1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico

101 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng máy móc thiết bị hiện nay và những lợi thế của việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị kịp thời và phù hợp đòi hỏi tất yếu các doanh nghiệp phải đổi mới máy móc thiế

Trang 1

2.2.1 Khái quát về nhập khẩu máy móc thiết bị ở Việt Nam 30 2.2.2 Áp lực cạnh tranh trong ngành than- khoáng sản 31

3 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1.1 Vài nét khái quát về công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất-Vimico 33

Trang 2

3.2 Phương pháp nghiên cứu 41

4.1 Thực trạng tình hình nhập khẩu máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công

4.1.1 Đặc điểm về các sản phẩm nhập khẩu của công ty 45 4.2 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại Công ty 51 4.2.1 Kết quả tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu của Công ty 51 4.3 Thực trạng mở rộng thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị của Công ty

4.3.1 Thực trạng nghiên cứu Marketing tại công ty 56 4.3.2 Chiến lược Marketing-Mix đối với máy móc thiết bị của công ty 57 4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của

Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico 64 4.3.4 Phân tích khả năng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty

4.4 Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn 73

4.5 Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị nhập khẩu tại

Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico 76 4.5.1 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công nhân trong công ty 76 4.5.2 Giải pháp nâng cao hoạt động nghiên cứu thị trường và phát triển thị

trường tiêu thụ mặt hàng nhập khẩu của công ty 77

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

2.1 Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu máy móc,

3.2 Tỷ suất lợi nhuận của công ty giai đoạn năm 2012 – 2014 40 4.1 Thị trường nhập khẩu chủ yếu của công ty trong 3 năm gần đây 47

4.3 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo thị trường tiêu thụ 51

4.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo đơn hàng và không theo đơn hàng 53

4.8 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh

4.9 Mức độ hài lòng của khách hàng đối với công tác chăm sóc khách hàng 67

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Các hình thức và thị trường nhập khẩu chủ yếu của công ty 50

Trang 7

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tế đã mở ra cho các doanh nghiệp những

cơ hội song cũng đặt ra không ít những thách thức mà một trong số đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Để tồn tại thì bản thân mỗi doanh nghiệp phải hoà mình vào thời cuộc và tự trang bị cho mình những “vũ khí” cạnh tranh sắc bén Khoa học công nghệ và trình độ trang bị kỹ thuật là một trong những yếu tố tiên quyết, quan trọng Tuy nhiên, đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tình trạng máy móc thiết bị công nghệ thể hiện rõ sự quá cũ kỹ, lạc hậu

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ

(2013) thống kê thì có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế hệ những năm 60- 70,

trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp vá thiếu đồng bộ Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm có 27% Trước đây chúng ta đa số là nhập máy móc thiết bị từ nhiều nguồn khác nhau: 25% từ Liên Xô, 21% từ các nước Đông Âu, 20% từ các nước ASEAN,…nên tính đồng bộ kém, khi sử dụng năng lực sản xuất chỉ đạt hơn 50% công suất Do đầu tư thiếu đồng bộ nên doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về phụ tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng chưa sửa đổi Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những điều này chính là nguyên nhân làm cho giá thành sản phẩm cao, chất lượng thấp và không đủ sức cạnh tranh

cả trong thị trường nội địa

Xuất phát từ thực trạng máy móc thiết bị hiện nay và những lợi thế của việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị kịp thời và phù hợp đòi hỏi tất yếu các doanh nghiệp phải đổi mới máy móc thiết bị mới có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường, chiến thắng trong cạnh tranh Thêm vào đó các máy móc thiết bị trong nước sản xuất thường không sản xuất được những sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không

Trang 8

đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Để tăng cường sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đồng thời chính nó kết hợp với xuất khẩu cải thiện đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đòi hỏi doanh nghiệp cần nhập khẩu máy móc thiết bị từ những thị trường có nền công nghiệp chế tạo máy phát triển có lợi thế cạnh tranh về giá thành thấp Do đó việc hoàn thiện công tác nhập khẩu máy móc thiết bị ở các doanh nghiệp và phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu có ý nghĩa hết sức quan trọng

Trong thời gian làm việc tại Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico, tôi

nhận thấy rằng ở công ty hoạt động chủ yếu là nhập khẩu, trong đó nhập khẩu máy móc thiết bị chiểm tỷ trọng lớn nhất và luôn có những thay đổi đáng mừng Trước những biến động thăng trầm của kinh tế thế giới, hoạt động của công ty không phải lúc nào cũng ổn định, bên cạnh những thành tựu vẫn còn tồn tại những hạn chế mà

công ty đã và đang nỗ lực khắc phục Do vậy, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất- Vimico.” để làm luận văn tốt nghiệp

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 9

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến việc phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Hoạt động tiêu thụ máy móc thiết bị nhập khẩu của Công ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập để phân tích từ năm 2012-2014

- Phạm vi về nội dung: Tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau: + Tổng quan về thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị nhập khẩu

+ Phân tích thực trạng thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị nhập khẩu của Công

ty Cổ phần Vật tư mỏ địa chất-Vimico

+ Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động này

Trang 10

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về thị trường và phát triển thị trường

2.1.1.1 Khái niệm thị trường

Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn bó chặt chẽ với khái niệm phân công lao động xã hội Ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy có thị trường Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa khái niệm thị trường có nhiều biến đổi và ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn

Ban đầu thị trường quan niệm đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa của các chủ thể kinh tế Thị trường có tính khách quan, thời gian,

có mặt cả người mua người bán và đối tượng được đem ra trao đổi Thị trường được xem như các chợ của làng, của địa phương Khi sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, các mặt hàng trở nên phong phú, đa dạng với nhiều hình thức trao đổi phức tạp hơn thì cách hiểu thị trường như cũ không phản ánh đầy đủ bản chất của thị trường, đòi hỏi phải có quan niệm phù hợp hơn

Theo nghĩa hiện đại, thị trường là quá trình mà người mua, người bán tác động qua lại để xác định giá cả và lượng hàng hóa mua bán

Còn theo Philip Kotler (2007), quan niệm thị trường bao gồm tất cả những

khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó Ở đây Philip Kotler phân chia người bán thành ngành sản xuất còn người mua thì hợp thành thị trường Trong hệ thống lý thuyết kinh tế, nhiều khái niệm thị trường được ghi nhận song hầu hết các quan niệm trên chủ yếu quan niệm thị trường có tính chất vĩ mô Các quan niệm này vừa đủ để nhận dạng thị trường của ngành, của nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở đó có thể đưa ra các chủ trương, chính sách để hoạch định và quản

lý thị trường Tuy nhiên ở giác độ này các doanh nghiệp khó có khả năng mô tả chính xác và cụ thể các thành phần tham gia và các yếu tố cấu thành nên thị trường của doanh nghiệp Như vậy khó đưa ra các công cụ điều khiển hoạt động kinh

Trang 11

doanh của doanh nghiệp có hiệu quả

Khi trình bày về thị trường, thông thường có thể hiểu:

- Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua bán

- Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu

- Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa hay thị trường là cái chợ

2.1.1.2 Chức năng của thị trường

Đối với một doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm luôn đứng ở vị trí quan trọng, nó vừa là mục tiêu, vừa là môi trường hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay thì các doanh nghiệp phải sản xuất và bán những thứ thị trường cần chứ không phải bán cái mình có Theo

Philip Kotler (2007), thị trường có chức năng sau:

Chức năng thừa nhận

Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mục đích của người sản xuất hàng hóa là để bán, để thỏa mãn nhu cầu của người khác Còn thị trường là còn sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị trường Thị trường và doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết, doanh nghiệp chịu chi phối trực tiếp của thị trường Thị trường tiêu thụ càng mở rộng và phát triển thì lượng sản phẩm được tiêu thụ càng nhiều và khả năng phát triển sản xuất càng cao và ngược lại Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình Khi doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm trên thị trường tức là sản phẩm của doanh nghiệp đã được chấp nhận, sản phẩm có uy tín trên thị trường

Chức năng thực hiện

Chức năng này đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện giá trị trao đổi Hàng hóa bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua Thị trường điều tiết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nó đóng vai trò hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Xuất phát từ nhu cầu khách hàng, căn cứ vào cung giá cả trên thị trường để doanh nghiệp xác

