1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh

103 838 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động như bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,

Trang 1

2.1.2 Vai trò quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp 7

2.1.5 Nội dung quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp 11 2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp 20

2.2.1 Thực trạng thất nghiệp và thực hiện chính sách Bảo hiểm thất

Trang 2

2.2.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quản lý Bảo

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp 26

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quế Võ 30 3.1.2 Đặc điểm về cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 33

3.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp 42

4.1 Thực trạng quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp tại huyện Quế võ 44 4.1.1 Cơ sở pháp lý cho việc quản lý Bảo hiểm thất nghiệp huyện Quế Võ 44 4.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp tại huyện Quế Võ 44 4.1.3 Thực trạng công tác lập kế hoạch chi Bảo hiểm thất nghiệp tại

4.1.4 Thực trạng thực hiện chi Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã

4.1.5 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra chi Bảo hiểm thất nghiệp 61 4.1.6 Đánh giá công tác quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm

4.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi Bảo hiểm thất

Trang 3

4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý chi

Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 74

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Quế Võ năm 2014 32

4.2 Đối tượng hưởng các chế độ BHTN tại BHXH huyện 494.3 Đối tượng hưởng, chấm dứt, tạm dừng hưởng BHTN tại BHXH huyện 514.4 Đối tượng hưởng BHTN theo khối các doanh nghiệp tại huyện 52

4.6 Chi BHYT cho đối tượng hưởng BHTN tại BHXH huyện 584.7 Chi tìm việc làm cho đối tượng hưởng BHTN tại BHXH huyện 594.8 Chi hỗ trợ học nghề cho đối tượng hưởng BHTN tại BHXH huyện 604.9 Kết quả thanh tra tại doanh nghiệp của BHXH huyện 624.10 Kết quả thanh tra, kiểm tra đối tượng hưởng BHTN tại huyện 634.11 Ý kiến phản ánh về tiến độ chi trả BHTN tại BHXH huyện 654.12 Đánh giá kết quả chi học nghề cho đối tượng hưởng BHTN tại huyện 674.13 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của huyện 704.14 Điều tra mức độ hiểu biết BHTN của người lao động tham gia BHTN 724.15 Số người đăng ký và được hưởng BHTN tại BHXH huyện 73

Trang 5

4.3 Quy trình chi trả BHTN hàng tháng tại BHXH huyện 564.4 Cách xác định kế hoạch chi BHTN tại BHXH huyện Quế Võ 78

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ LĐTB&XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 7

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là nhu cầu khách quan của người lao động, xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm, được pháp luật của nhiều nước ghi nhận Ở nước ta, Đảng và Chính phủ luôn xác định chính sách BHXH là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động như bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, mất khả năng lao động, chết …

Một trong các chế độ của Bảo hiểm xã hội là chế độ Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm

BHTN bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 của Quốc Hội ngày 29 tháng 6 năm 2006 Tuy nhiên BHTN là một chính sách mới nên việc triển khai BHTN thời gian qua cũng phát sinh không ít những vấn đề bất cập Nhiều quy định chưa nhất quán rõ ràng, một số nội dung chưa hợp lý ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, gây khó khăn cho việc quản lý BHTN Người sử dụng lao động chưa nhận thức được tính ưu việt của chính sách này nên họ còn tìm cách từ chối tham gia, hoặc tìm cách nợ tiền đóng BHTN, tìm cách trục lợi cho cá nhân ; Đồng thời khi đưa chính sách mới vào thực tiễn còn gặp phải nhiều vấn đề vướng mắc như quy trình, điều kiện hưởng Quế võ là huyện có nhiều khu, cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh nên số lượng người tham gia BHXH, BHTN ngày càng tăng Trong những năm qua BHXH Quế Võ đã tổ chức chi trả BHTN cho người lao động (NLĐ) nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, thiết sót, đặc biệt trong công tác quản lý chi BHTN Do sự bất cập trong việc thụ hưởng trợ cấp của Nhà nước đối với người tham gia đóng BHTN nên không ít cá nhân, tổ chức lợi dụng việc chi trả đối với NLĐ để trục lợi Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng chế độ BHTN để trả lương cho người lao động

Trang 8

Doanh nghiệp ra quyết định cho người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ BHTN, thời gian nghỉ việc đó người lao động vẫn làm ở doanh nghiệp lấy tiền hưởng TCTN

để trả lương cho người lao động Bên cạnh đó, có trường hợp NLĐ nghỉ làm việc tại đơn vị này đã chuyển sang làm việc ở một đơn vị khác, nhưng khi có quyết định nghỉ việc ở đơn vị cũ họ vẫn đi làm thủ tục để hưởng TCTN, cơ quan BHXH chưa quản lý được chặt chẽ đối tượng hưởng chế độ BHTN nói trên Đây là những khó khăn đối với quản lý chi BHTN trên địa bàn huyện Quế Võ trong những năm qua cần được giải quyết, bảo đảm cho NLĐ tham gia BHTN và thụ hưởng các chế độ, chính sách BHTN được thuận lợi hơn

Nhận thức được vai trò của BHTN và những bất cập trong việc triển khai, thực hiện chính sách BHTN ở BHXH Quế Võ, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp tại Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” làm Luận văn thạc sĩ của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn một số vấn đề về quản lý chi BHTN, luận văn nhằm đánh giá thực trạng về công tác quản lý chi BHTN từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi BHTN trên địa bàn huyện Quế Võ

- Chỉ ra những tồn tại hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản

lý chi BHTN trong những năm qua từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi BHTN tại BHXH Quế Võ

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đối tượng được hưởng BHTN tại BHXH huyện Quế Võ, bao gồm quy trình quản lý, nội dung quản lý trong việc chi trả BHTN

Trang 9

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi nội dung

- Nghiên cứu quản lý chi BHTN

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý chi BHTN của cơ quan BHXH huyện Quế Võ trong những năm qua: Tập trung vào quản lý quy trình bao gồm công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát với đối tượng hưởng BHTN

Trang 10

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm Thất nghiệp

Khái niệm về thất nghiệp cũng được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học định nghĩa về thất nghiệp nhưng cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thất nghiệp

Thất nghiệp được hiểu là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn Thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm

Tại hội nghị Quốc tế về thống kê lao động lần thứ 13 tại Genevơ (ILO, 1982)

về Thống kê dân số, việc làm, thất nghiệp đã thống nhất đưa ra khái niệm về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi quy định trong thời gian điều tra có khả năng làm việc, không có việc làm và đang đi tìm kiếm việc làm”

Một số nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về thất nghiệp như: “Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề, muốn đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền” (Bộ LĐTB&XH, 1988) “Thất nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong

độ tuổi lao động không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” (Bộ LĐTB&XH, 1996)

Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng như là: Có khả năng lao động, đang không có việc làm, đang tìm việc làm

Không phải tất cả những người không có việc làm đều là người thất nghiệp, chỉ những người không có việc làm trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới được coi là người thất nghiệp Người thất nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật BHXH, là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động (HĐLĐ), hợp đồng làm việc (HĐLV) với người sử dụng lao động (NSDLD) các loại hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; HĐLĐ không xác định thời hạn; NLĐ là

Trang 11

người hưởng tiền lương, tiền công, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp Nhà nước, vì các lý do khác nhau mà bị mất việc, chấm dứt HĐLĐ, HĐLV nhưng vẫn có nhu cầu làm việc và chưa tìm được việc làm

2.1.1.2 Khái niệm Bảo hiểm thất nghiệp

BHTN là một trong ba loại hình của BHXH Có thể hiểu BHTN là quá trình

tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – Quỹ bảo BHTN - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia (NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho NLĐ họ khi gặp rủi ro về việc làm

Quốc hội nước Cộng Hoà xã hội Việt Nam (2006) đã thông qua Luật BHXH, trong đó đã quy định về BHTN và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009 Đây là chính sách mới có tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ, NSDLĐ về vấn đề ASXH; chính sách BHTN nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ bị thiếu hụt do thất nghiệp và quan trọng hơn là hỗ trợ NLĐ bị thất nghiệp được học nghề, được hỗ trợ tìm việc làm để người thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị trường lao động; đồng thời NLĐ bị thất nghiệp còn được hưởng BHYT

Chính sách BHTN là một trong những chính sách được Nhà nước ban hành để giải quyết mâu thuẫn không thể tự giải quyết được giữa NLĐ và NSDLĐ trong việc đáp ứng quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người về việc làm, góp phần đảm bảo ASXH

