo 99

4.28 Nghề nghiệp của đối tượng phỏng vấn 101

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Mô hình bộ máy QLNN về Dân số-KHHGĐ 71

Trang 12

DANH MỤC HỘP

4.1 Kết quả phỏng vấn chuyên sâu cộng tác viên Dân số-KHHGĐ, 2014 83 4.2 Ảnh hưởng phong tục, tập quán của người dân 94

Trang 13

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

2.1 Tỷ số giới tính khi sinh theo số năm đi học của người mẹ 18

2.2 Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng 19

2.3 Tỷ số giới tính khí sinh ở Trung Quốc qua các năm 21

4.1 Tháp dân số theo giới tính và độ tuổi huyện Quế Võ, 2014 49

4.2 Tỷ số giới tính khi sinh huyện Quế Võ, (2012 – 2014) 65

4.3 Tỷ số giới tính khi sinh theo lần sinh của huyện Quế Võ, 2014 66

4.4 Các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi được áp dụng cho các hộ điều tra 80

4.5 Mức sống của gia đình 97

Trang 14

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục, đô thị hóa và phát triển kinh tế đã nâng cao đáng kể cơ hội cho phụ nữ, trẻ em gái Châu Á trong vòng hai thập kỷ qua Tuy nhiên sự chuyển biến

rõ rệt về vị thế của người phụ nữ và bình đẳng giới tính cũng đi kèm với tình trạng giảm sút tỷ lệ trẻ em gái ở nhiều nước Sự suy giảm có nguyên nhân phần lớn do sự gia tăng thực hành lựa chọn giới tính trước sinh trong vòng 20 năm qua

đã dẫn đến hiện tượng nam hóa trong dân số ở mức đáng báo động Sự mất cân bằng giới tính đang gia tăng sẽ có tác động xấu tới nam giới, phụ nữ và gia đình

ở nhiều cấp độ trong vòng nửa thế kỷ tới

Tỷ số giới tính khi sinh dao động trong khoảng 103-106 trẻ em trai trên 100 trẻ em gái được coi là bình thường Tuy nhiên tại Việt Nam kết quả Tổng điều tra Dân số ngày 1/4/2011 cho thấy có 46/63 tỉnh, thành phố có tỷ số giới tính khi sinh mất cân bằng Trong đó, có những tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao trên

120 thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng (Tổng cục thống kê, 2011)

Các nghiên cứu hiện có cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh (GTKS) dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, để lại những hậu quả xấu cho gia đình và cộng đồng, đặc biệt là về sức khoẻ và đời sống của phụ nữ; phụ nữ phải gánh chịu áp lực nặng nề về thể xác và tinh thần để sinh được con trai Nếu tình trạng mất cân bằng GTKS ở Việt Nam như hiện nay tiếp tục kéo dài trong 20 năm tới thì vào năm 2035, sẽ có khoảng 10% nam giới Việt Nam sinh sau năm 2005 sẽ bị dư thừa so với tổng số nữ giới; điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cá nhân, gia đình, các dòng tộc mà còn trở thành

tai họa đối với dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước (Bộ Y tế, 2012)

Tại Bắc Ninh mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức nghiêm trọng, Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất toàn quốc Theo kết quả Tổng điều tra Dân số ngày 01/4/2011 tỷ số GTKS toàn quốc là 111,9 trẻ em trai/100 trẻ em gái Theo báo cáo của Chi cục Dân số-KHHGĐ năm 2010,

Trang 15

2011, 2012, 2013, 2014 tỷ số GTKS của Bắc Ninh lần lượt là: 128,6/100; 125,5/100;

121,6/100; 118,7/100; 117,03/100 (Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh, 2014)

Tại huyện Quế Võ thì tỷ số GTKS năm 2009 là 130 trẻ trai/100 trẻ gái, đến năm 2013 mặc dù có giảm song tỷ số GTKS vẫn ở mức (122,6); trong đó có 12/21 xã tỷ số GTKS trên (120); đặc biệt một số xã quá cao như Bằng An (185,7); Cách Bi (169,8); Chi Lăng (156,5); năm 2014 và những năm tiếp theo vẫn

tiềm ẩn nguy có tăng cao (Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Quế Võ, 2014)

Vì sao phải quan tâm đến tỷ số giới tính khi sinh? Tỷ số giới tính khi sinh

có ý nghĩa quyết định đến tỷ số giới tính chung của dân số và qua đó ảnh hưởng đến nhiều vấn đề kinh tế, văn hoá và an sinh xã hội Thông thường, tỷ số giới tính chung dao động trong khoảng từ 95 đến 105, có nghĩa là cứ 100 người nữ thì

có từ 95 – 105 người nam Dân số có tuổi thọ càng cao thì tỷ số giới tính chung càng có xu hướng giảm do phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới Trong điều kiện không có chiến tranh và dịch bệnh, tỷ số giới tính chung của dân số được duy trì ở mức cân bằng đảm bảo cho quá trình tái sản xuất dân số cũng như giảm thiểu các tác động tiêu cực của tình trạng mất cân bằng giới tính trong độ tuổi hôn nhân, trong nguồn lao động, trong việc thực thi các chính sách chế độ chăm

sóc sức khoẻ và giáo dục (Học viện Báo chí và tuyên truyền, 2010)

Thực tế cho thấy điều kiện kinh tế, văn hóa, địa lý ở mỗi địa phương khác nhau có những đặc thù và nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Vậy câu hỏi đặt ra là nguyên nhân mất cân bằng giới tính của huyện Quế Võ là gì? Và làm thế nào để kiểm soát được tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của huyện Quế Võ hiện nay?

Nhận thức rõ những hậu quả trong tương lai của việc gia tăng tỷ số giới tính khi sinh với mong muốn giảm thiểu mất cân bằng giới tính Để góp phần vào việc kiểm soát mất cân bằng giới tính hiện nay với việc vận dụng những kiến

thức trong quá trình học tập, thực tế tại địa phương tôi xin chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh”

Trang 16

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh, các nguyên nhân ảnh hưởng và các giải pháp khắc phục

1.3.2.3 Về thời gian

- Số liệu khảo sát thực trạng được điều ta trong 3 năm, từ năm 2012-2014

- Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015

Trang 17

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

2.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

2.1.1 Bản chất của quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

tư pháp của hệ thống tư pháp

Trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội Trong sự quản lý đó, thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt

Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà

nước, gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp;

Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức

sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia;

Thứ ba, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã

hội, quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;

Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ

pháp luật nhà nước để quản lý xã hội;

Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự

ổn định và phát triển của xã hội;

Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản

lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước

Trang 18

để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Như vậy QLNN là thuật ngữ chỉ hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích

ổn định và phát triển đất nước (HVHCQG, 2005)

Từ những phân tích trên cho thấy, để thống nhất thực hiện QLNN về lĩnh vực y tế Bộ Y tế là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng QLNN đối với ngành y bằng pháp luật Riêng lĩnh vực về mất cân bằng giới tính khi sinh Bộ Y

tế giao cho Sở Y tế, trực tiếp là Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh thực hiện chức năng QLNN về vấn đề này

- Giới: Là các đặc điểm về mặt xã hội liên quan đến vị trí, tiếng nói, vai trò, công việc của phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội Đây là những đặc

điểm mà phụ nữ và nam giới có thể hoán đổi cho nhau được (Bách khoa toàn thư

mở wikipedia)

- Giới tính là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, giới tính của mỗi người được xác định ngay từ khi tinh trùng với trứng lúc thụ thai, đứa trẻ

được sinh ra là con trai hay con gái (Bách khoa toàn thư mở wikipedia)

