1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn huyện Tiên Du những năm qua, đề xuất một s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Thị Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của các Thầy/Cô, sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban lãnh đạo cùng các Thầy/Cô Học viên Nông nghiệp Việt Nam, các Giáo
sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Thuận, Cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức khoa học cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc cơ quan Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Chi cục Thống Kê, Phòng Văn hóa đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thu thập số liệu tại địa phương
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, những người yêu quý của tôi đã luôn động viên, chia sẻ với tôi về tinh thần, thời gian và công sức
để có thể vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang 63.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 37
4.2 Đánh giá kết quả, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước
4.3 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn huyện
Trang 7CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
DS-GĐ & TE Dân số - Gia đình & Trẻ em
GĐVH Gia đình văn hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
KCN Khu công nghiệp
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
UBDSGĐTE Ủy ban dân số gia đình và trẻ em
UBND Ủy ban nhân dân
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
VTN/TN Vị thành niên/thanh niên
Trang 8DANH MỤC BẢNG
4.2 Một số chỉ tiêu thể hiện tình hình thực hiện kế hoạch và chăm sóc SKSS
4.3 Tình hình sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe công cộng tại các xã
4.5 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán
4.6 Ý kiến của cán bộ quản lý DS-KHHGĐ về tình hình tập huấn cho cán
4.8 Các hình thức truyền thông, giáo dục về DS-KHHGĐ trên địa bàn
4.14 Một số chỉ tiêu thể hiện kết quả thực hiện chương trình KHHGĐ ở 3 xã
4.15 Tổng hợp tỷ suất sinh và tỷ lệ giới tính khi sinh tại các xã điều tra qua 3
4.17 Số gia đình đạt gia đình văn hóa ở 3 xã đại diện huyện Tiên Du năm
Trang 94.19 Mức độ hiểu biết của người dân về chính sách dân số 93
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
4.1 Mức độ tiếp thu của người dân với các hình thức tuyên truyền về công
4.4 Tỷ lệ mức hỗ trợ phụ cấp cho cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ huyện
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là nguồn lực quan trọng tác động đến mọi mặt của xã hội, bước vào một thời kỳ mới vấn đề đặt ra là dân số của toàn cầu, sự bùng nổ dân số đang là một thách thức lớn trong sự phát triển của xã hội Không chỉ riêng đối với nước ta mà cả thế giới đều nhận định rằng vấn đề dân số đang là mối quan tâm hàng đầu trong sự phát triển Giải quyết vấn đề dân số đang được quan tâm hàng đầu Con người có thể làm nên sự phát triển của xã hội nhưng con người cũng lại là nguyên nhân chính của sự nghèo đói, thiếu việc làm, thất nghiệp
Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước có quy mô dân số lớn, tốc độ tăng dân
số cao Dân số Việt Nam đã đạt con số 90 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới và thứ
8 ở Châu Á Cùng với xu hướng giảm sinh và nâng cao tuổi thọ, tỷ lệ dân số trong độ
tuổi lao động (15 - 64) tăng lên, thể hiện chiếm 69% tổng dân số (Việt Hà, 2015) Nước
ta chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”
Cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượng lao động trẻ, dồi dào nhưng lại là thách thức lớn vì hiện nay còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề (38,4 triệu người) Bên cạnh đó, khoảng 70% dân số ở nông thôn, trong khi nông dân hiện nay mới sử dụng 40% thời gian cho sản xuất nông nghiệp, còn lại 60% thời gian là nông nhàn (Việt Hà, 2015) Thu nhập thấp, thiếu việc làm, mất cân bằng giới tính cao, chất lượng sống và chất lượng dân số chưa cao, tốc độ già hóa nhanh, chi phí an sinh xã hội lớn cũng là những thách thức đặt ra với Việt Nam
Dự báo, xu hướng mất cân bằng giới tính như hiện tại, đến năm 2035, Việt Nam có thế
sẽ dư thừa 10% nam giới trưởng thành so với nữ giới
Nhận thức được vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược nhằm quan tâm toàn diện đến vấn đề dân
số Trong đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra: “Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình, giải quyết tốt mối quan hệ phân bổ dân cư hợp lý với quản lý
Trang 12dân số và phát triển nguồn lực” Hiện nay, các quan điểm, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số tiếp tục được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 47-NQ/TW, ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và kết luận số 44-KL/TW, ngày 1/4/2009 của Bộ chính trị về kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW
Tuy vậy, nước ta đang đứng trước một thách thức rất lớn: tốc độ già hóa dân
số nhanh; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục tăng cao; chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên rất đáng lo ngại; sự bất bình đẳng giới vẫn chưa được giải quyết triệt để…Về cơ cấu dân số, mặc dù nước ta đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhưng chất lượng dân số còn hạn chế Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số thiếu ổn định, quá tải, quản lý kém hiệu quả, việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách liên quan thiếu chặt chẽ Quy mô dân số hiện nay khá lớn với hơn 90 triệu người, mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới (268 người/km2 năm 2012)
Huyện Tiên Du là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam Tiên Du có 14 xã, thị trấn, địa bàn rộng, dân số trung bình 145.307 người (năm 2014), mật độ dân số khoảng 1513 người/km2 (Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Tiên Du, 2014) Trong nhiều năm qua, ngoài việc chú trọng đầu tư phát triển kinh tế xã hội, UBND huyện Tiên Du cũng rất quan tâm tới chính sách dân số, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập của nhân dân Công tác dân số huyện Tiên
Du đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, nhận thức của nhân dân về quy mô gia đình ít con có bước chuyển biến; mục tiêu duy trì mức sinh thay thế vẫn tiếp tục thực hiện; chất lượng dân số từng bước được cải thiện; tuổi thọ bình quân của người dân ngày càng tăng Tuy nhiên, một số chỉ tiêu về dân số như: tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con lần thứ 3 trở lên vẫn còn cao và đặc biệt là tỷ số giới tính khi sinh rất cao Bên cạnh những nguyên nhân khách quan: tâm sinh lý nhiều con, tập quán có con trai để nối dõi, điều kiện kinh tế, dịch vụ xã hội chưa phát triển, cơ cấu dân số trẻ;
số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hàng năm lớn chiếm tỷ trọng khoảng 35% (Trung
Trang 13tâm DS-KHHGĐ huyện Tiên Du, 2014), lao động trẻ từ các tỉnh ngoài đến lập nghiệp và cư trú tại địa bàn huyện tăng… thì một số nguyên nhân chủ quan là: bộ máy công tác dân số thiếu ổn định, có nhiều thay đổi nên ảnh hưởng đến tâm sinh lý cán bộ; chế độ chính sách đối với cán bộ dân số cơ sở thấp
Các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề dân số hầu như chưa có nhiều, nhất là trên địa bàn huyện Tiên Du Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn huyện
Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước
về dân số trên địa bàn huyện Tiên Du những năm qua, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước trong công tác dân số nhằm thực hiện tốt chính sách dân số của Việt Nam
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về dân số;
- Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân
số trên địa bàn huyện Tiên Du trong những năm qua;
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường việc quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn huyện Tiên Du trong những năm tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để trả lời các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu này cần trả lời các câu hỏi sau:
- Quản lý nhà nước về dân số bao gồm nội dung, nguyên tắc và sử dụng phương pháp nào?
