Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong định hướng phát triển của doanh nghiệp.. Phát triển thị tr
Trang 12.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường 13
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường của Viglacera Việt Nam 17 2.2.2 Kinh nghiệm phát triển thj trường của HTX vật liệu xây dựng Tuổi Trẻ 21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên – Kinh tế - Xã hội của huyện Phúc Thọ 25 3.1.2 Khái quát về sự phát triển của Hợp tác xã Quang Minh 29
Trang 23.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 34
4.1 Thực trạng phát triển thị trường sản phẩm gạch đất nung của HTX Quang
4.1.1 Khái quát về tình hình sản xuất kinh doanh của HTX 38
4.1.3 Công tác tiếp thị, xúc tiến và quảng cáo 51
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường gạch đất nung của
4.3 Định hướng và các giải pháp phát triển thị trường gạch đất nung của HTX 75 4.3.1 Các căn cứ để xây dựng các giải pháp phát triển thị trường 75
Trang 3LNTT Lợi nhuận trước thuế
SWOT Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức
Trang 4DANH MỤC BẢNG
4.1 Kết quả kinh doanh của HTX trong 3 năm 2012-2014 38 4.2 Thị phần gạch đất nung của HTX Quang Minh trên địa bàn huyện Ba
4.3 Trọng tải xe vận chuyển VLXD của các lái xe trên địa bàn huyện
4.23 Chiết khấu theo doanh thu cho kênh phân phối trên địa bàn huyện
4.24 Tỷ lệ chiết khấu dựa trên khả năng thanh toán của HTX Quang Minh 91
Trang 6PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, dưới sự thuận tiện của đường giao thông đi lại, khoảng cách giữa các doanh nghiệp tới người tiêu dùng không còn là vấn đề trở ngại lớn Chính vì vậy thị trường không còn là của riêng một ai hay bất cứ một doanh nghiệp nào, sự cạnh tranh được tăng lên theo từng giờ
và từng ngày, vậy nên các doanh nghiệp cần có một định hướng rõ ràng cho sự phát triển và kế hoạch sản xuất lâu dài của mình Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển thị trường đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong định hướng phát triển của doanh nghiệp Trong một thị trường chật chội và nhiều sự cạnh tranh mà qui mô sản xuất được phát triển và sản phẩm tạo ra ngày một nhiều hơn thì việc cần thiết là phải tìm một thị trường mới cho sản phẩm của doanh nghiệp, để tại đó sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao nhất
Phát triển thị trường sẽ giúp doanh nghiệp đẩy nhanh việc tiêu thụ sản phẩm, khai thác triệt để tiềm năng của thị trường và tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp HTX sản xuất vật liệu Quang Minh với sự hình thành và phát triển hơn 10 năm trong ngành sản xuất gạch đất nung đã tạo nên thương hiệu và uy tín riêng cho mình tại thị trường truyền thống Cùng với thời gian thì qui mô sản xuất của HTX cũng tăng lên và đạt tới 23-25 triệu viên gạch một năm Vì vậy để tránh việc sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều do bối cảnh kinh tế trì trệ hiện nay thì việc phát triển thị trường mới cho HTX là vô cùng cấp thiết, để giúp HTX duy trì và tăng thêm lợi nhuận cũng như khẳng định vị thế của HTX trên thị trường Do đó nghiên cứu đề
tài : “Phát triển thị trường sản phẩm gạch đất nung trên địa bàn huyện Phúc Thọ (Hà Nội) của HTX sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh” là cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển thị trường và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường sản phẩm gạch đất nung của Hợp Tác Xã Quang Minh trên địa bàn huyện
Trang 7Phúc Thọ và từ đó đề xuất giải pháp phát triển thị trường gạch đất nung trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển thị trường gạch đất nung của HTX
Quang Minh trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thị trường huyện Phúc Thọ có tiềm năng gì ?
- Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường là những ai ?
- Hệ thống phân phối sản phẩm của Hợp tác xã hiện nay có những hình thức nào ?
- Khách hàng trên thị trường huyện Phúc Thọ thích sản phẩm gạch đất nung như thế nào, giá cả ra sao (giá được so sánh trên thị trường hiện tại),
(mẫu mã, giá cả, chất lượng)
- Có các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc phát triển thị trường gạch đất nung trên địa bàn huyện Phúc Thọ ?
- Nên xây dựng kênh phân phối như thể nào tại thị trường huyện Phúc Thọ ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển thị trường sản phẩm gạch đất nung của Hợp tác xã sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh trên thị trường huyện Phúc Thọ
* Đối tượng khảo sát
- Đại lý
- Khách hàng sử dụng sản phẩm
- Các chủ xe làm dịch vụ vận tải chở vật liệu xây dựng
Trang 81.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
Tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường, qua đó xây dựng các giải pháp phát triển thị trường cho HTX trên địa bàn huyện Phúc Thọ
1.4.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Phúc Thọ - Hà Nội
1.4.2.3 Phạm vi thời gian
- Các số liệu điều tra phân tích được lấy từ năm 2012 đến năm 2014
- Thời gian thực hiện đề tài bắt đầu từ tháng 08/2014 – 9/2015
Trang 9PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về thị trường
Thị trường xuất hiện cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá Thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường, ở nhiều phương diện và góc độ khác nhau Mỗi lĩnh vực cụ thể lại có những khái niệm riêng mang những nét đặc trưng cho thị trường đó
Theo quan điểm của kinh tế chính trị Mác–Lênin (Nguyễn Quang Hạnh và Nguyễn Văn Lịch, 2006): Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lượng của hàng hoá
Còn theo quan điểm của David Begg et al (2008 ) Thị trường được hiểu
theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp như sau:
Theo nghĩa rộng: Thị trường là sự biểu hiện của sự thu gọn quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào ? và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả
Theo nghĩa hẹp: Thị trường là sự tập hợp các sự thoả thuận thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ
Theo Philip Kotler (1997): “Thị trường là tập hợp những người mua hàng hiện tại và tương lai” Quan điểm này coi khách hàng là thị trường của nhà kinh doanh Với quan điểm đó đã mở ra khả năng khai thác thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp Thị trường luôn ở trạng thái vận động và phát triển, khả năng phát triển khách hàng sẽ quyết định sự phát triển thị trường của các nhà kinh doanh
Theo quan điểm thương mại truyền thống (Trần Thúy Lan, 2005): “Thị
trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và chuyển nhượng, là nơi người mua
và người bán gặp gỡ, trao đổi hàng hoá, dịch vụ”
Trang 10Theo quan điểm kinh tế (Nguyễn Thượng Thái, 2007): “Thị trường là hệ thống gồm người mua và người bán, và mối quan hệ cung cầu giữa họ” Theo quan điểm này số lượng, giá cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường được xác định trên cơ
sở thoả thuận giữa người mua và người bán nhằm thoả mãn nhu cầu của họ Từ quan điểm này cho thấy, thị trường là môi trường tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lợi ích của mỗi thành viên tham gia thị trường
Theo quan điểm Marketing (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2005): “Thị trường
là tập hợp những người hiện đang mua và sẽ mua một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó” Từ quan điểm này cho thấy quy mô thị trường được hiểu là số lượng khách hàng có thể có đối với một loại sản phẩm, một loại dịch vụ trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định Vậy điều kiện để tạo nên thị trường là phải có khách hàng, khách hàng phải có nhu cầu mua, phải có khả năng thanh toán và sẵn sàng mua khi nhu cầu được đáp ứng
Từ những quan điểm trên cho thấy, thị trường chứa đựng tổng cung, tổng cầu,
cơ cấu cung cầu về một loại sản phẩm hàng hoá hay một nhóm hàng hóa nào đó Thị trường có vị trí trung tâm, nó vừa là mục tiêu, vừa là môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá Trên thị trường người mua, người bán, các trung gian gặp nhau trao đổi hàng hoá dịch vụ, từ đó mà hoạt động kinh doanh được thực hiện và góp phần thoả mãn nhu cầu cùng lợi ích của mỗi người
2.1.1.2 Khái niệm về phát triển thị trường
Theo Philip Kotler (2009) thì khái niệm về phát triển thị trường được phát biểu là:
• Phát triển thị trường theo chiều rộng
• Phát triển thị trường theo chiều sâu
Phát triển thị trường theo chiều rộng
Phát triển thị trường theo chiều rộng thích hợp với lĩnh vực ngành nghề chưa
có nhiều cạnh tranh hoặc có cạnh tranh nhưng chưa cao Do đó, vẫn còn nhiều vùng địa lý, nhiều đối tượng tiêu dùng chưa được tiếp cận với sản phẩm của doanh nghiệp và của đối thủ cùng loại
Trang 11Phát triển thị trường theo chiều rộng là việc các doanh nghiệp tiến hành phát triển các kênh phân phối sản phẩm của mình trên diện rộng, gia tăng các cửa hàng, đại lý nhằm quảng bá nhiều hơn về sản phẩm của doanh nghiệp đến với khách hàng (Philip Kotler, 2009)
Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể sử dụng 2 cách:
+ Phát triển thị trường theo vùng địa lý
+ Phát triển thị trường theo đối tượng tiêu dùng
• Phát triển thị trường theo vùng địa lý
Phát triển thị trường theo chiều rộng thông qua vùng địa lý tức là doanh nghiệp sẽ mang sản phẩm của mình đến tiêu thụ tại các vùng khác với vùng hiện tại, nhằm tiếp cận nhiều khách hàng hơn, phát triển thị trường cho doanh nghiệp
Việc phát triển thị trường theo vùng địa lý đòi hỏi doanh nghiệp phải mở nhiều cửa hàng hơn tại các khu vực khác nhau, cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng bán hàng Hơn nữa, sản phẩm của doanh nghiệp phải phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của dân cứ khu vực phát triển Không phải sản phẩm nào của doanh nghiệp bán ra cũng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của tất cả khách hàng, trước khi phát triển thị trường sang vùng địa lý khác, doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường cẩn thận, các yếu tố thu nhập, giá cả, thói quen sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng ở khu vực mới nhằm đưa ra các quyết định chính xác nhất
Chi phí phát triển cửa hàng, đại lý, chi phí vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến địa điểm tiêu thụ cũng là điều doanh nghiệp cần quan tâm khi quyết định phát triển thị trường theo vùng địa lý Tránh việc tốn quá nhiều chi phí dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao gây bất lợi trong tiêu thụ (Philip Kotler, 2009)
• Phát triển thị trường theo đối tượng tiêu dùng
Bên cạnh việc phát triển ranh giới thị trường theo vùng địa lý, chúng ta có thể phát triển và phát triển thị trường bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của đối thủ chuyển sang sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mình
Có thể trước đây sản phẩm của doanh nghiệp chỉ nhằm vào một số đối tượng nhất định trên thị trường thì nay đã thu hút thêm nhiều đối tượng khác nữa Điều
Trang 12này cũng làm tăng doanh số bán và dẫn tới tăng lợi nhuận (Philip Kotler, 2009) Một số sản phẩm đứng dưới góc độ người tiêu dùng xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng được nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau Với mỗi mục tiêu này ta có thể nhằm vào một nhóm người tiêu dùng khác nhau, phát triển dựa trên nhu cầu của
họ nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Mỗi nhóm người này cũng có thể được xếp vào khu vực thị trường còn bỏ trống mà doanh nghiệp có khả năng khai thác
Doanh nghiệp phải xác định rõ đâu là nhu cầu mà khách hàng quan tâm để khai thác cho từng nhóm khách hàng mục tiêu, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh (Philip Kotler, 2009)
Phát triển thị trường theo chiều sâu
Trong trường hợp doanh nghiệp đào sâu khai thác thị trường hiện hữu, với khách hàng là khách hàng hiện tại của doanh nghiệp, thường xuyên mua hàng và sử dụng sản phẩm thì phát triển thị trường theo cách này được gọi là phát triển thị trường theo chiều sâu (Philip Kotler, 2009)
Để phát triển thị trường theo chiều sâu thì cần thực hiện theo những bước sau đây:
• Bước 1: Thâm nhập sâu vào thị trường hiện tại
Đây là hình thức phát triển và phát triển thị trường theo chiều sâu trên cơ sở khai thác tốt hơn sản phẩm hiện tại trên thị trường hiện tại
Khách hàng trong trường hợp này là khách hàng hiện tại của doanh nghiệp, thường xuyên mua hàng và sử dụng sản phẩm Doanh nghiệp cần khai thác đi sâu, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng này, kích thích họ mua sản phẩm thông qua các chương trình khuyến mãi hàng tháng, tặng thẻ hội viên ưu đãi, các chương trình giảm giá dành cho khách hàng thân thiết… nhằm lôi kéo thêm khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Việc thâm nhập sâu vào thị trường hiện tại cũng là cách để doanh nghiệp giữ chân khách hàng hiện tại, không cho họ đến với đối thủ cạnh tranh của mình
Tuy nhiên, việc này cũng gặp những khó khăn khi mà khách hàng đã quá quen thuộc với sản phẩm của doanh nghiệp trong khi hàng ngày có rất nhiều sản
