Tuy nhiên, hiện nay hoạt động dịch vụ nói chung và ăn uống nói riêng trên địa bàn thành phố cũng đang gặp phải không ít khó khăn do sự gia tăng nhanh của nhiều tổ chức, cá nhân, doanh ng
Trang 1MỤC LỤC
Trang
2.1.3 Nội dung phát triển dịch vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
2.1.4 Vai trò của dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội 8 2.1.5 Dịch vụ ăn uống và Quản lý dịch vụ ăn uống 10
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ ăn uống 16
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý phát triển dịch vụ ăn uống ở một số địa phương
2.2.2 Quản lý dịch vụ ăn uống ở thành phố Đà nẵng 18
Trang 23.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội 23 3.1.3 Tình hình phát triển KTXH giai đoạn 2012 – 2014 28
4.1 Thực trạng quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 37 4.1.1 Tổng quan về dịch vụ ăn uống toàn Thành phố Bắc Ninh 37 4.1.2 Thực trạng quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 39 4.1.3 Thực trạng quản lý dịch vụ ăn uống tại các cơ sở điều tra trên địa bàn
4.2.6 Tiềm năng phát triển dịch vụ ăn uống ở thành phố Bắc Ninh còn rất lớn 66 4.3 Giải pháp tăng cường quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 66
4.3.2 Giải pháp tăng cường quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 66
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải nội dung
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Tình hình dân số, lao động thành phố Bắc Ninh 25 3.2 Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh 30 3.3 Phân bổ mẫu điều tra về dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố
4.1 Thực trạng phân cấp quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn TP.Bắc Ninh 41 4.2 Thực trạng quản lý công tác đăng ký, cấp phép kinh doanh dịch vụ ăn
4.3 Kết quả chấp hành công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh
doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 47 4.4 Thực trạng quản lý lao động kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn
4.5 Thực trạng quản lý các loại Thuế và Phí kinh doanh dịch vụ ăn uống
4.6 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra kinh doanh dịch vụ ăn uống trên
4.12 Tổng hợp một số chính sách hiện hành của Nhà nước 61
Trang 5PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hoá nền kinh tế thị trường hiện nay, ngành dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế của mỗi quốc gia Dịch vụ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu bất cứ nền kinh tế nào và là yếu tố đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế Ở Việt Nam, xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế dần sang các ngành dịch vụ cũng đang diễn ra mạnh mẽ, bởi đây là một ngành kinh tế đầy tiềm năng
Phát triển dịch vụ nói chung bao gồm nhiều lĩnh vực hết sức cần thiết cho nhu cầu xã hội và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việc đẩy mạnh
và mở rộng các hoạt động về lĩnh vực này ở nước ta cần được đánh giá một cách toàn diện để có thể lựa chọn và tiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp Nhằm một mặt góp phần tăng thu nhập cho nhân dân đồng thời thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài Trong qúa trình phát triển tỉnh đã tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc thu hút đầu tư
từ các nguồn lực trong và ngoài nước để khai thác các tiềm năng về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và công nghiệp hóa đưa Bắc Ninh sớm trở thành một tỉnh công nghiệp Quá trình đó đã và đang diễn ra nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong đó phát triển các hoạt động dịch vụ cũng là một trong các hướng đi đúng đắn Với vị trí là trung tâm hành chính của tỉnh, thành phố Bắc Ninh được coi là trung tâm thương mại dịch
vụ, nơi cung cấp chủ yếu nhiều loại dịch vụ cho các địa phương trong và ngoài tỉnh
Dịch vụ ăn uống là một loại dịch vụ phục vụ trực tiếp đời sống sinh hoạt cần thiết hàng ngày của người dân, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách phát triển hoạt động dịch vụ nói chung và dịch vụ ăn uống nói riêng
Dịch vụ ăn uống ở Thành phố Bắc Ninh trong những năm qua rất phát triển đem lại thu nhập cho người trực tiếp kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố Bắc Ninh, giải quyết việc làm cho lao động Nhiều hộ kinh doanh đã làm giàu từ phát triển dịch vụ và đại bộ phận người dân có thu nhập ổn định
Trang 6Tuy nhiên, hiện nay hoạt động dịch vụ nói chung và ăn uống nói riêng trên địa bàn thành phố cũng đang gặp phải không ít khó khăn do sự gia tăng nhanh của nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và nhiều phương thức kinh doanh ăn uống trên điạ bàn thành phố gây nên sự phức tạp cho công tác quản lý, nhất là công tác quản lý liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) Quá trình thanh tra, kiểm tra cho thấy trong kinh doanh dịch vụ ăn uống vi phạm chủ yếu của các cơ sở kinh doanh là: không xuất trình được giấy tờ, hồ sơ liên quan đến lĩnh vực ATVSTP, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị không bảo đảm, con người không được tập huấn kiến thức ATVSTP Điều đáng nói là, rất khó để kiểm soát chất lượng thực phẩm và sự an toàn của thức ăn đường phố Việc sản xuất và bày bán thực phẩm thiếu hạ tầng cơ sở phù hợp và vệ sinh môi trường Hầu hết nguồn cung cấp nước sạch, xử lý rác thải, chất thải, các công trình vệ sinh liên quan không đảm bảo là nguyên nhân dẫn đến các vụ ngộ độc do thức ăn nhiễm khuẩn Đây không chỉ là nguy cơ mà đã thường xuyên xảy ra trên địa bàn thành phố Tuy nhiên,
do mức độ ngộ độc thường ít nghiêm trọng, chủ yếu là rối loạn tiêu hóa và hầu hết đều là những ca nhỏ lẻ, khiến người dân chưa thấy sự nguy hiểm do thức ăn đường phố mất vệ sinh mang lại cho sức khỏe Hoạt động kinh doanh thực phẩm đường phố cũng khó kiểm soát do sự đa dạng, cơ động và tạm thời, không thường xuyên
đã dẫn đến mối nguy cơ cho sức khoẻ cộng đồng
Dịch vụ ăn uống còn chưa được quan tâm cả về môi trường nên rác thải hữu cơ gây ô nhiễm Mặt khác công tác quản lý y tế còn nhiều bất cập đặc biệt là việc chấp hành khám sức khoẻ cho các chủ kinh doanh và nhân viên phục vụ ăn uống không được thực hiện đầy đủ và định kỳ cũng là nguy cơ đe dọa đến môi trường sinh thái của thành phố Những bất cập trên đang là những trở ngại cho phát triển dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố và cũng đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho công tác quản lý loại hoạt động dịch vụ này
Cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập đến quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh Nhằm giải quyết những bất cập nêu trên tôi chọn
nghiên cứu đề tài: “Quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh”
Trang 71.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ
ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh đề xuất định hướng, giải pháp nhằm quản
lý có hiệu qủa dịch vụ ăn uống trên địa bàn trong thời gian ( 2015-2020)
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dịch vụ
- Đánh giá thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu qủa quản lý dịch vụ ăn uống tại Thành phố Bắc Ninh đến năm 2020
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Nội dung và mục tiêu quản lý dịch vụ ăn uống là gì?
2) Tình hình quản lý dịch vụ ăn uống trên thế giới và ở Việt Nam như thế nào? 3) Lĩnh vực quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh bao gồm những lĩnh vực nào? Quy trình quản lý ra sao?
4) Những nội dung và nhân tố nào ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố?