Trang 12

định sản xuất kinh doanh cái gì, số lượng bao nhiêu và cho ai

Chức năng điều tiết và kích thích

Thị trường đánh giá khả năng vận động và phát triển của doanh nghiệp Thị trường là nơi kiểm tra, đánh giá các chương trình, kế hoạch, quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Nhìn vào thị trường doanh nghiệp sẽ thấy được tốc độ, mức độ tham gia vào thị trường của doanh nghiệp cũng như quy mô sản xuất kinh doanh Thông qua thị trường, các kế hoạch, chiến lược, quyết định kinh doanh của doanh nghiệp mới thể hiện được những ưu nhược điểm của chúng Doanh nghiệp xác định được vị trí của bản thân và đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra nhưng chiến lược và giải pháp đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Chức năng thông tin

Thị trường phản ánh tình hình biến động của nhu cầu cũng như của giá cả và giúp doanh nghiệp có được những định hướng đúng Thị trường cung cấp nhưng thông tin quan trọng đối với nhà sản xuất, kinh doanh kể cả người mua và người bán, cả người quản lý và người nghiên cứu sáng tạo Không có thông tin thị trường không thể có quy định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh cũng như quy định của các cấp quản lý

2.1.1.3 Phân loại thị trường

Theo Nguyễn Bách Khoa (1999), thị trường được phân loại theo các tiêu thức sau:

Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp gồm: Thị trường đầu vào

và thị trường đầu ra

+ Thị trường đầu vào: Là thị trường liên quan đến khả năng và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp các yếu tố kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường đầu vào bao gồm: thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hóa dịch vụ

+ Thị trường đầu ra: Là thị trường liên quan trực tiếp đến vấn đề tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Bất cứ một yếu tố nào dù rất nhỏ của thị trường này đều có thể ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến khả năng thành công hay thất bại trong tiêu thụ Đặc biệt là tính chất của thị trường tiêu thụ là cơ sở để

Trang 13

doanh nghiệp hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, sách lược

- Theo đối tượng sản phẩm mua bán trên thị trường:

+ Thị trường hàng hóa: gồm hàng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng + Thị trường sức lao động

+ Thị trường vốn

+ Thị trường tiền tệ

+ Thị trường dịch vụ

- Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường:

+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trường trong đó có nhiều người bán

và nhiều người mua trên thị trường, ở đó thường xuyên diễn ra sự cạnh tranh giữa những người bán với nhau, và không người bán nào có khả năng đặt giá trên thị trường + Thị trường độc quyền: Là thị trường trong đó chỉ có một người bán có quyền đặt giá

+ Thị trường cạnh tranh độc quyền: Là thị trường trong đó có một số người bán, người sản xuất có khả năng kiểm soát một cách độc lập tương đối với hàng hóa và giá cả, trên thị trường này cạnh tranh và độc quyền xen kẽ với nhau

- Căn cứ vào vai trò của thị trường đối với doanh nghiệp:

+ Thị trường chính

+ Thị trường bổ sung

2.1.1.4 Phân đoạn thị trường

Đối với các doanh nghiệp đang kinh doanh và các doanh nghiệp sắp bước vào kinh doanh thì phân đoạn thị trường là rất quan trọng Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền(2005), thị trường rất đa dạng, nó tập hợp nhu cầu của những người

có tuổi tác, giới tính, tôn giáo, thu nhập, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng khác nhau, sự không đồng nhất đó ảnh hưởng rất lớn đến việc mua và tiêu dùng hàng hóa Vì vậy, cần phải phân đoạn thị trường để doanh nghiệp nhận biết được đặc tính của từng đoạn và tuỳ thuộc vào khả năng, nguồn lực của mình để có các lựa chọn chính sách, biện pháp khác nhau để tiếp cận và khai thác thị trường nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược kinh doanh

Trang 14

2.1.1.5 Sự cần thiết của phát triển thị trường

Trong điều kiện kinh doanh ngày nay, dẫn đầu về thị phần là ước vọng và là mục tiêu chiến lược của nhiều doanh nghiệp Bởi vì dẫn đầu về thị phần đồng nghĩa với lợi nhuận dài hạn tối đa

Một doanh nghiệp muốn tồn tại thì sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra phải được thị trường chấp nhận, tức là bán được hàng Nhưng một doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất kinh doanh thì cần phải phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm tăng vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, hơn nữa trong nền kinh tế thị trường vị thế của doanh nghiệp có thể thay đổi rất nhanh nên việc thị trường giúp doanh nghiệp tránh tình trạng tụt hậu Việc phát triển thị trường có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Điều đó thể hiện trên các mặt sau:

+ Phát triển thị trường có nghĩa là thu hút nhiều khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp, khối lượng hàng hoá của doanh nghiệp được tiêu thụ nhiều hơn

và làm doanh thu bán hàng của doanh nghiệp tăng lên Nhưng để phát triển thị trường, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoản chi phí này và làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái đầu tư chiều rộng và chiều sâu nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

+ Phát triển thị trường sẽ tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, làm tăng uy tín, hình ảnh của sản phẩm và doanh nghiệp đối với khách hàng

+ Thị phần là một trong những nhân tố cốt yếu làm nên sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Việc phát triển thị trường làm tăng thị phần của doanh nghiệp, do đó làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Mặt khác, việc phát triển thị trường tạo điều kiện để tăng cường một số yếu tố cạnh tranh khác:

- Việc phát triển thị trường có thể dẫn tới giảm chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm theo đường cong kinh nghiệm

- Phát triển thị trường có khả năng làm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất sản phẩm mới

- Như vậy, phát triển thị trường sản phẩm của doanh nghiệp có vai trò to lớn

Trang 15

đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không phát triển được thị trường của mình, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh và doanh nghiệp rất có thể bị đẩy ra khỏi cuộc cạnh tranh

2.1.2 Tổng quan về thị trường máy móc, thiết bị nhập khẩu

2.1.2.1 Khái niệm, phân loại máy móc, thiết bị

Khái niệm

Theo Nguyễn Minh Hoàng(2011), máy móc thiết bị là những tài sản hữu hình ngoài bất động sản, phục vụ tạo ra thu nhập cho người chủ sở hữu Các định nghĩa khác bao gồm:

- Máy móc: Là các máy riêng lẻ hoặc dây chuyền sản xuất Máy móc là một thiết bị sử dụng các năng lực cơ khí, được cấu tạo từ nhiều bộ phận và có chức năng nhất định, dùng để thực hiện những công việc nào đó Thông thường máy móc bao gồm các bộ phận sau:

+ Bộ phận động lực

+ Bộ phận truyền dẫn

+ Bộ phận chức năng

+ Ngoài ra một số máy còn có bộ phận điện và điều khiển

Xu hướng phát triển của máy móc là ngày càng nhỏ gọn, ít tiêu hao năng lượng, nhiên vật liệu và ngày càng tự động hóa cáo

- Thiết bị:

Là những tài sản phụ trợ được sử dụng để trợ giúp cho hoạt động máy móc,

xu thế phát triển của thiết bị là ngày càng nhỏ gọn, đa năng và có thể liên kết với nhiều thiết bị khác

Trang 16

vận hành của nhà sản xuất trong quá trình khai thác của người sử dụng

- Có thể chuyển nhượng, thay đổi chủ sở hữu dễ dàng (trừ tài sản đặc biệt)

Phân loại Máy móc Thiết bị

Có nhiều cách phân loại máy móc thiết bị:

Người ta có thể phân loại máy móc, thiết bị theo nhiều cách khác nhau

Phân loại trong hạch toán kế toán:

- Tài sản cố định;

- Công cụ, dụng cụ;

Phân loại theo ngành sử dụng:

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực nông nghiệp

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Vận tải

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Hàng không

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Hàng hải

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Xây dựng

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực chế biến thực phẩm

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Y tế

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực In ấn

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực Dệt

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực kinh doanh Nhà hàng

- Máy móc thiết bị trong lĩnh vực giáo dục

Phân loại theo công năng và tính chất :

Phân loại theo công năng

- Phương tiện vận tải;

- Máy móc thiết bị ngành in;

- Máy móc thiết bị y tế;

Trang 17

- Máy móc thiết bị điện, điện tử;

- Máy móc phát thanh, truyền hình

Phân loại theo tính chất:

- Máy móc, thiết bị chuyên dùng;