- Thực trạng quản lý nhà nước về dân số diễn ra như thế nào trên địa bàn huyện Tiên Du
- Những tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước về dân số trên địa bàn huyện Tiên Du
- Những giải pháp nào cần áp dụng để tăng cường việc quản lý về dân số
Trang 14trên địa bàn huyện Tiên Du
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nội dung và các hoạt động quản
lý nhà nước về dân số được thông qua các đối tượng thu thập dữ liệu sau:
- Các hộ dân trên địa bàn huyện Tiên Du
- Các cán bộ làm công tác dân số và các phòng ban có liên quan trong việc triển khai thực hiện các hoạt động về dân số trên địa bàn huyện Tiên Du
- Cơ quan quản lý dân số: Trung tâm dân số - KHHGĐ
- Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan về dân số
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về dân số, những mặt còn tồn tại, các nguyên nhân cản trở cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản
lý nhà nước về dân số và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dân
số trên địa bàn huyện Tiên Du
* Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
* Phạm vi về thời gian
- Các dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được lấy từ năm 2012 đến 2014
- Các dữ liệu sơ cấp được thu thập vào năm 2014
- Các giải pháp đề xuất cho năm 2020
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Lý luận quản lý nhà nước về dân số
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Dân số và các loại dân số
Dân số có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống KT-XH Vì vậy, có nhiều định nghĩa về dân số
Nguyễn Nam Phương (2011) nêu rõ “Theo nghĩa thông thường dân số là số lượng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định
Theo nghĩa rộng dân số được hiểu là một tập hợp người Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già hóa và tử vong”
Tập hợp tất cả những con người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó Khi dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô,
cơ cấu, chất lượng và biến động của chúng thì được gọi là dân số (Trịnh Khắc Thẩm
và cs, 2012)
Như vậy, trong một huyện, dân số được định nghĩa là số lượng và chất lượng nhân khẩu của một cộng đồng dân cư, cư trú trong một huyện tại một thời điểm nhất định
Theo Nguyễn Thị Thiềng và Lưu Bích Ngọc (2011), cần hiểu rõ thêm một số khái niệm như:
+ Dân số hiện có: Là số người thực tế có mặt ở một địa phương tại thời điểm điều tra dân số, không kể người đó có sinh sống thường xuyên ở địa phương
đó hay không
+ Dân số thường trú: Là số người thường xuyên sinh sống tại một địa phương Theo quy định hiện hành của Tổng cục Thống kê, nếu thời gian thường xuyên sinh sống tại một địa phương từ 6 tháng trở nên thì được coi là dân số thường trú tại địa phương đó
Trang 16Trong nhiều trường hợp, dân số thường trú và dân số có đăng ký hộ nhân khẩu thường trú không trùng nhau Điều này là do quá trình di cư tạo nên Hiện nay
ở nước ta có hiện tượng người dân di cư ra thành phố sinh sống nhiều năm nhưng
họ vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi gốc (ở quê)
+ Dân số tạm trú: Là những người không thường xuyên sinh sống tại một địa phương, nhưng lại có mặt vào thời điểm điều tra tại địa phương đó
+ Dân số tạm vắng: Là những người thường xuyên sinh sống tại một địa phương, nhưng tại thời điểm điều tra lại vắng mặt tại địa phương đó
2.1.1.2 Quản lý
Quản lý được xem là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành Theo cách tiếp cận chức năng: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, giám sát quá trình thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch Theo cách tiếp cận lý thuyết quyết định: Quản lý là quá trình thu thập, xử lý, phân tích thông tin và ra quyết định (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
Theo cách tiếp cận hệ thống: Quản lý là sự tác động có kế hoạch, có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề
ra trong điều kiện môi trường luôn biến động Quản lý ra đời chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với hoạt động của từng cá nhân riêng rẽ hoặc của một nhóm người khi họ phải tiến hành các hoạt động chung (Nguyễn Cảnh
Hoan, 2011)
Theo cách tiếp cận nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý
Như vậy, nói đến quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng chịu tác động của chủ thể; có trao đổi thông tin và mối liên hệ ngược
và bao giờ cũng có khả năng thích nghi
- Phải có mục tiêu vạch ra cho cả đối tượng và chủ thể quản lý
- Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đối tượng quản lý có thể là
Trang 17con người, sự vật, hiện tượng được chủ thể quản lý
- Khách thể, xét trong điều kiện quan hệ độc lập với chủ thể, là con người hoặc tổ chức mà qua đó chủ thể quản lý có thể tác động lên đối tượng quản lý
- Suy cho cùng, quản lý là sự tác động vào con người nhằm thực hiện mục tiêu của nhà quản lý
2.1.1.3 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước (QLNN) là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
Quản lý nhà nước khác với dạng quản lý của các chủ thể như Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên… ở chỗ các chủ thể này dùng hình thức giáo dục, vận động quần chúng là chủ yếu còn QLNN sử dụng pháp luật là chủ yếu QLNN biểu hiện trước hết ở việc tác động vào nhận thức hành vi của con người, các tổ chức, buộc mọi cá nhân, tổ chức phải hành động theo một định hướng và mục tiêu nhất định Bên cạnh việc sử dụng pháp luật như một phương thức cơ bản, quan trọng nhất, Nhà nước cũng chú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục và động viên tinh thần các công dân, kết hợp với việc xây dựng và thực hiện các chính sách đòn bẩy kích thích kinh tế, vật chất nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cơ quan, doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân
QLNN là sự tổ chức và điều chỉnh các quan hệ trong xã hội một cách có ý thức dưới một hình thức có tổ chức nhất định - đó là tổ chức nhà nước QLNN biểu hiện trước hết ở những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển của xã hội
2.1.1.4 Quản lý nhà nước về dân số
Quản lý nhà nước về dân số là tổng thể các phương thức, các biện pháp, cách thức của nhà nước tác động vào dân số để đạt được những mục tiêu chung của nhà nước Quá trình quản lý đó đi từ việc nghiên cứu hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, các chiến lược, chương trình, kế hoạch, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, hình thành cơ chế quản lý điều hành và tác động làm cho các chủ trương, chính sách đến tận người dân và biến nó thành hiện thực trong cuộc sống (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
Chủ thể quản lý trực tiếp trong QLNN về dân số ở nước ta là Ủy ban Dân số,
Trang 18gia đình và trẻ em các cấp Ủy ban hình thành bộ máy tổ chức quản lý, đề ra mục tiêu, kế hoạch, chương trình hoạt động, phương thức tác động, cách thức tổ chức quản lý, các chương trình, chế độ quản lý… nhằm đạt được mục tiêu đề ra Đối tượng của QLNN về dân số là mọi công dân, toàn xã hội thuộc phạm vi quản lý của chủ thể Mọi công dân có trách nhiệm thực hiện các chương trình, mục tiêu về dân
số và những vấn đề có liên quan mà Nhà nước cũng như UBDSGĐTE đã đề ra Mục tiêu QLNN về dân số xét một cách chung nhất là trạng thái thay đổi về các yếu