5) Làm thế nào để quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn về quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Các đối tượng khảo sát sau:
+ Các cách quản lý dịch vụ ăn uống
+ Các cơ chế, chính sách, quy định quản lý dịch vụ ăn uống
+ Nghiên cứu chủ thể và đối tượng quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn TP Bắc Ninh:
- Chủ thể quản lý là chính quyền các xã, phường của Thành phố Bắc Ninh
- Đối tượng quản lý là chủ nhà hàng, khách hàng trên địa bàn
Trang 8+ Quản lý dịch vụ ăn uống được xem xét trên ba nội dung kinh tế, xã hội, môi trường
+ Đối tượng khảo sát có liên quan:
• Các cơ quan quản lý là chính quyền cấp xã, phường của Thành phố Bắc Ninh
• Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống
• Người dân
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu về quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành
phố Bắc Ninh trong quá trình hội nhập và phát triển từ năm 2011 đến nay Tìm các yếu tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh của nhà hàng đăng ký kinh doanh và cả những người kinh doanh buôn bán trên hè phố
Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn TP Bắc Ninh Một số
nội dung chuyên sâu được khảo sát ở một số dịch vụ ăn uống đại diện
Về thời gian: Dự kiến phục vụ cho đánh giá thực trạng khảo sát từ 2011 – 2013
- Dự kiến khảo sát chuyên sâu dịch vụ đại diện được thực hiện vào năm
2013 - 2014
- Các giải pháp đề xuất sẽ thực hiện từ 2015 - 2020
Trang 9- Theo từ điển Tiếng Việt, “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những
nhu cầu nhất định của số đông có tổ chức và được trả công” (Hoàng Phê, năm 2000)
Như vậy nội hàm quan niệm này cho thấy
+ Dịch vụ là hoạt động phục vụ cho nhu cầu của đông người
+ Lao động dịch vụ được trả công hoặc trả lương và hoạt động dịch vụ được
tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ, và vì vậy sản phẩm dịch vụ trở thành sản phẩm hàng hoá
- Theo từ điển kinh tế học hiện đại, “Dịch vụ là các chức năng hoặc các nhiệm vụ được thực hiện mà người ta có cầu và do đó tạo ra giá cả hình thành nên một thị trường thích hợp Đôi khi dịch vụ được đề cập đến như là những hàng hoá
vô hình, một trong những đặc điểm của chúng là được tiêu thụ ngay tại thời điểm sản xuất Thường thì chúng không thể chuyển nhượng được, do đó không đâu có được, với ý nghĩa này dịch vụ không thể mua để sau đó bán lại với một mức giá
khác”(Pearce W.David, 1999)
Theo quan niệm này thì dịch vụ có nghĩa rộng lớn, dịch vụ tạo ra sản phẩm hàng hoá vô hình, kết qủa cuối cùng là sản phẩm do dịch vụ tạo ra có thể chuyển nhượng hoặc không thể chuyển nhượng được
- Theo giáo trình kinh tế học phát triển của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thì, dịch vụ được hiểu theo hai nghĩa:
+ Nghĩa hẹp: “Dịch vụ là làm một công việc nhằm đáp ứng một nhu cầu nào
đó của người khác hay cộng đồng Chẳng hạn như: Vận chuyển hàng hoá, sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị máy móc, công trình…”
Trang 10+ Theo nghĩa rộng: “Dịch vụ là toàn bộ những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của các yếu tố “đầu vào” và giải quyết các yếu tố “đầu ra” của sản xuất cũng như đời sống con người Hoạt động dịch vụ phát triển đến trình độ cao thì có mặt ở tất cả các lĩnh vực và có tác động rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung Dịch vụ với quan niệm đó không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống như: Vận tải, thương mại, ngân hàng, bưu điện, bảo hiểm, truyền thông, du lịch mà còn có những dịch vụ rất mới như: Xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, tiếp đến dịch vụ văn hoá, dịch
vụ hành chính, tư vấn pháp lý (Đường Vinh Sường, 2011)
Từ những quan niệm trên có thể thấy rằng khái niệm dịch vụ được nhận biết
* Hoạt động dịch vụ tạo ra sản phẩm hàng hoá vô hình nghĩa là đem lại lợi ích có giá trị về vật chất và tinh thần cho con người
Từ những góc độ trên của nhận thức có thể thống nhất chung một khái niệm sau đây:
Dịch vụ là những hoạt động của lao động tạo ra sản phẩm hàng hoá, không tồn tại dưới dạng vật chất, nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn, thuận lợi hơn, hiệu quả hơn
đối với sản xuất và đời sống của con người và xã hội (Viện ngôn ngữ học, 2009)
2.1.2 Đặc trưng cơ bản của dịch vụ
- Dịch vụ là hoạt động kinh tế có phạm vi rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
Dựa vào đặc trưng này thì dịch vụ là một trong các ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia hay một địa phương nhất định Phát triển kinh
Trang 11tế luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà trong đó tỷ trọng của kinh tế dịch vụ ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển
- Dịch vụ không trực tiếp tạo ra giá trị nhưng dịch vụ góp phần làm tăng thêm giá trị của sản phẩm hàng hoá
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất luôn gắn bó hữu cơ với thị trường Người ta sản xuất ra hàng hoá và tiêu thụ trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường Các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp do dịch vụ tạo ra những tiện ích ngày càng tốt hơn cả về số lượng và chất lượng sản phẩm để phục vụ cộng đồng thông qua dịch vụ đã làm cho các sản phẩm hàng hoá gia tăng về giá trị làm cho sản xuất ngày càng đạt hiêụ quả kinh tế cao
- Dịch vụ tạo ra những sản phẩm vô hình có giá trị và giá trị sử dụng giá trị
vô hình do dịch vụ tạo ra là lao động kết tinh ở sản phẩm nhưng không nhìn thấy
mà chỉ “cảm nhận” được Giá trị sử dụng vô hình do dịch vụ tạo ra là sự thoả mãn,
sự hài lòng của con người và của xã hội khi được cung cấp dịch vụ (Nguyễn Thượng Thái, 2007)
2.1.3 Nội dung phát triển dịch vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát triển dịch vụ là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế thi trường Nước ta trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, đặc biệt nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới Đường lối phát triển kinh
tế mở cửa, hội nhập đã tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho kinh tế phát triển trong
đó có ngành dịch vụ Cơ cấu kinh tế nước ta đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá với tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng, nông lâm ngư nghiệp ngày càng giảm Để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Một trong các yêu cầu đặt ra của nền kinh tế đòi hỏi ngành dịch vụ phải được quan tâm đầu tư phát triển trong đó phải xác định rõ nội dung phát triển dịch vụ là nhiệm vụ rất quan trọng trong điều kiện hội nhập quốc tế Nội dung phát triển dịch vụ bao gồm:
Trang 12Thứ nhất: Phải xác định chiến lược phát triển các ngành dịch vụ cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Chiến lược cần đáp ứng yêu cầu về mục tiêu, về kế hoạch dài hạn và ngắn hạn gắn với lộ trình và xác định các chỉ tiêu cụ thể Đồng thời phát triển phải nâng cao năng lực và lợi thế cạnh tranh của các ngành dịch vụ mà nước ta có nhiều thuận lợi Phải gắn kết phát triển các ngành dịch vụ truyền thống với phát triển các ngành dịch vụ mới, ngành dịch vụ mũi nhọn tạo những bước phát triển nhanh trong hội nhập quốc tế đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế cho cả nền kinh tế
Thứ hai: Thực hiện phát triển dịch vụ theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ động lựa chọn các ngành các lĩnh vực dịch vụ trong nước đồng thời mở cửa hội nhập để tạo thị trường dịch vụ cạnh tranh có sự quản lý của nhà nước
Thứ ba: Lựa chọn, ứng dụng kỹ thuật vào công nghệ mới để phát triển các ngành dịch vụ đạt chất lượng và giá trị gia tăng ngày càng cao
Thứ tư: Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, sử dụng hiệu quả nguồn lao động trong ngành dịch vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất vào đời sống của người dân trong nước cũng như quốc tế
Thứ năm: Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp nhằm quản lý tốt các ngành dịch vụ đồng thời hỗ trợ pháp lý đầy đủ và kịp thời nhằm khuyến khích phát
triển các ngành dịch vụ đúng hướng đạt được mục tiêu phát triển của đất nước (Khuyết danh, 2015a)
2.1.4 Vai trò của dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội
2.1.4.1 Dịch vụ góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong cơ cấu kinh tế xét dưới góc độ ngành thì dịch vụ là một trong ba ngành Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ Trong đó dịch vụ là ngành có vai trò kết nối
và thúc đẩy sự phát triển của hai ngành sản xuất vật chất quan trọng là nông nghiệp
và công nghiệp Từ những sản phẩm hữu hình của Nông nghiệp và công nghiệp tạo
ra, thông qua dịch vụ kết nối nông nghiệp với dịch vụ, công nghiệp với dịch vụ đã góp phần tăng thêm giá trị gia tăng của các sản phẩm hữu hình đó làm cho chúng
Trang 13trở nên ngày càng có giá trị và giá trị sử dụng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Chính vì vậy trong tiến trình phát triển của nền kinh tế đòi hỏi cần phải xác định rõ qui mô, tốc độ và trình độ phát triển của từng ngành kinh tế mà trong đó cần ưu tiên cho phát triển ngành dịch vụ và như vậy tỷ trọng của ngành dịch vụ
ngày càng tăng lên trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, 2015)
2.1.4.2 Phát triển dịch vụ góp phần tạo việc làm, thúc đẩy sự phân công lao động
xã hội ngày càng tích cực
Cùng với các ngành sản xuất vật chất, phát triển dịch vụ tạo thêm ngày càng nhiều việc làm cho người lao động Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động cũng thay đổi Với xu hướng chung trong phân công lao động xã hội là số người lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm do quá trình công nghiệp hóa,thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với các thiết bị hiện đại, làm cho năng suất lao động nông nghiệp ngày càng nâng cao và số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ dư thừa trong khi đó các ngành dịch vụ và công nghiệp ngày càng phát triển và gia tăng nhu cầu về lao động, sẽ thu hút số lao động dư thừa trong nông nghiệp
và nông thôn là điều tất yếu diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, dịch vụ như thế là sự phân công lao động xã hội theo hướng tích cực,
phù hợp với quy luật của thị trường lao động (Viện nghiên cứu phát triển thành phố
Trang 142.1.5 Dịch vụ ăn uống và Quản lý dịch vụ ăn uống
2.1.5.1 Dịch vụ ăn uống
Ăn uống là nhu cầu cơ bản nhất của con người Phát triển dịch vụ ăn uống là những hoạt động phục vụ cho nhu cầu cơ bản đồng thời chất lượng của dịch vụ ăn uống thể hiện trình độ của con người và xã hội Ở nước ta cũng như trên thế giới, nhất là các nước Phương Đông, dịch vụ ăn uống phát triển ngày càng đa dạng và phong phú và trình độ tiến bộ ngày càng nhanh, ăn uống của con người đã trở thành nghệ thuật
Trong hoạt động du lịch văn hoá thì văn hoá “ẩm thực” đã được khách du lịch
ở khắp nơi trên thế giới ưa thích Tuy nhiên phát triển dịch vụ ăn uống ở môĩ quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ phải đặc biệt quan tâm đến nhu cầu và tập quán của mỗi tầng lớp dân cư, mỗi tôn giáo, mỗi dân tộc… Dịch vụ ăn uống còn là loại hình dịch vụ rất đặc biệt liên quan trực tiếp đến sử dụng thực phẩm Hầu hết các đồ ăn, uống mà con người sử dụng đều có thể gọi là thực phẩm
Trong xã hội hiện nay dịch vụ ăn uống phát triển gắn liền với việc nâng cao chất lượng của thực phẩm Chất lượng cơ bản của thực phẩm là đưa đến cho người tiêu dùng các chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho các quá trình sống Để tạo ra một loại thực phẩm chất lượng tốt cho tiêu dùng thì sản phẩm phải bắt nguồn từ nguyên liệu thông qua quá trình chế biến ra các bán thành phẩm, rồi thành phẩm và đưa vào lưu thông phân phối cho đến người tiêu dùng
Hầu hết các loại thực phẩm phải trải qua các quá trình sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu và thông qua công nghiệp chế biến để có được những loại thực phẩm có chất lượng, mẫu mã, chủng loại khác nhau để phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội Dịch vụ ăn uống hoàn toàn phụ thuộc vào các quá trình đó vì vậy luôn luôn đòi hỏi các loại thực phẩm phải vừa đảm bảo chất lượng dinh dưỡng, vừa đảm bảo vệ sinh an toàn vừa đáp ứng thị hiếu của tiêu dùng
2.1.5.2 Quản lý dịch vụ ăn uống
Quản lý là quá trình tác động có ý thức có chủ đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong điều kiện thời gian vào không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý dịch vụ ăn uống chính là quá trình tác động của các
Trang 15chủ thể quản lý là các cơ quan chính quyền các cấp vào các nhà hàng, quán ăn, quán giải khát … nhằm thực hiện các yêu cầu cung cấp các dịch vụ ăn uống cho người tiêu dùng nhằm đảm bảo an toàn, tiện ích, nâng cao chất lượng thực phẩm và phục
vụ sức khoẻ con người Quản lý dịch vụ ăn uống đòi hỏi cả chủ thể quản lý cũng như các đối tượng quản lý phải tuân thủ những yêu cầu về chất lượng thực phẩm và quản lý chất lượng thực phẩm coi đây là yếu tố cốt lõi
Quản lý chất lượng thực phẩm là những hoạt động nhằm xác định các yêu cầu cần phải đạt được của sản phẩm Đồng thời là cơ sở pháp lý dựa trên các văn bản qui phạm pháp luật mà các cơ quan Nhà nước ban hành Quản lý chất lượng thực phẩm đối với dịch vụ ăn uống là hoạt động rất quan trọng trong quản lý của mỗi địa phương, ở từng địa bàn dân cư, từng tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dịch vụ Đảm bảo chất lượng và kiểm tra chất luợng thực phẩm là khâu chủ yếu của quản lý dịch vụ ăn uống Những hoạt động đảm bảo chất lượng thực phẩm sẽ có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của dịch vụ ăn, uống trên từng địa bàn
Vì vậy quản lý dịch vụ ăn uống phải xây dựng hệ thống kiểm tra chất lượng
Hệ thống đó phải được thực hiện từ khâu nguyên liệu đến quá trình chế biến rồi qua bảo quản, vận chuyển đến khâu cuối cùng là người tiêu dùng Ở mỗi khâu, mỗi công đoạn của hệ thống kiểm tra có những nội dung và phương pháp cụ thể Mục tiêu cơ bản cần đạt được của hệ thống kiểm tra chất lượng thực phẩm là vì sức khoẻ con người và cộng đồng Nói một cách tổng quát quản lý dịch vụ ăn, uống chính là quản lý chất lượng thực phẩm cung cấp cho tiêu dùng của con người ở mọi nơi, mọi
lúc (Bộ y tế, 2014)
2.1.6 Nội dung quản lý dịch vụ ăn uống
2.1.6.1Quản lý đăng ký, cấp phép kinh doanh dịch vụ ăn uống
Dịch vụ ăn uống là loại hình dịch vụ đặc biệt liên quan mật thiết tới sức khoẻ của con người và môi trường xã hội Trình độ tổ chức và quản lý dịch vụ ăn uống không những phản ánh nếp sống văn hoá mà còn mang đậm nét về lối sống
và thói quen sử dụng các nguồn thực phẩm Tuỳ thuộc vào nhu cầu của người tiêu dung, các thực phẩm được sử dụng có xuất xứ từ nhiều nguồn gốc khác nhau Thức
ăn có nguồn gốc động vật, thực vật hoặc chế biến công nghiệp…
Trang 16Hầu hết các loại thực phẩm đều qua quá trình chế biến cho nên sản phẩm mà cung cấp trực tiếp đối với mỗi người tiêu dùng đều không còn nguyên hình thái vật chất ban đầu vì vậy người tiêu dùng chỉ cảm nhận được chủ yếu bằng cảm quang và
sở thích Để bảo đảm các nguồn thực phẩm cho kinh doanh dịch vụ ăn uống,vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là yếu tố quan trọng nhất được đặt lên hàng đầu
Mặt khác tổ chức hoặc cá nhân là chủ thể kinh doanh dịch vụ ăn uống còn phải đảm bảo sức khoẻ cần thiết theo yêu cầu của y tế, đặc biệt là những người mang bệnh truyền nhiễm, các bệnh dễ lây lan trong cộng đồng đều không được tham gia vào quá trình hoạt động dịch vụ ăn uống, chính vì thế ngành y tế có vị trí rất quan trọng kiểm soát sự an toàn VSTP trên cả phương diện thực phẩm và tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống
Mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng địa phương và trên phạm vi
cả nước cần phải chấp hành các quy định của pháp luật Vì vậy các cơ quan Quản lý các cấp phải tăng cường qủan lý tuân thủ các luật về thuế, về bảo vệ môi trường, về giữ gìn an ninh và trật tự xã hội… Trong quản lý dịch vụ ăn uống, để thực hiện được mục tiêu kinh doanh an toàn, hiệu quả đúng pháp luật công tác quản lý trước hết phải thực hiện tốt nội dung đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý với các chức năng được quy định
Để thực hiện nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, các cấp quản lý chính quyền phải tiến hành các thủ tục đăng ký kinh doanh trên cơ sở thẩm định các điều kiện mà dịch vụ ăn uống phải bảo đảm để từng đơn vị, từng cụm dân cư cho đến các cấp chính quyền, ngành chuyên môn nắm vững số lượng và chất lượng của hoạt động dịch vụ ăn uống trên từng địa bàn, từng khu vực