Trang 13phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh với các chương trình quảng cáo, khuyến mãi tác động vào khách hàng, các chương trình dung thử miễn phí… Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thực sự nghiêm túc trong các chương trình khuyến mại và quảng cáo của mình, đồng thời không ngừng thông tin đến khách hàng hình ảnh của sản phẩm nhằm khắc sâu vào tâm trí người tiêu dùng, xâm nhập sâu hơn vào thị trường còn tuỳ thuộc vào quy mô của thị trường hiện tại Nếu quy mô của thị trường hiện tại của doanh nghiệp quá nhỏ bé thì việc xâm nhập sâu hơn vào thị trường hay nói một cách khác là phát triển thị trường sản phẩm theo chiều sâu có thể thực hiện ngay cả tại những thị trường mới Những thị trường này chính là những thị trường doanh nghiệp mới phát triển theo chiều rộng, người tiêu dùng đã bắt đầu có khái niệm về sản phẩm của doanh nghiệp (Philip Kotler, 2009)
• Bước 2: Phân đoạn, lựa chọn thị trường mục tiêu
Phân đoạn thị trường chính là chia thị trường thành từng phần có những đặc điểm tương đối giống nhau Với từng đoạn thị trường này doanh nghiệp sẽ có những cách thâm nhập thị trường khác nhau nhằm đạt được tối đa thị phần
Với mỗi thị trường mục tiêu khác nhau, thị hiếu người tiêu dùng cũng khác nhau Do đó để thành công thì đối với mỗi thị trường doanh nghiệp cần có những giải pháp tiếp cận khác nhau Cần có những kế hoạch nghiên cứu thị trường nghiêm túc thì doanh nghiệp mới có thể thành công
Đối với mỗi doanh nghiệp, có rất nhiều khách hàng nhưng không phải khách hàng nào cũng là tiềm năng Cần phải xác định những “tiềm năng” ấy thì doanh nghiệp mới có thể thành công trong giải pháp tiếp cận thị trường của mình (Philip Kotler, 2009)
• Bước 3: Đa dạng hóa sản phẩm
Nhu cầu của con người không bao giờ dừng lại mà luôn luôn tăng lên Nếu doanh nghiệp có thể nắm bắt được nhu cầu đó và thỏa mãn chúng thì họ sẽ có được thị trường tiềm năng rộng lớn này
Doanh nghiệp có thể nghiên cứu nhu cầu của các khách hàng hiện tại, sau đó thỏa mãn chúng Điều này không hề khó khăn, bởi với các khách hang của doanh
Trang 14nghiệp, họ hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua cải tiến sản phẩm(mẫu mã, bao bì…) dựa trên cơ sở vật chất có sẵn (Philip Kotler, 2009)
• Bước 4: Phát triển về phía trước
Là việc doanh nghiệp khống chế đường dây tiêu thụ sản phẩm đến tận người tiêu dùng cuối cùng
Thông qua hệ thống kênh phân phối và đường dây tiêu thụ, sản phẩm được quản lý một cách chặt chẽ, thị trường sản phẩm sẽ có khả năng phát triển và đảm bảo người tiêu dùng sẽ nhận được sản phẩm mới với mức giá tối ưu do doanh nghiệp đặt
ra mà không phải chịu bất cứ một khoản chi phí nào khác
Việc phát triển thị trường trong trường hợp này cũng đồng nghĩa tổ chức mạng lưới tiêu thụ và kênh phân phối sản phẩm của doanh nghiệp Hệ thống tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở xa bao nhiêu thì khả năng phát triển thị trường càng lớn bấy nhiêu (Philip Kotler, 2009)
• Bước 5: Phát triển ngược
Là việc doanh nghiệp khống chế nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật tư để
ổn định đầu vào của quá trình sản xuất Với việc khống chế nguồn cung cấp đầu vào, doanh nghiệp có thể đảm bảo nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất của mình luôn ổn định và giá thành phải chăng, tránh những biến động trên thị trường nếu xảy ra (Philip Kotler, 2009)
tế của từng doanh nghiệp mới có thể quyết định là có làm được hay không
(Philip Kotler, 2009)
2.1.2 Sự cần thiết phải phát triển thị trường
a Xây dựng giải pháp phát triển thị trường là một tất yếu khách quan
Trang 15Theo xu thế nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú với tất cả các lọai hàng hóa nói chung Theo đó thì cạnh tranh giữa các DN ngày càng gay gắt và quyết liệt hơn nhằm giành được khách hàng, chiếm được thị phần lớn hơn Vì vậy mà việc xây dựng giải pháp phát triển thị trường với DN là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường như hiện nay (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2013)
b Xác định rõ hướng đi cho DN trong thời gian thực hiện giải pháp
Giải pháp thị trường chỉ rõ mục tiêu cần đạt tới của DN, trong thời gian xác định và những kế hoạch, giải pháp, giúp DN chủ động hơn trong sản xuất và kinh doanh
Hơn nữa giúp DN hiểu rõ hơn khách hàng hiện tại, những mong muốn của
họ cũng như là khai thác thêm trong thị trường mới, nhằm đưa ra được những quyết định phù hợp để tăng lượng sản phẩm tiêu thụ của Công ty (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2013)
c Khai thác tối đa nội lực DN
Với quy mô thị trường được phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu sẽ giúp cho DN sử dụng hiệu quả nguồn lực của DN về tất cả mọi mặt, giảm chi phí chung cho việc sản xuất, lợi dụng tính lợi thế về quy mô, từ đó không những tăng thị phần
mà còn tăng LN cho DN (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2013)
2.1.3 Chức năng của thị trường
Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2011) thì thị trường có những chức năng sau đây:
2.1.3.1 Chức năng thực hiện
Chức năng này đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện giá trị trao đổi: hoặc bằng tiền hoặc bằng hàng, bằng các chứng từ có giá khác , người bán hàng cần tiền còn người mua hàng cần hàng, sự gặp gỡ giữa người bán và người mua được xác định bằng giá mà cả hai bên đã thỏa thuận Hàng hóa bán được tức là có
sự dịch chuyển từ người bán sang người mua, nghĩa là có sự thực hiện chuyển đổi giá trị (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
Trang 162.1.3.2 Chức năng thừa nhận
Doanh nghiệp thương mại mua hàng hóa về để bán, hàng hóa có bán được hay không phải thông qua các chức năng thừa nhận của thị trường, của khách hàng, của doanh nghiệp Nếu hàng hóa bán được tức là thị trường thừa nhận, doanh nghiệp thương mại mới thu hồi được vốn, có nguồn thu trang trải chi phí và có lợi nhuận Ngược lại nếu hàng hóa đưa ra bán nhưng không có ai mua tức là không được thị trường thừa nhận Để được thị trường thừa nhận dooanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để từ đó tiến hành kinh doanh những sản phẩm phù hợp, sự phù hợp ở đây chính là sự phù hợp về số lượng chất lượng, sự đồng bộ, quy cách, cỡ loại, màu sắc, bao bì, giá cả, thời gian và địa điểm thuận tiện cho khách hàng (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
2.1.3.3 Chức năng điều tiết, kích thích
Qua hành vi trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, thị trường điều tiết