tố quy mô, cơ cấu, phân bổ dân số, chất lượng dân số hoặc các quá trình sinh, chết,
di dân… phù hợp mà nhà nước mong muốn đạt được để tạo điều kiện nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước về kinh tế, xã hội và môi trường (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
Trong phạm vi một huyện, đối tượng quản lý là toàn bộ công dân thuộc phạm vi của huyện đó UBND huyện, Trung tâm DS-KHHGĐ, Phòng Y tế, các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Hội phụ nữ… được phối hợp thực hiện công tác dân
số Quá trình QLNN về dân số sẽ đi từ việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các chương trình, đề án và biện pháp thực hiện công tác dân số, đưa chủ chương, chính sách đến tận người dân
Việc thực hiện QLNN về dân số diễn ra trong các điều kiện, bối cảnh cụ thể
và luôn được tính toán cho phù hợp với những điều kiện và bối cảnh đó, đảm bảo đạt được mục tiêu cuối cùng đồng thời hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến
sự ổn định xã hội trước mắt và lâu dài
2.1.2 Bản chất và đặc điểm của quản lý nhà nước về dân số
QLNN về dân số ở nước ta là hoạt động chủ động của nhà nước được tiến hành trước hết dựa vào quyền lực của nhà nước QLNN về dân số nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, của từng gia đình và của toàn xã hội, đảm bảo tình trạng hài hòa về các yếu tố quy mô dân
số, cơ cấu dân số, phân bổ dân số và chất lượng dân số phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
Quản lý công tác dân số phải dựa vào nhân dân, thông qua việc tác động làm
Trang 19chuyển đổi nhận thức và hành vi của từng người dân và toàn xã hội, đi đến tự nguyện thực hiện chính sách, luật pháp của nhà nước vì lợi ích của chính mình và vì
sự nghiệp phát triển đất nước
QLNN về dân số là một khoa học vì có đối tượng nghiên cứu riêng, đó là các quan hệ quản lý Các quan hệ trong QLNN về dân số chính là hình thức của quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế (gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối…), thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tiến hành các hoạt động dân số, bao gồm quan hệ giữa hệ thống cơ quan dân số cấp trên với hệ thống cơ quan dân số cấp dưới; quan hệ giữa người lãnh đạo và người thực hiện; quan hệ giữa cơ quan thường trực với cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo công tác dân số các cấp; quan hệ giữa cơ quan thường trực dân số với các cơ quan chính quyền cùng cấp; quan hệ giữa người quản lý, thực hiện chương trình với đối tượng của chương trình… (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
QLNN về dân số còn là một nghệ thuật, bởi lẽ kết quả và hiệu quả của quản
lý còn phụ thuộc vào các yếu tố tài năng, nhân cách, hình thức tiếp cận của người lãnh đạo, quản lý cũng như cơ quan dân số các cấp Nghệ thuật QLNN về dân số bao gồm nghệ thuật sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý, nghệ thuật tác động vào tư tưởng, tình cảm con người, nghệ thuật ứng xử, nghệ thuật dùng người (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
2.1.3 Vai trò quản lý nhà nước về dân số
Dân số vừa là lực lượng sản xuất, chủ thể của xã hội và dân số cũng là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ xã hội Với cả hai khía cạnh này, dân số có quan
hệ chặt chẽ, cùng với sự phát triển và tương tác qua lại với kinh tế, chính trị văn hóa,
xã hội, khoa học, kỹ thuật, an ninh - quốc phòng, môi trường… do vậy ngày càng đặt
ra trước nhà nước nhiều vấn đề trong lĩnh vực dân số, nội dung QLNN về dân số ngày càng mở rộng Nếu như trước đây chỉ chú trọng nhiều đến lĩnh vực quy mô dân
số do sự “bùng nổ dân số” tạo ra áp lực mạnh mẽ đối với sự phát triển KT-XH và môi trường, thì hiện nay các lĩnh vực toàn diện của dân số được chú trọng Các vấn đề của
cơ cấu dân số như: mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, cơ cấu dân số vàng; phân bổ dân cư, di cư và đô thị hóa; chất lượng dân số về mặt thể chất, trí tuệ,
Trang 20tinh thần… Do vậy, QLNN về dân số là một nội dung quản lý tất yếu của nhà nước
và được mở rộng dần về nội dung, cùng với sự phát triển của xã hội (Nguyễn Nam Phương, 2011)
Vấn đề quan trọng có tích chất then chốt của QLNN về dân số là xây dựng được cơ chế quản lý để thực hiện có hiệu quả Trong điều kiện đổi mới, để tăng cường hiệu lực quản lý công tác dân số cần xác định rõ vai trò QLNN, muốn vậy phải xây dựng và đưa được hệ thống chính sách, pháp luật về dân số vào cuộc sống Vai trò này ngày càng trở nên quan trọng ở đất nước ta
2.1.4 Nguyên tắc, chức năng và công cụ quản lý nhà nước về dân số
2.1.4.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về dân số
Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2011), quản lý nhà nước về dân số gồm những nguyên tắc sau:
a) Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân số
Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Công tác dân số là công tác khó khăn, phức tạp và lâu dài Do vậy, để đảm bảo thành công trong lĩnh vực dân số nhất thiết phải tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện công tác dân số
Hình thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng là ban hành các Nghị quyết đại hội, Nghị quyết Ban chấp hành, cấp ủy Đảng các cấp; phổ biến triển khai, kiểm điểm đánh giá việc thực hiện các Nghị quyết đối với các tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng Phải có mục tiêu hoạt động rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế ở địa phương và có thời hạn thực hiện cụ thể
b) Tôn trọng quy luật khách quan
Quy luật nói chung là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến, bền vững lặp
đi lặp lại của các sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định Các quy luật dân số là mối liên hệ bản chất, tất nhiên phổ biến, bền vững, lặp đi, lặp lại của các hiện tượng dân số, trong những điều kiện nhất định Ví dụ: Quy luật quá độ dân số, quy luật “bùng nổ dân số” sau chiến tranh, quy luật hút, đẩy chi phối quá trình biến động dân số cơ học… Cũng như các quy luật khác, các quy luật trong lĩnh vực dân
Trang 21số tồn tại khách quan Thừa nhận tính khách quan của quy luật không có nghĩa phủ nhận vai trò tích cực của con người Con người không thể tạo ra hay gạt bỏ quy luật, nhưng con người có khả năng nhận thức quy luật và vận dụng nó
c) Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nội dung của nguyên tắc là phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong QLNN về dân số Tập trung phải dựa trên dân cơ sở dân chủ, dân chủ phải thể hiện trong khuôn khổ tập trung
Biểu hiện của tập trung trong QLNN về dân số là:
- Thông qua hệ thống pháp luật, chính sách về dân số
- Thông qua công tác kế hoạch hóa
- Thực hiện chế độ một thủ trưởng ở cơ quan QLNN về dân số
Biểu hiện của dân chủ:
- Mở rộng và quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn QLNN về dân số ở tất cả các cấp
- Kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành, quản lý theo lãnh thổ và địa phương
- Phát huy đầy đủ quyền chủ động của các địa phương đơn vị
- Tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật
d) Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích
Kết hợp hài hóa các lợi ích của các cá nhân, xã hội và Nhà nước nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào nhân dân thực hiện công tác dân số, đạt được mục tiêu nhanh chóng và bền vững