Nội dung quản lý đăng ký và cấp phép kinh doanh phải tăng cường gồm tổ chức, cá nhân phải chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, về kỹ thuật chế biến thực phẩm, về sức khoẻ của người tham gia, về điều kiện đảm bảo nguồn nước sạch, nguồn thực phẩm, việc xử lý rác thải hữu cơ và giữ gìn an ninh trật tự công cộng… Trên cơ sở
đó trình các cơ quan hữu quan thẩm định thông qua kiểm tra, đánh giá trên cơ sở các tiêu chuẩn quy định nếu được chấp nhận cơ quan có thẩm quyền cấp phép để tổ chức,
cá nhân được thực hiện kinh doanh dịch vụ ăn uống Công tác quản lý đăng ký này nếu
Trang 17không được tăng cường sẽ tạo ra những kẽ hở để hoạt động kinh doanh không chính thức và tạo nên môi trường cạnh tranh không lành mạnh và bình đẳng trong hoạt động dịch vụ ăn uống.Mặt khác cũng là điều kiện cho các hoạt động tự phát vô chính phủ
làm rối thị trường và an ninh trật tự tại các địa bàn (Chính phủ, 2010)
2.1.6.2 Quản lý việc tổ chức, thực hiện hoạt động dịch vụ ăn uống
Tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống là việc tổ chức các yếu tố cấu thành của dịch vụ sao cho sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu ăn
uống của người tiêu dùng cả về số lượng, chất lượng và giá cả
Trước hết là tổ chức hệ thống quản lý: Mỗi đơn vị, cá nhân kinh doanh ăn uống trên một địa bàn đều phải có các tổ chức quản lý nhằm duy trì các quy định của pháp luật đồng thời hướng dẫn và điều tiết các hoạt động ăn uống một cách hợp lý
và giải quyết kịp thời các sự cố bất thương mà dịch vụ ăn uống phát sinh trong thực
tế như ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm môi trường, mất trật tự an toàn xã hội, hoặc tranh chấp giưa các chủ kinh doanh với khách hàng v v Các hoạt đông tổ chức quản lý này đều do các cơ quan có thẩm quyền thưc hiên như Ủy ban nhân dân các cấp, Ban quản lý thị trường mà thành viên là sự tham gia của các ngành chức năng liên quan như Công thương; Y tế; Nông nghiệp, Thuế; An ninh
Tổ chức và thực hiện dịch vụ ăn uống trực tiếp và liên quan đến các khâu từ vị trí kinh doanh đến việc khai thác, chế biến các nguồn thực phẩm và phục vụ khách hàng…Tất cả đều được tổ chức, triển khai ở các hình thức kinh doanh với qui mô khác nhau do các chủ thể kinh doanh thực hiện Có thể là khách sạn, nhà hàng hay công ty ăn uống và đại bộ phận lại là các hộ kinh doanh Mỗi loại hình tổ chức cung ứng cho khách hàng những sản phẩm có mức độ thỏa mãn khác nhau tạo nên những món ăn, đồ uống rất đa dạng và phong phú Có những khách sạn, nhà hàng cung ứng sản phẩm cao cấp, đáp ứng yêu cầu cao về tiệc chiêu đãi hay đơn đặt hàng của tập thể, cá nhân trong nước hoặc khách nước ngoài
Đồng thời còn rất nhiều nhà hàng hay công ty ăn uống và các hộ kinh doanh chỉ phục vụ nhưng bữa ăn thông thường còn quen goi là “Bình dân” Những loại này đòi hỏi kỹ thuật đơn giản nhưng mang đậm nét văn hóa ẩm thực dân gian và giá cả cũng dễ chấp nhận Dù tổ chức theo loại hình nào thì dịch vụ ăn uống vẫn phải làm
Trang 18cho vừa lòng khách hàng trên tất cả các phương diện, mặt khác phải đạt mục tiêu lợi nhuận Chính vì lẽ đó trong quản lý tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ ăn uống ngoài những tổ chức và cá nhân có kết quả kinh doanh tốt thu hút thường xuyên nhiều khách hàng đặc biệt có tổ chức khách sạn, nhà hàng hay hộ kinh doanh
đã tạo cho mình thương hiệu về ăn uống được khách hàng chú ý và tin cậy Trong khi đó cũng có những tổ chức, cá nhân do chỉ quan tâm đến lợi nhuận kinh doanh
mà để chất lượng dịch vụ thấp, khai thác và sử dụng nguồn thực phẩm kém chất lượng, giảm thiểu các chi phí hỗ trợ phục vụ, kinh doanh theo kiểu “ chộp, giật” làm cho khách hàng thiếu tin tưởng và kết quả kinh doanh không ổn định thiếu tính bền vững thậm chí còn có đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống gây ra những dư luận xấu làm ảnh hưởng đến nét văn hóa và chất lượng dịch vụ của một địa phương hay một
tổ chức (Bộ y tế - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Bộ Công thương, 2014)
2.1.6.3 Quản lý công tác kiểm tra, thanh tra dịch vụ ăn uống
Hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống liên quan đến nhiều lĩnh vực từ quản lý nhà nước, đến quản lý VSATTP, và quản lý an ninh trật tự Dịch vụ ăn uống còn phụ thuộc vào những yếu tố tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường Mỗi tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống phải đặt trách nhiệm phục vụ con người, vì sự an toàn về sức khỏe của con người là cao nhất Trong quá trình thực hiện, các đơn vị kinh doanh dù ở vị trí nào, hình thức tổ chức là gì với qui mô nào trước hết phải được đảm bảo các điều kiện kinh doanh mà pháp luật quy định
Mặt khác trong kinh doanh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với tổ chức và cộng đồng, đồng thời phải thực hiện kinh doanh có trật tự Dịch vụ ăn uống phải thể hiện những nét văn hóa của mỗi vùng miền Thực hiện những nội dung đó là nhằm tạo ra những tiện ích tốt nhất cho khách hàng có nhu cầu ăn uống Đồng thời càng thu hút được nhiều khách hàng thì kết quả và hiệu quả dịch vụ cũng sẽ càng cao và cứ như thế hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống sẽ ngày càng phát triển
Để thực hiện tốt các mục tiêu của dịch vụ ăn uống công tác quản lý đặt ra nhiệm
vụ phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thường xuyên hoạt động này trên địa bàn Công tác kiểm tra là dựa vào các quy định của nhà nước, các tiêu chuẩn
Trang 19đánh giá đối với dịch vụ ăn uống ở tất cả các khâu trên các địa bàn kinh doanh, đối chiếu so sánh với thực tế kinh doanh của từng chủ thể làm dịch vụ ăn uống để nêu lên những mặt tốt những mặt tích cực có tác dụng thúc đẩy sự phát triển để tiếp tục phát huy Nhưng đồng thời phát hiện những sai phạm, những tồn tại, hạn chế, yếu kém của các chủ kinh doanh để khắc phục hoặc kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử
lý nếu vi phạm nghiêm trọng
Tăng cường kiểm tra và thanh tra dịch vụ ăn uống là trách nhiệm và đồng thời là chức năng hoạt động của bộ máy quản lý các cấp Công tác kiểm tra không được thực hiện thường xuyên và định kỳ là sự buông lỏng quản lý dịch vụ ăn uống đó cũng chính là nguyên nhân của những yếu kém và bất cập hiện nay ở hầu hết các địa phương nói chung và thành phố Bắc ninh nói riêng
2.1.6.4 Quản lý công tác xử lý vi phạm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống
Trong quá trình kiểm tra, thanh tra phát hiện những vi phạm của các chủ thể kinh doanh dịch vụ ăn uống, có nhiều nội dung kiểm tra như: Đăng ký và cấp giấy phép; Các điều kiện về đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm; đăng ký và nghĩa vụ nộp thuế; Y tế; Cam kết về môi trường, về an ninh trật tự v.v… Khi kiểm tra cần phải có các chế tài để xử lý Tùy theo mức độ và tính chất vi phạm mà có hình thức
xử lý khác nhau từ việc nhắc nhở, cảnh cáo, phạt hành chính đến thu hồi đăng ký kinh doanh nếu nghiêm trọng còn truy cứu trách nhiệm hình sự Công tác quản lý việc xử lý các vi phạm về dịch vụ ăn uống là nhằm duy trì và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và bảo đảm an toàn cho nhân dân nói chung và khách hàng nói riêng Quản lý các xử lý vi phạm còn nhằm thu hồi cho ngân sách nhà nước những khoản nộp thuế và phí theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ ăn uống góp phần chống thất thu cho ngân sách Mặt khác cũng là việc thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ và quyền lợi của các chủ thể kinh doanh Xử lý các vi phạm một cách nghiêm minh và công khai minh bạch còn là giải pháp tăng cường kỷ cương và trật tự trong phát triển các dịch vụ ăn uống, một loại hình dịch vụ còn nhiều tiềm năng ở nước ta
(Chính phủ, 2013)
Trang 202.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ ăn uống
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ ăn uống, các nhà quản lý phải xác định rõ và đi sâu phân tích đánh giá đúng những nhân tố ảnh hưởng cả tính tích cực lẫn tiêu cực và nguyên nhân của nó Trên cơ sở đó sẽ có định hướng và giải pháp đúng đắn trong quản lý dịch vụ ăn uống để góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển ở từng địa phương, từng địa bàn Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ ăn uống gồm:
2.1.7.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Xét trên phạm vi mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa bàn thì những tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển dịch vụ nói chung và dịch vụ ăn uống nói riêng Một quốc gia hay một địa phương có vị trí thuận lợi là đầu nối giao thông quan trọng, có nhiều danh lam, thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử công trình văn hoá có điều kiện phát triển du lịch và thu hút nhiều nguồn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển Chẳng hạn Việt Nam nói chung tỉnh Bắc Ninh hay một số tỉnh khác nói riêng thì cùng với sự phát triển các dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải v.v… Dịch vụ ăn uống có điều kiện để phát triển nhanh và qui mô lớn đòi hỏi quản lý phải tăng cường về nhiều mặt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đó chính là lợi thế để khai thác cho phát triển
2.1.7.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay từng địa phương là những đề xuất dựa trên những tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội và các nguồn lực có thể huy động vào sự phát triển Mặt khác chiến lược cũng đưa ra những phương hướng, kế hoạch, giải pháp chủ yếu để phát triển các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế để đạt được các mục tiêu đề ra Dịch vụ ăn uống là một trong các loại hình dịch vụ phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người và cộng đồng, là một loại hình kinh tế khá phổ biến trong phát triển kinh tế - xã hội vì vậy chiến lược phát triển đều ảnh hưởng và chi phối đến quy mô, tốc độ phát triển của dịch vụ ăn uống ở
mỗi địa phương cụ thể (Chính phủ, 2011)
Trang 212.1.7.3 Trình độ phát triển và năng lực sử dụng các nguồn lực của con người
Quản lý dịch vụ ăn uống có liên quan mật thiết đến bảo vệ sức khoẻ con người, hầu hết các dịch vụ ăn uống đều do con người từ xác định đối tượng phục vụ đến lựa chọn hình thức và phương pháp làm dịch vụ Có thể phát triển các loại hình dịch vụ ăn uống từ đơn giản và qui mô nhỏ như các quán ăn, các cửa hàng giải khát, với số lượng lao động ít và lượng khách hàng phục vụ nhỏ hoặc lớn hơn là các nhà hàng, khách sạn các trung tâm dịch vụ v.v… với qui mô và phương tiện phục vụ hiện đại Tuy nhiên ở mức độ nào thì dịch vụ ăn uống đều phụ thuộc vào trình độ năng lực của chủ thể quản lý các nhà hàng Dịch vụ ăn uống càng phát triển đòi hỏi phương thức phục vụ càng đa dạng, chất lượng càng cao điều đó có ý nghĩa đối với
cả những đối tượng là khách hàng được hưởng dịch vụ
Vì vậy để dịch vụ ăn uống đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương hay trong mỗi quốc gia đòi hỏi phải không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết, trình độ chuyên môn của các chủ kinh doanh mà còn phải biết kết hợp khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất như tài nguyên thiên nhiên, công nghệ, lao động, vốn và nguồn lực phi vật chất như văn hoá, truyền thống, tập tục v.v…
2.1.7.4 Cơ chế chính sách và pháp luật
Mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân thủ pháp luật và thực hiện theo các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đồng thời ở từng địa phương còn phải tuân thủ các qui định và cơ chế quản lý mà các cấp chính quyền đề ra Sự thay đổi chính sách có thể tác động theo hướng tích cực là thúc đẩy các hoạt động dịch vụ trong đó có dịch vụ ăn uống phát triển ngược lại theo hướng tiêu cực sẽ kìm hãm thậm chí đưa đến xoá bỏ ngành dịch vụ như dịch vụ ăn uống Chính sách nói chung đều là sản phẩm chủ quan của con người vì vậy để đề ra các chính sách đúng
và phù hợp cần phải có tư duy toàn diện, đổi mới và phù hợp với quy luật của kinh
tế thị trường Phát triển kinh tế nói chung và các ngành kinh tế dịch vụ nói riêng ở nước ta còn khá mới mẻ vì vậy tác động ảnh hưởng của thay đổi các chính sách là
khó tránh khỏi trong quá trình phát triển các ngành dịch vụ (Quốc Hội, 2009)
Trang 222.1.7.5 Nhu cầu của người tiêu dùng
Nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống của người tiêu dùng rất phong phú và đa dạng Nhu cầu đó xuất phát từ thói quen an uống, sở thích và do những điều kiện kinh
tế của từng đối tượng, từng tầng lớp dân cư trong cộng đồng Trong nền kinh tế thị trường phát triển dịch vụ ăn uống phải gắn với cung cầu thị trường Tuỳ thuộc nhu cầu thị trường mà xác định các hình thức dịch vụ và loại dịch vụ ăn uống cho hợp lý
để tránh sự lãng phí hoặc lạm dụng các nguồn thực phẩm Mặt khác do phải phục vụ phù hợp nhu cầu thị trường các cá nhân, tổ chức hoạt động dịch vụ ăn uống phải lựa chọn nguyên liệu, chế biến sản phẩm cùng với phương thức phục vụ tốt nhất để làm vừa lòng khách hàng Điều này cũng nảy sinh những tình huống trong cạnh tranh trên thị trường dịch vụ cần có sự quản lý chặt chẽ nhằm phát triển dịch vụ ăn uống trên thị trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vừa đảm bảo hài hòa lợi ích của các đối tượng tham gia dịch vụ ăn uống
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý phát triển dịch vụ ăn uống ở một số địa phương trong
nước
2.2.2 Quản lý dịch vụ ăn uống ở thành phố Đà nẵng
Thành phố Đà nẵng trước năm 1997 chỉ là một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng nam - Đà nẵng Từ 1997 Đà nẵng đã trở thành một thành phố trực thuộc trung ương Cùng với tốc độ phát triển nhanh về kết cấu hạ tầng đô thị và sự gia tăng dân số đồng thời phát triển kinh tế- xã hội toàn diện cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, thương mại dịch vụ, du lịch và nông nghiệp, Đà nẵng hàng năm đã thu hút hàng triệu du khách quốc tế và trong nước đến tham quan, du lịch và nhu cầu về các dịch vụ cũng ngày càng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu dịch vụ Đà Nẵng
Trong suốt một thời gian dài, ngành dịch vụ vẫn chưa đạt kỳ vọng, do đầu tư chưa thật hiệu quả, bài bản khiến chất lượng dịch vụ vẫn còn là khoảng cách so với các nước trong khu vực và thế giới
Kinh tế toàn cầu suy thoái đã và đang thúc đẩy nhiều quốc gia tiến hành tái cơ cấu để bảo đảm phát triển nhanh và bền vững Tâm điểm của tái cấu trúc kinh tế là nâng cao hiệu quả, chủ yếu thông qua hai quá trình là nâng cao hiệu quả của các
Trang 23lĩnh vực kinh tế đang hoạt động và chuyển dịch nguồn lực sang các lĩnh vực mới có hiệu quả kinh tế cao hơn Không nằm ngoài xu hướng chung, Việt Nam đã và đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt hướng tới một nền kinh tế dịch vụ tri thức Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dịch vụ phát triển, nhờ vậy khu vực dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống dân cư, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế…
Cơ cấu ngành dịch vụ Việt Nam đa dạng với nhiều phân ngành dịch vụ khác nhau Tuy nhiên hiện nay, Việt Nam chỉ tập trung ở hai công đoạn lắp ráp và gia công chế biến Các dịch vụ khác như nghiên cứu khoa học, thiết kế kiểu dáng hay tiếp thị, nghiên cứu thị trường… đều kém phát triển Các phân ngành dịch vụ quan trọng như tài chính, viễn thông, cơ sở hạ tầng…chưa đủ mạnh Đến nay cả dịch vụ vận tải và dịch vụ viễn thông mới chỉ chiếm 9,6% trong toàn ngành dịch vụ và dịch
vụ tài chính chỉ chiếm 5% …
Ngành dịch vụ tạo ra nhiều việc làm tuy nhiên, ước tính ở Việt Nam mới chỉ
có 25% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Với sức ép hàng năm Việt Nam cần phải tăng thêm khoảng 1,7 triệu lao động, trong khi đó ngành công nghiệp và nông nghiệp chỉ thu hút được tối đa là 1,1 triệu lao động, vì vậy ngành dịch vụ cần phải tạo ra 0,9 triệu lao động hàng năm, nhưng với tốc độ tăng trưởng hiện nay, ước tính mỗi năm, chỉ đáp ứng được 0,5 triệu lao động
Ngành dịch vụ ở Việt Nam chưa thực sự tạo ra môi trường tốt cho toàn bộ nền kinh tế phát triển Hiện tại các chi phí dịch vụ viễn thông, cảng biển, vận tải…của Việt Nam đang cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực (viễn thông cao hơn 30-50%, vận tải đường biển cao hơn từ 40-50%)
Trong khi đó, sức ép tự do hoá đối với lĩnh vực dịch vụ của ta trong BTA và trong WTO sắp tới là rất lớn Trước mắt, theo Hiệp định thương mại Việt-Mỹ, ta cam kết mở cửa các lĩnh vực như ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm cho các công ty dịch vụ Mỹ vào hoạt động theo lộ trình với những giới hạn mà Việt Nam đặt ra đối với các loại hình đầu tư, dịch vụ này tuỳ theo mức độ nhạy cảm
Cần nâng cao vai trò của khu vực dịch vụ; xem ngành dịch vụ là một trong