- Máy móc, thiết bị thông thường

2.1.2.2 Khái niệm, phân loại thị trường máy móc thiết bị

Phân loại thị trường

Theo không gian

- Thị trường trong nước:

+ Thị trường địa phương;

+ Thị trường quốc gia

- Thị trường ngoài nước:

+ Khu vực lân cận;

+ Thị trường thế giới

Theo loại máy móc thiết bị còn mới hay đã qua sử dụng

- Thị trường máy móc thiết bị mới

Là thị trường giao dịch các loại máy móc thiết bị còn mới chưa qua sử dụng, hiện nay trên thế giới đây là thị trường cung ứng những loại sản phẩm công nghệ mới với tính năng ngày càng ưu việt: ít tốn năng lượng, ít tiêu hao nguyên vật liệu, nhỏ gọn, tự động hoá cao

Đây là thị trường chủ yếu cung ứng máy móc thiết bị cho các xí nghiệp ở các nước phát triển, giá cả máy móc thiết bị trên thị trường này thường cao ở lần giao dịch đầu tiên

- Thị trường máy móc thiết bị đã qua sử dụng

Là thị trường giao dịch các loại máy móc thiết bị đã qua sử dụng, đây là thị

Trang 18

trường chủ yếu cung ứng máy móc thiết bị cho các nước đang phát triển và kém phát triển trong quá trình chuyển giao công nghệ và máy móc thiết bị từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển hoặc kém phát triển hoặc từ các nước đang phát triển sang các nước kém phát triển

Giá cả máy móc thiết bị trên thị trường này thường rất rẻ do yếu tố khấu hao

vô hình và bản thân các máy móc thiết bị này đã khấu hao hết về giá trị kinh tế nên rất phù hợp với điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển và kém phát triển

2.1.2.3 Các hình thức nhập khẩu máy móc, thiết bị

Theo Phạm Thị Hồng Yến (2012), các hình thức nhập khẩu bao gồm:

từ những thất bại, khó khăn của thương vụ

Nhập khẩu liên doanh

Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp( trong đó ít nhất một doanh nghiệp

tự nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch đề ra chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên cùng chia lãi và nếu lỗ thì phải chịu Quyền hạn và trách nhiệm mỗi bên được chia theo tỷ lệ vốn góp

Các doanh nghiệp nhập khẩu dưới hình thức chỉ phải chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp nào đứng ra nhận hàng sẽ được tính kim ngạch nhập khẩu Khi đưa hàng về tiêu thụ thị chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên doanh số đó

Trang 19

Doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh phải ký hai hợp đồng: một hợp đồng mua hàng với nước ngoài và một hợp đồng với doanh nghiệp khác

Nhập khẩu ủy thác

Là hình thức nhập khẩu gián tiếp thông qua trung gian thương mại Bên nhờ

ủy thác sẽ phải trả một khoản tiền cho bên nhận ủy thác dưới hình thức phí ủy thác, còn bên nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung của hợp đồng ủy thác

đã được kí kết giữa các bên

Doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải nghiên cứu thị trường mà chỉ đóng vai trò đại diện cho bên ủy thác giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký kết hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu hàng cũng như thay mặt cho bên ủy thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất

Bên nhận ủy thác phải tự nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng và chịu các chí phí liên quan

Bên nhận ủy thác cũng phải lập 2 hợp đồng: một hợp đồng mua bán hàng hóa với nước ngoài, và một hợp đồng nhận ủy thác với bên ủy thác

Nhập khẩu hàng đổi hàng

Nghiệp vụ hàng đổi hàng là một loại hình của buôn bán đổi lưu- phương thức trao đổi hàng hóa trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về Trong nghiệp vụ này có thể hoặc không cần dùng đồng tiền thanh toán Hàng hóa nhập có sự cân bằng về giá cả, mặt hàng, cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau, và cân bằng về điều kiện giao hàng

Hợp đồng trong nghiệp vụ hàng đổi hàng có thể là một hợp đồng với hai danh mục hàng hóa, hoặc cũng có thể là hai hợp đồng, mỗi hợp đồng một danh mục hàng hóa với những điều khoản ràng buộc nhau khiến cho bên nào cũng vừa là người bán vừa là người mua

Trong các hợp đồng này thường có điều kiện đảm bảo thực hiện đối lưu bằng cách dùng thư tín dụng, dùng ngân hàng, dùng một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng

Trang 20

Tạm nhập tái xuất

Đây là hình thức nhập khẩu mà nước nhập khẩu sẽ xuất khẩu trở lại nước ngoài hàng trước đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất Trong hoạt động nhập khẩu luôn có sự tham gia của ba nước: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu,

và nước tái xuất

Người bán đồng thời là người mua, sau mỗi chuyến hàng đều có việc thanh toán bằng tiền

Có nhiều loại: Hàng từ nước xuất khẩu được chở thẳng sang nước nhập khẩu Hoặc hàng từ nước xuất khẩu được chở đến nước tái xuất nhưng không làm thủ tục vào nước tái xuất mà được chở sang nước nhập khẩu Hoặc hàng từ nước xuất khẩu được chở đến nước tái xuất, làm thủ tục nhập vào kho ngoại quan ở nước tái xuất, sau đó được xuất khẩu sang nước nhập khẩu

Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định phương thức tín dụng giáp lưng Người tái xuất thường cố dàn xếp để trả chậm tiền hàng nhập và nhanh chóng thu tiền hàng xuất Nhờ biện pháp đó mà người tái xuất thu được cả lợi tực

về tiền hàng trong khoảng thời gian chênh lệch

Kinh doanh tái xuất đòi hỏi nhạy bén tinh hình thị trường và giá cả, chính xác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán

2.1.3 Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

2.1.3.1 Khái niệm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trong cơ chế thị trường, đầu ra quyết định đến quá tŕnh tái sản xuất sản phẩm, đảm bảo cho quá tŕnh sản xuất tăng trưởng cao Vì nếu sản phẩm sản xuất ra không có thị trường tiêu thụ thì quá tŕnh tái sản xuất khó có thể thực hiện được, thậm chí việc thu hồi vốn cũng khó tiến hành được

Khi một sản phẩm xuất hiện trên thị trường thì theo lý thuyết nó sẽ giành được một phần thị trường Phần thị trường mà sản phẩm đó thực hiện giá trị của mình được gọi là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp Ngoài ra, trên thị trường còn tồn tại nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp khác do đó nó sẽ chiếm hữu một phần thị trường của đối thủ cạnh tranh Hai phần chiếm lĩnh thị trường trên là rất lớn nhưng chưa đủ rộng để bao phủ toàn bộ thị trường Trên thị trường còn tồn tại

Trang 21

một khoảng trống gọi là thị trường lý thuyết, tại đó con người có nhu cầu nhưng chưa thỏa măn nhu cầu đó vì chưa có khả năng thanh toán Thị trường lý thuyết, thị trường của đối thủ cạnh tranh chính là các cơ hội, các khe hở của thị trường để các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình

Do đó “Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là quá trình mở rộng hay tăng khối lượng khách hàng và lượng bán ra của doanh nghiệp bằng cách lôi kéo người tiêu dùng đang có nhu cầu mua hàng trở thành khách hàng của doanh nghiệp, dịch

và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh sang tiêu thụ sản phẩm của mình Hay phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc doanh nghiệp tăng thị phần của mình bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trong toàn bộ thị trường”

Việc phát triển thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp có thể tiến hành theo 3 cách: phát triển thị trường theo chiều rộng, phát triển thị trường theo chiều sâu và kết hợp phát triển thị trường theo chiều rộng và chiều sâu:

Phát triển thị trường theo chiều rộng

Đây là quan niệm phát triển thị trường tiêu thụ với quy mô lớn hơn bằng chính những sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp Theo quan niệm này, doanh nghiệp phát triển thị trường tiêu thụ theo mô hình thị trường mới, sản phẩm cũ Cụ thể là:

- Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới ở các khu vực địa lý khác nhau

- Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới của đối thủ cạnh tranh, thu hút khách hàng của đối thủ khác trở thành khách hàng của doanh nghiệp mình

Phát triển thị trường theo chiều sâu

Theo quan điểm này, doanh nghiệp sẽ khai thác tốt hơn thị trường mới và thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng cách tạo ra những sản phẩm mới Đây là việc phát hiện những đoạn thị trường còn bỏ ngỏ mà các doanh nghiệp khác chưa tiếp cận tới và chế tạo ra các sản phẩm mới