Giới tính phản ánh các đặc điểm về cấu tạo cơ thể, liên quan đến chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới không thể hoán đổi cho nhau được đó là: Nam giới có tinh trùng, có thể gây có thai, nhưng nam giới không thể mang thai được Phụ nữ có dạ con, có hành kinh, có thể mang thai, sinh con và cho con bú Giới tính của mỗi người là không thay đổi trong suốt cuộc đời Đàn ông, đàn bà nói

chung về cấu tạo sinh học, giải phẫu đều giống nhau (Bách khoa toàn thư mở wikipedia)

- Tỷ số giới tính chung: Là số nam trên 100 nữ trong một khoảng thời gian

xác định, thường là một năm tại một quốc gia hay một vùng, một tỉnh (Bộ Y tế - Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)

Trang 19

- Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio of births - SRB): Là số trẻ em trai được sinh ra còn sống trên 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh Bình

thường, tỷ số này dao động từ 103-106 (Bộ Y tế - Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)

- Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống

và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau

2.1.1.2 Mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính: Là số trẻ em trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường so với 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay

một tỉnh (Bộ Y tế - Tổng cục Dân số - KHHGĐ, 2009)

2.1.1.3 Quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính là hậu quả của nhiều yếu tố, bao gồm bất bình đẳng giới, các chuẩn mực văn hóa - xã hội, chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, những can thiệp chăm sóc sức khỏe Việc mất cân bằng giới tính dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng như:

Thứ nhất: Vị thế kinh tế- xã hội của trẻ em gái và phụ nữ trở nên tồi tệ hơn,

bất bình đẳng giới sẽ khó được duy trì Bạo lực trên cơ sở giới sẽ gia tăng (ví dụ bạo lực đối với các bà mẹ sau khi sinh con gái sẽ tăng lên) cùng với nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, cũng như tình trạng lạm dụng giới

Thứ hai: Sự căng thẳng xã hội sẽ tăng lên do điều kiện kết hôn khó khăn

hơn Điều này tác động đến việc duy trì gia đình và làm tăng nguy cơ đe dọa an sinh xã hội

Thứ ba: Hạnh phúc và sức khỏe của trẻ em gái sẽ bị ảnh hưởng Có thể dự

báo, việc phá thai đối với những thai nhi gái tăng cao tác động đến tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi tăng, tình trạng mù chữ của trẻ em gái và tình trạng lạm dụng trẻ em gái gia tăng

Chính vì vậy thực hiện quản lý, kiểm tra của Nhà nước góp phần ngăn chặn tình trạng trên là rất cần thiết Được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước

Trang 20

nhằm đảm bảo cho hoạt động này được diễn ra theo đúng quy luật sinh sản tự nhiên và đúng quy định của pháp luật và định hướng của nhà nước

Hoạt động QLNN về mất cân bằng giới tính khi sinh được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Hệ thống cơ quan này được thành lập từ Trung ương đến địa phương có chức năng QLNN về ngành y tế nói chung và ngành dân số nói riêng trên cơ sở kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật về các loại hình dịch vụ y tế như siêu âm, nạo phá thai

Quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh là hoạt động của các

cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong việc thành lập, cho phép thành lập và kiểm tra, giám sát, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật của các

cơ sở y tế công lập và tư nhân nhằm làm cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật

Để đạt được mục tiêu cuối cùng nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của người dân coi việc sinh con trai, con gái đều có giá trị ngang nhau, không lựa chọn giới tính khi sinh và đưa tỷ số này về với quy luật sinh sản tự nhiên là việc rất khó khăn, khó có kết quả trong một sớm, một chiều Trước mắt, tiếp tục đưa chương trình Dân số- KHHGÐ vào chương trình mục tiêu của Bộ Y tế; nhất là các giải pháp cho vấn đề chênh lệch giới tính khi sinh Ðồng thời chủ động ban hành nhiều quy định, quy phạm pháp luật về sinh con thứ ba, lựa chọn giới tính Trong đó, cần xử lý nghiêm, tăng mức hình phạt đối với những cơ sở y tế tư nhân tiếp tay cho việc chọn lựa giới tính thai nhi Tại các phường, xã, thôn/khu phố cần đưa vào hương ước, quy ước thưởng, phạt nghiêm minh nếu để hộ nào sinh con thứ ba sẽ không được công nhận là gia đình văn hóa, còn cơ sở cũng không được công nhận là phường, xã, thôn, văn hóa Bên cạnh đó, cần tăng cường truyền thông, vận động để người dân nâng cao nhận thức, hiểu biết về hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi đến những người đứng đầu các dòng họ, các cụ già cao niên, những người có chức sắc trong phường, xã; nhất là các cặp vợ chồng trong tuổi sinh đẻ về hệ lụy của mất cân bằng GTKS Có như vậy, mới

có khả năng hạn chế mất cân bằng GTKS và công tác quản lý nhà nước về mất cân bằng GTKS mới có hiểu quả

Trang 21

2.1.2 Vai trò quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

Nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và toàn xã hội, điều chỉnh quá trình tái sản xuất con người ở mức hợp lý, nhịp độ gia tăng dân số phù hợp với nền sản xuất vật chất, điều chỉnh quy mô dân số, cơ cấu dân số trong đó có cấu dân số theo giới tính phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc quản lý dân số và quản lý công tác này là tất yếu

Việc thực hiện những hoạt động khuyến khích và hỗ trợ tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội học tập nâng cao trình độ, tham gia các hoạt động xã hội, có điều kiện đóng góp công sức nhiều hơn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cùng với các hoạt động tuyên truyền, vận động được triển khai những tập tục lạc hậu trọng nam khinh nữ, từng bước được xóa bỏ, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ, thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới

Giảm tỷ lệ phụ nữ nạo phá thai, nâng cao sức khỏe cho phụ nữ, giảm chi phí

và thời gian nghỉ lao động vì phá thai, góp phần thực hiện tốt hơn chính sách dân

số của Đảng và Nhà nước

Quản lý, kiểm soát giới tính khi sinh tốt, sẽ không mất cân bằng theo hướng thừa nam, thiếu nữ, đưa về quy luật sinh sản tự nhiên; thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng dân số góp phần tạo ra sự ổn định xã hội và phát

triển bền vững của đất nước (Học viện chính trị-Hành chính, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2010)

2.1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

Quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh là một công tác xã hội hết sức khó khăn Đặc biệt là những khó khăn trong việc quản lý nhà nước đối với công tác này Bên cạnh đó, nhận thức của một số bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân còn chưa đúng và chưa đầy đủ, hầu như chỉ quan tâm tới quyền mà không gắn với nghĩa vụ công dân Họ cũng không hề nghĩ tới hệ lụy mất ổn định xã hội, phân biệt đối xử nam - nữ, nạn mại dâm, buôn bán người ngày càng trầm trọng hơn

do chính tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi sự vào cuộc, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp và

sự tham gia của toàn xã hội; đòi hỏi cấp ủy, chính quyền các cấp cần coi lãnh đạo

Trang 22

công tác Dân số-KHHGĐ là nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt là quản lý tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Cả hệ thống chính trị vào cuộc đẩy mạnh tuyên truyền với hình thức sinh động nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm công dân, giúp người dân chủ động tạo lập tương lai, hạnh phúc cho con cháu, gia đình ngay từ việc chấp nhận giới tính thai nhi tự nhiên, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, hạnh phúc, văn minh Ngoài ra, cần có chế tài nghiêm khắc ngăn chặn

việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức (Học viện chính trị-Hành chính, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2010)