Trang 24những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế đất nước với các mục tiêu:
- Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng như du lịch, bảo hiểm vận tải hàng không, xây dựng, xuất khẩu lao động… khuyến khích phát triển dịch
vụ mới có sức cạnh tranh cao; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ cao hơn tốc
độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
- Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế; đẩy mạnh khai thác tiềm năng và lợi thế của từng lĩnh vực dịch vụ, tăng cường sự hợp tác giữa các lĩnh vực dịch vụ để cùng cạnh tranh và phát triển
- Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ và dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch, tài chính - ngân hàng, thu kiều hối và bán hàng tại chỗ, bưu chính viễn thông, vận tải hàng không và đường biển; giảm thâm hụt cán cân dịch vụ
- Khảo sát, đánh giá sức cạnh tranh của từng lĩnh vực dịch vụ hiện tại và trong tương lai, phân loại các dịch vụ cần được bảo hộ, các lĩnh vực loại trừ tạm thời, loại trừ hoàn toàn cho việc mở cửa các ngành dịch vụ và dành đãi ngộ quốc gia, tối huệ quốc cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài
* Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Trung Quốc và Malaysia
Thứ nhất: Phải nhận thức đúng đắn về vai trò của phát triển các ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế từ đó có hành động đúng để thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật và các cơ chế quản lý phù hợp để thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển cả bề rộng chiều sâu
Thứ ba: Phát triển bền vững các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ và nông nghiệp
Thứ tư: Tranh thủ các thành tựu của khoa học công nghệ trong phát triển dịch
vụ của các nước tiên tiến hội nhập chủ động quốc tế đối với các ngành dịch vụ có lợi thế cạnh tranh của đất nước, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu qủa của ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế - xã hội
Trang 25PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn thành phố Bắc Ninh
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Bắc Ninh là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh Bắc Ninh, cách thủ đô Hà Nội 30 km nằm trong quy hoạch vùng thủ đô về phía Nam, thành phố Bắc Ninh cách thành phố Bắc Giang 20km về phía Đông Bắc, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km và cách Hải Phòng 110 km Thành phố có 19 đơn vị hành chính gồm 16 phường và 3 xã
Ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
- Phía Nam giáp huyện Tiên Du, huyện Quế Võ;
- Phía Đông giáp huyện Quế Võ;
Trang 26- Phía Tây giáp huyện Tiên Du, huyện Yên Phong
Với vị trí như trên, thành phố Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển tổng thể KTXH:
- Là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh và một trong những trung tâm đào tạo, du lịch, thương mại, dịch vụ trong khu vực, nằm trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội, vùng kinh tế trọng điểm, tam giác tăng trưởng Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh và là đầu mối giao thông quan trọng trong khu vực Lạng Sơn - Bắc Ninh - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
- Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như QL1A, QL1B, QL18; đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn chạy qua dài gần 8,8km, chia thành phố thành hai khu vực Đông và Tây Dự án Cầu Đáp Cầu 2 hoàn thành đầu năm 2013, được đưa vào khai thác đã giảm tải cho cầu Đáp Cầu cũ và phân tách hệ thống giao thông riêng biệt cho đường sắt và đường bộ đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông; tuyến đường thuỷ của hệ thống sông Cầu chảy qua dài 32,3km, có khả năng cho các phương tiện thuỷ có tải trọng 200 - 250 tấn đi qua nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách giao lưu với các khu vực trong cả nước;
- Gần thành phố Hà Nội là một thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh như Nông- Lâm- Thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là một trong những thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá;
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hà Tây sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh và của thành phố, đặc biệt là công nghiệp và thương mại dịch vụ - du lịch;
Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển KTXH của Thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
Điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể
Trang 27trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích
3.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội
Mật độ dân số toàn thành phố 2.200 người/km2, dân số chủ yếu tập trung ở các phường, xã, ven các trục giao thông chính, ở các vùng nông thôn mật độ dân số thưa hơn Người dân thành phố vốn có truyền thống văn hóa thanh lịch, mang bản sắc của người dân xứ Kinh Bắc, thông minh, cần cù, năng động và sáng tạo Nhiều ngành nghề truyền thống như: may mặc, sản xuất đồ mộc, thủ công mỹ nghệ, xây dựng, vận tải, làm giấy, thảm len, thêu dệt, thương nghiệp, dịch vụ, làm nông nghiệp hàng hóa… và cùng các giá trị văn hóa dân tộc truyền thống lâu đời tạo lên những tiềm năng và là nguồn lực lớn cho thành phố đẩy mạnh phát triển các công nghiệp truyền thống, phát triển du lịch văn hóa, hình thành một chức năng cơ bản là trung tâm du lịch, văn hóa, lễ hội; trung tâm phát triển làng nghề của Đồng bằng sông Hồng
Tổng số lao động xã hội toàn thành phố chiếm khoảng 66,7% tổng dân số, tương đương với khoảng 116.642 người Chất lượng của nguồn nhân lực chủ yếu qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn kỹ thuật Số lao động làm trong các ngành kinh tế quốc dân là 79 ngàn người (năm 2010), trong đó có khoảng 12,2% làm việc trong nhóm ngành nông lâm ngư, 38,8% làm việc trong các nhóm
Trang 28ngành công nghiệp - xây dựng và 49% làm trong các ngành dịch vụ Trình độ phân công lao động theo ba nhóm ngành lớn của thành phố tốt hơn so với mức trung bình của tỉnh và cả vùng
3.1.2.2 Tài nguyên và du lịch
* Tài nguyên đất
Đất được hình thành chủ yếu bởi quá trình bồi tụ các sản phẩm phù sa của hệ thống sông Thái Bình, sông Hồng và sản phẩm phong hóa của mẫu chất phù sa cổ Đất đai có địa hình tương đối bằng phẳng, độ phì nhiêu đất khá cao, trải dài theo thời gian đất đai được nhân dân bảo vệ và khai thác đưa vào sử dụng hiệu quả cho các mục đích phát triển KTXH
Theo số liệu thống kê đất đai, diện tích tự nhiên của thành phố có 8.260,88ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp 3.745,16ha
- Đất phi nông nghiệp 4.459,76ha
- Đất chưa sử dụng 55,96ha
* Tài nguyên nước
Với lợi thế nằm cạnh sông Cầu về phía Bắc thuộc vùng trung hạ lưu của hệ thống sông Cầu, có sông nhánh Ngũ Huyện Khê nằm tại khu vực phía Tây và sông Tào Khê nằm tại khu vực phía Đông của thành phố Các dòng chảy đã cung cấp nước mặt phong phú cho các hoạt động sản xuất, giữ vai trò quan trọng về công tác thủy lợi của địa phương mà còn tạo giá trị kinh tế cao về giao thông đường thủy: cảng sông Đáp Cầu chuyên phục vụ bốc xếp vật tư, nguyên liệu cho nhà máy Kính cùng nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có hệ thống hồ, ao phân bố rải rác trong các khu vực cùng với hệ thống kênh mương thủy lợi đảm nhận chức năng điều tiết, lưu chuyển lượng nước mặt cho thành phố và tạo cảnh quan, không gian môi trường sinh thái
Trang 29Bảng 3.1 Tình hình dân số, lao động thành phố Bắc Ninh
1.1 – Nhân khẩu nội thành Người 127.896 130.659 133.585 102,160 102,239 103,083 1.2 – Nhân khẩu ngoại thành Người 50.232 51.076 52.393 101,680 102,579 102,706
2.1 – Hộ nông nghiệp Hộ 9.527 9.641 9.699 101,197 100,602 102,203 2.2 – Hộ phi nông nghiệp Hộ 38.811 38.849 39.082 100,098 100,600 101,601
3.1 – Lao động nông nghiệp Lđ 22.065 22.925 23.042 103,898 100,510 101,549 3.2 – Lao động CN, thủ công nghiệp Lđ 29.887 35.004 35.879 117, 121 102,500 103,671 3.3 – Lao động dịch vụ thương mại Lđ 61.800 58.713 61.062 94,997 104,021 104,951
Trang 30* Tài nguyên nhân văn