- Lợi ích của nhà nước: Kiểm soát được quy mô dân số, cơ cấu dân số, thực hiện phân bổ dân cư hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm phát triển KT-XH
- Lợi ích của các cá nhân và gia đình: Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người dân để có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi cá nhân và gia đình, đạt được
sự phát triển toàn diện cá nhân
- Lợi ích của các cộng đồng, xã hội: Đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong cộng đồng, tổ chức được nâng cao, đời sống và sinh hoạt của cộng
Trang 22đồng phát triển hài hòa
Giao quyền hạn và trách nhiệm cho từng ban, ngành, đoàn thể và mỗi cá nhân trong Ban dân số Thực hiện phân cấp, phân quyền trong hoạt động quản lý Động viên khuyến khích nhằm tạo cho người thực hiện tự chủ trong công việc, sáng tạo nhiều sáng kiến hay và có trách nhiệm cao
2.1.4.2 Chức năng quản lý nhà nước về dân số
Chức năng QLNN về dân số là tập hợp những nhiệm vụ quản lý nhà nước khác nhau, mang tính độc lập tương đối được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa hoạt động QLNN mà các cơ quan nhà nước phải thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu về dân số đã đề ra Theo Trần Ngọc Sinh (2011) gồm các chức năng sau:
Việc xây dựng, ban hành các VBQPPL về dân số được quy định một cách chặt chẽ, phải đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL
- Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL
- Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL; bảo đảm tính minh bạch trong quy định của VBQPPL, trừ trường hợp VBQPPL có nội dung thuộc nhà nước
- Bảo đảm tính khả thi Các VBQPPL sau khi được ban hành phải đi vào cuộc sống, tác động làm thay đổi trạng thái của các quá trình, yếu tố dân số hướng đến mục tiêu đã xác định
- Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên
b) Xây dựng kế hoạch
Kế hoạch là một hệ thống các mục đích, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể,
Trang 23biện pháp, cơ chế vận hành được thể hiện bằng văn bản nhằm định hướng các mục tiêu cho nền kinh tế quốc dân, ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ, cho những khu vực rộng lớn hoặc từng doanh nghiệp, từng tổ chức, đoàn thể xã hội và phương thức thực hiện những mục tiêu đó bằng việc phối hợp giữa các tác nhân trong đời sống
xã hội Xây dựng kế hoạch là chức năng quan trọng nhất trong các chức năng quản
lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn, xây dựng chương trình hành động trong tương lai của hệ thống
Xây dựng kế hoạch nhằm xác định các nhiệm vụ để trả lời những câu hỏi như: Phải làm cái gì? Làm như thế nào? Bằng phương tiện gì? Vào lúc nào? Ở đâu?
Ai sẽ làm việc đó và kết quả cuối cùng?
Những yêu cầu đối với việc xây dựng kế hoạch:
(1) Mục đích của kế hoạch được xác định rõ ràng
(2) Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thông tin, số liệu đáng tin cậy
(3) Kế hoạch đề ra phải đo lường được khi triển khai thực hiện
(4) Kế hoạch cần có tính khả thi
(5) Kế hoạch cần có tính linh hoạt, tức là phải hợp với những thay đổi về KT-XH (6) Kế hoạch cần phải được công khai bằng cách cung cấp đầy đủ các thông tin cho các cơ quan tổ chức có liên quan, các cấp thực hiện các hoạt động cụ thể; nguồn lực đảm bảo và mục tiêu phải đạt được
Xây dựng kế hoạch sinh đẻ của một cộng tác viên ở cơ sở phải rõ ràng, cụ thể, chi tiết bao gồm các bước sau:
Bước 1: Công tác chuẩn bị lập kế hoạch:
- Phải xem xét lại những kết quả và tồn tại của những năm trước, những việc
đã làm được, những việc chưa làm được đặc biệt là những việc chưa làm được, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng Ví dụ: Năm trước số người sinh con thứ 3 trở lên của thôn A còn cao là do: Ảnh hưởng của công tác tổ chức điều hành của Ban DS-GĐ&TE chưa tốt, chưa có sự hỗ trợ của ban; Công tác tuyên truyền vận động còn chưa hợp lý; Thiếu các phương tiện tránh thai
- Căn cứ các thông tin, số liệu do cộng tác viên DS-KHHGĐ thu thập qua
Trang 24việc phỏng vấn, gặp gỡ tại các hộ gia đình, thảo luận với các nhóm đối tượng Cộng tác viên và cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã cần tìm nguyên nhân tồn tại để từ
đó chọn ra được các vấn đề ưu tiên và đề ra kế hoạch hoạt động về tuyên truyền, vận động, cung cấp dịch vụ … cho người dân
- Xem xét định hướng hoạt động công việc của năm tới: Mục tiêu và thời gian giải quyết và các vấn đề cần quan tâm thực hiện theo thứ tự nói trên
Bước 2: Thiết lập mục tiêu:
Xây dựng mục tiêu của đơn vị mà cần phải vươn tới Mục tiêu thường ngắn gọn và là các mô tả chi tiết định hướng cho một kết quả cụ thể hay là sự mô tả chi tiết nội dung giải quyết các nhu cầu
Bước 3: Thiết lập các hoạt động để đạt được mục tiêu
- Tổ chức tuyên truyền bằng phương pháp nói chuyện
- Vận động tại hộ gia đình
- Khuyến khích đối tượng tham gia thực hiện các biện pháp tránh thai
- Phân tích từng đối tượng cụ thể để xác định các chỉ tiêu kế hoạch sinh đẻ, đồng thời giúp cho việc xây dựng kế hoạch của xã được phù hợp
Bước 4: Xác định các vấn đề cần hỗ trợ của cấp trên
Bước 5: Xác định thời gian để thực hiện các hoạt động
Xây dựng kế hoạch hàng tuần, tháng để thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch công tác năm, đồng thời có những hoạt động đột xuất, xuất hiện trong quá trình hoạt động
c) Giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá
Giám sát là một trong những chức năng của quản lý Giám sát là quá trình then chốt để các hoạt động của kế hoạch công tác được thực hiện tốt Giám sát là yếu tố góp phần quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả chương trình dân số Nhờ có giám sát mà các nhà quản lý nói chung và quản lý dân số nói riêng Nhờ có giám sát mà khách thể quản lý hoạt động “tự giác hơn”, có hiệu quả hơn
Kiểm tra chủ yếu được hiểu là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới nhằm xem xét đánh giá mọi hoạt động của cấp dưới khi cần thiết hoặc kiểm tra cụ thể một quyết định nào đó Kiểm tra
Trang 25giúp cơ quan quản lý nhà nước theo sát và đối phó kịp thời với sự thay đổi của tình hình, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình hoàn thiện và đổi mới QLNN về dân số
Thanh tra là phạm trù dùng để chỉ hoạt động của các tổ chức thuộc thanh tra chuyên ngành Cơ quan thanh tra và đối tượng bị thanh tra thường không có quan
hệ trực thuộc Hoạt động thanh tra ngành được cơ quan cấp trên tiến hành trong quan hệ đối với cơ quan trực thuộc Trong quá trình thanh tra, cơ quan thanh tra có thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm kỷ luật như tạm đình chỉ công tác và xử lý vi phạm hành chính, nhưng không có quyền sửa đổi, bãi bỏ quyết định của đối tượng
bị thanh tra mà chỉ có quyền đình chỉ việc thi hành một loại quyết định hành chính trong trường hợp đặc biệt, hoặc đình chỉ hành vi hành chính trái pháp luật
Đánh giá là sự so sánh mức độ đạt được của các hoạt động và mục tiêu đã đề
ra, đánh giá sẽ trả lời câu hỏi: Những hoạt động đã đề ra được triển khai đến đâu? Các bước tiến hành ra sao? Điểm nào đạt yêu cầu? Điểm nào chưa đạt yêu cầu cần phải được cải tiến? Kết quả có đạt được so với yêu cầu đặt ra không? Những nguyên nhân dẫn đến thành công và thất bại? Tác động của kết quả đạt được vào đời sống cộng đồng thế nào?