2.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

2.1.4.1 Ban hành và cụ thể hóa hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến quản

lý nhà nước mất cân bằng giới tính khi sinh

Hiện nay, Nhà nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ bao gồm Luật, Nghị định, Quyết định Những văn bản này là cơ sở pháp lý để chính quyền các cấp quản lý và điều hành đối với mọi hoạt động dân số và y tế Ban hành hệ thống chính sách và Pháp luật liên quan đến quản lý Nhà nước mất cân bằng giới tính khi sinh của Đảng, Nhà nước ta là một vấn đề chiến lược, một vấn đề

cơ bản, không chỉ trước mắt và rất lâu dài của đất nước ta Đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị chứ không chỉ của riêng ngành y tế Tất cả các cơ quan, ban ngành đều có trách nhiệm đối với thực hiện chính sách Kết quả thực hiện chính sách quyết định đến sự ổn định và phát triển bền vững của từng địa phương và của cả đất nước Nếu chúng ta thực hiện không tốt chính sách về mất cân bằng GTKS là không ổn

định và không ổn định thì không thể phát triển bền vững (Bộ Y tế, Tổng cục Dân KHHGĐ, 2012)

số-2.1.4.2 Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

Để công tác quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh có hiệu quả thì Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý

Mô hình chung của tổ chức quản lý dân số, y tế của nước ta được hình thành theo tổ chức hành chính gồm 4 tuyến: Trung ương - Tỉnh - Huyện - Xã

Trang 23

Tuyến sau có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ tuyến trước Tuyến trước có trách nhiệm báo cáo đầy đủ các thông tin cho tuyến sau để làm tốt việc quản lý Mạng lưới y tế chia làm 2 khu vực; khu vực phổ cập, nhằm đảm bảo yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hàng ngày, sử dụng kỹ thuật thông thường, phổ biến, khu vực này có từ tuyến tỉnh đến cơ sở Khu vực chuyên sâu với nhiệm vụ từng bước đi vào khoa học kỹ thuật cao, sử dụng các kỹ thuật cao, thích hợp với Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu khoa học và chỉ đạo khoa học kỹ thuật cho địa phương hỗ trợ giải quyết khó khăn vượt qua khả năng y tế phổ cập Mạng lưới còn được hình thành theo nhiều thành phần kinh tế đó là; cơ sở y tế nhà nước, cơ sở y tế tư nhân

Để hệ thống tổ chức vận hành, thực hiện tốt chức năng thì cần phải có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kiến thức xã hội, am hiểu pháp luật đáp ứng

được yêu cầu nhiệm vụ được giao (Bộ Y tế, 2008)

2.1.4.3 Tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền giáo dục pháp luật và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ ảnh ảnh tới cấu trúc dân số trong tương lai, dẫn tới việc thừa nam giới trong xã hội, các hậu quả về lâu dài rất nghiêm trọng: Việc thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng áp lực buộc các em gái phải kết hôn sớm

và có thế bỏ học để lập gia đình Điều này còn có thể gây nên sự gia tăng về nhu cầu mại dâm và buôn bán phụ nữ

Việc tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi toàn diện, giải quyết sự phân biệt đối xử về giới thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, xã hội dân sự, cán bộ y tế, lãnh đạo cộng đồng và các nhóm đối tượng khác là một chiến lược được ưu tiên hàng đầu Tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhằm giảm thiếu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là

ở huyện Quế Võ, nơi có tỷ số giới tính khi sinh rất cao

Điều quan trọng hơn là mỗi cán bộ, nhân viên y tế ngành y nói chung và ngành dân số nói riêng phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, đồng thời phải hiểu biết chính sách pháp luật

Việc tổ chức triển khai thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh là việc cơ quan y tế, dân số các cấp phải

Trang 24

tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế một cách cụ thể, kịp thời, đầy đủ những nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là các văn bản quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính khi sinh để cho mỗi cán bộ, nhân viên y tế hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật và tuyên truyền rộng rãi

cho cộng đồng dân cư (Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2012)

2.1.4.4 Quản lý các cơ sở và dịch vụ y tế có liên quan đến lựa chọn, xác định giới tính thai nhi

Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt, về bản chất dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: Khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình Thực tế, người bệnh ít khi đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ y tế mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất Một người bệnh được làm thủ thuật khó lòng biết được chất lượng của ca thủ thuật đó như thế nào, chất lượng dịch vụ,

Siêu âm là một trong những bước khám thai thông dụng và đóng vai trò quan trọng trong quản lý thai kỳ, giúp thầy thuốc có thể kiểm soát những bước phát triển thai và chính người mẹ cũng có thể nhìn thấy con trước khi đứa bé ra đời Kỹ thuật chẩn đoán này ngày càng phát triển, cung cấp cho người mẹ và bác

sĩ nhiều thông tin về đứa trẻ, thậm chí còn có cả siêu âm 3D, 4D cho phép cha

mẹ nhìn và lưu giữ những hình ảnh khá chân thực, rõ nét về đứa con trong bụng Tuy nhiên việc phát triển của khoa học kỹ thuật cộng nghệ cũng có mặt trái của

nó, ngoài việc phát hiện sớm những dị tật bẩm sinh, giúp gia đình biết được thai nhi đó khỏe mạnh phát triển bình thường, việc siêu âm và chọc ối cho phép cha

mẹ xác định giới tính thai nhi trước khi sinh Sự phát triển của kỹ thuật này cho gia đình biết được giới tính của thai nhi, từ đó có sự lựa chọn giới tính và phá thai để lựa chọn giới tính, nếu như giới tính đó không mong muốn Thông thường nhất việc loại bỏ thai nhi thường bởi đó là một thai nhi gái

Các cơ sở dịch vụ siêu âm sẵn có, dễ tiếp cận và chưa được quản lý, giám sát chặt chẽ là điều kiện thuận lợi để những người cung cấp dịch vụ siêu âm thông báo “tế nhị” cho các bà mẹ biết giới tính thai nhi là trai hay gái Khi biết

Trang 25

kết quả siêu âm là con gái cộng với việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, nhiều cặp vợ chồng có thể quyết định nạo phá thai Điều này trực tiếp gây

ra tình trạng mất cân bằng giới tính thai nhi

Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi của các cơ sở y tế công lập và tư nhân cung cấp dịch vụ tư vấn, siêu âm, nạo phá thai, cụ thể như tư vấn về sinh con theo ý muốn, nạo phá thai vì lý do lựa chọn giới tính thai nhi,…

Tăng cường cung cấp thông tin về giới và tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cho người dân, trước hết là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, những người cung cấp dịch vụ siêu âm và dịch vụ nạo phá thai, những người có

uy tín trong cộng đồng nhằm hạn chế các hành vi không phù hợp với việc sinh đẻ theo quy luật tự nhiên

Tăng cường thực thi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về các nội dung liên quan đến giới tính khi sinh

Khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái trong học tập, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phát triển sản xuất

2.1.4.5 Thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

Thanh tra và kiểm tra là những hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý Nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có thanh tra, kiểm tra Chính vì vậy, khi bàn về quản lý nhà nước, Lê Nin đã nói: "Điều kiện tất yếu để công tác quản lý được chính xác là việc kiểm tra tình hình chấp hành Chỉ thị và Nghị quyết Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành là một trong những ưu điểm cơ bản nhất, tất yếu nhất của phương thức quản lý " Nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thanh tra là một nhiệm vụ vẻ vang và quan trọng Nó theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chính phủ” Như thế đủ hiểu, công tác thanh tra, kiểm tra giống như “ngọn đèn pha” giúp nhìn rõ ưu điểm, khuyết điểm, nắm chắc tình hình trong lãnh đạo, quản lý Theo Hồ Chí Minh, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra Vì thế, “cấp lãnh đạo các bộ, ngành, các cấp nhất định phải có cơ quan