và kích thích sản xuất và kinh doanh phát triển và ngược lại Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng hóa và dịch vụ bán hết nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động tạo nguồn hàng, thu mua hàng hóa để cung ứng ngày càng nhiều hơn cho thị trường ngược lại, nếu hàng hóa và dịch vụ không bán được, doanh nghiệp sẽ hạn chế mua, phải tìm khách hàng mới, thị trường mới, hoặc chuyển hướng kinh doanh mặt hàng khác đang hoặc có khả năng tiêu thụ lớn hơn Chức năng điều tiết kích thích luôn điều tiết sự gia nhập nghành hoặc rút ra khỏi ngành của một số doanh nghiệp Nó khuyến khích các nhà kinh doanh giỏi và điều chỉnh theo hướng đầu tư vào kinh doanh có lợi, các mặt hàng mới, chất lượng cao, có khả năng bán được khối lượng lớn (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
2.1.3.4 Chức năng thông tin
Thông tin trên thị trường là những thông tin nguồn cung ứng hàng hóa dịch
vụ, nhu cầu hàng hóa, dịch vụ Đó là những thông tin kinh tế quan trọng đối với mọi nhà sản xuất kinh doanh, cả người mua và người bán, cả người cung ứng và tiêu dùng, cả người quản lý và nghiên cứu sáng tạo Có thể nói đó là những thông tin được sự quan tâm của toàn xã hội Thông tin thị trường thì không thể có các quyết định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh cũng như quyết định của các cấp quản lý
Trang 17Việc nghiên cứu thị trường và tìm kiếm các thông tin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc ra các quyết định đúng đắn trong kinh doanh Nó có thể đưa đến thành công cũng như có thể đưa đến các thất bại bởi sự xác thực của các thông tin được sử dụng (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011)
Tóm lại: 4 chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Thực tế
mô hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện đầy đủ và đan xen lẫn nhau giữa 4 chức năng Tuy nhiên cũng phải thấy rõ là chỉ khi thực hiện chức năng thừa
nhận thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng
2.1.4 Nội dung của phát triển thị trường
Theo Philip Kotler (2009) thì phát triển thị trường được định hướng như sau:
a Khái niệm
Tìm thị trường trên các địa bàn mới là việc tìm kiếm thị trường mới còn bỏ trống tại các thị trường mục tiêu Đối với các doanh nghiệp, việc giữ vững và phát triển thị trường truyền thống là yếu tố quyết định sự tăng trưởng của doanh nghiệp, đồng thời, việc chủ động tìm kiếm thị trường mới cũng là yếu tố quan trọng để tạo động lực phát triển (Philip Kotler, 2009)
b Nội dung
Để phát triển được thị trường trên các địa bàn mới, các doanh nghiệp thường chú trọng vào các hoạt động sau:
* Nghiên cứu thị trường mục tiêu
Bao gồm việc nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của thị trường, tiến hành điều tra thị trường, nghiên cứu quy luật mua hàng của người tiêu dùng để thu thập, đánh giá và xử lý các thông tin về thị trường Từ đó, đưa ra những dự báo và giải pháp kinh doanh phù hợp đối với từng thị trường (Philip Kotler, 2009)
* Thực hiện giải pháp và chiến thuật tiếp thị, xúc tiến phù hợp trên thị trường
Đây là việc xác định thị trường mục tiêu mà tổ chức sẽ phục vụ thông qua việc phân đoạn thị trường và xác định vị trí thị trường, tìm kiếm các cơ hội thị trường, thông qua đó, xây dựng chiến thuật cạnh tranh trên thị trường
(Philip Kotler, 2009)
* Nghiên cứu và thực hiện giải pháp về sản phẩm và tung ra thị trường những sản phẩm phù hợp
Trang 18Doanh nghiệp cần nghiên cứu và phát hiện xem có thể thoả mãn nhu cầu hoặc mong muốn nào của khách hàng, từ đó, doanh nghiệp cần đổi mới sản phẩm ở khía cạnh nào, định giá sản phẩm ra sao để có thể thâm nhập thị trường, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Nghiên cứu về sản phẩm và định giá sản phẩm dưới góc độ nhu cầu khách hàng là việc làm quan trọng của doanh nghiệp, đó cũng là cơ
sở để vạch ra những giải pháp kinh doanh đúng đắn (Philip Kotler, 2009)
* Tổ chức kênh phân phối, tiêu thụ
Các doanh nghiệp cần hiểu rằng, một hệ thống phân phối thông suốt không những có thể nâng cao lượng tiêu thụ sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
mà còn có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí trong lưu thông, tiêu thụ sản phẩm,
từ đó, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Để tổ chức tốt kênh phân phối, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu về đặc điểm, kết cấu của hệ thống phân phối tiêu thụ trên thị trường mà doanh nghiệp dự định sẽ tham gia cũng như xu thế phát triển của hệ thống phân phối tiêu thụ, từ đó lựa chọn và quản lý các đại lý trung gian sẽ tham gia vào việc tiêu thụ sản phẩm của mình
Bên cạnh việc tổ chức kênh phân phối, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện những sách lược về đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp có thể thực hiện các sách lược về quảng cáo, tổ chức đội ngũ bán hàng trực tiếp, thực hiện công tác xúc tiến bán hàng, quan hệ cộng đồng (PR) (Philip Kotler, 2009)
* Thu thập các thông tin phản hồi từ thị trường, từ đó đưa ra những quyết sách và tiến hành những điều chỉnh phù hợp (Philip Kotler, 2009)
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường
Theo Trần Minh Đạo (2003) các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường của doanh nghiệp bao gồm:
2.1.5.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Tất cả các DN đều có thế mạnh và điểm yếu trong những bộ phận chức năng của nó, sẽ không có một DN nào đều mạnh hoặc yếu như nhau trên tất cả các lĩnh vực,
nó là cơ sở cho việc hoạnh định mục tiêu và giải pháp Đánh giá môi trường nội bộ là việc rà soát lại các mặt của công ty, mối quan hệ giữa các bộ phận, chỉ ra những điểm mạnh, cũng như những điểm yếu mà công ty còn mắc phải Có rất nhiều yếu tố nội tại
Trang 19ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của DN, tuy nhiên thì chúng ta chỉ xem xét một vài các nhân tố tác động mạnh mẽ nhất như:
- Tiềm lực tài chính: Vốn kinh doanh là nguồn lực cơ bản cấu thành tiềm
năng DN Yếu tố vốn cùng với hoạt động tài chính khác ảnh hưởng lớn đến họat động kinh doanh, sự tăng trưởng bền vững của DN Tiềm lực tài chính được phản ánh thông qua lượng vốn mà DN có thể huy động vào sản xuất kinh doanh, khả năng đầu tư, quản lý hiệu quả các nguồn vốn Phát triển thị trường cần đến một nguồn vốn lớn, trước hết là việc đầu tư phát triển quy mô (mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng) và các chi phí cho các hoạt động phát triển thị trường khác (Trần Minh Đạo, 2003)