2.1.1.3 Khái niệm Quản lý Bảo hiểm thất nghiệp

Thực chất quản lý BHTN là quản lý các hoạt động của BHTN như là thu, chi, đối tượng tham gia, quỹ BHTN:

+ Quản lý quá trình thu: Dựa trên cơ sở thông tin NDSLĐ đăng ký về số lượng người tham gia, mức lương của đơn vị, BHXH tỉnh tiến hành tổ chức thu BHTN từ đơn vị sử dụng lao động Trên thực tế, công việc này còn gồm cả các hoạt động lên kế hoạch thu BHTN trên địa bàn, tổ chức thu và kiểm soát trong và sau quá trình thu

+ Quản lý quá trình chi: Sau khi NLĐ xác nhận là đã mất việc làm và có

Trang 12

quyết định của Giám đốc Sở LĐTB&XH được hưởng TCTN, cơ quan BHXH phải thực hiện chi trả tiền TCTN cho đối tượng hưởng Cũng giống tổ chức thu BHTN,

tổ chức chi BHTN cũng bao gồm lên kế hoạch chi tháng, quý, năm và kiểm soát số tiền chi nhằm bảo toàn và phát triển quỹ BHTN Đồng thời tổ chức chi BHTN, chi BHYT, chi hỗ trợ tìm việc làm, chi hỗ trợ học nghề cho NLĐ Công việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghề và giới thiệu việc làm được thực hiện bởi TTGTVL tỉnh Tuy nhiên, cơ quan BHXH huyện cũng cần phải giám sát hoạt động này để tổ chức chi cho hợp lý

+ Quản lý đối tượng tham gia: Đối tượng hưởng chế độ BHTN phải luôn được BHXH tỉnh đặc biệt quan tâm bởi hoạt động này có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và mức độ chi trả của quỹ BHTN Với đối tượng tham gia, quản lý chủ yếu dựa trên cơ sở kiểm tra số lượng lao động tại các doanh nghiệp Nếu công tác quản lý đối tượng chặt chẽ sẽ vừa tránh được tình trạng thất thu và vừa đảm bảo chi trả đúng

đủ đối tượng hưởng

+ Quản lý quỹ BHTN: Với mục tiêu bảo toàn và phát triển quỹ BHTN nên trong công tác quản lý luôn phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ trước, trong và sau khi thu Đặc thù của BHTN là lấy số nhiều bù số ít và chỉ có ít người tham gia bị mất việc làm nên quỹ BHTN sẽ không được sử dụng hết vì thế cơ quan BHXH cần có kế hoạch phát triển quỹ bằng cách tham gia trên thị trường tài chính

Thông qua công tác quản lý, cơ quan BHXH nhận ý kiến phản hồi từ các đơn

vị, cá nhân để làm cơ sở kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHTN và quản lý quỹ BHTN

2.1.1.5 Khái niệm Quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng cách hiểu chung nhất:

“Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản

lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau Đối với hoạt động BHTN

Trang 13

thì quản lý bao gồm cả quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản

lý chi và quản lý nguồn quỹ từ đầu từ tăng trưởng

Quản lý chi BHTN được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động như: lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế độ BHTN nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định

Khi nói tới chi BHTN là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan LĐTB&XH, cơ quan BHXH, NLĐ và NSDLĐ Trong các mối quan hệ trên thì NLĐ và NSDLĐ là đối tượng quản lý Chủ thể quản lý chính là Nhà nước, Bộ LĐTB&XH, Sở LĐTB&XH và cơ quan BHXH các cấp từ Trung ương tới địa phương Theo Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam, cơ quan quản lý BHXH ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh

Mục tiêu của quản lý chi BHTN là làm cho quá trình tổ chức chi trả chế độ BHTN thông suốt, chi đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia hưởng BHTN ngày càng tốt hơn, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

2.1.2.Vai trò quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp

Quản lý chi BHTN có vai trò rất quan trọng trong BHTN Việc chi đúng, chi đủ cho đối tượng là hết sức cần thiết Để đảm bảo được quyền lợi của người hưởng chính sách BHTN thì việc quản lý chi BHTN có các vai trò sau:

* Đối với đối tượng thụ hưởng chính sách BHTN

Thực hiện tốt công tác quản lý chi BHTN là trực tiếp đảm bảo quyền lợi của người hưởng BHTN Đây là vai trò rõ nét nhất của công tác quản lý chi BHTN Theo qui định hiện hành, NSDLĐ và NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHTN, phải đóng BHTN thì NLĐ mới được hưởng trợ cấp của các chế độ BHTN Tiền đóng BHTN được phân phối vào quỹ BHTN Để NLĐ nhận được trợ cấp từ quỹ BHTN, các cơ quan chức năng phải thực hiện hàng loạt các hoạt động thuộc quản lý chi như: cần phải tính toán chính xác mức hưởng cho từng người, hơn nữa các hoạt động chi trả phải đảm bảo chi đúng đối

Trang 14

tượng được hưởng, chi đủ số tiền họ được hưởng và đảm bảo thời gian theo qui định Đây chính là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý chi BHTN Đạt được các chỉ tiêu này công tác quản lý chi BHTN mới đảm bảo được quyền lợi người tham gia BHTN

* Đối với hệ thống BHXH

Thực hiện tốt công tác quản lý chi BHTN sẽ góp phần quan trọng trong việc không bị thất thoát quỹ tiền mặt, tiết kiệm chi phí quản lý hành chính, góp phần cân đối quỹ BHTN

* Đối với xã hội và nền kinh tế

Thực hiện tốt công tác quản lý chi BHTN là góp phần thực hiện tốt chính sách ASXH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước, được thể hiện trong việc góp phần thực hiện tốt đảm bảo hệ số an toàn cao về đời sống cho NLĐ tham gia BHTN trong kinh tế thị trường từ đó góp phần thực hiện tốt mục tiêu phát triển của đất nước là dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Quản lý chi BHTN hiệu quả sẽ hỗ trợ kịp thời cho NLĐ khi họ gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động cũng như trong cuộc sống Từ đó góp phần tạo lập mối quan hệ gắn bó chủ - thợ làm cho mối quan hệ trên thị trường lao động trở nên lành mạnh hơn Những mâu thuẫn vốn có trong quan hệ lao động được giải tỏa về cơ bản Đây là tiền đề về mặt kinh tế kích thích tính tự giác, sáng tạo của NLĐ, góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân tức là sẽ nâng cao năng suất lao động xã hội

Đồng thời, khi quản lý chi BHTN hiệu quả sẽ làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Như đã biết, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ lớn nhất của Nhà nước, phục vụ lợi ích của toàn dân nên nếu dân gặp phải biến cố rủi ro thì Nhà nước cũng phải có trách nhiệm một phần Nhưng nhờ có BHTN hỗ trợ khắc phục rủi ro nên nhà nước sẽ chỉ cần hỗ trợ một phần nhỏ từ đó tránh được tình trạng bội chi ngân sách

Nếu chi trả các chế độ BHTN cho NLĐ được hiệu quả, tiết kiệm thì sẽ có lượng vốn lớn nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động tài chính để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy, nếu xét trên cả phương diện chi trả các chế độ BHTN cũng

Trang 15

như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHTN đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Mặt khác, BHTN thực hiện nguyên tắc tương trợ cộng đồng, lấy số đông bù

số ít nên khi tham gia BHTN, NLĐ sẽ được san sẻ rủi ro khi mất việc làm để duy trì cuộc sống, sẻ giảm bớt gánh nặng cho gia đình, góp phần cho từng tế bào của xã hội

ổn định, bền vững và phát triển Khi NLĐ có cuộc sống được đảm bảo, sẽ hạn chế được sự phân biệt đối xử, giảm bớt được khoảng cách giàu nghèo Thông qua hoạt động BHTN nói chung và hoạt động quản lý chi trả các chế độ BHTN nói riêng, Nhà nước sẽ là bộ phận trung gian đứng ra điều chỉnh thu nhập, đảm bảo hài hoà lợi ích và công bằng xã hội cho NLĐ trong mọi thành phần kinh tế Hay nói cách khác, NLĐ sẽ được công bằng hơn về quyền lợi, khi được Nhà nước thực hiện và phân phối lại thu nhập thông qua chính sách BHTN

2.1.3 Nguyên tắc quản lý quỹ BHTN

Nguyên tắc quản lý quỹ BHTN được thể hiện qua 5 nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Quản lý thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương BHXH cấp dưới có trách nhiệm thực hiện quyết toán thu, chi quỹ BHTN theo quy định gửi BHXH cấp trên để kiểm tra, xét duyệt; gửi BHXH Việt Nam thẩm định và tổng hợp trình Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thông qua, báo cáo Bộ Tài chính,