Cụ thể là:

- Doanh nghiệp sẽ thực hiện chính sách về sản phẩm, cải tiến phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại và nhu cầu thị trường mới

- Doanh nghiệp tiến hành phân đoạn, cắt lát thị trường, cải tiến hệ thống

Trang 22

phân phối sao cho có hiệu quả nhất

Phát triển cả chiều sâu và chiều rộng

Khi doanh nghiệp đã có vị trí vững chắc trên thị trường và có điều kiện tiềm năng về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản lý có thể phát triển theo hướng kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu Nhằm phát triển thị trường tiêu thụ

SP, các doanh nghiệp sẽ đặt mục tiêu tăng số lượng SP bán ra, tăng doanh thu, tăng số lượng khách hàng thông qua các nỗ lực marketing Các doanh nghiệp cũng thường cố gắng hoàn thiện chất lượng SP để tạo ra sự hấp dẫn với khách hàng nhằm thâm nhập sâu vào thị trường hiện tại, phát triển thị trường hơn nữa

2.1.3.2 Vai trò phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động trên thương trường đều theo đuổi rất nhiều mục tiêu Tùy từng thời kì, giai đoạn khác nhau vị trí của doanh nghiệp trên thị trường là khác nhau nên mục tiêu của doanh nghiệp theo đuổi cũng khác nhau Nhưng tựu chung lại mục tiêu chủ yếu của hầu hết tất cả các doanh nghiệp là lợi nhuận và thị phần trên thị trường

Phát triển thị trường là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Trên thị trường lúc nào sự cạnh tranh cũng rất quyết liệt và mạnh mẽ Hoạt động phát triển thị trường góp phần khai thác nội lực cho doanh nghiệp dưới giác độ kinh tế, nội lực được xem là sức mạnh nội tại, là động lực là toàn bộ nguồn lực bên trong của sự phát triển kinh tế Không có thị trường thì doanh nghiệp không thể tồn tại Quá trình khai thác và phát huy nội lực là quá trình chuyển hóa các yếu tố sức lao động, tư liệu lao động thành sản phẩm hàng hóa và thành thu nhập của doanh nghiệp Phát triển thị trường vừa là cầu nối vừa là động lực để khai thác, phát huy nội lực tạo thực lực kinh doanh cho doanh nghiệp Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế, làm cho tốc độ phát triển của nền kinh tế cao Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đẩy mạnh công tác phát triển thị trường

Phát triển thị trường đảm bảo sự thành công cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nền kinh tế thị trường rất năng động nó đòi hỏi các doanh nghiệp đều phải

Trang 23

cố gắng khai thác triệt để các nguồn thu, tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh Phát triển thị trường giúp cho doanh nghiệp thu thêm nhiều lợi nhuận, từ đó bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư cũng như các quỹ của doanh nghiệp Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất ra nhiều sản phẩm với chất lượng và mẫu mã tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Mở rộng thị trường sẽ tạo cho doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mình trên thị trường, nâng cao uy tín của sản phẩm

Trên thị trường lúc nào cũng có sự cạnh tranh quyết liệt của nhiều doanh nghiệp khác nhau cùng sản xuất hay tiêu thụ một số loại mặt hàng Phát triển thị trường sẽ tăng nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm, góp phần đẩy nhanh chu kỳ tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn, tạo động lực thúc đẩy chiến thắng trong cạnh tranh , nâng cao số lượng bán ra

2.1.3.3 Nội dung phát triển thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp

Phát triển thị trường là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chiến lược phát triển thị trường có thể xây dựng trên cơ sở kết quả phân tích được tiến hành ở ba mức độ: Thứ nhất, phát hiện những khả năng mà doanh nghiệp có thể tận dụng với quy mô hoạt động hiện tại ( khả năng phát triển theo chiều sâu) Mức độ thứ hai, phát hiện những khả năng hợp nhất với những yếu tố khác của hệ thống marketing (khả năng phát triển hợp nhất) Mức độ thứ ba, phát hiện những khả năng đang mở ra ở ngoài ngành (những khả năng phát triển theo chiều rộng)

Phát triển theo chiều sâu

Mạng lưới này bao gồm ba loại hình cơ bản của khả năng phát triển:

- Thâm nhập sâu vào thị trường: là việc doanh nghiệp tìm kiếm cách tăng

mức tiêu thụ những hàng hóa hiện có của mình trên những thị trường hiện có

- Phát triển thị trường :là việc doanh nghiệp tìm cách tăng mức tiêu thụ bằng cách đưa những hàng hóa hiện có của mình vào những thị trường mới

- Cải tiến hàng hóa: Là việc doanh nghiệp tìm cách tăng mức tiêu thụ bằng

cách tạo ra những hàng hóa mới hay đã được cải tiến cho những thị trường hiện có

Phát triển theo chiều rộng

Trang 24

Có ba loại hình phát triển rộng:

- Đa dạng hóa đồng tâm: Tức là bổ sung những danh mục sản phẩm của

mình những sản phẩm giống như các mặt hàng hiện có của doanh nghiệp xét theo góc độ kỹ thuật hay marketing Thông thường những mặt hàng này sẽ thu hút sự chú ý của những khách hàng mới

- Đa dạng hóa ngang: Tức là bổ sung cho chủng loại hàng hóa của mình

những mặt hàng hoàn toàn không có liên quan gì đến những mặt hàng hiện đang sản xuất, nhưng có thể làm cho khách hàng hiện có quan tâm hơn

- Đa dạng hóa rộng: Tức là bổ sung cho chủng loại hàng hóa của mình

những mặt hàng không có quan hệ gì với công nghệ mà công ty đang sử dụng với hàng hóa và thị trường hiện có

Phát triển khách hàng

Trong chiến lược phát triển thị trường, yếu tố khách hàng luôn đóng vai trò quan trọng bởi nó quyết định đến quy mô thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp Khách hàng càng nhiều thì quy mô thị trường của doanh nghiệp càng lớn Vì vậy

để phát triển thị trường một cách có hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm các thông tin về khách hàng, dự đoán nhu cầu và cách thức ứng xử của họ nhằm đưa ra các quyết định tốt nhất có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Qua đó, thu hút nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp nhằm mở rộng khách hàng hiện có

Đa dạng hóa kinh doanh

Kinh doanh trong cơ chế thị trường đem lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi

Trang 25

nhưng cũng có không ít khó khăn Để hạn chế những khó khăn gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nên tiến hành đa dạng hóa kinh doanh nhằm phân tán bớt những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải, bên cạnh đó đa dạng hóa kinh doanh còn giúp doanh nghiệp có điều kiện mở rộng phát triển thị trường của mình Đa dạng hóa kinh doanh có thể là đa dạng hóa sản phẩm hoặc doanh nghiệp có thể tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau Tuỳ vào điều kiện cụ thể của mình mà doanh nghiệp có cách lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp

2.1.3.4 Nội dung công tác phát triển thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp

Công tác mở rộng thị trường là tổng hợp các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để đưa khối lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường đạt mức tối đa

Nghiên cứu thị trường

- Nghiên cứu và thăm dò thị trường

Nghiên cứu thị trường là hoạt động cần thiết đầu tiên đối với tất cả các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh và cả những doanh nghiệp sắp tham gia thị trường

Đó là cơ sở phát triển tìm kiếm thị trường và thiết lập các chính sách phát triển thị trường cho doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường phát triển nhanh như ngày nay,

cơ hội kinh doanh không đến với những ai ngồi không Người ta chỉ có thể nhận biết và vận dụng được cơ hội khi họ tích cực tìm kiếm với những biện pháp hợp lý, khoa học Nghiên cứu và phân tích thị trường chính là một cách rất quan trọng giúp doanh nghiệp nhận biết và khai thác được cơ hội xuất hiện trên thị trường

- Nghiên cứu tổng cầu và cầu hướng vào doanh nghiệp

Nghiên cứu tổng cầu hàng hóa là nghiên cứu tổng khối lượng hàng hóa và cơ cấu loại hàng hóa tiêu dùng thông qua mua sắm hoặc sử dụng với giá cả thị trường trong một khoảng thời gian Tổng khối lượng hàng hóa chính là quy mô của thị trường Nghiên cứu quy mô thị trường phải nắm được số lượng người hoặc đơn vị tiêu dùng; với hàng tiêu dùng đó là dân cư, thu nhập của họ; với hàng tư liệu sản xuất thì số lượng đơn vị sử dụng khối lượng hàng của mỗi đơn vị tiêu dùng… Nghiên cứu tổng cầu hàng và cơ cấu hàng hóa cũng cần nghiên cứu trên mỗi địa bàn, đặc biệt là thị trường trọng điểm, ở đó tiêu thụ lượng hàng lớn và giá trị thường của hàng hóa đó trên địa bàn từng thời gian