Trang 26

thanh tra của mình để theo dõi công tác ngay từ đầu, kịp thời uốn nắn, sửa chữa sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra, đồng thời phải trực tiếp chỉ đạo cơ quan thanh tra của mình” Trên cơ sở tư tưởng đó và thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng ta, Điều 2, Luật Thanh tra 2010 quy định về mục đích hoạt động thanh tra: “nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”

Thanh tra, kiểm tra có ý nghĩa trong việc đánh giá nhằm kịp thời chỉ ra những sai phạm, yếu kém cần khắc phục trong quá trình thực hiện, cũng như đảm bảo cho việc thực hiện thành công nhiệm vụ mục tiêu đề ra trong tương lai Nội dung chính của công tác thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh bao gồm: Thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ siêu âm, phá thai; Thanh tra, kiểm tra sách, ấn phẩm có nội dung tuyên truyền phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi; Thanh tra, kiểm tra các website đăng tải bài viết có nội dung tuyên truyền phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi

Kết quả cụ thể qua việc thanh tra, kiểm tra:

- Về hồ sơ pháp lý: Qua kiểm tra các cơ sở y tế đều có chứng chỉ hành nghề do Sở Y tế cấp, có 3/4 cơ sở có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề Y

tế tư nhân nhưng đã hết hạn sử dụng đang đề nghị Sở Y tế cấp lại, 1 cơ sở không

có Về phạm vi hoạt động chuyên môn có 3/4 cơ sở y tế là phòng khám chuyên khoa phụ sản và 1 cơ sở là phòng khám đa khoa

- Tình hình khám bệnh, siêu âm, nạo hút thai

+ Sổ theo dõi bệnh nhân đến khám bệnh: Qua kiểm tra 1 cơ sở có sổ theo dõi bệnh nhân theo quy định song cập nhật khách hàng đến khám bệnh không thường xuyên, 3/4 cơ sở sổ theo dõi bệnh nhân đăng ký khám bệnh, siêu âm, nạo hút thai nhưng là sổ tự kẻ, ghi chép không đầy đủ

Trang 27

+ Siêu âm: Có 2/4 cơ sở có máy siêu âm màu có thể siêu âm xác định được giới tính thai nhi khi thai được trên 13 tuần tuổi nhưng không thông báo giới tính thai nhi cho khách hàng, 2 cơ sở có máy siêu âm đen trắng, siêu

âm không xác định được giới tính thai nhi

+ Nạo hút thai: Kiểm tra tình hình nạo phá thai các cơ sở y tế đều dùng phương pháp phá thai bằng thuốc và hút điều hòa kinh nguyệt đình chỉ thai nghén khi thai dưới 7 tuần tuổi, không có cơ sở nào thực hiện phá thai

to, 3/4 cơ sở mỗi tháng trung bình thực hiện kỹ thuật phá thai từ 10-15 ca, 1

cơ sở thực hiện từ 2-5 ca (Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2014)

- Thực hiện các văn bản quy định của pháp luật

+Thực hiện công văn số 413/SYT-NVY ngày 05/6/2009 của Sở Y tế, qua kiểm tra có 1 cơ sở thực hiện có bảng tuyên truyền treo tại phòng khám + Qua kiểm tra nhìn chung các cơ sở đã nắm được kiến thức, các văn bản của pháp luật quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi

- Kiểm tra các sách, ấn phẩm, tài liệu có nội dung tuyên truyền, phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi:

+ Đoàn kiểm tra liên ngành đã tiến hành kiểm tra, rà soát 15 cơ sở kinh doanh lưu hành sách, ấn phẩm tại 8/8 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh

- Qua kiểm tra có 10/15 cơ sở còn lưu hành các sách, ấn phẩm có nội dung tuyên truyền, phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi Đoàn

đã phát hiện, thu hồi và tiêu hủy 7 đầu sách có nội dung vi phạm với số

lượng là 27 cuốn (Sở Y tế, Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh, 2013)

Để có kết quả trên đã có sự phối hợp giữa phòng Thanh Tra, phòng Quản lý hành nghề y-dược tư nhân của Sở Y tế, Sở thông tin truyền thông và Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh đã phối kết hợp thành lập đoàn kiểm tra liên ngành; đối với cấp huyện có sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo công tác Dân số-KHHGĐ, cùng với sự phối hợp giữa Trung tâm Dân số-KHHGĐ, Phòng

Y tế và một số đơn vị liên quan thành lập đoàn kiểm tra

Trang 28

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh

2.1.5.1 Ảnh hưởng chính sách và pháp luật

Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chế tài xử phạt đối với các trường hợp tiết lộ, tuyên truyền giới tính thai nhi, nhưng kết quả đạt được chưa cao, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân:

- Tiết lộ thông tin về giới tính thai nhi tại các phòng khám, cơ sở siêu âm diễn ra phổ biến bằng nhiều hình thức khác nhau

- Trao đổi thông tin về cách thức, biện pháp sinh con theo ý muốn của người dân công khai

- Nhiều lý do khác nhau khi phá thai được đưa ra, ngoại trừ lý do lựa chọn giới tính thai nhi

2.1.5.2 Ảnh hưởng yếu tố văn hóa

Sự lựa chọn con trai, quan niệm “trọng nam khinh hơn nữ”, “nối dõi tông đường”, “thờ cúng tổ tiên”, “có người nuôi dưỡng lúc tuổi già” của cư dân nông nghiệp phương đông vẫn còn tồn tại khá phổ biến và dai dẳng trong cộng đồng dân cư

Tư tưởng trọng nam khinh nữ, thích con trai hơn con gái, mong muốn có con trai để nối dõi tông đường, tạo nguồn thu nhập chính trong gia đình và chăm sóc bố mẹ khi tuổi già Cùng với việc thực hiện chính sách quy mô gia đình nhỏ,

đã có tác động mạnh dẫn đến việc nhiều cặp vợ chồng mong muốn sinh con trai, đặc biệt là những cặp vợ chồng chỉ có con gái trong những lần sinh trước đó

2.1.5.3 Ảnh hưởng phong tục tập quán

Phong tục tập quán, tâm lý xã hội truyền thống, tư tưởng nho giáo phải có con trai nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, do tính chất công việc phải đòi hỏi lao động cơ bắp của con trai, trụ cột về lao động đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Do chế độ an sinh chưa đảm bảo, hiện nay có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn không có lương hưu bảo hiểm tuổi già, họ cần con trai để phụng dưỡng chăm sóc Trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai vì họ sẽ cảm thấy lo lắng và không an tâm trong tương lai nếu chưa có con trai Do chính sách đối với nữ giới chưa thoả đáng, bình đẳng giới có mặt chưa được quan tâm đầy đủ

Trang 29

Sự hiểu biết thiên lệch về giá trị của con trai và con gái, dẫn đến tâm lý muốn có thêm con trai để phòng ngừa các trường hợp rủi ro cũng làm tăng thêm mong muốn sinh được con trai hơn con gái Thực tế hiện nay cho thấy, nếu con gái được chăm sóc giáo dục tốt, học hành đầy đủ thì sẽ có hiếu với cha mẹ không kém gì con trai, có thể còn hơn cả con trai