Bộ LĐTB&XH Báo cáo quyết toán thu, chi quỹ BHTN phải phản ánh đầy đủ từng khoản thu, chi theo quy định

Thứ hai: Thu và chi BHTN phải dựa trên kế hoạch Trung ương giao Kế hoạch thu quỹ BHTN được giao chỉ tiêu hàng năm, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Việc lập dự toán chi trả các chế độ BHTN hàng năm thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Dự toán chi BHTN phải phản ánh đầy đủ nội dung theo từng khoản mục, loại đối tượng, mức hưởng Dự toán phải kèm theo thuyết minh về

sự biến động tăng, giảm người hưởng BHTN và các nội dung chi khác trong năm (nếu có)

Thứ ba: Quỹ BHTN được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch

Trang 16

toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHTN

Thứ tư: Đảm bảo tính kịp thời, đúng và đủ cho đối tượng hưởng Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong quản lý quỹ BHTN để đảm bảo thực hiện mục tiêu của chính sách BHXH nói chung và chế độ BHTN nói riêng Đảm bảo tính kịp thời, đúng và đủ sẽ tạo điều kiện cho NLĐ sớm khắc phục được những biến cố gặp phải khi mất việc làm Đồng thời còn tránh được tình trạng thất thoát nguồn quỹ Thứ năm: Thực hiện nguyên tắc bảo toàn và phát triển quỹ, được Nhà nước bảo

hộ Quỹ BHTN được hình thành trên cơ sở đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước, tách quỹ độc lập với Ngân sách Nhà nước nhưng được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHTN được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHTN Khi quỹ nhàn rỗi được sử dụng đầu tư trên thị trường tài chính với mục đích phát triển quỹ từ đó giảm dần sự cấp phát từ Ngân sách Nhà nước

2.1.4 Nguyên tắc quản lý chi BHTN

Một số nguyên tắc trong quản lý chi BHTN:

* Nguyên tắc có đóng - có hưởng

Theo nguyên tắc này, những người muốn hưởng thụ từ quỹ BHTN thì đều phải tham gia đóng góp tài chính vào quỹ BHTN trong một thời gian nhất định Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động BHTN nói chung và hoạt động chi BHTN nói riêng, nhằm đảm bảo duy trì và tồn tại nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động chi trả chế độ cho người tham gia BHTN Nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia BHTN

là nguồn đóng góp quan trọng để có nguồn đảm bảo chi trả các chế độ BHTN

* Chi đúng, đủ và kịp thời

Chi đúng là đúng đối tượng tham gia BHTN Thực hiện chi đúng cho đối tượng là đảm bảo sự công bằng trong việc hưởng chế độ BHTN, loại bỏ các trường hợp gian lận để hưởng các chế độ BHTN

Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc của công tác quản lý chi trả Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng tham gia BHTN khi được hưởng TCTN thì cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ khoản trợ cấp Mặt khác,

Trang 17

nguyên tắc này cũng yêu cầu đối tượng tham gia BHTN đóng góp tài chính nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao, đóng góp ít thì được hưởng mức trợ cấp thấp Khi

đã xác định đúng mức trợ cấp phải tổ chức chi trả đủ số tiền cho người được hưởng

Để thực hiện được yêu cầu này cần thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định mức hưởng đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng được hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả

Chi kịp thời là nguyên tắc thể hiện vai trò của BHTN trong việc ổn định cuộc sống cho đối tượng Muốn vậy, phải quy định rõ ràng thời gian chi trả và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian đó Trên cơ sở quy định thời gian đó, cơ quan BHXH tổ chức các hình thức chi trả kịp thời, thuận lợi, không gây phiền hà cho đối tượng

Để thực hiện được nguyên tắc chi đúng, đủ, kịp thời đòi hỏi trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào của nền kinh tế - xã hội thì quỹ BHTN cũng phải đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ cho những người hưởng TCTN

* Nguyên tắc tập trung, thống nhất, công bằng, công khai

Quỹ BHTN phải được quản lý tập trung không phân tán để điều hoà trong toàn quốc đảm bảo nhu cầu chi tiêu kịp thời cho các đối tượng hưởng chế độ BHTN Chính sách, chế độ chi BHTN được ban hành thực hiện thống nhất trong cả nước Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không

có sự phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính, thành phần kinh tế… Phải thực hiện chế độ công khai trong hoạt động chi BHTN, có sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức xã hội

Quản lý chi BHTN tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trên không những

để quỹ BHTN tránh được thất thoát, đảm bảo nguồn lực chi trả, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia mà còn là động lực thúc đẩy niềm tin cho mọi người lao động tích cực tham gia BHTN ngày càng nhiều

2.1.5 Nội dung quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp

* Quản lý mức chi

- Quản lý mức trợ cấp: Về nguyên tắc mức chi trả TCTN cho NLĐ được hưởng chế độ BHTN phải thấp hơn thu nhập của NLĐ khi đang làm việc Việc xác

Trang 18

định mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời làm sao để họ không thể lạm dụng muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp: Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng

- Quản lý chi hỗ trợ học nghề và tìm việc làm:

+ Quản lý hỗ trợ học nghề: Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề

+Quản lý hỗ trợ tìm việc làm: Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được

tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà NLĐ đó được hưởng trợ cấp theo quy định

Cơ quan BHXH thực hiện thanh toán chi phí tư vấn, giới thiệu việc làm cho TTGTVL và chi phí hỗ trợ học nghề cho cơ sở dạy nghề, không chi trực tiếp cho NLĐ đang hưởng TCTN

- Quản lý chi đóng bảo hiểm y tế (BHYT): NLĐ đang hưởng TCTN sẽ được hưởng chế độ BHYT và phí BHYT sẽ do tổ chức BHXH trích quỹ BHTN đóng Mức đóng BHYT cho NLĐ đang hưởng TCTN thực hiện theo quy định của Luật BHYT

và các văn bản hướng dẫn Luật Thời gian đóng BHYT là thời gian chi trả TCTN theo quy định

- Chi phí quản lý BHTN: Chi phí quản lý BHTN hàng năm của BHXH Việt Nam và cơ quan LĐTB&XH các cấp được trích từ quỹ BHTN và bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước; được bố trí trong dự toán chi phí quản lý

bộ máy của BHXH Việt Nam theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

Hàng năm, cùng quy định về lập dự toán ngân sách nhà nước, Bộ LĐTB&XH căn cứ nhu cầu công việc lập dự toán chi phí quản lý BHTN của ngành LĐTB&XH gửi BHXH Việt Nam để tổng hợp trình cấp có thẩm quyền xem xét

Trang 19

quyết định theo quy định Căn cứ dự toán chi quản lý bộ máy của BHXH Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao, BHXH Việt Nam thực hiện chuyển kinh phí cho

Bộ LĐTB&XH để Bộ LĐTB&XH chuyển cho các đơn vị thực hiện

Cơ quan LĐTB&XH được cấp kinh phí quản lý từ quỹ BHTN không phải quyết toán với ngân sách cơ quan, đơn vị mình nhưng phải mở sổ kế toán riêng để theo dõi Kết thúc năm tài chính, đơn vị cấp dưới có trách nhiệm quyết toán với đơn

vị cấp trên; đơn vị cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra, xét duyệt quyết toán, tổng hợp quyết toán gửi BHXH Việt Nam để thẩm định và tổng hợp quyết toán theo quy định hiện hành

- Quản lý các khoản chi BHTN

BHXH Việt Nam quản lý quỹ BHTN theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, đúng mục đích theo quy định của pháp luật, được hạch toán riêng

BHXH các cấp có trách nhiệm thực hiện quyết toán chi quỹ BHTN theo quy định gửi BHXH cấp trên để kiểm tra, xét duyệt, gửi BHXH Việt Nam thẩm định và tổng hợp trình Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thông qua, báo cáo Bộ tài chính,

Bộ LĐTB&XH Báo cáo quyết toán chi quỹ BHTN phải phản ánh đầy đủ từng khoản, gồm: chi trả TCTN; chi hỗ trợ học nghề; chi hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; chi BHYT; chi phí quản lý quỹ

Trường hợp quỹ BHTN trong năm bội chi, BHXH Việt Nam có trách nhiệm

đề xuất các biện pháp báo cáo Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam xem xét trước khi gửi Bộ Tài chính, Bộ LĐTB&XH để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