Trang 26

- Nghiên cứu tổng cung và cung của doanh nghiệp

Nghiên cứu tổng cung hàng hóa là nghiên cứu để xác định xem khả năng sản xuất trong một thời gian các đơn vị sản xuất có khả năng cung ứng cho thị trường tổng số bao nhiêu hàng, khả năng nhập khẩu bao nhiêu, khả năng dự trữ tồn kho xã hội bao nhiêu Trên cơ sở các thông tin về lao động, vật tư tiền vốn và các tiềm năng khác của doanh nghiệp để xác định cung của doanh nghiệp có khả năng đưa ra thị trường

- Nghiên cứu giá cả thị trường

Nghiên cứu giá cả bán hàng của doanh nghiệp sản xuất, giá hàng nhập khẩu Nghiên cứu giá cả thị trường phải tìm được chênh lệch giá( trên thị trường bán) và giá mua Có thể ước chi phí vận chuyển và nộp thuế, để xác định thị trường mua hàng và quyết định khối lượng hàng cần đặt hàng, hàng cần thu mua hoặc nhập khẩu Căn cứ vào mục tiêu kinh doanh, chính sách giá cả của doanh nghiệp để xác định giá mua, giá bán của doanh nghiệp cho phù hợp

- Nghiên cứu sự cạnh tranh trên thị trường

Nghiên cứu sự cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi phải xác định số lượng đối thủ cạnh tranh, ưu nhược điểm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và xác định trạng thái( mức độ) cạnh tranh trên thị trường Số lượng đối thủ cạnh tranh càng đông quyết định mức độ cạnh tranh càng gay gắt Đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp có thể xác định theo hai tiêu thức: vị thế của đối thủ cạnh tranh và theo tính chất sản phẩm

Phương pháp tiến hành

- Nghiên cứu tại địa bàn:

Phương pháp nghiên cứu tại địa bàn hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu văn phòng là cách nghiên cứu, thu thập thông tin qua các tài liệu như sách báo, tạp chí, thông tin kinh tế, niên giám thống kê Nghiên cứu tại địa bàn cho phép doanh nghiệp nhìn được khái quát thị trường mặt hàng cần nghiên cứu Đây là phương pháp tương đối dễ làm, có kết quả nhanh, ít tốn chi phí, nhưng đòi hỏi người nghiên cứu phải có chuyên môn, biết cách thu thập tài liệu, đánh giá và sử dụng các tài liệu thu thập được một cách đầy đủ và tin cậy

Trang 27

- Nghiên cứu tại hiện trường

Đây là phương pháp trực tiếp cử cán bộ đến tận nơi để nghiên cứu Cán bộ nghiên cứu thông qua việc trực tiếp quan sát, thu thập các thông tin và số liệu ở đơn

vị tiêu dùng lớn, ở khách hàng hoặc ở các đơn vị cung cấp đầu vào Nghiên cứu thị trường có thể thu thập được các thông tin sinh động thực tế, hiện tại nhưng cũng tốn khá nhiều chi phí

- Dự báo thị trường

Có rất nhiều phương pháp dự báo thị trường hàng hóa, đó là phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp toán kinh

tế, phương pháp dự báo ngoại suy…Tùy theo thu thập thông tin và yêu cầu dự báo

về thị trường hàng hóa, nguồn hàng, nhu cầu tiêu dùng, giá cả, xu hướng phát triển

và mở rộng kinh doanh… mà người ta lựa chọn các phương pháp dự báo khác nhau

2.1.3.5 Xây dựng chiến lược phát triển thị trường tiêu thụ

Khi doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình thì doanh nghiệp phải nghiên cứu kĩ thị trường và xây dựng cho mình một chiến lược hợp lý và có tính khả thi

Chiến lược sản phẩm

Mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường đều có chung một mục đích

là tối đa hóa lợi nhuận Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp phải luôn tìm cách làm cho hàng hóa dịch vụ của mình đáp ứng được nhu cầu đa dạng phong phú và luôn thay đổi của thị trường Muốn vậy doanh nghiệp phải xây dựng và triển khai hiệu quả các chiến lược sản phẩm của mình Xây dựng chiến lược sản phẩm chính

là việc xác định danh mục dản phẩm, chủng loại sản phẩm cung ứng, các đặc tính của sản phẩm cung cấp và các dịch vụ bán hàng của doanh nghiệp, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, phát triển cơ cấu ngành hàng

Chiến lược giá cả

Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh và phát triển thị trường

là do sử dụng khéo léo, tài tình chiến thuật chiếm lĩnh thị trường bằng chiến lược giá cả Thực chất giá cả là biểu hiện giá trị lao động và vật chất hao phí để sản xuất

ra hàng hóa, chịu ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu – giá cả - giá trị

Trang 28

Để có được chiến lược giá cả hợp lý cần phải nắm được: Nhu cầu khách hàng và khả năng thanh toán của họ, chi phí để tạo ra hàng hóa đó, đối thủ và trạng thái cạnh tranh trên thị trường Chính sách giá cả đúng đắn là một vũ khí cạnh tranh sắc bén của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giữ vững và thâm nhập thị trường một cách hiệu quả

Trong hoạch định giá có hai chiến lược:

- Chiến lược giá hướng vào doanh nghiệp: chiến lược này hướng vào mục tiêu nội tạng của doanh nghiệp trên cơ sở chi phí lợi nhuận mục tiêu

- Chiến lược giá hướng ra thị trường: chiến lược này dựa trên những yếu tố quan trọng của thị trường như: cung, cầu, co giãn của cầu, tình trạng cạnh tranh…

Chiến lược phân phối

Để tiêu thụ hàng tốt doanh nghiệp phải thỏa mãn rất nhiều yêu cầu đưa ra từ phía khách hàng Ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, gây uy tín đối với khách hàng doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng mạng lưới bán hàng thông qua việc đa dạng hóa kênh tiêu thụ Lựa chọn và thiết kế kênh phân phối: tùy vào đặc điểm hàng hóa, tính chất và đặc điểm kinh doanh mà doanh nghiệp chọn và thiết kế kênh phân phối dài hay ngắn, có bao nhiêu phần tử và quy mô như thế nào Trên cơ sở kết quả hoạt động nghiên cứu, phân tích một cách khoa học để có hệ thống kênh tiêu thụ hiệu quả nhất

Chiến lược xúc tiến khuyếch trương

+ Quảng cáo: quảng cáo là hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng chú ý tới sản phẩm, quen biết sản phẩm, có thiện cảm có ý định mua sản phẩm thông qua các biện pháp tuyên truyền tin thích hợp Tùy thuộc

và sản phẩm, thị trường và khả năng tổ chức của doanh nghiệp mà xây dựng chương trình quảng cáo cho phù hợp

+ Xúc tiến bán: xúc tiến bán là hoạt động kích thích, thông qua các công cụ xúc tiến bán hàng, doanh nghiệp thu hút hấp dẫn khách hàng sử dụng những sản phẩm của mình Ngoài ra nó còn kích thích các nhân tố trong kênh hoạt động hiệu quả hơn

Trang 29

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thị trường tiêu thụ máy móc thiết bị nhập khẩu của doanh nghiệp

2.1.4.1 Nhân tố ảnh hưởng đến nhập khẩu máy móc thiết bị

Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Kinh tế thế giới trải qua không ít thăng trầm, Nếu như xuất khẩu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường thì nhập khẩu lại tìm được cơ hội từ khủng hoảng Cơ hội tiêu biểu nhất có lẽ là chuyện giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị và phương tiện sản xuất kinh doanh đã sụt giảm đáng kể từ các doanh nghiệp giải thể ở nước ngoài, và đây được coi là dịp may hiếm có để các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mua vào để nâng cấp và mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh của mình