Trên cơ sở đó đưa ra những kinh nghiệm góp phần cải tiến các hoạt động để
có kế hoạch tiếp theo tốt hơn
2.1.4.3 Bộ máy và công cụ quản lý nhà nước về dân số
a) Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dân số
Theo Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2011), thế giới hiện nay đang tồn tại hai mô hình quản lý nhà nước về dân số như sau:
- Mô hình thứ nhất: Ngành y tế đảm bảo công tác công tác dân số tức là ngành
y tế quản lý về công tác dân số, mô hình này thường được áp dụng ở những nước đã phát triển với tỷ lệ phát triển dân số thấp, hệ thống cơ sở y tế phát triển mạnh
- Mô hình thứ hai: Giao việc quản lý nhà nước về công tác dân số cho một cơ quan ngoài Bộ Y tế, thường là giao cho một ủy ban có tính chất liên ngành đảm nhiệm Mô hình này thường được áp dụng ở những nước đang và kém phát triển với trình độ dân trí chưa cao trong khi tỷ lệ gia tăng dân số quá cao đòi hỏi phải giảm nhanh trong một thời gian nhất định
Trang 26Ở Việt Nam, theo Điều 34 của Pháp lệnh dân số quy định cơ quan quản lý nhà nước về dân số như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về dân số;
- Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dân số;
- Cán bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện QLNN về dân số theo sự phân công của Chính phủ;
- Chính phủ quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
cơ quan QLNN về dân số và trách nhiệm của cán bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp với Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện QLNN về dân số;
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện QLNN về dân số ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
Căn cứ nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức Chính phủ và số Phó thủ tướng Chính phủ khóa XII, ngày 8/8/2007, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 1001/QĐ-TTg về việc giải thể Ủy ban DS-GĐ&TE, chuyển chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về dân
số được giao cho Bộ Y tế
b) Công cụ quản lý nhà nước về dân số
Theo Trần Ngọc Sinh (2011), công cụ quản lý nhà nước về dân số gồm: (1) Pháp luật
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện sự quản lý nhà nước nói chung và QLNN về dân số nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật
Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung (quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng
xã hội do nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển
xã hội theo các đặc trưng đã định
Vai trò của pháp luật trong QLNN về dân số thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để điều chỉnh hành vi về dân số hoặc liên quan đến dân số của các tổ chức và cá nhân một cách đúng hướng, thống nhất và ổn định
Trang 27nhằm thực hiện được các mục tiêu về dân số
Tạo cơ hội huy động các lực lượng tham gia cũng như các nguồn lực cho công tác dân số Công tác dân số chỉ đạt được thành công nhanh chóng và vững chắc với sự tham gia đông đảo trên cơ sở phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các đoàn thể nhân dân ở mọi cấp
Tạo cơ sở pháp lý để hạn chế các yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực, các tác động ngược chiều đến việc thực hiện các mục tiêu dân số Để công tác dân số diễn ra thuận lợi, nhanh chóng đạt được mục tiêu đề ra, pháp luật không chỉ tạo nền tảng để huy động sự tham gia, động viên khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia mà còn tạo cơ sở pháp lý để trừng phạt những cá nhân, tổ chức cản trở, gây tác hại đến việc thực hiện các hành vi tự do và tự nguyện về dân số của mọi người dân
Đặc trưng cơ bản của chính sách dân số:
Do nhà nước (cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương và địa phương) đưa ra dưới dạng tuyên bố lập trường, quan điểm, các đạo luật, sắc lệnh hoặc các chương trình quản lý
Phạm vi của chính sách dân số liên quan đến mức sinh, di dân và có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và sự phân bổ dân số
Có mục đích, mục tiêu và đối tượng tiếp nhận hoặc tham gia thực hiện mục đích, mục tiêu đó
Hình thức thể hiện của chính sách dân số thường được thể hiện dưới dạng văn bản được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ở các thời điểm khác nhau
*) Một số chính sách về dân số:
- Về quy mô dân số
Trang 28Kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con, duy trì mức sinh thấp hợp lý, tạo cơ
sở vững chắc để ổn định quy mô ở mức 115 - 120 triệu người vào giữa thế kỷ 21 Tập trung cho việc giảm mức sinh ở vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
- Về cơ cấu dân số
Chủ động kiểm soát và giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Đẩy mạnh chương trình đào tạo nghề, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động ngày càng tăng; phát triển các dịch vụ xã hội thích ứng với giai đoạn già hóa dân số
- Về phân bổ dân số
Thống nhất và hiện đại hóa hệ thống quản lý dân cư đáp ứng nhu cầu quản lý
xã hội, xây dựng và hoạch định chiến lược, chính sách; chủ động phân bổ dân cư hợp lý, hạn chế di dân nông thôn - đô thị thông qua phát triển KT-XH nông thôn
Đối với QLNN về dân số ở nước ta, kế hoạch là một công cụ cực kỳ quan trọng đòi hòi cơ quan QLNN về dân số phải chú trọng tham mưu, xây dựng các kế hoạch định hướng; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung hạn; chương trình mục tiêu quốc gia, kế hoạch năm… Những công cụ này cùng với các công cụ pháp luật
và chính sách giúp cho việc QLNN về dân số theo đúng mục tiêu đề ra
2.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về dân số
Theo pháp lệnh dân số QLNN về dân số gồm các nội dung sau:
Điều 33: Nội dung quản lý nhà nước về dân số
Nội dung quản lý nhà nước về dân số bao gồm:
Trang 29(1) Xây dựng, tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch và các biện pháp thực hiện công tác dân số;
(2) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dân số; (3) Tổ chức, phối hợp thực hiện công tác dân số giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân và các tổ chức, cá nhân tham gia công tác dân số;
(4) Quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ về tổ chức bộ máy và cán bộ QLNN về dân số;
(5) Tổ chức, quản lý công tác thu thập, xử lý, khai thác, lưu trữ thông tin, số liệu về dân số; công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tổng điều tra dân số định kỳ;
(6) Tổ chức, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác dân số;
(7) Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực dân số;
(8) Tổ chức, quản lý thực hiện tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về dân số;
(9) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số;
(10) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dân số
Việc xác định rõ nội dung QLNN về dân số nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả công tác dân số, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường thống nhất QLNN về dân số Các cơ quan QLNN về dân số ở các cấp có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nội dung QLNN về dân số