* Quản lý đối tượng hưởng, tạm dừng, tiếp tục và chấm dứt TCTN

- Đối tượng hưởng TCTN: Là NLĐ đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp đối với hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định;

- Đăng ký thất nghiệp: Trong thời hạn 03 tháng và được tính từ ngày NLĐ bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ đến ngày sau đó của 3 tháng sau phải đăng ký

Trang 20

thất nghiệp với TTGTVL Trường hợp NLĐ đăng ký thất nghiệp quá thời hạn 3 tháng theo quy định nhưng nhiều nhất không quá 7 ngày kể từ ngày hết hạn đăng ký thất nghiệp nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

+ Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; + Do thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch của UBND xã, phường, thị trấn

- Thời điểm hưởng TCTN: Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định

- Tạm dừng hưởng TCTN: NLĐ đang hưởng TCTN hàng tháng bị tạm dừng hưởng TCTN khi không thông báo hàng tháng với TTGTVL về việc tìm kiếm việc làm

- Việc tiếp tục hưởng TCTN hàng tháng sẽ được thực hiện vào tháng tiếp theo trong trường hợp sau: NLĐ vẫn trong khoảng thời gian hưởng TCTN theo quy định

và tiếp tục thực hiện thông báo hàng tháng với TTGTVL về việc tìm kiếm việc làm

- Đối tượng chấm dứt hưởng TCTN: Người đang hưởng TCTN bị chấm dứt hưởng TCTN trong các trường hợp sau:

+ Hết thời hạn hưởng TCTN

+ Có việc làm

+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự

+ Hưởng lương hưu

+ Sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức TTGTVL giới thiệu mà không

Trang 21

+ Bị tòa án tuyên bố mất tích

+ Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù

Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp trên được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp

* Quy trình hoạt động quản lý chi BHTN

BHXH huyện là cơ quan tổ chức việc chi trả các chế độ BHTN cho NLĐ tham gia BHTN BHXH huyện thực hiện chi trả trực tiếp hoặc hợp đồng Bưu điện huyện thông qua các đại diện chi trả xã để chi trả các chế độ BHTN cho người hưởng BHTN Việc chi trả phải thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ BHTN cho người hưởng BHTN, đảm bảo an toàn tiền mặt; chấp hành đúng chế độ kế toán, báo cáo thống kê; thực hiện thanh quyết toán và quản lý lưu giữ chứng từ kế toán theo quy định; cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi trả BHTN khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

BHXH huyện có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chi trả và quản lý người hưởng TCTN của đại diện chi trả xã, phường theo quy định BHXH huyện báo cáo BHXH tỉnh những đối tượng phải thu hồi do có quyết định tạm dừng hoặc những trường hợp vi phạm quy định hưởng TCTN

BHXH huyện phối hợp cùng BHXH tỉnh và Sở LĐTB&XH, TTGTVL tỉnh

để thực hiện quy trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ được nhanh chóng, thuận tiện, kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ BHTN cho người hưởng BHTN

Khi có danh sách chi trả TCTN thì BHXH huyện gửi danh sách cho các Bưu điện huyện để gửi cho các đại diện chi trả xã Các cán bộ xã căn cứ vào danh sách

để chi trả cho người lao động đúng người đúng số tiền trong danh sách của BHXH huyện lập

* Công tác lập dự toán chi BHTN

Theo hướng dẫn của BHXH tỉnh, hàng năm BHXH huyện lập dự toán chi

Trang 22

BHTN cho đối tượng hưởng trên địa bàn huyện Trong năm thực hiện, nếu có phát sinh chi vượt kế hoạch được duyệt, BHXH huyện phải báo cáo, giải trình để BHXH tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo chi trả kịp thời cho người hưởng BHTN

* Tổ chức thực hiện chi

Trách nhiệm của TTGTVL:

- Hướng dẫn NLĐ bị thất nghiệp kê khai các thông tin theo mẫu, kiểm tra, rà soát thông tin mà NLĐ khai Tiếp nhận bản đăng ký thất nghiệp của NLĐ

- Tư vấn việc làm và hướng dẫn cho NLĐ bị thất nghiệp hiểu rõ về thủ tục

hồ sơ, thời hạn nộp hồ sơ BHTN và quy trình hưởng TCTN

- Giám đốc TTGTVL tỉnh dự thảo quyết định hưởng TCTN sau đó trình Giám đốc Sở LĐTB&XH cùng hồ sơ hưởng BHTN Khi có Quyết định thì gửi cho BHXH tỉnh 1 bản và trả NLĐ 1 bản

Trước ngày 25 hàng tháng, lập danh sách người hưởng TCTN, đề nghị chi trả hỗ trợ tìm việc làm kèm theo phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm, hồ sơ chứng từ theo quy định của người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm, chuyển đến BHXH tỉnh nơi quản lý chi trả

Trách nhiệm của Giám đốc Sở LĐTB&XH

Kiểm tra hồ sơ, ký quyết định hưởng TCTN và chuyển cho TTGTVL

Trách nhiệm của BHXH tỉnh:

Hàng tháng, phòng Chế độ BHXH căn cứ vào danh sách và các quyết định, thông báo do TTGTVL chuyển sang, gửi danh sách và quyết định về BHXH huyện, thị xã và thành phố để tổ chức chi trả

Tiếp nhận báo cáo số liệu của BHXH huyện về việc chi trả TCTN hàng tháng, hàng quỹ, hàng năm

Báo cáo BHXH Việt Nam về số chi TCTN hàng tháng, hàng quỹ, hàng năm Chuyển toàn bộ dữ liệu chi BHTN cho phòng Công nghệ thông tin vào ngày cuối tháng

Phòng Kế hoạch-Tài chính tiếp nhận các mẫu biểu quy định để kiểm tra và cấp kinh phí cho BHXH các huyện, tổng hợp số tiền thu hồi của BHXH huyện

Trang 23

Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội huyện

LĐTB&XH thì làm căn cứ để thực hiện chi trả trợ cấp

- Tiếp nhận sổ BHXH từ người hưởng TCTN để BHHX huyện xác nhận vào

sổ BHXH việc hưởng chế độ trợ cấp BHTN.Nhận lại sổ BHXH, thẻ BHYT để trả cho người hưởng BHTN

- BHXH huyện có nhiệm vụ chi trả TCTN tháng đầu tiên còn những tháng tiếp theo chi cùng đối tượng chi trả lương hưu tại đại diện chi trả xã

Việc tổ chức chi trả TCTN, tạm ứng, quyết toán, cấp tiền chi trả, quản lý người hưởng BHTN được thực hiện tương tự quy định quản lý, chi trả các chế độ BHXH bắt buộc Số tiền đã chi trả sai thực hiện thu hồi kinh phí chi BHTN, lập danh sách thu hồi kinh phí báo cáo BHXH tỉnh

Chi hỗ trợ học nghề:

Hàng tháng, căn cứ vào danh sách người thất nghiệp hưởng hỗ trợ học nghề

do BHXH huyện lập, đối chiếu với danh sách người thất nghiệp đề nghị chi trả hỗ trợ học nghề do Cơ sở đào tạo nghề chuyển đến, lập danh sách người thất nghiệp được duyệt chi hỗ trợ học nghề; chuyển trả Cơ sở đào tạo nghề để lưu trữ và chi trả kinh phí hỗ trợ học nghề cho Cơ sở đào tạo nghề, ghi vào sổ chi BHTN

Trách nhiệm của người hưởng BHTN

Trang 24

ủy quyền lĩnh thay cho bưu điện xã hoặc cơ quan BHXH nơi trực tiếp chi trả, nếu thực hiện sai phải bồi hoàn cho cơ quan BHXH Khi đến nhận TCTN phải ký nhận vào danh sách hưởng TCTN

Người hưởng hỗ trợ học nghề:

Ký xác nhận vào danh sách người thất nghiệp đề nghị chi trả hỗ trợ học nghề

do Cơ sở đào tạo nghề lập

Người hưởng hỗ trợ tìm việc làm:

Khi đến tư vấn, hỗ trợ tìm việc làm thực hiện đăng ký tìm việc làm theo quy định

Trách nhiệm của Cơ sở Đào tạo nghề

Trước ngày 25 hàng tháng, lập danh sách người thất nghiệp đề nghị chi trả

hỗ trợ học nghề có đầy đủ chữ ký của người hưởng TCTN đang học nghề chuyển BHXH huyện nơi quản lý chi trả

* Nội dung và mức chi

- Chi trả TCTN được thực hiện như sau:

Căn cứ quyết định của Sở LĐTB&XH về chi trả TCTN, cơ quan BHXH kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ theo dõi việc đóng, hưởng BHTN về đối tượng được hưởng trợ cấp, mức trợ cấp, thời gian trợ cấp và thực hiện chi trả TCTN cho người được hưởng

- TCTN hàng tháng: Mức TCTN hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ theo quy định của pháp luật

Trang 25

tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng

- Chi hỗ trợ học nghề được thực hiện như sau:

Căn cứ quyết định của Sở LĐTB&XH về hỗ trợ học nghề cho NLĐ đang hưởng TCTN, cơ quan BHXH thực hiện thanh toán chi phí hỗ trợ học nghề cho cơ

sở dạy nghề, không chi trực tiếp cho NLĐ đang hưởng TCTN Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động tối đa 01 triệu đồng/người/tháng Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, tùy theo từng nghề, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế theo quy định của cơ sở dạy nghề

Trường hợp người lao động tham gia khóa học nghề có những ngày lẻ không

đủ tháng theo quy định cơ sở dạy nghề thì số ngày lẻ đó được tính tròn 1 tháng để xác định mức hỗ trợ học nghề

Trường hợp người lao động tham gia khóa học nghề có mức chi phí học nghề cao hơn mức hỗ trợ học nghề theo quy định thì phần vượt quá mức hỗ trợ học nghề

do người lao động tự chi trả

- Chi hỗ trợ tìm việc làm theo được thực hiện như sau:

Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua trung tâm dịch vụ việc làm Kinh phí thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm của trung tâm dịch vụ việc làm được giao khoán theo số lượng người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp của năm liền trước và thực hiện thanh quyết toán theo quy định trên

cơ sở thực tế số lượng người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp Mức chi hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm thực hiện theo quy định của pháp luật

- Chi đóng BHYT được thực hiện như sau:

Cơ quan BHXH trích quỹ BHTN để đóng BHYT cho NLĐ đang hưởng TCTN Mức đóng BHYT được thực hiện theo quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn Luật Thời gian đóng BHYT là thời gian chi trả TCTN theo quy định

* Thanh tra, kiểm tra, giám sát thu – chi BHTN

Căn cứ chức năng nhiệm vụ của ngành BHXH mà công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về BHTN được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất,

Trang 26

nhằm phát hiện những sai phạm về BHTN, từ đó xử lý nghiêm các vi phạm và có giải pháp khắc phục

Để tránh hiện tượng chi trả sai đối tượng và mức hưởng TCTN Trong quá trình chốt sổ BHTN phải được các cán bộ BHXH cấp huyện kiểm tra, giám sát thường xuyên, tránh tình trạng chốt sai, chốt không đúng đối tượng dẫn đến giải quyết sai chế độ

Cùng với hoạt động kiểm tra đối tượng tham gia và đối tượng hưởng BHTN, Phòng Kiểm tra cơ quan BHXH tỉnh còn kiểm tra hoạt động cán bộ tham gia quản

lý thu – chi BHTN của BHXH huyện Mục đích của công tác kiểm tra là nhằm phát hiện ra những sai sót mà các cán bộ gặp phải trong quá trình quản lý như chốt sai

sổ, thực hiện công việc sai quy định hay lạm dụng chức vụ gây khó khăn cho chủ thể, cá nhân đến đóng, hưởng hoặc hỏi đáp về chế độ

* Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện quản lý BHTN

Dựa trên kết quả quản lý BHTN từ những kỳ trước, bao gồm mọi hoạt động từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện sẽ đánh giá được hiệu quả của công tác quản lý BHTN từng thời kỳ Đây là cơ sở quan trọng để rút ra được những kết quả để duy trì

và phát huy đồng thời cũng nhận biết được những hạn chế trong công tác quản lý để

có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp

Sau mỗi quý cơ quan BHXH các cấp phải tiến hành tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện BHTN tại đơn vị Mục đích của hoạt động này là đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý thu - chi so với kế hoạch đã đề ra Từ đó biết được hiệu quả công tác quản lý trong thời gian vừa qua, rút ra được những hạn chế, tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục trong thời gian tới Đồng thời duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được

Đặc biệt, còn thu thập đánh giá những thông tin phản hồi từ BHXH các cấp và đặc biệt là đơn vị tham gia và đối tượng thụ hưởng để từ đó kiến nghị lên cơ quan BHXH cấp cao nhằm hoàn thiện hơn nữa chế độ BHTN

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp

Đối với công tác quản lý BHXH nói chung hay quản lý chi BHTN nói riêng thì việc xem xét các yếu tố tác động của môi trường tới hoạt động của công tác quản lý là rất cần thiết Các tác động của môi trường thường được chia thành hai

Trang 27

loại là tác động của môi trường ngoài hệ thống và tác động từ môi trường trong hệ thống Nói cách khác, công tác quản lý chi BHTN có đạt được mục tiêu đề ra hay không phụ thuộc vào nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan

và cả về quy mô chế độ thực hiện Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế sẽ làm cho thu nhập của NLĐ tăng, nhờ đó NLĐ sẵn sàng tham gia BHTN Như vậy khi kinh tế - xã hội phát triển sẽ cần phải tăng cường hơn công tác quản lý BHTN

- Sự điều chỉnh về chính sách BHTN sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến đối tượng quản lý chi của BHTN Sự điều chỉnh về chính sách thường ảnh hưởng đến mức hưởng của người lao động

- Chính sách tiền lương của Chính phủ: Nếu chính sách tiền lương của Chính phủ được điều chỉnh liên tục thì công tác quản lý chi BHTN cũng phải thay đổi thường xuyên bởi khi đó mức đóng của đối tượng tham gia BHTN thay đổi từ đó mức hưởng chế độ cũng phải thay đổi theo

- Nhận thức của NLĐ, NSDLĐ về BHTN: Khi NLĐ và NSDLĐ cũng như toàn xã hội nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của BHTN thì họ sẽ có ý thức

tự giác tham gia BHTN Điều này giúp người lao động được hưởng hết quyền lợi của chính sách BHTN

* Nhóm nhân tố chủ quan

Đây là nhóm nhân tố thuộc về cơ quan BHXH huyện, nhóm nhân tố này bao gồm:

Trang 28

- Trình độ của cán bộ trong ngành BHXH huyện: Nếu trình độ của cán bộ trong ngành BHXH cao và đồng đều thì công tác phối hợp trong quản lý sẽ đạt được hiệu quả cao, còn nếu trình độ cán bộ thấp, tinh thần trách nhiệm công việc chưa cao thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý chi BHTN như chi trả sai đối tượng, chi trả chậm vừa làm ảnh hưởng đến thời gian chi trả vừa gây thất thoát nguồn quỹ Đồng thời, nếu đội ngũ cán bộ cơ quan BHXH trẻ thì tác phong làm việc

sẽ nhanh nhẹn, dễ dàng nắm bắt và thích ứng được sự biến đổi từ chính sách nhưng kinh nghiệm không nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện quản lý BHTN Đội ngũ cán bộ lâu năm sẽ có nhiều kinh nghiệm trong giải quyết các công việc nhưng lại chậm thích ứng với những biến động

- Cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý: Cơ sở vật chất kỹ thuật càng đầy đủ

và hiện đại thì công tác quản lý chi BHTN càng thuận lợi, thực hiện càng có hiệu quả

Cơ sở vật chất thiếu thốn, lạc hậu chắc chắn sẽ phải đòi hỏi công tác quản lý thủ công nhiều từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, chắc chắn sẽ khó có thể đạt được tính kịp thời trong quản lý

- Sự quan tâm của cán bộ lãnh đạo cơ quan BHXH tỉnh và lãnh đạo BHXH huyện: Nếu cán bộ lãnh đạo của cơ quan BHXH thường xuyên quan tâm, có những động viên khích lệ kịp thời sẽ nâng cao được hiệu quả công việc toàn đơn vị Song cũng cần kiểm điểm nghiêm khắc với những sai phạm của cấp dưới nhằm tạo sự công bằng Muốn vậy, lãnh đạo cơ quan BHXH huyện phải thường xuyên theo dõi sát sao công việc của cấp dưới có như vậy thì công tác quản lý mới được nâng cao