Bên cạnh đó khủng hoảng kinh tế khiến sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp giải thể, nhiều công nhân mất việc làm, thu nhập giảm, tiêu dùng vì thế cũng giảm, cầu về hàng hóa ắt cũng giảm làm giá một loạt các yếu tố giảm Chính phủ tung các gói kích cầu nhằm cứu vãn nền kinh tế Một trong những thành tố chính của gói kích cầu là khoản hỗ trợ lãi suất 4% cho những khoản vay ngắn hạn, gói này được khối doanh nghiệp rất háo hức đón nhận Mục tiêu của gói này là kiềm chế lạm phát, hỗ trợ các công ty duy trì khả năng sản xuất và giữ công an việc làm Có thể nói đây cũng là cơ hội tốt với các doanh nghiệp nhập khẩu để tiếp cận nguồn tín dụng hỗ trợ

Trang 30

Các chế độ chính sách pháp luật trong nước

Các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động ngoại thương đều phải tuân thủ các chế độ, chính sách, và pháp luật về nhập khẩu của quốc gia Đây là những vấn

đề vô cùng quan trọng đầu tiên trong quá trình nhập khẩu vì vậy các doanh nghiệp nắm thật vững Một môi trường pháp lý đồng bộ, ổn định, hoàn thiện sẽ giúp cho chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu có cơ sở vững chắc khi thực hiện các nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại với các đối tác

Các công cụ để hộ trợ, điều chỉnh hoạt động ngoại thương là: thuế quan, tỷ lệ ngoại hối Mỗi công cụ đều có ưu nhược điểm nên cần phải kết hợp chặt chẽ các công cụ để đẩy mạnh nhập khẩu kết hợp xuất khẩu hợp lý mang về lượng ngoại tệ lớn cho Việt Nam

Hiện nay nhà nước ta đã có những chính sách khuyến khích nhập khẩu những máy móc thiết bị phục vụ cho việc cải tiến công nghệ phát triển sản xuất Đặc biệt đối với trường hợp nhập khẩu thiết bị nhỏ lẻ thuộc dây chuyền máy móc thiết bị đồng bộ tạo TSCĐ được miễn thuế nhập khẩu Có thể nói đây là một điều chỉnh rất tích cực thúc đẩy nhập khẩu máy móc thiết bị

Các doanh nghiệp nhập khẩu cần nghiên cứu kỹ chính sách và những thay đổi chính sách, pháp luật về nhập khẩu của nhà nước để có những quyết định đúng đắn trong việc nhập khẩu

Các chính sách và luật pháp quốc tế

Sự khác biệt lớn nhất giữa kinh doanh nội địa và kinh doanh ngoại thương nói chung, và kinh doanh nhập khẩu nói riêng là sự tác động của luật pháp, thông lệ quốc tế Các hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng phải tuân theo luật pháp của nước xuất khẩu, luật pháp của nước thứ ba (nếu được quy định trong hợp đồng nhập khẩu), tập quán kinh doanh quốc tế và các công ước, hiệp ước quốc tế mà nước ta tham gia Luật pháp và các yếu tố về chính sách của nước xuất khẩu làm cho quá trình nhập khẩu của doanh nghiệp có thể đơn giản hoặc phức tạp hơn nhiều, điều này ảnh hưởng đến chi phí cho hoạt động nhập khẩu và do đó, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Luật pháp quốc tế bắt buộc các nước vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ

Trang 31

trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động ngoại thương, do đó tạo nên sự tin tưởng cũng như hiệu quả trong hoạt động này

Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai loại tiền tệ với nhau, hay nói cách khác

là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện trong một lượng tiền tệ nước kia

Trong thực tế sự biến động của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu Có nhiều tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái cố đinh, tỷ giá hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái thả nổi tự do, tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý Các doanh nghiêp tiền hành nhập khẩu nói chung và nhập khẩu máy móc thiết bị nói riêng cần quan tâm tới tỷ giá hối đoái, các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái, để

có những quyết định nhập khẩu đúng đắn

Hệ thống tài chính ngân hàng

Hệ thống tài chính ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nguồn cung và cầu tiền tệ, cung cấp vốn cho doanh nghiệp và đảm bảo hoạt động thanh toán diễn ra thuận lợi

Ngân hàng với nghiệp vụ ngân hàng giúp các bên đối tác giữa hai quốc gia

có thể thực hiện thanh toán thuận lợi mà không cần trực tiếp gặp nhau

Ngân hàng cũng là nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu kinh doanh

Ngân hàng cũng cung cấp lượng ngoại tệ giúp doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu dẽ dàng

Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức mạnh mẽ, nó can thiệp tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dưới hình thức nào, thuộc thành phần kinh tế nào Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực hiện được nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng

Đối thủ cạnh tranh

Là người cung ứng các mặt hàng tương tự hoặc thay thế sản phẩm nhập khẩu trên thị trường Đối thủ cạnh tranh chính là trở lực lớn nhất phải vượt qua, quyết định thành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng

Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc

Trang 32

Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời hoạt động vẩn chuyển và thông tin liên lạc Nhờ thông tin liên lạc hiện đại mà công việc có thể tiến hành thuận lợi, kịp thời Còn việc vận chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác

là một công việc hết sức quan trọng trong hoạt động nhập khẩu Do đó nhà nước cần chú trọng vào việc đưa các ứng dụng của khoa học hiện đại vào việc hoàn thiện hệ thống thông tin và các phương tiện giao thông vận tải, ngoài ra cần hoàn thiện hệ thống nghiên cứu thông tin liên lạc giúp cho việc vận chuyển dễ dàng, tiết kiệm chi phí Bên cạnh đó còn một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu như: yếu tố nhân khẩu, văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên… Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến tập quán sản xuất và tập quán tiêu dùng của từng quốc gia Các yếu tố về luật pháp, môi trường kinh doanh là những yếu tố khách quan, doanh nghiệp không thể làm thay đổi nó Doanh nghiệp buộc phải tuân theo và tự điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của nó

Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp

Tiềm lực tài chính là số vốn doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh nhập khẩu Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, nó quyết định qui mô kinh doanh, quyết định khả năng thanh toán, doanh thu… của doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn lực tài chính mạnh hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại trong nước Doanh nghiệp nhập khẩu có tiềm lực tài chình lớn thì sẽ có việc tiến hành những hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn sẽ dễ dàng hơn

Nguồn lực con người trong doanh nghiệp

Được thể hiện ở số lượng lao động, trình độ và khả năng làm việc của từng

cán bộ nhân viên, trình độ quản lý có phù hợp với quy mô kinh doanh của doanh nghiệp hay không Nguồn lực con người là nhân tố quyết định trong mọi quá trình kinh doanh, trình độ và năng lực của nguồn nhân lực phải phù hợp với loại hình kinh doanh

và mức độ kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn thì mới đem lại hiệu quả

Cơ cấu quản lý và bộ máy tổ chức

Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh hiệu quả cần phải xây dựng

Trang 33

một cơ cấu hợp lý và một bộ máy quản lý hiệu quả

Cơ cấu tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc phân công trách nhiệm và quyền hạn của mỗi phòng ban, cá nhân trong tổ chức Một cơ cấu hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng con người toàn diện nhất, tận dụng tối đa khả năng của mỗi

cá nhân

Bộ máy quản lý là nơi xây dựng chính sách, mục tiêu và chiến lược cho doanh nghiệp Đó cũng là bộ phận định hướng kinh doanh đưa ra các quyết định cuối cùng khi tổ chức gặp phải những khó khăn

Quan hệ bạn hàng

Đó là quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác cung cấp đầu vào, và các khách hàng đầu ra cho nhập khẩu Mối quan hệ này vô cùng quan trọng, nó quyết định sự thuận lợi trong kinh doanh ngoại thương, quyết định vị thế, uy tín của doanh nghiệp, gây dựng lòng tin vào doanh nghiệp

2.1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất, phân phối và một bên là tiêu dùng Trong quá trình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán các sản phẩm được thực hiện Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ sản phẩm cũng chủ yếu nằm trong hai khâu này của quá trình tuần hoàn và lưu thông hàng hoá

Những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp

- Tình hình sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến tiêu thụ sản phẩm Liệu khả năng của doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường hay không? Với số lượng là bao nhiêu? Thời gian như thế nào?