Trên phạm vi một huyện nội dung QLNN về dân số chủ yếu gồm các nội dung sau:
(1) Kiện toàn bộ máy QLNN về dân số trên địa bàn huyện;
(2) Chỉ đạo thực hiện các chương trình, kế hoạch và giải pháp thực hiện công tác dân số trên phạm vi huyện; Tổ chức phối hợp thực hiện công tác dân số giữa
Trang 30UBND huyện, Ban DS-KHHGĐ, phòng Y tế, các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Hội Phụ nữ…
UBND huyện quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn, kế hoạch hoạt động, quy định việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ
Các ban ngành, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác dân
số trong cơ quan, trong hệ thống tổ chức của mình bằng hình thức phù hợp; đưa ra các nội dung, quy chế hoặc các hình thức khác để thực hiện mục tiêu, chính sách dân số
Quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nhà nước về dân số, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cơ bản về KHHGĐ
(3) Tập huấn hướng dẫn nhiệm vụ về tổ chức bộ máy và QLNN cho cán bộ làm công tác dân số
UBND huyện có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ làm công tác dân số, đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số ở cơ sở phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Trung tâm DS-KHHGĐ tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách và cộng tác viên làm công tác dân số
(4) Tổ chức và quản lý công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu về dân số của huyện
Theo quy định của Chính phủ, huyện thực hiện theo trình tự, thủ tục, nội dung về đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu về dân số
(5) Tổ chức quản lý công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về dân số
Các ban ngành, đơn vị trong phạm vi thẩm quyền, quyền hạn của mình có trách nhiệm lồng ghép các yếu tố dân số trong các hoạt động, tuyên truyền vận động công tác dân số, cung cấp các dịch vụ thực hiện công tác dân số
(6) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lí vi phạm pháp luật về dân số
Cơ quan, tổ chức, các ban ngành, đơn vị có quyền khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ trong việc thi hành chính
Trang 312.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân số
2.1.6.1 Hệ thống tổ chức và năng lực của cán bộ làm công tác dân số
Bộ máy QLNN về dân số là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, bao gồm các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng QLNN về dân số, bao gồm các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng QLNN về dân số ở 4 cấp từ trung ương đến địa phương Theo nội dung của QLNN về dân số, có những cơ quan trực tiếp quản lý chương trình dân số, có những cơ quan gián tiếp vào quản lý chương trình dân số (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011)
Bộ máy QLNN về dân số, đội ngũ cán bộ làm công tác dân số góp phần không nhỏ trong sự thành công của công tác dân số Họ là những người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn người dân thực hiện tốt công tác dân số
2.1.6.2 Trình độ nhận thức và ý thức của người dân trong việc thực hiện công tác dân số
Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của người dân về quy mô gia đình
ít con đã thực sự có chuyển biến Tỷ lệ học sinh đến trường cao Giáo dục được coi trọng Trình độ học vấn càng cao thì mức sinh càng giảm
Tuyên truyền, giáo dục tốt sẽ có những tác động tích cực và đóng góp quan trọng trong việc nâng cao trình độ dân trí, trình độ nhận thức, hiểu biết và làm thay đổi quan niệm của người dân, tạo được lòng tin trong đông đảo quản chúng nhân dân, tạo ra dư luận xã hội rộng rãi, sự đồng tình, ủng hộ trong quần chúng nhân dân
để mọi người tự nguyện thực hiện mục tiêu, yêu cầu của chính sách dân số (Dương Quốc Trọng, 2011)
Trang 32Tuyên truyền, giáo dục tốt sẽ làm thay đổi nhận thức, nâng cao ý thức của người dân và nhiều hành vi dân số mới sẽ được hình thành từ ông bà cha mẹ, đến các cặp vợ chồng trẻ, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc và các nhóm tôn giáo sẽ có được những bước chuyển biến đáng kể để thực hiện thành công mục tiêu ổn định quy mô gia đình và quy mô dân số, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao mức sống dân cư (Dương Quốc trọng, 2011)
2.1.6.3 Các công cụ, phương tiện thực hiện công tác dân số
Đầu tư cho công tác dân số nhằm duy trì vững chắc mức sinh thay thế, từng bước nâng cao chất lượng dân số, kiểm soát tốt các biến động dân số và cơ cấu dân số là yêu cầu bức thiết, nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước
Một số chính sách, chế độ bao cấp cho nạo hút thai (bao cấp tiền thuốc cho phụ
nữ khi thực hiện nạo hút thai, bồi dưỡng vật chất cho những phụ nữ nạo hút thai do sử dụng các biện pháp tránh thai bị thất bại, phụ cấp cho nhân viên y tế khi tiến hành các
ca nạo hút thai…) Hơn nữa, thay vì phải sử dụng các phương tiện tránh thai, nhưng do việc tiếp cận dịch vụ nạo hút thai quá dễ dàng và thuận lợi, chi phí cho việc nạo phá thai quá rẻ, nên nhiều đối tượng khách hàng, nhất là các khách hàng thuộc khu vực thành thị thường lạm dụng nó Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản nói riêng của cộng đồng dân cư cả hiện tại lẫn tương lai (Dương Quốc Trọng, 2011)
2.1.7 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan
Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan và điều chỉnh vấn đề dân số gồm: Nghị định12/2001/NĐ-CP về việc tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Nghị định số 94/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
Quyết định 18/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế
Chiến lược dân số giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm
Trang 33no, hạnh phúc; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển và bền vững của đất nước
Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 Chiến lược đã đề ra 11 mục tiêu nhằm thực hiện thành công việc nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp, giải quyết tốt những vấn đề cơ cấu dân số và phân bổ dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 9/1/2003 của Ủy ban Thường Vụ quốc hội quy định: “Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số và thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, xác định “Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” Các thành phần của chất lượng dân số bao hàm: Thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó
có các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh… dinh dưỡng bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi … của người dân; Trí tuệ gồm các yếu tố trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu tay nghề… thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số người có bằng cấp, được đào tạo chuyên môn kỹ thuật…; Tinh thần gồm các yếu tố về ý thức
và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thông tin, vui chơi, giải trí… của người dân
Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 với mục tiêu chung là đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng tiếp cận và
sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Nguời dân được sống trong cộng đồng an toàn phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số
Pháp lệnh số 08/2008/UBTVQH12 ngày 27/12/2008 của Ủy ban Thường vụ
Trang 34Quốc hội sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh Dân số Trong đó quy định quyền và nghĩa
vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 23/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện chính sách DS-KHHGĐ với quan điểm tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS-KHHGĐ, phấn đấu sớm đạt được mục tiêu về ổn định quy
mô dân số, nâng cao chất lượng dân số cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về dân số
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dân số ở các nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia đông dân cư nhất trên thế giới, với trên 1.35 tỷ người theo số liệu của IMF Chính sách dân số của Trung Quốc trong hơn 25 năm qua đã góp phần làm cân bằng sự phát triển Sự gia tăng dân số dẫn đến ngày càng vắt kiệt nguồn tài nguyên vốn đã hạn hẹp và điều này không chỉ là mối quan tâm của Trung Quốc mà còn của cả thế giới Chính vì vậy mà Trung Quốc đã đưa ra rất nhiều chính sách để phát huy thế mạnh cũng như những hạn chế do dân số đem lại như:
a) Chính sách một con
Lo ngại trước “làn sóng” sinh đẻ này, năm 1984 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra chỉ thị, nêu rõ quan điểm “mở cửa nhỏ, đóng cửa lớn” Các cặp vợ chồng ở nông thôn, nếu sinh con đầu lòng là gái thì được sinh con thứ 2 Còn ở thành thị mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh duy nhất một con Những trường hợp ngoại lệ bao gồm sinh đôi, dân tộc thiểu số hoặc cả bố mẹ đều là con một (Trung Hiếu, 2012)
b) Chính sách khen thưởng
Trung Quốc áp dụng nhiều biện pháp như gắn các lợi ích xã hội, lợi ích kinh
tế với việc khuyến khích người dân sinh con gái như phân đất, cải tạo nhà ở nông thôn, ưu tiên quyền lợi trong học hành, phụ cấp cho cha mẹ… Thưởng tiền cho ai
Trang 35báo tin về những hành vi vi phạm Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách ưu tiên trẻ em gái, học sinh nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ Các đôi vợ chồng một con nhiều lợi ích thiết thực như: tiền thưởng, quỹ hưu trí và một hệ thống an sinh xã hội tốt hơn (Trung Hiếu, 2012)
Từ năm 2007, các bậc cha mẹ trên 60 tuổi mà chỉ có một con, hay hai con gái, sẽ được hưởng trợ cấp 600 Nhân dân tệ, tức khoảng 76 đôla Mỹ, một năm Số tiền này tương đương 1/5 thu nhập bình quân cả năm của một nông dân Trung Quốc (Trung Hiếu, 2012)
c) Chính sách đối với số dân di động
Ngày 1/5/2009 Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã ký ban hành Điều lệ sinh đẻ có kế hoạch đối với dân số di động Trọng tâm Điều lệ quy định rõ các vấn đề quản lý và dịch vụ KHHGĐ, Trung Quốc quy định theo dõi rất chặt chẽ các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ Khi đi ra khỏi địa phương mình đăng ký cư trú, phải mang theo chứng minh nhân dân và xác nhận của địa phương và tình trạng hôn nhân (chồng, con), các chế độ DS-KHHGĐ đã được thụ hưởng (Trung Hiếu, 2012)
2.2.1.2 Kinh nghiệm ở Thái Lan
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 3 (1972 – 1976): Mục tiêu
là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 3% xuống 2,5% vào cuối kỳ kế hoạch thông qua sự
tự nguyện thực hiện KHHGĐ; đẩy mạnh sử dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt chú trọng đến phụ nữ các vùng nông thôn hẻo lánh; phải làm cho các dịch vụ KHHGĐ luôn có sẵn trong cả nước; phối hợp các hoạt động KHHGĐ với dịch vụ y
tế về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em (Gia đình và xã hội, 2013)
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 4 (1977-1981): Mục tiêu đề
ra trong kế hoạch này là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,5 xuống 2,1% vào cuối kỳ
kế hoạch Các biện pháp đề ra chủ yếu là tăng cường sự hỗ trợ về nhân lực, tài chính và phúc lợi như: giảm trợ cấp cho trẻ em của các viên chức nhà nước có 4 con, hủy bỏ chế độ trợ cấp và nghỉ đẻ của người sinh con thứ 5 Nhà nước bắt đầu huy động các tổ chức công và tư nhân tham gia vào các hoạt động của chương trình KHHGĐ (Gia đình và xã hội, 2013)
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 5 (1982-1986): Mục tiêu là
Trang 36giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,1% năm 1981 xuống 1,5% năm 1986 Đồng thời phấn đấu vận động được 4,6 triệu người thực hiện các biện pháp tránh thai (Gia đình và xã hội, 2013)
Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 6 (1987-1991): Mục tiêu là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 1,7% năm 1986 xuống còn 1,5% vào năm 1991 (1,3% vào năm 1992), phấn đấu có được 5,7 triệu người chấp nhận sử dụng biện pháp tránh thai (Gia đình và xã hội, 2013)
Kết quả: Thái Lan đã làm cho ngân sách Chính phủ tiết kiệm được 840 triệu USD trong kế hoạch 5 năm 1982 – 1986 và tiết kiệm xấp xỉ 2 tỷ USD trong kế hoạch 5 năm 1987-1991 Như vậy, cứ mỗi bạt chi cho chương trình KHHGĐ thì tiết kiệm được 40 bạt chi cho y tế, giáo dục, an sinh xã hội nhờ số sinh tránh được bình quân hàng năm khoảng 400.000 trẻ (Gia đình và xã hội, 2013)
2.2.1.3 Kinh nghiệm ở Hàn Quốc
a) Chính sách giảm sinh
Tại Hàn Quốc, chương trình KHHGĐ được biết đến như một phương tiện chính của chính sách kiểm soát dân số và được thông qua vào năm 1962 Với mục tiêu giảm tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm, chính sách KHHGĐ được nhấn mạnh qua các kế hoạch phát triển kinh tế Chính phủ thực hiện chính sách tránh thai miễn phí thông qua các chương trình của Chính phủ hướng tới một hệ thống tự trả tiền, quản lý của khu vực tư nhân và thương mại như chương trình bảo hiểm y tế trên toàn quốc Chính phủ đã thông qua chính sách dân số mới với sự nhấn mạnh về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (Vũ Thị Thu Tư, 2013)
b) Chính sách khuyến sinh
Sau khi đạt mức sinh thay thế (năm 1983), tổng tỷ suất sinh tiếp tục giảm rất nhanh Sau 6 năm mức sinh tiếp tục ở dưới mức sinh thay thế, Hàn Quốc ban hành chính sách dừng cấp miễn phí phương tiện tránh thai cho các đối tượng sử dụng với mong muốn mức sinh tăng lên tới mức sinh thay thế (Vũ Thị Thu Tư, 2013)
Năm 2001, khi mức sinh xuống quá thấp chỉ là 1,3 con và để giảm thiểu những tác động tiêu cực của quy mô và cơ cấu dân số đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong tương lai, Hàn Quốc đã đưa ra các biện pháp ngăn hẳn với chính sách hạn chế sinh
Trang 37nhằm khôi phục lại mức sinh thay thế thông qua văn bản “Những hành động cơ bản đối với mức sinh thấp và xã hội đang già hóa” ban hành năm 2003, các biện pháp đẩy mạnh văn hóa thân thiện gia đình và bình đẳng giới (Vũ Thị Thu Tư, 2013)