- Công tác tuyên truyền: Là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến quản lý chi BHTN Đây là một trong những chính sách mới nên muốn NLĐ và NSDLĐ tự giác tham gia đồng thời giảm thiểu được các hành vi trục lợi quỹ thì cơ quan BHXH phải thường xuyên tuyên truyền nội dung cũng như ý nghĩa của chính sách đối với cuộc sống NLĐ Thực tế cho thấy rằng không phải chi phí cho công tác tuyên truyền cao thì sẽ đạt được hiệu quả cao mà phải chú trọng tới đối tượng của công tác tuyên truyền Ở đây, cần phải xác định rõ rằng, đối tượng của công tác tuyên truyền phải là NLĐ, NSDLĐ vì vậy mọi hoạt động tuyên truyền phải được thực hiện ở những nơi có NLĐ và NSDLĐ hoặc nếu không thì cũng phải gây được sự chú ý từ họ

Trang 29

- Tập huấn cho cán bộ BHXH: Chính sách BHTN mặc dù mới được áp dụng

từ năm 2009 nhưng cho tới nay đã có rất nhiều văn bản mới ra đời để bổ sung sửa sửa đổi cho các văn bản đã ban hành trước đó Chính vì vậy cơ quan BHXH tỉnh phải thường xuyên cập nhật sự thay đổi và tập huấn cho cán bộ BHXH trên địa bàn để các cán bộ hiểu được bản chất của chính sách từng thời kỳ, có như vậy mới có thể giải đáp, tổ chức thực hiện quản lý được chính xác, nhanh chóng và tránh được những sai sót không đáng có

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng thất nghiệp và thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Luật BHXH ban hành năm 2006 trong đó có Chương V với 8 Điều (từ Điều

80 đến 87) về Bảo hiểm thất nghiệp và Mục 3 Chương VI với 4 Điều (từ Điều102 đến Điều 105) về Quỹ BHTN và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 đã xác lập sự cần thiết và chín muồi của việc triển khai chính sách BHTN ở nước ta Điều

đó cũng có nghĩa là tạo thêm một công cụ bảo đảm của xã hội nhằm chống lại những rủi ro do mất việc làm gây ra đối với NLĐ trong nền kinh tế thị trường BHTN nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ thất nghiệp, bên cạnh đó BHTN còn hỗ trợ họ trong việc học nghề, tìm việc làm và chi trả BHYT Chính sách BHTN là sự giúp đỡ hữu hiệu đối với NLĐ trong thời điểm gặp khó khăn để họ có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động Tuy nhiên, do BHTN là chính sách mới, lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam nên trong quá trình thực hiện còn nhiều tồn tại và gặp nhiều khó khăn Thất nghiệp đang là một vấn nạn mà xã hội đang phải đối mặt Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm trong nước Có rất nhiều nghiên cứu về việc làm tại Việt Nam cho thấy mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta không cao nhưng nhiều NLĐ hầu như không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận những công việc với thu nhập thấp và bất ổn định

Có thể thấy chính sách BHTN là một chính sách mới nhưng đã sớm đi vào cuộc sống, góp phần giải quyết ASXH trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới được NLĐ, NDSLĐ,

Trang 30

các cấp, các ngành, xã hội và dư luận quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được vẫn còn tồn tại một số vướng mắc phát sinh cần kịp thời khắc phục như: đối tượng tham gia BHTN còn hạn chế, xác định đối tượng tham gia bảo BHTN trong các doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước còn khó khăn, thủ tục chi trả TCTN còn phức tạp, nhiều đối tượng còn lợi dụng chính sách BHTN để trục lợi quỹ BHTN

2.2.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quản lý Bảo hiểm thất nghiệp

* Kinh nghiệm của Chi lê

Chile đã xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) từ năm 1937, là nước đầu tiên ở Tây bán cầu cải cách hệ thống Bảo đảm xã hội và là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách theo tài khoản đầu tư cá nhân Đó cũng là một con đường mới của một nước đầu tiên sử dụng tài khoản riêng trong hệ thống BHTN

Hệ thống BHTN chuyển đổi hiện nay của Chile bắt đầu từ tháng 10/2002, được xây dựng trên cơ sở sự sở hữu tài khoản cá nhân cho tình trạng ngừng việc và làm cơ sở cho việc chi trả

Chương trình BHTN mới sẽ được đóng góp như sau: Cơ quan quản lý BHTN

sẽ trích từ thuế lương để người lao động đóng góp 0,6% tiền lương của họ vào tài khoản riêng của người lao động, đồng thời chủ sử dụng lao động đóng 2,4 vào tài khoản riêng và tài khoản chung (trong đó 1,6% vào tài khoản riêng của người lao động và 0,8% vào tài khoản chung) Mỗi tài khoản riêng sẽ đại diện cho một người lao động và tài khoản này sẽ không được rút ra, cho tới khi người lao động chủ của

nó bị thất nghiệp hoặc về hưu Người lao động có thể rút tiền ngay khi họ chấm dứt công việc hoặc bị cho nghỉ việc từ công việc cuối cùng của họ từ nguồn tài khoản riêng Điều đó tạo cho người lao động linh hoạt trong việc chuyển đổi chỗ làm việc Điều kiện về thời gian đóng BHTN vẫn phải kéo dài đủ 12 tháng

Thời gian chờ đợi để được nhận tiền thất nghiệp là một tháng Thời gian này được quy định, nhằm thực hiện một loạt các đặc trưng chỉ định nhằm thúc đẩy sự cần thiết tìm việc làm mới Thời gian chờ đợi này được coi như thời gian”đồng chi trả” trong hoạt động bảo hiểm Việc chi trả tháng đầu tiên của người thất nghiệp

Trang 31

hoàn toàn do người thất nghiệp từ nguồn tiền riêng Một tháng chờ đợi này, người lao động phải tích cực thực hiện các kế hoạch tái hoà nhập việc làm vì BHTN không trả tiền

Thời gian hưởng thất nghiệp kéo dài nhiều nhất là 5 tháng, tháng đầu sẽ chi trả 50% tỷ lệ tiền lương (nhằm hạn chế sự kéo dài tối đa) Các tháng kế tiếp sẽ giảm

đi mỗi tháng là 5% cho tới 30% vào tháng thứ năm

Tài khoản BHTN là một hình thức tài chính của BHTN theo phương thức lập quỹ Ở đây, người ta đề cập đến một hệ thống tài khoản cá nhân, mà ở đó người lao động đóng góp phần của mình vào tài khoản và cũng sẽ rút từ tài khoản này tiền thất nghiệp trong trường hợp bị thất nghiệp Số dư tài khoản đã đóng góp theo kiểu tiết kiệm sẽ được chi trả toàn bộ vào cuối cuộc đời lao động của họ

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng lập ra một nguồn quỹ dự trữ cho những người lao động nào, mà tài khoản tiết kiệm cá nhân của họ không đủ để chi trả khi thất nghiệp Hệ thống BHTN mới ở Chile, thực chất là kế hoạch tiết kiệm bắt buộc, mà

ở đó người lao động nhận được lợi thế riêng do phương pháp tài chính Người lao động sẽ có lợi nếu họ không khi nào bị thất nghiệp Đo tài chính của BHTN theo phương thức tiết kiệm cá nhân nên đã tạo động lực thúc đẩy cho người lao động có gắng sớm tìm được việc làm mới

Hệ thống BHTN mới dựa vào hệ thống tài chính lập quỹ có hiệu quả hơn hẳn

so với hệ thống tài chính “ tọa chi - tọa thu” trước đây Điều đó thể hiện rõ trong các nội dung quản lý tài chính của chương trình BHTN mới: việc thu và chi từ các tài khoản cá nhân; cập nhật các thông tin thường xuyên, nếu người lao động chuyển đổi chủ sử dụng lao động; tình trạng tài khoản cá nhân theo mức độ đầu tư và sự theo dõi dòng tiền vào - ra của quỹ chung

Bởi tất cả những lợi ích mà chính sách mới trên ,có thể nói đây là mô hình đáng để cho chúng ta xem xét và học tập

* Kinh nghiệm của Đan Mạch

Năm 1907, Đan Mạch đã đưa ra các chương trình BHTN đầu tiên và được xây dựng trên mối quan hệ rất chặt chẽ với các tổ chức công đoàn Hệ thống Ghen là tên gọi dành cho hệ thống BHTN, tại đó các tổ chức công đoàn chịu trách nhiệm chính trong việc chi trả các phúc lợi xã hội, đặc biệt là TCTN chứ không phải Chính phủ

Trang 32

hay NSDLĐ mặc dù quỹ này được Chính phủ hỗ trợ Nói chung những người nhận BHTN phải đăng ký việc làm, luôn sẵn sàng, đủ khă năng, tích cực tìm việc làm và thường xuyên thông báo cho cơ quan chức năng hiện trạng hợp pháp của mình trong việc tiếp tục hưởng TCTN Việc tham gia BHTN là tự nguyện đối NLĐ Vào năm