Những vấn đề trên phụ thuộc nhiều vào tiềm năng, sự đầu tư của doanh nghiệp vào năng lực, máy móc thiết bị, nguồn nhân lực để thúc đẩy sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường

- Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng nhiều đến tiêu thụ Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật, tay nghề của công nhân viên, phải chú trọng đầu tư áp dụng và đổi

Trang 34

mới công nghệ sản xuất Thực tế cho thấy ở những thị trường lớn có nhu cầu sử dụng phát triển thì đòi hỏi về chất lượng sản phẩm càng cao hơn

- Tình hình dự trữ hàng hoá mà tốt sẽ giúp cho tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi hơn, doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị tấn công và chiếm lĩnh thị trường dễ dàng hơn

Trong cơ chế thị trường hiện nay, dự trữ lưu thông của Doanh nghiệp có một vai trò rất lớn với đặc điểm có tính cơ động cao, dự trữ lưu thông đảm bảo cho quá trình kinh doanh tiến hành được liên tục và có hiệu quả, đồng thời dự trữ lưu thông còn góp phần vào việc ổn định thị trường hàng hoá

- Công tác tiêu thụ sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quyết định của chiến lược chung Marketing doanh nghiệp và các chính sách bộ phận của nó Các quyết định này của doanh nghiệp làm thay đổi mức độ thích ứng của sản phẩm của doanh nghiệp với thị trường hoặc gây ra ảnh hưởng đến thái độ hoặc tập tính của thị trường này

Trước hết, ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp hình thành chiến lược chung Marketing Sau khi chiến lược này được thông qua, các chính sách sản phẩm, giá

cả, phân phối và giao tiếp mới được hình thành một cách chi tiết Nội dung chủ yếu của chính sách này là:

+ Chính sách sản phẩm: Đó là việc xác định gam và các đặc tính của từng hàng hoá (bao gồm : tên gọi, đóng gói bao bì, các dịch vụ sau bán hàng)

+ Chính sách giá cả : Là việc qui định vùng hoặc biên độ của từng giá hàng hoá: các điều kiện bán và chính sách cước phí

+ Chính sách phân phối và bán hàng : Là việc lựa chọn chu trình về các kênh phân phối, xác định quan hệ với cấp trung gian về phương thức trả công, tuyển chọn, đào tạo, kiểm tra người bán hàng của doanh nghiệp

+ Chính sách giao tiếp và khuyếch trương : Là việc lựa chọn các phương tiện chủ yếu dành để thông tin và gây ảnh hưởng đến khách hàng của doanh nghiệp Đặc biệt là việc qui định ngân sách doanh nghiệp giành cho giao tiếp và khuyếch trương, lựa chọn các phương tiện thông tin và yểm trợ, quảng cáo, lựa chọn các trục và chủ

dề quảng cáo…

Trang 35

Những nhân tố thuộc về người mua

Khách hàng là người đề đạt các yêu cầu và mong muốn Họ là người lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, họ góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Những nhân tố thuộc về người mua ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp bao gồm: nhu cầu tự nhiên, nhu cầu mong muốn, mức thu nhập,

sở thích thị hiếu, tập quánm,.v.v Những nhân tố trên của khách hàng quy tụ lại trên hai phương diện: tập tính hiện thực và tập tính tinh thần của người tiêu dùng Đối với hai phương diện trên của khách hàng, để thúc đẩy hành động mua hàng thì doanh nghiệp phải tạo được hình ảnh đẹp với khách hàng về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp thông qua các hoạt động Marketing như: tăng cường quảng cáo với nghệ thuật cao, bố trí mạng lưới bán hàng hợp lý, rộng khắp, nâng cao nghệ thuật trong bán hàng

Đối thủ cạnh tranh

Quy luật cạnh tranh tồn tại tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá Nó hoạt động trên thị trường Quy luật cạnh tranh biểu hiện qua sự cạnh tranh giữa người bán với người bán, người mua với người mua và giữa người mua với người bán Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau vì lợi ích kinh tế Cạnh tranh là một công cụ quan trọng trong nền kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy nhu cầu người tiêu dùng Nếu thắng lợi trong cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển và ngược lại

Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp phải thường xuyên chú ý đến các đối thủ cạnh tranh cũng như các khách hàng mục tiêu của mình, hiểu biết đối thủ của mình là quan trọng để các doanh nghiệp hoạch định kế hoạch tiếp thị có hiệu quả Những điều doanh nghiệp cần biết về đối thủ cạnh tranh là:

- Ai là đối thủ của DN ?

- Mục tiêu của họ là gì ?

- Chiến lược của họ như thế nào ?

- Điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ ?

Trang 36

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Khái quát về nhập khẩu máy móc thiết bị ở Việt Nam

Theo báo cáo thống kê của Tổng cục Hải quan (2013) Việt Nam cho thấy, tháng 10/2013 cả nước đã nhập khẩu 1,7 tỷ USD mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng

cụ phụ tùng, tăng 12,7% so với tháng 9/2013, nâng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này 10 tháng đầu năm lên 15,1 tỷ USD, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước Việt Nam nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ 37 nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm 34,9% tỷ trọng, đạt kim ngạch 5,2 tỷ USD, tăng 23,46% so với cùng kỳ Máy móc, thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là máy mới, nhưng giá rẻ hơn máy của Nhật Bản, Đức như máy ép nhựa dùng trong sản xuất công nghiệp, máy ép nhựa dùng trong văn phòng, máy dán thùng cactông, thiết bị bay hơi dùng trong kho lạnh công nghiệp, máy cưa kim loại, máy in hạn sử dụng Thực tế, máy cưa kim loại nhập từ Trung Quốc bán trên thị trường giá chỉ bằng một nửa so với máy nhập từ Đức nên doanh nghiệp nhập khẩu về nhiều

Bảng 2.1 Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu máy móc,

Trang 37

Biểu đồ 2.1: Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản, tuy nhiên, nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ thị trường Nhật Bản lại giảm so với cùng kỳ, giảm 16,85%, với kim ngạch 2,4 tỷ USD

Thị trường đứng thứ 3 về kim ngạch là Hàn Quốc, với kim ngạch nhập 2,3 tỷ USD, tăng 63,39% so với 10 tháng năm 2012

Đáng chú ý, tuy kim ngạch nhập khẩu mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng từ thị trường Thổ Nhĩ Kỳ chỉ đạt 20,2 triệu USD, nhưng lại có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, tăng 144,92% so với cùng kỳ

Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: kim ngạch nhập khẩu trong tháng là hơn 2 tỷ USD, giảm 10,3% so với tháng trước Tính từ đầu năm đến hết tháng 11/2014, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 20,16 tỷ USD, tăng 19,1% so với 11 tháng/2013

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong 11 tháng qua với trị giá là 7,1 tỷ USD, tăng 19,4%; tiếp theo là các thị trường: Nhật Bản: 3,31 tỷ USD, tăng 22,6%; Hàn Quốc: 2,82 tỷ USD, tăng 8,8%; Đài Loan: 1,29 tỷ USD, tăng mạnh 55,2%…

2.2.2 Áp lực cạnh tranh trong ngành than- khoáng sản

Việc khai thác than diễn ra rất mạnh mẽ trong thời gian gần đây với sự tham gia của rất nhiều các DN mới tham gia vào ngành vì cơ hội lợi nhuận rất lớn Theo

Trang 38

khảo sát của Viện Tư vấn phát triển (CODE), số lượng doanh nghiệp (DN) hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản tăng nhanh, đến năm 2007 đã có 1.692 DN tham gia lĩnh vực này, tăng gấp 4 lần so với năm 2000 (427 DN), bình quân tăng 21,7%/năm Đầu tư của kinh tế tư nhân đang có xu hướng gia tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư (tăng từ 10% năm 2000 lên 75,2% năm 2008