Thành phố Bắc Ninh, trung tâm văn hóa của vùng Kinh Bắc xưa, nơi đây thuộc vùng đất "Địa linh nhân kiệt" có lịch sử từ lâu đời về truyền thống hiếu học, khoa bảng và được coi là cái nôi của nền văn hóa nước ta Trải qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh chống thiên tai, mảnh đất nơi đây từng chứng kiến nơi diễn ra nhiều chiến công oai hùng của lịch sử dân tộc và quê hương và còn để lại đến ngày nay biết bao nhiêu dấu tích di vật lịch
sử văn hoá, công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị đó là: Văn miếu Bắc Ninh tại phường Đại Phúc được biết đến là một di tích lịch sử quan trọng của thành phố, của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, vinh danh 677 vị tiến sĩ từ thời Lý đến hết thời Nguyễn, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước; Thành Cổ (trung tâm quân sự, chính trị) có kiến trúc nghệ thuật quân sự thành lũy thời Nguyễn độc đáo và quý hiếm; khu phố cổ Vệ An, Ninh Xá, Tiền An… vẫn được giữ gìn theo chiều dài lịch
sử của cư dân đô thị: phố xá, nhà cửa, công sở, cửa hàng, cửa hiệu được xây dựng
và hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngày một sầm uất
* Tiềm năng du lịch
Thành phố có cảnh quan và không gian vô cùng đặc biệt, giữa một vùng đồng bằng trù phú nổi lên một quần thể các gò đồi bát úp và thành phố nằm cạnh sông Cầu thơ mộng, mặt nước bình yên và có một quần thể di tích lịch sử văn hóa đình, đền, chùa: là Văn Miếu - di tích một vùng hiếu học nằm trên đỉnh núi Nác; là Thành Cổ - công trình có kiến trúc nghệ thuật quân sự thành luỹ độc đáo; là thị thành Bắc Ninh nằm trong cụm không gian cảnh quan đô thị cổ (không gian hạt nhân của đô thị có tính lịch sử cao) Một trong những nét văn hiến đặc sắc của xứ Kinh Bắc- Bắc Ninh là có nhiều đình chùa, lễ hội dân gian Người dân thành phố vẫn còn lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc, các lễ hội giàu truyền thống như hội Đền Bà Chúa Kho (phường Vũ Ninh), hội thi hát Quan họ (làng Viêm Xá, xã Hoà Long), hội Đền Thánh Tổ (Bồ Tát) ở Đại Phúc, hội rước nước làng Thị Cầu (phường Thị Cầu), hội hát Quan họ làng Ó (khu Xuân ổ), Khả Lễ, Bồ Sơn (phường Võ Cường) Tất cả tạo cho thành phố một cảnh quan hấp dẫn, đầy
Trang 31tiềm năng để phát triển du lịch văn hóa Một nét đặc sắc nữa của vùng đất Kinh Bắc
đó là năm 2010 tổ chức Quốc tế UNESCO đã chính thức công nhận dân ca Quan họ Bắc Ninh là văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại Nếu biết khéo léo tổ chức, kết hợp giữa các hoạt động văn hóa truyền thống với những sinh hoạt văn hóa hiện đại thì những cảnh quan nơi đây thực sự là những điểm du lịch, tham quan hấp dẫn
du khách, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mà còn phát triển thành sản phẩm văn hoá phục vụ công tác giáo dục truyền thống, văn hiến của quê hương
3.1.2.3Về văn hóa – xã hội
* Giáo dục và đào tạo
Triển khai thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và tự sáng tạo”, cuộc vận động “Hai không” và phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Phong trào khuyến học, tổ chức Hội khuyến học trong các dòng họ, thôn, khu phố, cơ quan, đơn vị đã và đang được đẩy mạnh Tổ chức vận động được nhiều
cá nhân, doanh nghiệp tài trợ, cấp học bổng cho học sinh nghèo vượt khó học giỏi, học sinh là con gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc da cam
* Về y tế
Trên địa bàn thành phố có bệnh viện đa khoa của tỉnh và bệnh viện đa khoa
tư nhân, trung tâm y tế dự phòng và 19 trạm y tế với 103 giường bệnh, ngoài ra còn
có trên 131 cơ sở hành nghề y Diện tích đất cơ sở y tế hiện có 22,92ha, bình quân 1,55m2/người Mặc dù những năm qua còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất xuống cấp, điều kiện khám chữa bệnh cho nhân dân còn gặp nhiều hạn chế nhưng ngành y tế đã cố gắng khắc phục, đạt được những kết quả đáng khích lệ
* Về văn hoá xã hội - thể dục thể thao
Các hoạt động văn hoá thông tin và thể dục thể thao của thành phố đã có chuyển biến tích cực góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Hàng năm thành phố vẫn duy trì được các hoạt động văn hoá và sinh hoạt
Trang 32tín ngưỡng thông qua sinh hoạt văn hoá quan họ, các lễ hội truyền thống đậm đà sắc thái văn hiến vùng Kinh Bắc như lễ hội đền Bà Chúa Kho, lễ hội chùa Hàm Long, chùa Dạm
3.1.3 Tình hình phát triển KTXH giai đoạn 2012 – 2014
Thời kỳ 2012 - 2014, nhịp độ tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn thành phố (GDP) 3 năm 2012- 2014 của thành phố ở mức khá cao 15,9%/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại cụ thể năm
2013 tăng 18% so với năm 2012 và đến năm 2014 chỉ tăng 13,7% so với năm 2013
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực giảm dần tỷ trọng công nghiệp xây dựng và nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng thương mại dịch vụ Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2012 là 2.774USD, năm 2013 là 4.381USD tăng 12,55% so với năm 2012 và đến năm 2014 là 4.905USD tăng
11,20% so với năm 2013 (Chi cục thống kê thành phố Bắc Ninh, 2012 - 2014) Tốc
độ tăng GDP năm 2013 là 18% đến năm 2014 là 13,7%
3.1.3.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Tình hình sản xuất nông - lâm - thuỷ sản trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm để phục vụ yêu cầu phát triển đô thị Do vậy, thành phố đã xác định việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn theo lộ trình phát triển đô thị mới, vừa mang tính trước mắt vừa mang tính lâu dài, bền vững
Tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản hàng năm vẫn tăng nhưng với tốc độ ngày một chậm lại, năm 2012 đạt 424 tỷ đồng, năm 2013 đạt 475 tỷ đồng tăng 12% so với năm 2012 Trong khi giá trị sản xuất, năng suất, chất lượng dần được nâng lên: năng suất lúa tăng từ 45,5 tạ/ha năm 2012 lên 52,9 tạ/ha năm 2013, sản lượng lương thực có hạt đạt 34,3 nghìn tấn Một điểm dễ nhận thấy là mặc dù giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản của thành phố có tăng song cơ cấu tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 4,3% (năm 2012) chỉ còn 4% (năm 2013) nguyên nhân là do quy mô của toàn nên kinh tế ngày càng cao, mặt khác tốc độ tăng của ngành thương mại và dịch vụ cũng như ngành công nghiệp và xây dựng nhanh hơn nhiều lần nông nghiệp nên tỷ trọng
Trang 33nông nghiệp ngày một thu hẹp Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 63,5% xuống còn 50,4%, chăn nuôi từ 33,9% tăng lên 43,9% và dịch vụ nông nghiệp từ 2,6% tăng lên
5,7% (Chi cục thống kê thành phố Bắc Ninh, 2012 - 2014)
3.1.3.2 Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Đến nay, toàn thành phố có 258 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, 30 hợp tác xã, xí nghiệp, 21 doanh nghiệp trung ương và của tỉnh, 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và liên doanh, trên 1000 doanh nghiệp tư nhân
và công ty trách nhiệm hữu hạn; 1.250 hộ, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, một
số sản phẩm đã có sức cạnh tranh và tăng trưởng khá như: thức ăn gia súc, may mặc, giấy, gỗ, kính, phụ tùng cơ khí
Giá trị sản xuất công nghiệp liên tục năm sau cao hơn năm trước Trong
đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước trung ương năm 2013 tăng 12,6% so với năm 2012 do cổ phần hóa một số doanh nghiệp Các doanh nghiệp ngoài nhà nước của thành phố Bắc Ninh chủ yếu ở các doanh nghiệp may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất giấy và chế biến thức ăn gia súc
Về sản phẩm công nghiệp chủ yếu của doanh nghiệp vốn FDI là sản xuất linh kiện điện tử; may mặc, chế biến thức ăn gia súc, giấy… Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp đã góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm nhiều nguồn thu cho NSNN, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và kích thích các ngành kinh tế khác phát triển Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 21,88%/năm, năm 2012 đạt 9.111 tỷ đồng, và năm 2013 đạt 11.361 tỷ đồng và năm
2014 đạt 15.827 tỷ đồng khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng, vận chuyển hành khách tăng Cơ cấu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ có nhiều thay đổi giữa khu vực quốc doanh, tư nhân và cá thể Thành phố Bắc Ninh đã phối hợp với thành phố Hà Nội, Thành phố Bắc Giang, các huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh: Lương Tài, Thuận Thành, Yên Phong mở các tuyến xe buýt phục vụ việc đi lại hàng ngày của nhân dân
Trang 34Bảng 3.2 Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh
Chỉ tiêu
Giá trị (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Giá trị (tỷ đồng)
Cơ cấu (%)
Trang 35Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển với nhiều loại hình đa dạng, đang từng bước hình thành các khu vực buôn bán tập trung đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống Mạng lưới thương mại, dịch vụ không chỉ được mở rộng về không gian mà số lượng cơ sở và hệ thống chợ được quy hoạch cải tạo và xây mới khá bài bản
Hoạt động du lịch, dịch vụ nghỉ ngơi, vui chơi giải trí được phát triển trên cơ
sở tiềm năng du lịch tâm linh, cảnh quan sinh thái, di sản văn hóa dân tộc gắn với các địa phương trong và ngoài tỉnh Các loại hình du lịch như: tham quan các di tích
và nghiên cứu lịch sử văn hóa; du lịch Quan họ; Làng nghề truyền thống và du lịch
lễ hội, tín ngưỡng Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch chưa phát triển, mới có một số doanh nghiệp đầu tư và đi vào hoạt động như: khách sạn Hoàng Gia, Thanh Tùng, Nam Thắng, Phú Sơn, Quế Ninh, Như Nguyệt….và khu vui chơi giải trí, dịch vụ Đại Hoàng Long
Với những đặc điểm về kinh tế- xã hội như trên là tiền đề vô cùng quan trọng
và cần thiết cho việc phát triển dịch vụ ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
3.2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong nghiên cứu này do số lượng các cơ sở kinh doanh DVAU trên địa bàn toàn thành phố Bắc ninh khá nhiều, phức tạp với các hình thức tổ chức khác nhau
và do điều kiện có hạn không thể tiến hành điều tra khảo sát thực tế ở toàn bộ các đơn vị nên đề tài chọn điểm đại diện cho thành phố để đi sâu nghiên cứu thực tế công tác quản lý DVAU Chúng tôi tiến hành chọn 03 phường kinh doanh dịch vụ
ăn uống tập trung nhiều nhất ở Thành phố Bắc Ninh làm điểm nghiên cứu gồm: Phường Ninh Xá, phường Tiền An và Phường Suối Hoa Trong đó, loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống có quy mô và mô hình kinh doanh khác nhau, để so sánh đánh giá hiệu quả cách quản lý dịch vụ ăn uống cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh
Trang 363.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Để thực hiện khảo sát thực tế đề tài tiến hành điều tra 10 doanh nghiệp (nhà hàng và công ty ăn uống), 3 khách sạn, 60 hộ kinh doanh ở 3 phường đã chọn trong địa bàn nghiên cứu Ngoài ra để đánh giá những nội dung quản lý từng mặt của DVAU, tác giả còn tiến hành điều tra cán bộ quản lý cấp thành phố, cấp phường, các cán bộ quản lý thị trường, cán bộ y tế, phòng Công thương của thành phố Bắc Ninh về quản lý dịch vụ ăn uống Đồng thời cũng khảo sát ý kiến của khách hàng
Số mẫu cụ thể được trình bày ở bảng 3.3 như sau:
Bảng 3.3 Phân bổ mẫu điều tra về dịch vụ ăn uống trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh
Đối tượng khảo sát ĐVT
Số mẫu điều tra
Phân bổ mẫu điều tra
Các cán
bộ QL khác
Trong đó:
2- Doanh nghiệp kinh
doanh (Nhà hàng, công ty)
Trang 373.2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp là những tài liệu, số liệu có sẵn đã được công bố có liên quan và phục vụ cho đề tài nghiên cứu Các thông tin này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm củng cố cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cũng như giúp làm rõ cho quá trình nghiên cứu, đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Dữ liệu thứ cấp, nguồn số liệu thứ cấp chủ yếu lấy ở sách, báo, từ Internet để
có các thông tin về tình hình quản lý dịch vụ ăn uống, kinh nghiệm của các nước trên thế giới và những tư liệu có liên quan đến đề tài
Thu thập từ Cục Thống kê, Phòng Tài nguyên, Môi trường, Trung tâm y tế thành phố, UBND thành phố về các thông tin và tình hình kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứ Các thông tin công bố công khai của các cơ quan, tổ chức như Báo, các tạp chí chuyên ngành, trang thông tin điện tử, đài truyền hình, truyền thanh…
Để thấy được thực trạng, từ đó tìm ra hướng đi đúng đắn trong việc quản lý dịch vụ
ăn uống trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Thu thập từ những cơ quan Nhà nước qua các Báo cáo hoạt động kinh doanh dịch vụ, các công trình nghiên cứu, tham khảo văn bản pháp quy, chính sách được thu thập ở các Sở, Ban, Ngành, phòng có liên quan
3.2.1.4 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Thông tin sơ cấp là những thông tin có được thông qua quá trình điều tra, phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu và các đối tượng khác liên quan đến đề tài
Đây là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để tiến hành tổng hợp, phân tích
và trình bày trong phần kết quả nghiên cứu của đề tài Nguồn thông tin này sẽ được tiến hành thu thập được từ phỏng vấn, điều tra trực tiếp các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong các điểm nghiên cứu Đồng thời, điều tra các tổ chức, cơ quan có liên quan đến quản lý dịch vụ ăn uống
Tác giả sử dụng phương pháp thu thập thông tin ban đầu bằng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp Ngoài ra còn sử dụng phương pháp chuyên gia để hoàn thiện các thông tin liên quan đến những khía cạnh chuyên sâu của kinh doanh DVAU
Trang 383.2.1.5 Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu
Sau khi thu thập được các thông tin cần thiết, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp
số liệu và sử dụng phần mềm Microsoft Excel xử lý số liệu Để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp thống kê kinh tế để thu thập và phân tích thông tin trong một khoảng thời gian cần thiết phù hợp với đề tài nghiên cứu Các
số liệu phân tích sẽ nói lên thực trạng và xu hướng vận động của hiện tượng
Các số liệu sau khi được tính toán sẽ được chỉnh lý, tổng hợp và hệ thống hóa lại theo nội dung nghiên cứu
3.2.2 Phương pháp phân tích thông tin
3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, kết quả điều tra sẽ được đánh giá, phân tích thực trạng các giải pháp quản lý dịch vụ ăn uống thông qua việc sử
dụng phương pháp thông kê mô tả
3.2.2.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ ăn uống như các chi phí có liên quan, các hình thức trong quản lý dịch vụ ăn uống trên địa bàn bàn thành phố Các phân tích này giúp định hướng cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh vừa đảm bảo được lợi ích kinh tế vừa thực hiện các mục tiêu của quản lý dịch vụ ăn uống của thành phố Bắc Ninh
3.2.2.3 Phương pháp so sánh
So sánh đối chiếu các chỉ tiêu về mức độ phát triển doanh thu các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống.Sự biến động về qui mô cơ cấu các hình thức kinh doanh dịch vụ ăn uống, hiệu quả của dịch vụ Khách sạn, nhà hàng, công ty, hộ kinh doanh và so sánh qua các năm và trên từng địa bàn của thành phố Bắc ninh
3.2.2.4 Phương pháp chuyên khảo
Kháo sát thực tế hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống tại một số cơ sở để đánh giá và bổ sung cho các kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra két luận xác đáng và
Trang 39tin cậy hơn mặt khác tham khảo kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học
đã công bố, tổng hợp và kế thừa các nội dung phù hợp với đề tài
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
a) Nhóm chỉ tiêu về đăng ký và cấp phép kinh doanh
Số hộ kê khai đăng ký dịch vụ ăn uống
Tổng số hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống
Số hộ được cấp phép
Tỷ lệ hộ được cấp phép kinh doanh so với tổng số hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống
b) Nhóm chỉ tiêu thể hiện thực trạng dịch vụ ăn uống
- Diện tích đất cho dịch vụ ăn uống:
- Lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Giá trị TSCĐ cho hoạt động dịch vụ ăn uống
- Số lượng vốn đầu tư cho dịch vụ ăn uống
- Số hộ và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống
c) Nhóm chỉ tiêu thể hiện kết quả kinh doanh dịch vụ ăn uống
* Về kinh tế
- Tốc độ tăng giảm doanh thu, chi phí, thu nhập từ dịch vụ ăn uống
* Về xã hội
- Tốc độ tăng số lao động có việc làm
- Số tiền và tốc độ tăng số tiền đóng góp cho ngân sách địa phương
d) Chỉ tiêu về công tác kiểm tra, thanh tra về dịch vụ ăn uống
- Số hộ kinh doanh và tỷ lệ hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống chấp hành đúng giấy phép
Trang 40+ Tỷ lệ vi phạm về niêm yết giá
+ Tỷ lệ vi phạm khác
+ Số lần xử lý vi phạm về dịch vụ ăn uống + Số tiền phạt vi phạm…