2.2.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Việt Nam đang có những thay đổi khá rõ nét cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bổ dân cư; có nhiều nét tương đồng với tình hình dân cư cả Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo… những năm trước Qua chính sách của mỗi nước, có một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Tùy theo từng điều kiện hoàn cảnh mà nghiên cứu đưa ra những chính sách hợp lý Các cơ chế chính sách đưa ra phải có sự phân cấp rõ nét Phải cụ thể hóa công tác dân số KHHGĐ bằng nhiều luật, văn bản dưới luật Ở Trung Quốc, mặc dù mức sinh đã dưới mức sinh thay thế song Trung Quốc vẫn tiếp tịc đầu tư ở mức cao cho công tác DS-KHHGĐ, khuyến khích gia đình quy mô ít con bằng nhiều tác động trục tiếp đến lợi ích của gia đình và các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ Trung Quốc đã thực hiện thể chế hóa công tác DS-KHHGĐ bằng nhiều luật, văn bản dưới luật
Hàn Quốc vân thiếp tục đầu tư ở mức cao cho công tác dân số và ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh công tác dân số trong giai đoạn mức sinh thấp Mức sinh của Việt Nam đã gần mức sinh thay thể như Hàn Quốc đạt được vào năm
1993, chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm sinh do kết quả đạt được chưa thực sự vững chắc Tuy nhiên, Hàn Quốc đã trải qua thực tế để mức sinh giảm xuống quá thấp và đã phải khó khăn để vực lại mức sinh Vì vậy, đối với Việt Nam, đây cũng là thời điểm cần thiết để chúng ta phân vùng, đối với những địa phương đã đạt và thấp hơn mức sinh thay thế, cần chuyển hướng sang mục tiêu ngăn chặn mất cân bằng giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng dân số
- Từng bước đổi mới các cách tiếp cận về chăm sóc SKSS theo hướng toàn diện, mở rộng hơn, cụ thể: thay vì sức khỏe bà mẹ và trẻ em thành sức khỏe gia đình; chăm lo sức khỏe phụ nữ thay vì chỉ chăm sóc bà mẹ; chuyển từ kiểm soát dân số sang kiểm soát chất lượng dân số, cung cấp dịch vụ tránh thai không phải nhằm mục đích giảm dân số mà chủ yếu để giãn khoảng cách sinh đẻ giúp người
Trang 38người phụ nữ có thời gian chăm lo và cải thiện sức khỏe…
2.2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về dân số ở Việt Nam
2.2.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý về dân số ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quá trình hình thành cơ cấu tổ chức quản lý về dân số như sau (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011):
a) Giai đoạn 1961 - 1970
Năm 1961, Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định về việc sinh đẻ có hướng dẫn Ban vận động sinh đẻ có kế hoạch được thành lập và do thủ tướng chính phủ làm trưởng ban Cơ quan thường trực được giao làm công tác dân số là Bộ Y tế
c) Giai đoạn 1974 - 1984
Đến năm 1974, Ủy ban bảo vệ bà mẹ trẻ em giải thể, hệ thống dịch vụ KHHGĐ được sát nhập vào Bộ Y tế, phần nuôi dạy trẻ em được chuyển sang cho Bộ Giáo dục
Do vậy, chương trình DS-KHHGĐ lại được chuyển giao cho Bộ Y tế đảm nhiệm
Hệ thống cung cấp các dịch vụ KHHGĐ được xây dựng đến tuyến huyện đã được thiết lập trong giai đoạn 1970 - 1974 cũng được duy trì và phát triển mạnh nhằm phục vụ tốt hơn ở khu vực nông thôn
Trang 39Từ năm 1991, Ủy ban hoạt động như một cơ quan thuộc chính phủ nhưng do một bộ trưởng, thành viên chính phủ làm chủ nhiệm
Ngày 21-6-1993 sau khi có nghị quyết trung ương, chính phủ đã ban hành số 42/CP quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy về nề lối làm việc của Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ Thông tư liên bộ số 31/TTLB ngày 10.11.1993 của Ủy ban tổ chức cán bộ chính phủ và Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ
đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan DS-KHHGĐ cấp tỉnh, thành phố và quận huyện, ban dân số xã, phường, cán bộ chuyên trách dân số xã và cộng tác viên dân số
e) Giai đoạn 2001 - 2007
Ngày 27-3-2001 do những yêu cầu cụ thể trong giai đoạn mới, chính phủ đã ban hành nghị định 12/2001/NĐ-CP về việc tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Và kèm theo thông tư liên tịch số 32/2001/TTLT-BTCCBCP-UBQGDS-KHHGD và UBBV-CSTE Việt Nam ngày 6-6-2001 của ban tổ chức cán bộ chính phủ, Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ủy ban DS-GĐ&TE Như vậy Ủy ban DS-KHHGĐ các cấp có sự thay đổi về cơ cấu bộ máy do có sự hợp nhất của Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em cấp tương ứng thành Ủy ban DS-GĐ&TE
g) Giai đoạn 2007 đến nay
Ngày 8-8-2007, Thủ tướng chính phủ đã kí ban hành quyết định 1001/QĐTTg thực hiện nghị quyết của quốc hội về việc giải thể Ủy ban DS-GĐ&TE, chuyển các chức năng của ủy ban này sang các bộ có liên quan thực hiện
Theo quy định này: chức năng, nhiệm vụ QLNN về dân số được chuyển sang cho Bộ Y tế
Ngày 29-1-2008 Thủ tướng chính phủ đã kí quyết định số 18/2008/QĐ-TTg trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dân số thuộc Bộ Y tế
2.2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về dân số ở Việt Nam
Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng của vấn đề dân số đối với sự phát
Trang 40triển KT-XH của đất nước nên rất chú trọng đến sự phát triển của dân số Chính bởi
sự quan tâm này nên nhà nước ta đã làm được nhiều vấn đề liên quan đến công tác dân số nhưng bên cạnh đó còn không tránh khỏi những yếu kém
Ngày 26/12/1961 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 216-CP về việc sinh
đẻ có hướng dẫn Quyết định này trở thành mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ
a) Những mặt đã làm được của QLNN về dân số
Chúng ta đã ban hành được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan hoặc trực tiếp chỉ đạo vấn đề dân số Chúng ta đã xây dựng, tổ chức và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và các biện pháp thực hiện công tác dân số Các chương trình này đã được triển khai ở các địa phương trong cả nước và nhận được sự nhất trí đồng tình ủng hộ của đa số cư dân (Dương Quốc Trọng, 2011)
Tổ chức, phối hợp thực hiện công tác dân số giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân và tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác dân số; nhà nước ta huy động lực lượng thanh niên, sinh viên cùng tham gia vào công tác tuyên truyền vào công tác dân số kế hoạch hóa gia đình và thành công được ghi nhận Quản lý hướng dẫn nghiệp vụ về tổ chức bộ máy và cán bộ QLNN về dân số thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ công chức (Dương Quốc Trọng, 2011)
Tổ chức, quản lý công tác thu thập, xử lý, khai thác, lưu trữ thông tin, số liệu
về dân số, công tác đăng ký dân số và hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tổng điều tra dân số định kì; chúng ta đã cho đăng ký khai sinh, khai tử Đây là cơ sở cho thấy mức gia tăng dân số tự nhiên của mỗi khu vực Chúng ta cũng cho tiến hành điều tra dân số 10 năm 1 lần với sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế nhằm đưa ra con số tương đối chính xác về tình hình dân số của đất nước để từ đó đưa ra các biện pháp, phương thức quản lý sao cho phù hợp với cả điều kiện tự nhiên, khu vực và cả tình hình biến động của dân số (Dương Quốc Trọng, 2011)
Tổ chức quản lý công tác đào tạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực dân số; chúng ta đã và đang có những biện pháp làm hạn chế tỷ lệ sinh cao và tỷ lệ sinh của bé trai so với bé gái quá cao thông qua việc