Áp lực cạnh tranh còn tới từ các các công ty nước ngoài là rất lớn Với chính sách ưu đãi thuế của chính phủ thì ngành than có nhiều lợi thế so với các ngành khác do đó sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp trong ngành khai thác muốn mở rộng thêm lĩnh vực sản xuất kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thương mại

từ Trung Quốc kinh doanh máy móc thiết bị đã xuất hiện nhiều tại Quảng Ninh và các tỉnh phía bắc nơi có nhu cầu về máy mcs khai thác khoáng sản Điều này khiến cho cạnh tranh trong việc giành thị phần cung cấp máy móc khai thác mỏ trở nên khắc nghiệt hơn cho các doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào lĩnh vực này Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm chính về việc phát triển ngành Than, khoáng sản cung cấp than trong nước và làm đầu mối phối hợp với các hộ tiêu thụ than lớn thực hiện việc nhập khẩu than cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiện nay hầu hết các công ty than đang niêm yết trên sàn chứng khoản đều là công ty con của TKV (TKV nắm giữ 51% cổ phiếu )

do đó cạnh tranh giữa các công ty trên sàn là không có

Cạnh tranh từ sản phẩm thay thế

Với mục đích sử dụng là tạo ra năng lượng nhiệt, do vậy hiện nay có rất nhiều sản phẩm có thể thay thế được cho than dầu khí, điện, gỗ, năng lượng mặt trời, và đặc biệt là năng lượng nguyên tử do đó nếu giá than quá cao nhiều doanh nghiệp cũng sẽ chuyển sang dùng nguồn năng lượng khác vì thế cạnh tranh giữa các ngành là rất cao Tuy nhiên việc sử dụng các sản phẩm thay thế này đòi hỏi các nhà máy phải có trình độ công nghệ tiên tiến, trong khi đó hiện nay trình độ cộng nghệ của các nhà máy nước ta còn lạc hậu do đó trong thời gian tới việc chuyển sang dùng sản phẩm thay thế là hơi khó khăn

Trang 39

3 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Vài nét khái quát về công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất-Vimico

3.1.1.1 Quá trình phát triển

Công ty CP Vật tư Mỏ Địa chất-Vimico

Địa Chỉ : Km1 - Quốc lộ 3 - Yên Viên - Gia Lâm - Hà Nội

Điện thoại: (04) 3827 1777 – 3878 1463 - Fax: (04) 3.8271439

Công ty CP Vật tư Mỏ Địa chất-Vimico đã có truyền thống hơn 50 năm hoạt động trong lĩnh vực cung ứng vật tư thiết bị mỏ, địa chất:

- Từ năm 1960 đến năm 1978 là Cục vật tư trực thuộc Tổng Cục địa chất chuyên nhập khẩu hàng phục vụ cho toàn ngành Địa chất

- Từ năm 1978 đến năm 1997 là Công ty Vật tư địa chất trực thuộc Tổng cục địa chất, là đơn vị duy nhất nhập và xuất khẩu hàng phục vụ cho toàn ngành Mỏ và Địa chất, khoáng sản Có hai Xí nghiệp thi công, lắp đặt các công trình điện từ 35

KV trở xuống

Từ năm 1998 đến năm 2003 là Công ty Vật tư Mỏ- Địa chất trực thuộc Tổng công ty khoáng sản Việt Nam, có nhiệm vụ kinh doanh nhập và xuất khẩu hàng phục vụ cho ngành Mỏ và Địa chất và khoáng sản Có một Xí nghiệp tổ chức thi công, lắp đặt thiết bị Mỏ, các công trình điện từ 35 KV trở xuống và chế biến nguyên liệu khoáng phục vụ các ngành Mỏ, Xây dựng, Giao thông vận tải

Từ năm 2004 đến nay Công ty chuyển sang hình thức Công ty Cổ phần (Nhà nước giữ cổ phần chi phối - Tổng công ty khoáng sản Vinacomin, có nhiệm vụ kinh doanh nhập và xuất khẩu hàng cung cấp cho ngành Mỏ và Địa chất và khoáng sản

Có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề tham gia bảo trì , lắp đặt thiết bị hầm lò cho một số mỏ thuộc Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam

Bảng 3.1: Tổng số Cán bộ CNV trong 03 năm gần đây:

Lĩnh vực (người) 2012 (người) 2013 (người) 2014 So sánh (%)

Trang 40

Qua bảng số liệu ta thấy số lượng cán bộ công nhân viên của công ty khá nhiều, tuy nhiên từ năm 2012-2014 số lượng cán bộ công nhân viên giảm

Từ năm 2012-2013 số lượng CBCNV giảm 25 người tương đương với giảm 78,12%

Từ năm 2013-2014 số lượng CBCNV không thay đổi

Nguyên nhân của sự giảm CBCNV trong giai đoạn 2012-2014 là do công ty

đang trong giai đoạn tái cơ cấu lại bộ máy tinh giảm lực lượng sản xuất trực tiếp tham gia vào sản xuất máy móc mà tập trung vào cán bộ kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu Và bắt đầu từ năm 2013 công ty chủ yếu nhập khẩu máy móc thiết bị từ

các nước, việc sản xuất giảm nên số lượng CBCNV sản xuất giảm mạnh

Là đơn vị hoạt động lâu năm trong lĩnh vực kinh doanh vật tư thiết bị cho ngành Mỏ, Địa chất Chúng tôi luôn cung cấp các loại vật tư thiết bị phù hợp, hiệu quả với những dịch vụ tốt nhất theo yêu cầu của khách hàng

Với đội ngũ cán bộ kinh doanh, kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề có kinh nghiệm lâu năm, chúng tôi cam kết sẽ cung cấp cho khách hàng các dịch vụ như: hướng dẫn vận hành, lắp đặt thiết bị, bảo dưỡng, bảo hành, hỗ trợ về kỹ thuật, phụ tùng thay thế một cách tối ưu và hoàn hảo nhất, đảm bảo thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng

3.1.1.2 Lĩnh vực kinh doanh

- Kinh doanh vật tư thiết bị ngành Mỏ - Địa chất

- Kinh doanh tư liệu sản xuất phục vụ công nghiệp, giao thông, xây dựng

- Làm đại lý ký gửi hàng hoá, Khai thác chế biến khoáng sản

- Sản xuất gia công chế biến nguyên liệu khoáng sản phục vụ xuất khẩu

- Xây lắp đường dây và trạm điện

- Khoan phục vụ khảo sát, thăm dò các công trình

- Dịch vụ kinh doanh kho bãi và vận tải hàng hoá

- Thi công, lắp đặt thiết bị mỏ

- Kinh doanh vật tư, nguyên liệu, thiết bị ngành nông nghiệp (Không bao gồm thuốc bảo vệ thực vật)

- Kinh doanh vật tư thiết bị khoa học kỹ thuật,Gia công, chế biến kim loại mầu

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu thống kê  sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu máy móc, - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 2.1. Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu máy móc, (Trang 36)
Bảng 3.1: Tổng số Cán bộ CNV trong 03 năm gần đây: - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 3.1 Tổng số Cán bộ CNV trong 03 năm gần đây: (Trang 39)
Bảng 3.2. Tỷ suất lợi nhuận của công ty giai đoạn năm 2012 – 2014 - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 3.2. Tỷ suất lợi nhuận của công ty giai đoạn năm 2012 – 2014 (Trang 46)
Bảng 4.1: Thị trường nhập khẩu chủ yếu của công ty trong 3 năm gần đây - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.1 Thị trường nhập khẩu chủ yếu của công ty trong 3 năm gần đây (Trang 53)
Bảng 4.2: Tình hình nhập khẩu máy và phụ tùng - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.2 Tình hình nhập khẩu máy và phụ tùng (Trang 55)
Bảng 4.3: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo thị trường tiêu thụ - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.3 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo thị trường tiêu thụ (Trang 57)
Bảng 4.4: Tình hình tiêu thụ các mặt hàng của công ty - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.4 Tình hình tiêu thụ các mặt hàng của công ty (Trang 58)
Bảng 4.5. Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo đơn hàng và không theo đơn hàng - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.5. Tình hình tiêu thụ sản phẩm theo đơn hàng và không theo đơn hàng (Trang 59)
Bảng 4.6: Một số khách hàng chủ yếu của công ty - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.6 Một số khách hàng chủ yếu của công ty (Trang 61)
Bảng giá một số mặt hàng thiết bị năm 2014 - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng gi á một số mặt hàng thiết bị năm 2014 (Trang 66)
Bảng 4.9. Mức độ hài lòng của khách hàng đối với công tác - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.9. Mức độ hài lòng của khách hàng đối với công tác (Trang 73)
Bảng 4.10. Ma trận SWOT phát triển kinh doanh của Công ty - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Bảng 4.10. Ma trận SWOT phát triển kinh doanh của Công ty (Trang 78)
Sơ đồ 4.1: Các bước quyết định giá bán tối ưu - Phát triển thị trường tiêu thụ máy móc, thiết bị nhập khẩu tại công ty cổ phần vật tư mỏ địa chất vimico
Sơ đồ 4.1 Các bước quyết định giá bán tối ưu (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w