- Marketing và bán hàng: Nhân tố này cung cấp cho DN cái nhìn về tình
hình khách hàng hiện tại cũng như tiềm ẩn của HTX, những nhu cầu phong phú về lĩnh vực mà DN đang hoạt động, đưa ra các quyết định ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: các chính sách giá, sản phẩm, hệ thống phân phối và xúc tiến thương mại Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố này có vai trò vô cùng quan trọng với sự tồn tại và phát triển của DN (Trần Minh Đạo, 2003)
- Thương hiệu và uy tín của DN: Thương hiệu và uy tín của DN là nguồn lực vô
hình, đòi hỏi quá trình tích lũy lâu dài và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau trong DN Mỗi DN đều kỳ vọng và nỗ lực để gây dựng thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thị trường vì nó thể hiện sức mạnh, vị thế của DN trên thị trường ngành
Đây là một trong các yếu tố tác động trực tiếp tới quyết định mua của người tiêu dùng khi họ so sánh với các đối thủ cạnh tranh của DN và lợi ích họ thu được khi mua sản phẩm đó (Trần Minh Đạo, 2003)
- Quản trị nhân lực: nguồn nhân lực là nhân tố làm chủ của quá trình sản
xuất và kinh doanh vì thế chất lượng nguồn lực chiếm một vị trí vô cùng quan trọng bao gồm: Số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động, công tác đào tạo bồi dưỡng lao động, hệ thống chính sách đãi ngộ, bộ máy quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp…(Trần Minh Đạo, 2003)
2.1.5.2 Các nhân tố bên ngoài DN
a Môi trường vĩ mô
- Yếu tố kinh tế: Tác động đến cả cung và cầu về hàng hóa dịch vụ, ảnh
Trang 20hưởng tới quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Có rất nhiều yếu tố nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người là hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới sức tiêu thụ sản phẩm Khi nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mở rộng hoạt động của DN và ngược lại (Trần Minh Đạo, 2003)
- Yếu tố chính trị pháp luật: Các yếu tố chính trị và pháp luật tạo ra khuôn
khổ pháp lý của môi trường để DN hoạt động, tác động tới DN theo các hướng khác nhau Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro thật sự cho DN Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn các nhà đầu tư và sự phát triển ổn định của DN (Trần Minh Đạo, 2003)
- Yếu tố kỹ thuật công nghệ: Đây là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và trực
tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của DN Trong thời buổi khoa học công nghệ phát triển từng ngày, từng giờ mỗi công nghệ mới phát sinh sẽ thay thế các công nghệ ra đời trước đó không nhiều thì ít Kỹ thuật công nghệ phát triển cho phép các
DN đẩy mạnh năng suất, cải tiến sản phẩm và luôn cho phép ra đời những sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu thị trường Nó làm thay đổi cả phương thức kinh doanh của DN, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm của DN trên thị trường Những DN sở hữu nền công nghệ cao luôn tạo được vị thế và chỗ đứng cho mình trên thị trường (Trần Minh Đạo, 2003)
- Các yếu tố văn hóa xã hội như: Bản sắc truyền thống văn hóa, trình độ dân
trí ảnh hưởng đến thái độ tiêu dùng Mỗi cá nhân trong 1 quốc gia có các quyết định tiêu dùng riêng không giống nhau và đương nhiên là các nước có bản sắc văn hóa khác nhau thì quyết định tiêu dùng cũng sẽ khác nhau (Trần Minh Đạo, 2003)
- Yếu tố toàn cầu hóa: Khu vực hóa và toàn cầu hóa đang là một xu hướng,
mọi DN phải tính đến trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Việc hội nhập nền kinh tế sẽ mở ra nhiều cơ hội rất lớn cho các DN khi thâm nhập vào thị trường quốc tế, nhưng cũng là thách thức lớn khi mà chúng ta phải cạnh tranh với các tập đoàn lớn trên thế giới Hơn nữa, vì tham gia vào nền kinh tế thế giới nên ảnh hưởng của chính sách tỉ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp tới các DN đặc biệt là các DN tham gia xuất nhập khẩu (Trần Minh Đạo, 2003)
Trang 21b Môi trường ngành
Môi trường ngành bao gồm nhiều DN có thể đưa ra các sản phẩm và dịch vụ giống nhau hoặc tương tự nhau có thể thay thế cho nhau Chúng ta phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và
đe dọa đối với DN Phân tích môi trường ngành ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của DN dựa vào mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael H Porter
Mỗi lực lượng trong số 5 lực lượng cạnh tranh càng yếu thì DN càng có
cơ hội về giá cả, sản phẩm nhằm thu được lợi nhuận và vị trí trên thương trường cao hơn, mạnh mẽ hơn và ngược lại
Sơ đồ 2.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh
(Michael Porter, năm 2009)
- Áp lực cạnh tranh từ khách hàng: Khách hàng chính là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ Sự trung thành và tín nhiệm của khách hàng là tài sản vô giá trong hoạt động kinh doanh Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua Người mua được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc DN giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn, số lượng dịch vụ sau bán hàng nhiều hơn Ngược lại khi áp lực người mua yếu sẽ mang lại cho DN một cơ hội để tăng giá kiếm được LN nhiều hơn Người mua bao gồm nhiều người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối và các nhà mua công nghiệp (Michael Porter, 2009)
- Áp lực từ các đối thủ hiện tại (cạnh tranh nội bộ ngành): Đây là sự cạnh tranh của các DN hiện tại của một ngành sản xuất Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, DN có cơ hội để tăng giá bán và kiếm nhiều LN hơn, việc mở rộng thị trường của
Đối thủ tiềm ẩn
Khách hàng Cạnh tranh
nội bộ
Sản phẩm thay thế
Nhà cung cấp
Trang 22DN dễ dàng hơn Khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại càng mạnh thì sự cạnh tranh càng gay gắt và khắc nghiệt Cạnh tranh giữa các DN trong ngành chủ yếu gồm các nội dung: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành (Michael Porter, 2009)
- Áp lực cạnh tranh từ các nhà cung cấp: Là người cung cấp hàng hóa, dịch vụ đầu vào cho DN và các đối thủ cạnh tranh Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe dọa khi họ có khả năng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ hoặc áp đặt các điều kiện liên quan tới giao dịch…Nếu DN mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ở đoạn thị trường này, các DN sẽ rơi vào tình trạng chi phí sản xuất cao, cơ hội thu LN thấp, và ngược lại (Michael Porter, 2009)
- Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác
có thể thõa mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Các sản phẩm thay thế sẽ đặt ra một giới hạn cho giá cả và LN tương lai cho đoạn thị trường Khả năng thay thế càng cao, giá cả và LN có xu hướng càng giảm xuống
Tiến bộ khoa học kĩ thuật luôn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm thay thế này Mối đe dọa này đòi hỏi DN phải có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ kĩ thuật cao- công nghệ, trong đó có liên quan trực tiếp
là đổi mới sản phẩm (Michael Porter, 2009)
- Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn: Đối thủ tiềm ẩn là những DN hiện chưa có mặt trong ngành nhưng trong tương lai có thể tham gia cạnh tranh trong ngành Đây là mối đe dọa cho các DN hiện tại, vì khi có càng nhiều DN có trong một ngành thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và LN sẽ bị chia sẻ, vị trí của DN sẽ bị đe dọa Sự gia nhập vào ngành của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào lối vào của một ngành và sự hấp dẫn của thị trường đó (Michael Porter, 2009)
Tóm lại: Khi chúng ta phân tích môi trường vĩ mô và môi trường ngành là
chúng ta đi phân tích môi trường kinh doanh của DN Việc phân tích môi trường kinh doanh này rất quan trọng, giúp cho doanh nghiêp xác định được các cơ hội và những thách thức, trên cơ sở đó rút ra những quyết định chiến lược hợp lý
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường của Viglacera Việt Nam
Vượt lên những khó khăn của nền kinh tế, năm 2014 Công ty Cổ phần Kinh
Trang 23doanh Gạch ốp lát Viglacera đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, doanh thu vượt 13% so với kế hoạch, vượt 23% so với năm 2013 Kết quả đó không chỉ khẳng định chất lượng sản phẩm mang thương hiệu Viglaceratrên thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam mà còn cho thấy những nỗ lực đổi mới hoạt động kinh doanh nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển thị trường của toàn thể Ban Lãnh đạo và cán bộ
công nhân viên Công ty (Thu Trang, 2015)
Tháng 6/2012, Công ty cổ phần kinh doanh gạch ốp lát chính thức ra mắt với trọng trách nâng cao tỷ lệ hàng hoá, tái khẳng định thương hiệu Viglacera trên thị trường Nhiệm vụ của công ty là bao tiêu và đảm bảo dòng tiền đủ cho các đơn vị sản xuất và ngược lại, các đơn vị sản xuất có nghĩa vụ cung ứng những sản phẩm theo đúng đặt hàng của Công ty Để làm được điều này, Công ty cổ phần kinh doanh Viglacera đã xây dựng được một chiến lược phát triển kinh doanh chung, bền vững và hiệu quả (Thu Trang, 2015)
Khẳng định chất lượng, dịch vụ
Với việc tách bạch giữa sản xuất và kinh doanh, hoạt động sản xuất của 3 nhà máy gạch ốp lát được cải tiến theo hướng chuyên biệt, tập trung tìm tòi sáng tạo mẫu mã mới, đi sâu hợp lý hóa sản xuất, hạ thấp giá thành, nâng cao sức cạnh tranh tạo nền tảng để công ty cổ phần kinh doanh gạch ốp lát phát triển hệ thống bán hàng (Thu Trang, 2015)
Năm 2014 là năm đánh dấu bước phát triển mới khi Tổng Công ty Viglacera đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Việc ứng dụng công nghệ in kỹ thuật số là một bước tiến mới, được coi là chìa khóa thành công giúp nâng cao năng lực cạnh tranh để Công ty cổ phần Kinh doanh Gạch ốp lát Viglacera hoàn thành nhiệm vụ (Thu Trang, 2015)
Công ty cũng đã chủ trương xây dựng một mới với hệ thống showroom có mặt ở nhiều tỉnh thành nhằm quảng bá, giới thiệu các sản phẩm Viglacera và đáp ứng tốt hơn những nhu cầu không ngừng thay đổi cả về chất và lượng của khách hàng Nhờ vậy, giá trị tồn kho của công ty thấp Các showroom của công ty cổ phần kinh doanh gạch ốp lát Viglacera đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng khách hàng bởi không gian trưng bày, sự khéo léo, tinh tế, tận tình của nhân viên, và đặc biệt là
Trang 24dòng sản phẩm in kỹ thuật số rất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng tại thời điểm này (Thu Trang, 2015)
Không chỉ vậy, công ty đã liên tục đầu tư, phân tích thị hiếu người tiêu dùng nhằm trở thành một đối tác tin cậy luôn sẵn sàng phục vụ tối đa mọi nhu cầu của khách hàng với một phong cách phục vụ chuyên nghiệp.Việc đặt hàng sản xuất sẽ được xây dựng hoàn toàn dựa trên nhu cầu thị hiếu của thị trường, các công ty sản xuất phải dựa vào các đơn hàng của công ty kinh doanh để lên kế hoạch sản xuất nhằm thỏa mãn các tiêu chí: Nâng cao chất lượng, hạ giá thành và đi sâu nghiên cứu phát triển sản phẩm mới (Thu Trang, 2015)
Nhưng hơn tất cả,yếu tố đặc biệt đã làm nên chất lượng và dịch vụ vượt trội của thương hiệu Viglacerađó chính là con người Sau nhiều lần sắp xếp, sàng lọc và
cơ cấu lại nhân sự, đến nay công ty đã có một đội ngũ cán bộ công nhân viên tinh nhuệ, hiểu nghề và nhiều nhiệt huyết Điều đó đã góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc tại mỗi vị trí (Thu Trang, 2015)
Bằng tư duy năng động, sáng tạo và những nỗ lực vượt trội, sau hơn 2 năm thành lập, Công ty cổ phần kinh doanh gạch ốp lát Viglacera không chỉ góp phần giải quyết bài toán thị trường mà còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho gạch ốp lát thương hiệu Viglacera Năm 2014, doanh thu xuất khẩu của Công ty chiếm khoảng 20 đến 25% doanh thu toàn công ty Công ty cổ phần kinh doanh gạch ốp lát Viglacera cũng là một trong 14 đơn vị thành viên thuộc tổng công ty Viglacera thực hiện hoàn thành và vượt các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh khi chưa hết tháng 12/2014 (Thu Trang, 2015)
Không ngừng phát triển thị trường
Để nâng cao sức cạnh tranh cho gạch ốp lát thương hiệu Viglacera trong bối cảnh thị trường ceramic và granite đối diện với tình trạng cung lớn hơn cầu, Ban lãnh đạo công ty đã đề ra các nhóm giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn và tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh bán hàng ra thị trường Lãnh đạo công ty xác định hệ thống phân phối là tài sản quan trọng, vì vậy công ty tập trung chăm sóc phát triển thị trường, tạo dựng một hệ thống khách hàng bền vững (Thu Trang, 2015)
Theo ông Nguyễn Mạnh Hiếu – Giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh
Trang 25Gạch ốp lát Viglacera: Với mục tiêu tập trung phát triển hệ thống đại lý và tăng cường xây dựng hình ảnh thương hiệu Công ty đã và đang mở thêm đại lý tại các địa bàn chưa có sự hiện diện của thương hiệu gạch ốp lát Viglacera Đồng thời cơ cấu lại những thị trường đã có đại lý theo hướng đại lý không đảm bảo phủ hết thị trường được phân công thì sẽ mở thêm đại lý nữa bằng cách tách dòng, tách mẫu, tách sản phẩm để đảm bảo phủ kín thị trường Đối với công tác xây dựng và phát triển hình ảnh thương hiệu công ty thực hiện đồng bộ nhiều hình thức như đầu tư biển quản cáo tấm lớn; quảng cáo qua báo chí, truyền hình, qua catologe, website, trang trí showroom, kệ bày mẫu Mục tiêu là tăng sự nhận diện của người tiêu dùng đối với sản phẩm (Thu Trang, 2015)