Mong muốn có con trai dẫn đến nhiều phụ nữ chỉ sinh con gái phải chịu sức ép sinh thêm con trai từ phía cha mẹ chồng, đặc biệt khi người phụ nữ đó

là con dâu trưởng hay con dâu độc nhất trong gia đình Nhiều người chồng cũng đứng về phía cha mẹ mình để đòi hỏi vợ phải sinh thêm con trai Như vậy, đối với người phụ nữ, việc muốn sinh con trai là do ảnh hưởng thích có con trai của chồng và gia đình nhà chồng

2.1.5.3 Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và lựa chọn giới tính thai nhi

Cùng với sự phát triển ngày càng tốt hơn của hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, có trang thiết bị hiện đại, đội ngũ hành nghề y dược trong

và ngoài công lập có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao Sự phát triển này, một mặt tạo điều kiện cung cấp chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng tốt hơn, mặt khác cũng làm tăng tình trạng lạm dụng

những tiến bộ khoa học công nghệ để lựa chọn giới tính trước sinh như: trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…); trong lúc thụ thai

(chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để

chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y…); hoặc sau khi đã có thai (sử dụng

siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối…) để lựa chọn giới tính thai nhi

Theo kết quả Điều tra biến động Dân số năm 2011 cho thấy 76,9% phụ

nữ 15-49 tuổi, sinh con trong 24 tháng trước điều tra có biết giới tính thai nhi trước khi sinh Trong đó có 99% biết qua siêu âm, các hình thức bắt mạch, đoán, khác chiếm tỷ lệ không đáng kể, dưới 1%; 77,7% biết khi tuổi thai từ

12-22 tuần (Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2012)

Trang 30

2.1.5.4 Ảnh hưởng mức sống của gia đình

Mức sống không chỉ có ảnh hưởng đến hiểu biết mà còn ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn biện pháp sinh con theo ý muốn của mỗi gia đình

Những người có mức sống từ trung bình khá trở lên biết và thực hiện nhiều các biện pháp sinh con theo ý muốn hơn và những người có mức sống từ trung bình khá trở lên mong muốn sinh thêm con và giới tính của con là con trai nhiều hơn

2.1.5.5 Ảnh hưởng nhận thức của người dân

Nhận thức của người dân, đặc biệt là những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về pháp luật liên quan tới việc lựa chọn giới khi sinh và hậu quả do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra còn rất hạn chế do chưa được tăng cường tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với gia đình và xã hội

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh

2.2.1 Khái quát quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta

Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra muộn nhưng tốc

độ gia tăng nhanh Rà soát kết quả điều tra Tổng điều tra dân số qua các năm từ 1979-2009 cho thấy, tỷ số GTKS trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1989

trong giới hạn bình thường (năm 1979 là 105/100, năm 1989 là 106/100); năm

1999 tỷ số GTKS là 107/100– cao hơn tỷ số chuẩn chút ít và đã có có 36 tỉnh ít nhiều xảy ra mất cân bằng GTKS Tuy nhiên đến năm 2009 tỷ số GTKS đã ở mức 110,6/100 Các cuộc Điều tra biến động dân số hàng năm cũng phản ánh xu hướng tăng liên tục của tỷ số GTKS (tỷ số GTKS năm 2006 là 110; tỷ số GTKS năm 2007 là 111; năm 2008 là 112,1; năm 2009 là 110,5 và thời điểm 01 tháng 4 năm 2010 là 111,2)

Như vậy, mặc dù tỷ số GTKS đã có dấu hiệu gia tăng từ năm 1999, tuy nhiên, bắt đầu từ 2006, tỷ số GTKS bắt đầu tăng và trở thành thách thức lớn với công tác dân số và nỗi lo lớn với các nhà hoạch định chính sách

Mức độ mất cân bằng giới tính được phân tích theo một số đặc điểm nhân khẩu học của người mẹ Các nhóm có tỷ số GTKS thấp gồm nhóm phụ

Trang 31

nữ là chủ hộ gia đình (108,8) và các phụ nữ độc thân hoặc đã ly hôn (100,0), ngay

cả khi số lần sinh ít Ngược lại, tỷ số GTKS cao được quan sát thấy ở nhóm phụ nữ trên 30 tuổi (112,6) Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể là do tác động của thứ tự sinh cao trong nhóm phụ nữ ở độ tuổi này hơn là tác động đơn thuần của tuổi người mẹ

Trình độ học vấn thường là một trong những nhân tố quyết định đến hành vi nhân khẩu học Tỷ số GTKS phân theo trình độ giáo dục của người

mẹ có sự khác biệt đáng kể Tỷ số này tăng dần từ 107,4 ở nhóm phụ nữ không biết chữ (chiếm 7% mẫu) và 107,1 ở nhóm có trình độ tiểu học trở xuống, lên đến 111,4 ở nhóm có trình độ trung học, và cuối cùng là 113,9 ở nhóm các bà mẹ có trình độ cao đẳng trở lên

Biểu 2.1: Tỷ số giới tính khi sinh theo số năm đi học của người mẹ

(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2009)

- Tỷ số giới tính khi sinh - khác biệt vùng miền

Ở nước ta mất cân bằng GTKS đã xảy ra ở cả nông thôn, thành thị và ở hầu hết các vùng địa lý Phân tích tỷ số GTKS theo vùng địa lý cho thấy, Tây Nguyên (mật độ dân số và trình độ phát triển thấp hơn các vùng khác) có tỷ

số GTKS thấp nhất trong cả nước (105,6), tương đương với mức sinh học bình thường quan sát được trên thế giới Nhưng 5 vùng còn lại có tỷ số GTKS cao hơn, làm cho tỷ số này của toàn quốc tăng lên và ở mức 110,6 Trong số đó, vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ số GTKS vào khoảng 115,4 cao hơn hẳn so với mức trung bình cả nước

Trang 32

Biểu 2.2: Tỷ số giới tính khi sinh theo vùng

(Nguồn:Tổng cục thống kê,2009)

Tuyên truyền, giới thiệu những quy định của Pháp luật về lĩnh vực Dân số-KHHGĐ nói chung và những quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính khi sinh nói riêng đến các nhà xuất bản, cơ quan phát hành sách, cửa hàng sách, lãnh đạo một số Website, các cơ sở y tế Nhà nước và tư nhân cung cấp dịch vụ xét nghiệm, siêu âm, phá thai, làm chuyển đổi và nâng cao nhận thức của các đối tượng này về nguyên nhân, hệ luỵ của mất cân bằng giới tính khi sinh và trách nhiệm của mỗi người, mỗi cơ quan đơn vị trong việc hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện nay,

Huy động nguồn lực và phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn

vị liên quan (Cục xuất bản, Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông, Sở thông tin các tỉnh, thành phố) trong việc quản lý, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về dân

số và xử lý các hành vi vi phạm

Giám đốc các nhà xuất bản đã có quyết định hoặc công văn thu hồi và gỡ

bỏ nội dung vi phạm của 37 đầu sách Đoàn thanh tra liên ngành (Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông) đã yêu cầu thu hồi và gỡ bỏ nội dung vi phạm của 4.200 cuốn sách Lập biên bản và yêu cầu 12 nhà xuất bản, 53 cơ quan phát hành, cửa hàng sách cam kết kiểm soát chặt chẽ

Trang 33

các nội dung sách trước khi xuất bản và lưu hành Tạo cơ sở và điều kiện cho các hoạt động thanh, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi

Đã lập biên bản và xử lý 04 cơ sở y tế tư nhân, 01 nhà siêu âm có hành vi siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi Tạo điều kiện cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật và răn đe, cảnh cáo đối với các cơ sở y tế khác nếu có hành vi chẩn đoán giới tính thai nhi

Thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế (công lập và tư nhân) đã nhận thức tốt hơn những quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi, nâng cao trách nhiệm và ý đức trong công tác chuyên môn, tự nguyện cam kết không chẩn đoán giới tính thai nhi sớm và không phá thai vì lý do lựa chọn giới tính thai nhi

Kết quả thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức góp phần đánh giá thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của nước ta một cách đầy đủ và toàn diện hơn, đặc biệt đánh giá những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh trong những năm vừa qua Giúp các nhà quản lý xây dựng chính sách và đề ra các giải pháp can thiệp có hiệu quả, sát với thực tế nhằm hạn chế tốc độ gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh của Việt Nam giai đoạn tiếp theo

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở một

số nước trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.2.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

2.2.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trung Quốc

Trung Quốc xảy ra tình trạng mất cân bằng GTKS từ đầu thập niên 1990,

từ đó đến nay Trung Quốc đã triển khai chính sách tổng hợp, toàn diện với việc đẩy mạnh tuyên truyền để giảm thiểu mất cân bằng GTKS bằng nhiều giải pháp khác nhau

Trang 34

Biẻu 2.3 Tỷ số giới tính khí sinh ở Trung Quốc qua các năm

(UNFPA, 2011)

Suốt từ những năm 1990 cho đến nay, tỷ số GTKS ở Trung Quốc luôn ở mức cao và rất cao: Năm 1990 là 111,3/100, năm 1995 là 116,8/100, năm 2000 là 119,9/100, năm 2005 là 120,5/100 và giai đoạn 2009-2011 vẫn ở mức 118,1/100

Chính quyền Trung Quốc đã có chương trình nỗ lực làm giảm tình trạng mất cân bằng giới tính và đã tuyên bố áp dụng nhiều phương pháp cứng rắn để kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính và nghiêm cấm các hình thức phá thai lựa chọn giới tính “Những người kiểm tra giới tính và lựa chọn giới tính dẫn tới phá thai nếu thai nhi là con gái phải chịu các hình phạt nghiêm khắc”, đây là một quy định của chính quyền trung ương

Trung Quốc cam kết cải cách và tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ em gái, cảnh báo những người giết hại, từ bỏ hay làm tổn thương các trẻ em gái đều

bị trừng phạt Việc sử dụng các loại thuốc dùng cho nạo phá thai và công nghệ kiểm tra sức khỏe giới tính thai nhi sẽ được giám sát chặt chẽ Trong nỗ lực hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính, một chiến lược mang tên “Chăm sóc trẻ em gái” đã được áp dụng để đảm bảo sự bình đẳng nam nữ, các biện pháp hỗ trợ kinh phí cho các gia đình có một con gái ở khu vực nông thôn đã được thông qua Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn khẳng định tiếp tục chính sách một con kéo dài

Trang 35

hơn 30 năm nay để đối mặt với những thách thức to lớn từ việc gia tăng dân số

Ra đời từ thập niên 70, chính sách này khuyến khích kết hôn và sinh con muộn, giới hạn hầu hết các cặp vợ chồng ở thành phố chỉ sinh một con, ở nông thôn có thể là hai con Chính sách này đã làm giảm được tốc độ gia tăng dân số nhưng lại gặp một thách thức, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi mà tình trạng trọng nam khinh nữ hầu như vẫn chưa thay đổi Chính quyền trung ương và địa phương Trung Quốc quyết tâm sẽ tiếp tục cải thiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình ở khu vực nông thôn và giúp đỡ gia đình có một con gái Về Dân số-KHHGĐ, Trung Quốc đề ra 4 điểm không được thay đổi, đó là:

- Chính sách dân số là quốc sách;

- Bí thư/chủ tịch là người phải chịu trách nhiệm về công tác dân số;

- Tổ chức bộ máy làm công tác dân số;

Bên cạnh các chính sách trên, Trung Quốc cũng đưa ra các giải pháp:

- Tuyên truyền giáo dục, vận động về giới và bình đẳng giới

- Bí thư/chủ tịch là người phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tình trạng mất cân bằng GTKS

- Cung cấp dịch vụ chu đáo và tổng hợp, ngay cả từ khi nam nữ bắt đầu kết hôn đã được giáo dục về Dân số-KHHGĐ, có giáo dục về giới tính và bình đẳng giới

- Quan tâm ban hành chính sách đối với gia đình sinh 1 đến 2 con gái, hỗ trợ tiền mặt có điều kiện hoặc học bổng liên kết với các trường học, chiến dịch chăm sóc trẻ em gái, ưu đãi điểm khi đi học, thi đại học, trợ cấp kinh phí cho cha

mẹ chỉ sinh con gái khi họ đến tuổi 60 (50USD/tháng/người)

- Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nếu siêu âm xác định giới tính thai nhi, người hành nghề sẽ bị phát tiền (khoảng 400 đô la, tịch thu phương tiện, rút giấy phép hành nghề) Nếu là viên chức nhà nước sẽ bị cách chức, vi phạm quá 3 lần sẽ bị khởi tố hình sự

Mặc dù có các biện pháp rất tích cực và liên tục trong hơn 20 năm qua, nhưng do định kiến coi trọng con trai đã bám dễ lâu đời trong phong tục tập quán

Trang 36

của cộng đồng dân cư nên hiện nay tỷ số GTKS ở Trung Quốc là 118,1/1000 (2009) Đặc biệt có những năm ở một số tỉnh tỷ số này lên tới 140/100 Theo các nguồn dữ liệu khác nhau, hiện nay có khoảng 30-40 triệu nam giới trung Quốc đến tuổi trưởng thành nhưng khó có cơ hội tìm được cô dâu tương xứng,…chính điều đó đã dẫn đến tình trạng buôn bán phụ nữ trong đó có phụ nữ Việt Nam

(Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2013)

2.2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh ở Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, tình trạng mất cân bằng GTKS xảy ra từ đầu thập niên 80 của thế kỷ trước (hiện nay hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc

là hệ quả của mất cân bằng GTKS ở Hàn Quốc cách đây 30 năm)

Trước sự gia tăng bất thường và nhìn thấy rõ hệ lụy của vấn đề thừa nam thiếu nữ, Chính phủ Hàn Quốc đã có những giải pháp ngăn ngừa tình trạng này

mà cụ thể là việc thực thi Luật Bình đẳng giới và phát triển hệ thống an sinh xã hội Để có được thành công như hiện nay, bên cạnh các vấn đề thay đổi về Luật, Hàn Quốc đã thực hiện cả một chương trình hành động đồng bộ, trong đó có công tác truyền thông rất quan trọng

Chính phủ Hàn Quốc nghiêm cấm xác định giới tính thai nhi theo Luật y

tế năm 1987 (sửa đổi năm 1994), hủy bỏ luật chỉ có nam giới mới được thừa kế

mà cả con trai lẫn con gái đều được thừa hưởng như nhau, khuyến khích phụ nữ tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, tạo điều kiện huy động lực lượng lao động nữ, mở rộng ngành nghề phụ nữ có thể tham gia Giai đoạn 1990-

2000, những khẩu hiệu như “Nuôi một con gái lớn lên bằng 10 con trai”, “Hãy yêu con gái của bạn” được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, cùng với các hội thảo có nhóm chuyên trách thực hiện riêng về mất cân bằng GTKS Hàn Quốc cũng xử lý kiên quyết cả người thực hiện và người nhận dịch vụ lựa chọn giới tính thai nhi Bên cạnh đó, các biện pháp như chú trọng dạy

và nâng cao đạo đức nghề nghiệp với sinh viên y khoa trong việc thực hiện nạo phá thai vì lý do giới tính, nâng cao vị thế và trao quyền năng cho phụ nữ được tiến hành đồng bộ như sau:

Trang 37

- Về chế tài, đã quy định xử phạt nghiêm khắc: Nghiêm cấm các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi năm 1987, đến năm 1994 quy định xử phạt bác sĩ đến 10.000 USD và tù giam tới 3 năm đối với những cán bộ y tế cung cấp thông tin

về chẩn đoán giới tính thai nhi

- Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi nhận thức xã hội nhằm hạn chế tình trạng coi nhẹ phụ nữ (qua truyền thông, vận động, sách báo, phim ảnh)

- Bãi bỏ hẳn chính sách “giảm sinh”, chuyển sang chính sách “khuyến sinh” (khi tỷ lệ sinh xuống thấp: còn 1,4 con/phụ nữ)

- Áp dụng các giải pháp mạnh và tổ chức chiến dịch về bình đẳng giới, ban hành Luật gia đình sửa đổi vào năm 1991, thành lập Bộ bình đẳng giới và áp dụng các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đặc biệt chú trọng giáo dục, đạo tào việc làm cho nữ giới

- Những năm 1980, Hàn Quốc có khẩu hiệu: ”Sinh hai con để có cuộc sống tốt đẹp hơn, không lo lắng về giới tính của con cái!” Giai đoạn 1990-2000 những khẩu hiệu: “Nuôi một con gái lớn lên bằng 10 con trai”, “Hãy yêu con gái của bạn” được người dân Hàn Quốc đón nhận

Kết quả là tỷ số GTKS của Hàn Quốc đã giảm từ 116/100 vào năm 1991

xuống mức tự nhiên gần đạt mức bình thường 106,9/100 năm 2010 (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2013)

2.2.2.1.3 Kinh nghiệm quản lý mất cân bằng giới tính khi sinh ở Ấn Độ

Ấn Ðộ, với dân số hơn 1,2 tỉ người, là đất nước mà tình trạng mất thăng bằng về giới tính được đánh giá là đã vượt mức trung bình Rất nhiều phụ nữ Ấn

Ðộ đang đặt tình trạng sức khỏe mình vào rủi ro, thậm chí có thể trở thành vô sinh, khi chấp nhận trải qua những vụ phá thai liên tục để chỉ sinh con trai

Theo truyền thống Ấn Độ, một gia đình phải có ít nhất một con trai, ngoài

ra tập tục con gái muốn lập gia đình phải có của hồi môn cho nhà chồng, tuy bất hợp pháp nhưng cũng là một lý do nữa khiến phụ nữ muốn phá thai nếu biết sẽ sinh con gái Phá thai là hợp pháp ở Ấn Ðộ nên không chỉ phụ nữ thuộc tầng lớp nghèo mà phụ nữ ở vùng thành thị giàu có hơn cũng liên tục phá thai để cố sinh

Trang 38

con trai Kết quả từ cuộc điều tra dân số mới nhất của Ấn Độ cho thấy tỷ lệ trẻ

em nữ so với trẻ em nam đã xuống thấp kỷ lục kể từ khi nước này độc lập vào năm 1947

Hiện toàn Ấn Độ tỷ lệ này là 914 trẻ em nữ so với 1.000 trẻ em nam ở độ

từ 0-6 tuổi Tỷ lệ trung bình của thế giới hiện nay là 1.050 nữ/1.000 nam Tạp chí

y tế Lancet của Anh trong một cuộc nghiên cứu thực hiện hồi năm 2006 cho thấy tại Ấn Độ có nửa triệu bào thai được xác định là nữ đã bị bỏ Tình trạng trên xảy

ra ngay cả tại những bang thịnh vượng nhất ở Ấn Độ như Punjab, Haryana, Delhi

và Uttar Pradesh, có nghĩa là kinh tế tăng trưởng không phải là điều bảo đảm cho

sự thay đổi nhận thức xã hội Nhờ vào sự tiến bộ của công nghệ, việc siêu âm để xác định giới tính thai nhi hiện chỉ tốn có 10 USD Mặc dù pháp luật nghiêm cấm

và tại các phòng khám đều phải treo bảng “Không kiểm tra giới tính thai nhi” nhưng việc thực hiện lại rất lỏng lẻo, thậm chí người ta còn xách cả những chiếc máy siêu âm di động đến những khu làng hẻo lánh để thực hiện công việc đó

Ấn Độ bắt đầu triển khai các giải pháp can thiệp về mất cân bằng GTKS

từ năm 2003, Ấn Độ đã ban hành luật để nghiêm cấm việc chẩn đoán giới tính thai nhi không phải vì lý do y tế Ngày 28/3/2005, bác sĩ đầu tiên của Ấn Độ bị tuyên án 2 năm tù và bị phạt 250 USD Mỹ, nếu nặng có thế phạt 5 năm tù, 2500 USD Mỹ và bị tước chứng chỉ hành nghề y Theo Luật, chủ yếu cán bộ y tế, họ hàng và gia đình chịu trách nhiệm pháp lý còn phụ nữ mang thai là vô tội (trừ khi phát hiện có phạm tội)

Chú trọng triển khai chiến dịch tuyên truyền, vận động thường xuyên, liên tục cho các nhóm đối tượng đích, kể cả bác sĩ, các lãnh đạo tôn giáo và cộng đồng dân cư Mặt khác tăng cường thực hiện quy định của pháp luật về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử

Ngoài các biện pháp kỹ thuật, Ấn Độ còn có một số chính sách xã hội nhằm nâng cao địa vị phụ nữ, như ở một số vùng trẻ em gái đi học được miễn phí, mỗi trẻ em gái sinh ra được một khoản tiền tiết kiệm khoảng 150 đô la Mỹ,

nhưng đến năm 18 tuổi học hết lớp 10 mới được nhận (Tổng cục Dân KHHGĐ, 2013)

Trang 39

số-2.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở trong nước

2.2.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Những năm qua, mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề nổi cộm trong công tác Dân số - KHHGĐ ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 4 tháng đầu năm

2015, tình trạng này lại có xu hướng tăng cao với tỷ lệ 133,3 bé trai/100 bé gái Theo Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Kim Động, 4 tháng đầu năm, toàn huyện có 420 trẻ được sinh ra Trong đó có 240 bé trai, 180 bé gái, tỷ lệ 133,3 bé trai/100 bé gái Cùng kỳ năm ngoái tỷ lệ này là 117,2 bé trai/ 100 bé gái, trong 4 tháng đầu năm tỷ lệ chênh lệch giới tính của huyện Kim Động là 133,3 bé trai/100 bé gái

Nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh phần lớn do phong tục tập quán, tâm lý phải có con trai nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên đã đi sâu vào tiềm thức người dân Do chế độ an sinh chưa đảm bảo và nguyên nhân trực tiếp là lạm dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để thực hiện lựa chọn giới tính thai nhi ngay từ trước lúc mang thai như: chế độ ăn uống, chọn phương pháp thụ tinh, siêu âm, bắt mạch… Do mong muốn có con trai dẫn đến nhiều phụ nữ sinh con gái chịu sức ép phải sinh thêm con trai từ phía gia đình nhà chồng Nhận thức của người dân về bình đẳng giới, hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với gia đình và xã hội còn hạn chế, đa số người dân hiện nay đều hưởng ứng việc tuyên truyền mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con, nhưng thực tế khi người phụ nữ có thai thì họ sẵn sàng đến phòng khám tư để siêu âm giới tính thai nhi, mặc dù việc này pháp luật đã nghiêm cấm

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh theo hướng thừa nam thiếu nữ càng kéo dài, hậu quả tiêu cực đối với xã hội, gia đình càng nghiêm trọng và hậu quả của việc chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh chắc chắn sẽ dẫn đến những hệ luỵ khó lường