2003, có tới 83% dân số Đan Mạch tham gia BHTN NLĐ được hưởng BHTN khi tham gia một chương trình BHTN được tài trợ bởi các công đoàn; NLĐ không nhất thiết phải là thành viên của công đoàn đó nhưng vẫn có thể tham gia BHTN ở chương trình của công đoàn trong bất cứ trường hợp nào Phải tham gia chương trình BHTN được ít nhất 1 năm, đóng đủ BHTN đủ 52 tuần trong 3 năm trước đó Khi một NLĐ

đã được hưởng TCTN ở mức tối đa, thì người đó phải làm việc tối thiểu 26 tuần nữa mới áp dụng đủ yêu cầu cho một thời gian bảo hiểm mới

Thời gian được hưởng TCTN tối đa là 5 năm NLĐ có thể nhận 2 năm tiền TCTN trong khoảng thời gian là 3 năm; tuy nhiên tiền TCTN sẽ dừng khi NLĐ đủ

65 tuổi Số tiền TCTN được hưởng là 90% của thu nhập trước đó sau khi trừ 8% đóng bảo hiểm xã hội Người già trên 60 tuổi với 20 năm tham gia đóng bảo hiểm

có thể được về hưu sớm và nhận trợ cấp sau 2,5 năm; trên 63 tuổi được nhận mức TCTN tối đa cho đến khi 67 tuổi Thuận lợi của mô hình này là các quỹ BHTN riêng biệt; việc thu quỹ BHTN, xét hưởng BHTN và thanh toán tiền TCTN là một

cơ chế hiệu quả và tập trung Khó khăn của Đan Mạch là cho dù BHTN tự nguyện, Chính phủ vẫn phải tiếp tục trợ cấp các chương trình Nhận thức được hưởng chế độ BHTN cao sẽ làm giảm ý muốn tìm việc làm của NLĐ Một khó khăn lớn của quỹ bảo hiểm riêng biệt là NLĐ lương thấp hay thời vụ có thể không tham gia được BHTN; bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ thất nghiệp sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng hơn do chế độ BHTN là tự nguyện Tỷ lệ thất nghiệp của Đan Mạch tính tới thời điểm tháng 7/2011 là 3,80%

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp

Qua thực tiễn và nghiên cứu việc thực hiện chính sách BHTN của một số nước, xin rút ra một số kinh nghiệm như sau:

Đối tượng, phạm vi tham gia BHTN: Việc xác định người lao động thuộc đối tượng tham gia BHTN con gặp khó khăn, đặc biệt là các chức danh lãnh đạo trong

Trang 33

công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp có vốn nước ngoài…do các quy định về đối tượng này thiếu cụ thể , chưa rõ ràng; đối với trường hợp người lao động làm việc theo mùa vụ, làm một công việc nhất định với thời hạn ngắn

Các chế độ BHTN: Việc quy định một khoảng thời gian đóng BHTN dài được hưởng cùng một thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp (ví dụ: đóng từ đủ 12 tháng đến

36 tháng đều được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp) là không phù hợp dễ dẫn đến lạm dụng quỹ

Về trình tự, thủ tục tham gia BHTN: quy định trong thời hạn, trong vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp phải nộp hồ sơ hưởng BHTN là tương đối ngắn, trong điều kiện việc chốt sổ BHXH gặp khó khăn, xác nhận của NSDLĐ không kịp thời; hơn nữa, nhiều trường hợp NLĐ chưa muốn đăng ký thất nghiệp ngay do muốn tìm việc làm, không có nhu cầu hưởng TCTN hoặc vì những lý do cá nhân khác

Về trách nhiệm NSDLĐ: chưa quy định cụ thể trách nhiệm của NSDLĐ trong việc thông báo với cơ quan lao động khi có sự biến động về lao động Đây là vấn đề rất quan trọng trong việc quản lý và thực hiện chính sách BHTN

Về bộ máy thực hiện BHTN: phương tiện vật chất và con người còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhất là phải có hệ thống phần mềm BHTN riêng kết nối giữa Sở LĐTB&XH và cơ quan BHXH để quản lý tốt đối tượng tham gia và thụ hưởng chế

độ này được chặt chẽ

Chính sách BHTN cần phải gắn chặt với chính sách thị trường lao động như các chương trình tư vấn, giới thiệu việc làm; đào tạo và đào tạo lại nghề cho người lao động

Mức hưởng TCTN bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp dễ gây cho NSDLĐ và NLĐ hợp tác để lợi dụng quỹ BHTN là đóng BHTN cho NLĐ trong vòng 6 tháng trước khi nghỉ việc ở mức cao để được hưởng mức TCTN cao

Sau 6 năm từ khi thực hiện chính sách BHTN đối với NLĐ đã bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập Đặc biệt đang có sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền lợi của NLĐ có mức thu nhập thấp với NLĐ có mức thu nhập cao Nếu giữ nguyên cách tính hiện tại sẽ tạo điều kiện cho những người đóng mức BHTN tối đa "trục lợi" NLĐ tự

Trang 34

chấm dứt hợp đồng “nhảy” việc sang nơi khác những vẫn được hưởng TCTN, đó là

do những quy định hưởng BHTN được cho là kẽ hở để NLĐ lợi dụng

- Tồn tại trong công tác quản lý:

Hệ thống quản lý về khai báo tình trạng việc làm còn hạn chế chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp “ảo”, NLĐ có thể đang làm việc nhưng vẫn hưởng TCTN Hiện nay, đang thiếu hệ thống liên kết quản lý bằng phần mềm giữa BHXH các tỉnh với nhau để trao đổi thông tin Chính vì thế muốn kiểm tra NLĐ đã đăng ký nhận TCTN ở địa phương này nhưng lại di chuyển sang địa phương khác tìm việc mới Thực tế đã xuất hiện NLĐ chấm dứt HĐLĐ ở đơn vị này để chuyển sang đơn vị khác làm việc hoặc trước thời gian ngắn đủ điều kiện nghỉ hưu nhưng vẫn được giải quyết chế độ BHTN Ngoài ra, tình trạng lạm dụng quỹ BHTN đã xảy ra ở một số DN, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố lớn và các khu công nghiệp nhiều lao động

Có NLĐ đóng BHTN từ 12 tháng trở lên đã cùng NDSLĐ thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ để hưởng TCTN sau đó lại đi làm ở DN khác, thậm chí là về lại ngay chính

DN đó Nhìn từ mặt trái của chính sách TCTN, chính sách này không những không kích thích được NLĐ tìm việc mà còn khiến mỗi năm hơn nửa triệu người lao động rút ra khỏi thị trường lao động

- Giải pháp tăng cường công tác quản lý:

Để tránh tình trạng lạm dụng quỹ BHTN như hiện nay, BHXH Việt Nam đã hạn chế mức hưởng TCTN tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

Trường hợp phát hiện ra hưởng BHTN sai, cơ quan BHXH chỉ ngừng chi trả trợ cấp, đồng thời truy thu lại số tiền mà những người này đã hưởng, vì vậy nên có chế tài xử lý cụ thể để hạn chế tình trạng này xảy ra

Việc quy định cả 2 cơ quan là BHXH, LĐTB&XH cùng tham gia vào quy trình chi trả BHTN gây khó khăn cho chính các cơ quan và cho cả NLĐ Cơ quan

Trang 35

BHXH chỉ thực hiện việc thu và chi BHTN; còn việc tiếp nhận hồ sơ, xét duyệt được chi trả BHTN hay không lại do cơ quan Sở LĐTB&XH thực hiện Để khắc phục việc chồng chéo, tiết kiệm cho xã hội, nên giao cho một cơ quan thực hiện Có thể chọn phương án cơ quan BHXH chịu trách nhiệm thu, tiếp nhận, giải quyết, chi trả trợ cấp; sau đó chuyển danh sách NLĐ sang cơ quan LĐTB&XH để hỗ trợ học nghề, tìm việc làm (BHXH quyết toán tiền cho cơ quan LĐTB&XH) Phương án khác là cơ quan BHXH chỉ thu và chuyển hết sang cơ quan LĐTB&XH kèm với sổ BHXH, cơ quan LĐTB&XH làm các khâu còn lại từ tiếp nhận đến chi trả trợ cấp, hỗ trợ học nghề Mục đích là làm sao tiết kiệm cho xã hội, làm gọn nhẹ bộ máy và bảo đảm chức năng của mỗi ngành là quản lý nhà nước (LĐTB&XH) hoặc tổ chức thực hiện (BHXH) Thời gian đăng ký thất nghiệp dài tại TTGTVL sẽ tạo tâm lý yên tâm để NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm, thay vì phải nhanh chóng đăng ký thất nghiệp, đồng thời NLĐ có thời gian cân nhắc nên hưởng TCTN không, hay bảo lưu quá trình tham gia BHTN