Bên cạnh đó, công ty cũng sẽ tăng tính ràng buộc và tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa Công ty với đại lý thông qua áp dụng chính sách thưởng bán hàng Công ty đã giao khoán doanh thu đến từng đại lý và ban hành các chính sách tháng, quý, năm tạo động lực để đại lý phấn đấu thực hiện Tăng tính bảo hộ thị trường, các đại lý chỉ được bán trong vùng thị trường quy định nếu bán sai bị phạt, bị cắt hợp đồng Công ty cũng kịp thời giải quyết các đề xuất, vướng mắc của khách hàng nếu có Đặc biệt, để tăng độ “phủ sóng” khẳng định uy tín, chất lượng của gạch ốp lát trên thị trường công ty sẽ đẩy mạnh tiếp cận các công trình lớn thông qua các Công ty tư vấn, các sở xây dựng
Với định hướng như vậy, trong quý I năm 2015, Công ty đã mở mới 5 đại lý tại miền Bắc, đưa số đại lý hiện tại lên 68 đại lý; miền Trung mở mới 01 đại lý, đưa
số đại lý hiện tại lên 42 đại lý Tổng số đại lý cấp 1 hiện nay của công ty là 110 đại
lý, đảm bảo phủ kín các tỉnh, thành khu vực thị trường tiêu thụ Theo dự kiến, trong quý II năm 2015 công ty sẽ tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong công tác phát triển thị trường Cụ thể, công ty sẽ xây dựng Top 800 cửa hàng và phân cấp theo từng mức được hỗ trợ: Mức 1 theo hình thức showroom Mini cho 250 cửa hàng (Miền bắc 200, miền Trung 50); Mức 2 trang bị kệ, hộp có khoang cho 400 cửa hàng (miền Bắc 300, miền Trung 100); Mức 3 trang bị kệ, hộp 150 cửa hàng (miền Bắc 100, miền Trung 50) Bên cạnh đó, công ty cũng sẽ hỗ trợ xúc tiến trang
bị cho hệ thống cửa hàng cấp 2 về biển hiệu cửa hàng (biển thường, biển Alu) và kệ
Trang 26bày mẫu (kệ showroom, kệ hộp có khoang, kệ hộp, kệ phổ thông…)
Với phương châm “sự hài lòng của quý khách là thành công của chúng tôi”, Công ty Cổ phần Kinh doanh Gạch ốp lát Viglacera đã không ngừng tiếp thu cải tiến và sáng tạo ra những sản phẩm mới với những tính năng ưu việt nhằm đáp ứng được mọi thị hiếu của khách hàng đồng thời khẳng định uy tín vị thế trên thị trường
Là Công ty thương mại nên hệ thống, sự gắn kết giữa Công ty và hệ thống, sự nhận biết sản phẩm, nâng cáo chất lượng dịch vụ là tài sản lớn nhất quyết định sự thành
công của Công ty trong ngắn hạn và lâu dài” - ông Hiếu chia sẻ (Thu Trang, 2015)
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển thj trường của HTX vật liệu xây dựng Tuổi Trẻ
Hợp tác xã Tuổi trẻ khẳng định thương hiệu trên từng sản phẩm
Hợp tác xã (HTX) Tuổi Trẻ ở phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đã khẳng định thương hiệu của mình trên từng sản phẩm ống cống
bê tông, gạch lát nhà, vỉa hè và phương thức phục vụ khách hàng nhanh, gọn, chu đáo đến tận các công trình
HTX đã tạo việc làm cho 130 người lao động có việc làm ổn định với mức lương bình quân đạt 2 triệu đồng/người/tháng (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Năm 2007 HTX đạt doanh thu 21 tỷ đồng, năm 2008 tăng lên 30 tỷ đồng Đến đầu tháng 5 năm 2009, HTX đạt doanh thu 14 tỷ đồng Năm 2008, HTX được trao tặng Cúp vàng sản phẩm xuất sắc nhất của Hiệp Hội doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Anh Đặng Quang Tùng chủ nhiệm HTX Tuổi Trẻ cho biết: HTX Tuổi Trẻ thành lập năm 2001 với 18 thành viên với 1 xưởng sản xuất, số vốn điều lệ ban đầu chỉ có 100 triệu đồng Đến nay, HTX có 30 xã viên, tài sản cố định lên đến 15 tỷ đồng, số vốn điều lệ tăng lên 2 tỷ đồng Ngoài địa điểm sản xuất tại phường Khai Quang, HTX đã mở rộng thêm một số địa điểm sản xuât cố định ở các tỉnh như: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Quảng Ninh và 4 tổ sản xuất lưu động đi theo các công trình HTX đã thành lập được 20 điểm bán hàng ở các tỉnh phía bắc mở rộng thi trường tiêu thụ sản phẩm (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Khắc phục khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, không để người lao động mất việc làm, HTX đã dồn vốn duy trì sản xuất, giảm giá và bán chịu sản
Trang 27phẩm cho các công ty xây dựng HTX còn tạo điều kiện cho người lao động được làm chủ bằng cách góp vốn vào hợp tác xã Đến nay, HTX đã có 10 xe chuyên vận chuyển hàng đến các công trình, không phải thuê xe ngoài như trước kia Khi quyền lợi của mỗi người gắn chặt với sự phát triển của HTX mọi người làm việc rất tích cực, mang lại hiệu quả kinh tế cao Đội ngũ lái xe của HTX vận chuyển hàng đến cho khách nhiệt tình, chu đáo Nhiều người sau khi góp vốn cùng hợp tác xã mua xe chuyên vận chuyển vật liệu xây dựng, trừ chi phí đạt từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng/tháng Khách hàng đến với HTX luôn hài lòng về các tiêu chí tiến độ, giá cả
và chất lượng.Tiếng lành đồn xa các khách hàng tự giới thiệu cho nhau nên thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty ngày càng mở rộng Năm 2009 HTX Tuổi Trẻ
mở thêm 3 xưởng sản xuất , sản phẩm làm ra đều được tiêu thụ hết
Hợp tác xã Tuổi Trẻ đang tiếp tục mua thêm khoảng 2 ha đất để làm mặt bằng mở rộng thêm cơ sở sản xuất với quy mô lớn tạo thêm việc làm cho người lao động; đồng thời, xây dựng thương hiệu HTX Tuổi Trẻ ngày càng lớn mạnh, mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ra toàn quốc (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Chất lượng tạo dựng niềm tin
Trải qua quá trình xây dựng và trưởng thành, HTX vật liệu xây dựng Tuổi trẻ không ngừng nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh đặc biệt đối với sản phẩm mũi nhọn như: Ống cống ly tâm, gạch lát nền chống trơn thế hệ mới, gạch lát nền terrazzo, gạch lát nền Block, cọc ép bê tông Sản phẩm của HTX đã được Cục Sở hữu trí truệ Việt Nam chứng nhận nhãn hiệu bê tông đúc sẵn Với uy tín chất lượng được khách hàng tín nhiệm, năm 2008 sản phẩm ống cống ly tâm của HTX đã được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn TCXDVN 372: 2006 và sản phẩm gạch lát nền phù hợp với tiêu chuẩn TCVN 6476: 1999 Năm 2009, sản phẩm ống cống ly tâm và gạch lát nền Block của Hợp tác xã đã được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Quacert (HTX Tuổi trẻ, 2011) Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, thương hiệu là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của mỗi dịch vụ, sản phẩm Nhận thức được điều đó, HTX đã sớm xây dựng cho mình thương hiệu và đến nay, HTX Vật liệu xây dựng Tuổi trẻ đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KHCN) cấp bằng sáng chế