Nhận thức hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện đã chủ động tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền về các

Trang 40

giải pháp nhằm hạn chế mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương là tăng cường sự phối hợp với các phòng, ban ngành đoàn thể trong huyện để chỉ đạo triển khai thực hiện các hoạt động tuyên truyền - giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi của người dân, dần xoá bỏ quan niệm phải có con trai nối dõi tông đường

Để kiểm soát và giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, hiện nay huyện đã đưa ra một số giải pháp như: Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là các đối tượng ở độ tuổi sinh đẻ Thực hiện các hoạt động tuyên truyền thay đổi hành vi toàn diện hơn với sự tham gia của các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội và cán bộ y tế, Chú trọng truyền thông tới các vùng khó khăn; xây dựng hệ thống chính sách về khuyến khích, hỗ trợ; tăng cường pháp chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các dịch vụ y tế;

Năm 2014 và những năm tiếp theo, dưới sự lãnh chỉ đạo chặt chẽ của Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh, sự chỉ đạo trực tiếp sát sao của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cộng tác viên Dân số- KHHGĐ Công tác Dân số-KHHGĐ huyện Kim Động sẽ nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, đặc biệt là vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ được kiểm soát, giảm thiểu, góp phần nâng cao chất lượng dân số, xây dựng mục

tiêu: “ gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” (Thu Thủy, 2015)

2.2.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về mất cân bằng giới tính khi sinh ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh phúc

Mất cân bằng giới tính khi sinh đã trở thành vấn đề đáng báo động đối với nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Với tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh là 113

bé trai/ 100 bé gái, Lập Thạch hiện là huyện có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất

Theo số liệu thông kê, 6 tháng đầu năm 2015, huyện Lập Thạch có 853 trẻ

em được sinh ra, số trẻ sơ sinh nam/nữ là 453/400, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh là 113 bé trai/100 bé gái Trong khi đó, tỷ số này năm 2014 là 114 bé trai/

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định nghiêm cấm
2. Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số và KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc tiếp
3. Công văn số 3121/BYT-BMTE ngày 21/5/2009 của Bộ Y tế về việc nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật cao để lựa chọn giới tính khi sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: tế về việc nghiêm cấm
4. Công văn số 413/SYT-NVY ngày 05/6/2009 của Sở Y tế Bắc Ninh về việc nghiêm cấm lạm dụng kỹ thuật để lựa chọn giới tính thai nhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh về việc nghiêm
7. Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết và
8. Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định xử phạt vi
11. Thông tư số 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số-KHHGĐ ở địa phương.B. Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn chức năng, "nhiệm vụ, và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số-KHHGĐ ở địa phương
2. Bộ kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục Thống kê (2011), Tổng Điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 2009 – Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về thực trạng, xu hướng và những khác biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng Điều tra Dân số và nhà ở "Việt Nam 2009 – Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam: Các bằng chứng mới về
Tác giả: Bộ kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục Thống kê
Năm: 2011
3. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội (2009), Tài liệu mất cân bằng giới tính khi sinh – Thực trạng và giải pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu mất cân bằng giới tính
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội
Năm: 2009
4. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội ( 2009) Tài liệu Hội thảo Triển khai Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo Triển khai Đề
5. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội (2012), Giáo trính một số chính sách hiện hành liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trính một số
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội
Năm: 2012
7. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội (2013), Tài liệu tập huấn về truyền thông giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về truyền
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội
Năm: 2013
8. Bộ Y tế, Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Hà Nội (2014), Tài liệu tập huấn về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về kiểm soát
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Hà Nội
Năm: 2014
10. Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh (2011), Báo cáo kết quả công tác Dân số- KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác Dân số-
Tác giả: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2011
11. Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh (2012), Báo cáo kết quả công tác Dân số- KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác Dân số-
Tác giả: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2012
12. Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh (2013), Báo cáo kết quả công tác Dân số- KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác Dân số-
Tác giả: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2013
13. Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh (2014), Báo cáo kết quả công tác Dân số- KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác Dân số-
Tác giả: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2014
14. Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh (2015), Báo cáo kết quả công tác Dân số- KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác Dân số-
Tác giả: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2015
17. Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, chương trình Đại học hành chính - Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội (2010), Giáo trình Quản lý Nhà nước về Dân số-KHHGĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản
Tác giả: Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, chương trình Đại học hành chính - Bộ Y tế, Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Hà Nội
Năm: 2010
2. Thu Thủy (2015), Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Kim động, truy cập ngày 30/5/2015.http://hungyentv.vn/92/36576/Chinh-tri-xa-hoi/Tinh-trang-mat-can-bang-gioi-tinh-khi-sinh-o-Kim-Dong-lai-gia-tang.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình giáo dục của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm (2012 – 2014) - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Tình hình giáo dục của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh năm (2012 – 2014) (Trang 52)
Bảng 3.4: Số cán bộ Y tế ở các xã, thị trấn  huyện Quế Võ,  2012-2014 - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4 Số cán bộ Y tế ở các xã, thị trấn huyện Quế Võ, 2012-2014 (Trang 57)
Bảng 4.7  Tỷ số giới tính theo thứ tự lần sinh huyện Quế Võ năm 2014 - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7 Tỷ số giới tính theo thứ tự lần sinh huyện Quế Võ năm 2014 (Trang 78)
Hình 4.1 Mô hình bộ máy QLNN về Dân số-KHHGĐ - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Hình 4.1 Mô hình bộ máy QLNN về Dân số-KHHGĐ (Trang 84)
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả các hình thức tuyên truyền từ năm  2012-2014 - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả các hình thức tuyên truyền từ năm 2012-2014 (Trang 88)
Bảng 4.13 Các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi trước khi sinh được áp - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.13 Các hình thức chẩn đoán giới tính thai nhi trước khi sinh được áp (Trang 92)
Bảng 4.15  Số cơ sở y tế chịu sự thanh, kiểm tra 2012-2014. - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.15 Số cơ sở y tế chịu sự thanh, kiểm tra 2012-2014 (Trang 94)
Bảng 4.16 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở và dịch vụ y tế, - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.16 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở và dịch vụ y tế, (Trang 95)
Bảng 4.18  Kết quả kiểm tra rà soát các sách, ấn phẩm có nội dung tuyên  truyền phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi trên địa bàn huyện - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.18 Kết quả kiểm tra rà soát các sách, ấn phẩm có nội dung tuyên truyền phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi trên địa bàn huyện (Trang 97)
Bảng 4.20 Lý do mu ốn sinh con trai ở lần sinh gần đây trong các hộ - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.20 Lý do mu ốn sinh con trai ở lần sinh gần đây trong các hộ (Trang 103)
Bảng 4.23 Tỷ lệ hộ biết chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi tại - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.23 Tỷ lệ hộ biết chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi tại (Trang 108)
Bảng 4.25 Mức độ hiểu biết về  hậu quả của mất cân bằng mất giới - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.25 Mức độ hiểu biết về hậu quả của mất cân bằng mất giới (Trang 111)
Bảng 4.26 Phân bố số hộ theo nhóm tuổi - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.26 Phân bố số hộ theo nhóm tuổi (Trang 112)
Bảng 4.26 cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu nhiều nhất ở nhóm tuổi - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.26 cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu nhiều nhất ở nhóm tuổi (Trang 112)
Bảng 4.28 Nghề nghiệp của đối tượng phỏng vấn - quản lý nhà nước về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại huyện quế võ tỉnh bắc ninh
Bảng 4.28 Nghề nghiệp của đối tượng phỏng vấn (Trang 114)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w