Trang 36

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quế Võ

3.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Quế Võ là huyện nằm phía Đông của tỉnh Bắc Ninh, cách thành phố Bắc Ninh 10 km, với diện tích tự nhiên 154,85km2; Phía Bắc tiếp giáp với huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Tiên Du, phía Nam giáp huyện Gia Bình và Thuận Thành, phía Đông giáp thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Vị trí địa lý của huyện Quế Võ 3 mặt giáp sông (Sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình), có quốc lộ 18A, tỉnh lộ 279, cùng hệ thống đường liên xã tạo thành hệ thống đường giao thông thủy, bộ thuận lợi, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện, cũng như giao lưu văn hóa giữa các vùng miền

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Quế Võ

Nguồn:Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

Trang 37

Địa hình cơ bản của Quế Võ là đồng bằng, có một số đồi xót và có một diện tích nhỏ rừng trồng

Trải qua quá trình chuyển đổi địa chất và sự xâm thực bào mòn kết hợp với

sự biến đổi về dòng chảy của hệ thống sông ngòi, cấu tạo thổ nhưỡng của Quế Võ là loại phù xa tương đối điển hình còn sót lại nhiều tàn dư của các thềm kiến trúc cao thấp khác nhau và phân chia như sau: đất phù sa được bồi tụ hàng năm phân bổ từ

đê sông Đuống, tập trung khá nhiều ở Đào Viên, Việt Thống, Chi Lăng, Hán Quảng, Yên Giả, Cách Bi, Đào Viên, Ngọc Xá

Quế Võ có nhiều dòng sông chảy qua: sông Đuống được đào nắn từ thời Lý đến thời Nguyễn để nối sông Hồng với sông Thái Bình, có tổng lượng nước gấp 3 lần lượng nước các sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam gộp lại Do lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao vào mùa nước (1m3 nước cho 2,8 kg phù sa) nên đã tạo ra được nhiều cánh đồng mầu mỡ ven sông Sông Cầu bắt đầu từ vùng núi Việt Bắc chảy qua Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh vào Quế Võ tới Phả Lại, tổng chiều dài đoạn qua địa phương từ xã Kim Chân đến Phả Lại, xã Đức Long dài hàng chục cây số Đây là những điều kiện thuận lợi để Quế Võ phát triển kinh tế- xã hội Đơn vị hành chính trực thuộc huyện Quế Võ hiện có 20 xã , 01 thị trấn trực thuộc huyện Bao gồm:

Trang 38

3.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tình hình phát triển kinh tế của huyện Quế Võ

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Quế Võ năm 2014

1 Tổng giá trị sản xuất đạt (giá cố định) Tỷ đồng 3.681,20

1.1 Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp Tỷ đồng 536,5

1.2 Giá trị sản xuất công nghiệp - XDCB Tỷ đồng 2.148,76

3 Tỷ trọng và cơ cấu kinh tế

4 Thu nhập bình quân đầu người Tr.đồng/người 27,1

6 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Tỷ đồng 110,86

8 Giá trị sản xuất trên 1ha canh tác đạt Triệu đồng 75,8

Nguồn: UBND huyện Quế Võ

Trang 39

Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh nói chung và huyện Quế Võ nói riêng đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Trong những năm vừa qua kinh tế huyện Quế Võ tăng trưởng bình quân 14,8%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sản xuất lương thực liên tục được mùa, an ninh lương thực luôn được giữ vững; Công nghiệp tăng trưởng với tốc độ cao Các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề được đầu tư xây dựng (Hiện tại huyện Quế Võ có 04 khu công nghiệp tập trung đó là Khu công nghiệp Quế Võ I với diện tích 600ha; Khu công nghiệp Quế

Võ II với diện tích 517ha; Khu công nghiệp Quế Võ III với diện tích 521 ha; Khu công nghiệp Đại Kim với diện tích 742 ha; Cụm công nghiệp Nhân hòa)

Cùng với phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư không ngừng được nâng cao Những nét đẹp của người Kinh Bắc được giữ gìn và phát huy cùng với lối sống văn hóa mới - văn minh hiện đại; bộ mặt của nông thôn ngày càng được đổi mới

3.1.2 Đặc điểm về cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ

3.1.2.1 Vị trí, chức năng của Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ

Theo Điều 5 Quyết định số 4857/QĐ-BHXH ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương thì Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ có vị trí, chức năng sau:

Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ là một cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và quy định của pháp luật

Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước của Uỷ ban nhân dân huyện Quế Võ Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ có tư cách pháp nhân,

có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng

Trang 40

3.1.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ

Theo Điều 6 Quyết định số 4857/QĐ-BHXH ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương thì Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Xây dựng, trình Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh kế hoạch phát triển Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ dài hạn, ngắn hạn và chương trình công tác năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt

- Tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo phân cấp

- Tổ chức cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho những người tham gia bảo hiểm theo phân cấp

- Tổ chức thu các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các

tổ chức và cá nhân theo phân cấp

- Hướng dẫn và tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo phân cấp

- Tổ chức chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế do phân cấp; từ chối việc đóng hoặc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không đúng quy định

- Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí và tài sản theo phân cấp

- Tổ chức ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn, kỹ thuật theo phân cấp; giám sát thực hiện hợp đồng và giám sát việc cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh, bảo vệ quyền lợi người có thẻ bảo hiểm

y tế và chống lạm dụng quỹ bảo hiểm y tế

- Tổ chức ký hợp đồng với tổ chức, các nhân làm đại lý do Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn giới thiệu và bảo lãnh để thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế xã, phường, thị trấn theo chỉ đạo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Họ và tên Khác
3. Tuổi Khác
4. Nghề nghiệp: ……………………………………………………………… Khác
5. Đơn vị làm việc:…………………………………………………………… Khác
6. Địa chỉ thường trú:………………………………………………………… Khác
7. Mức thu nhập bình quân / tháng:…………………………………………… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Quế Võ - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quế Võ (Trang 36)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Quế Võ năm 2014 - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Quế Võ năm 2014 (Trang 38)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BHXH huyện Quế Võ - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của BHXH huyện Quế Võ (Trang 42)
Hình 3.2: Khung phân tích tình hình quản lý chi BHTN - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Hình 3.2 Khung phân tích tình hình quản lý chi BHTN (Trang 45)
Bảng 4.2: Đối tượng hưởng các chế độ BHTN tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2 Đối tượng hưởng các chế độ BHTN tại BHXH huyện (Trang 55)
Bảng 4.3: Đối tượng hưởng, chấm dứt, tạm dừng hưởng BHTN tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3 Đối tượng hưởng, chấm dứt, tạm dừng hưởng BHTN tại BHXH huyện (Trang 57)
Bảng 4.4: Đối tượng hưởng BHTN theo khối các doanh nghiệp tại huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4 Đối tượng hưởng BHTN theo khối các doanh nghiệp tại huyện (Trang 58)
Hình 4.3: Quy trình xét duyệt đối tượng hưởng BHTN - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Hình 4.3 Quy trình xét duyệt đối tượng hưởng BHTN (Trang 59)
Hình 4.3:  Quy trình chi trả BHTN hàng tháng tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Hình 4.3 Quy trình chi trả BHTN hàng tháng tại BHXH huyện (Trang 62)
Bảng 4.5: Chi TCTN hàng tháng tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5 Chi TCTN hàng tháng tại BHXH huyện (Trang 63)
Bảng 4.7: Chi tìm việc làm cho đối tượng hưởng BHTN tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7 Chi tìm việc làm cho đối tượng hưởng BHTN tại BHXH huyện (Trang 65)
Bảng 4.9: Kết quả thanh tra tại doanh nghiệp của BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9 Kết quả thanh tra tại doanh nghiệp của BHXH huyện (Trang 68)
Bảng 4.13: Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.13 Hiện trạng lao động theo trình độ đào tạo của huyện (Trang 76)
Bảng 4.15: Số người đăng ký và được hưởng BHTN tại BHXH huyện - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.15 Số người đăng ký và được hưởng BHTN tại BHXH huyện (Trang 79)
Hình 4.4: Cách xác định kế hoạch chi BHTN tại BHXH huyện Quế Võ - quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại bảo hiểm xã hội huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Hình 4.4 Cách xác định kế hoạch chi BHTN tại BHXH huyện Quế Võ (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w