Trang 28độc quyền năm 2006 Thương hiệu HTX Tuổi trẻ đã được rất nhiều bạn hàng trong
và ngoài tỉnh biết đến như một địa chỉ tin cậy Khách hàng của Hợp tác xã chủ yếu
ở Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ và một số Công ty lớn như Tổng Công ty xây dựng Sông Đà, Vinaconex… HTX thành lập thêm 3 cơ sở sản xuất tại thành phố Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và Yên Lạc, đồng thời phát triển một chi nhánh tại tỉnh Thái Nguyên và một công ty tại Tuyên Quang Không chỉ mở rộng quy mô, HTX còn đa dạng hóa về lĩnh vực hoạt động: Xuất khẩu, nhập khẩu máy móc xây dựng - nông nghiệp, vận tải hàng hóa, hành khách, xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông thủy lợi, gia công cơ khí… Từ ngồn vốn ban đầu chỉ với
600 triệu đồng, đến nay tổng nguồn vốn hoạt động của HTX là 32 tỷ đồng Tuy quy
mô hoạt động chưa phải là lớn, nhưng bằng sự nỗ lực của toàn thể xã viên, người lao động trong 10 năm qua, doanh thu của HTX liên tục tăng Năm 2001, doanh thu chỉ có 246 triệu đồng, năm 2010 là 45,5 tỷ đồng Tính đến hết quý III năm 2011, doanh thu của HTX là 60,2 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 152,9 triệu đồng Thu nhập bình quân của công nhân hiện nay là 3,5 triệu đồng/người/tháng (HTX Tuổi trẻ, 2011)
HTX đặc biệt chú trọng đến công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và giám sát chặt chẽ từ khâu nhập khẩu vật liệu cho tới quá trình làm
ra sản phẩm Công tác đào tạo nghề cho xã viên và người lao động, từ đào tạo tại chỗ cho đến tổ chức đi học tập tại một số công ty chuyên sản xuất vật liệu xây dựng trong và ngoài tỉnh Từ đó, sản phẩm tạo ra luôn được đổi mới và phát triển cả về mẫu mã và chất lượng Anh Quản Văn Thanh, vừa vận hành máy ép gạch nói: “Tôi tham gia Hợp tác xã ngay từ những ngày đầu thành lập Làm việc ở đây, công nhân được cấp phát bảo hộ lao động đầy đủ Những người có tay nghề cao và làm việc lâu năm đều được kí hợp đồng lao động dài hạn và được cử đi học tập, nâng cao tay nghề ở đây chúng tôi được tham gia các phong trào thể thao, đến đi tham quan du lịch các dịp lễ, Tết mỗi năm từ 1-2 lần Với chế độ dãi ngộ như vậy, hầu hết anh em đều xác định gắn bó lâu dài với HTX” (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Anh Đặng Quang Tùng, Chủ nhiệm Hợp tác cho biết: Để khẳng định được thương hiệu của mình và để sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường như hôm nay là
Trang 29bao nhiêu mồ hôi, công sức của biết bao con người Có lẽ phải có niềm đam mê thực sự với công việc và nghị lực mới có thể vượt qua Từ những thành công đã đạt được, thời gian tới, để trở thành doanh nghiệp đứng đầu trong lĩnh vực sản xuất VLXD, cấu kiện bê tông đúc sẵn và bê tông thương phẩm trên địa bàn tỉnh và khu vực miền Bắc, HTX đang đưa dự án gạch xây không nung thay thế gạch đất nung vào sản xuất mang lại hiệu quả cao cho các công trình xây dựng HTX sẽ không ngừng đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ sản xuất, đầu tư trang thiết bị, mở rộng thị trường, sáng tạo những sản phẩm mới, góp phần giải quyết việc làm tại địa phương, tăng thu nhập cho người lao động góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà (HTX Tuổi trẻ, 2011)
Trang 30
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên – Kinh tế - Xã hội của huyện Phúc Thọ
Đặc điểm địa lý và tự nhiên
Huyện Phúc Thọ nằm ở phía tây thủ đô Hà Nội; phía tây giáp thị xã Sơn Tây; phía đông giáp huyện Đan Phượng; phía nam giáp huyện Thạch Thất, Quốc Oai; phía bắc giáp huyện Yên Lạc và Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Diện tích tự nhiên 11.705 ha, dân số 170.044 người, là huyện có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực và giao thông thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội
Huyện Phúc Thọ hiện có 23 xã, thị trấn, qua bao đời nay nhân dân trong huyện đã phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương ngày một ấm no hạnh phúc
Huyện có diện tích đất nông nghiệp khá lớn, trong đó đất phù sa ven sông Hồng được bồi đắp qua nhiều thế kỷ Đê Đại Hà là ranh giới phân chia huyện thành
2 vùng sản xuất khác nhau: vùng bãi gồm 10 xã và vùng đồng bằng gồm 13 xã Phúc Thọ có hơn 500 ha ao, hồ, đầm…là tiềm năng đáng chú ý để phát triển ngành thủy sản Sông ngòi ở Phúc Thọ có vai trò lớn về kinh tế và giao thông vận tải Phía bắc huyện là sông Hồng chảy qua cung cấp nước tưới cho hầu hết diện tích canh tác của các xã vùng đồng và miền bãi Phía đông của huyện có sông Đáy chảy qua với tổng chiều dài xuyên huyện là 14,7km Nhà nước đang đầu tư khôi phục để khác thác dòng sông phục vụ sản xuất, giao thông du lịch hàng năm phục vụ tưới tiêu cho một số xã, phía tây của huyện có sông Tích, bắt nguồn từ các suối của Ba Vì đổ về
Cơ cấu kinh tế và lao động
Sau 5 năm sáp nhập vào Thủ đô, huyện Phúc Thọ đã có những chuyển biến tích cực trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ nét, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao
Trang 31Trước khi hợp nhất, Phúc Thọ là một huyện thuần nông, xuất phát điểm thấp,
cơ sở hạ tầng còn thiếu, không đồng bộ Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
do là vùng phân lũ của tỉnh Hà Tây và Thành phố Hà Nội Kinh tế huyện lại phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ còn nhỏ lẻ, chưa phát triển Tỷ lệ người dân sống tại nông thôn tới 96%, trình độ dân trí chưa cao và không đồng đều, người dân ít có điều kiện tiếp xúc với thông tin
và khoa học kỹ thuật…
Sau 5 năm về với Thủ đô, mặc dù những khó khăn vẫn còn nhiều, nhưng bộ mặt nông thôn huyện Phúc Thọ đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân được nâng cao hơn trước Ngành nông nghiệp huyện nhận được đầu tư theo hướng phát triển, đa dạng hoá, hiện đại hoá các mô hình sản xuất Toàn huyện có
265 dự án chuyển đổi cơ cấu kinh tế với diện tích gần 500 ha, trong đó 75 dự án đạt tiêu chí kinh tế trang trại; huyện đã hình thành các cánh đồng mẫu lớn và vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn như sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại các xã Thanh Đa với diện tích 50 ha, Võng Xuyên 70 ha, Thọ Lộc 50 ha, Hát Môn 50 ha; trồng hoa chất lượng cao ở Tam Thuấn diện tích 1ha; trồng lúa hàng hoá chất lượng cao với diện tích 300 ha và nhân rộng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản hiệu quả kinh tế cao ở nhiều địa phương Công tác dồn điền đổi thửa được nhận được sự đồng thuận của nhân dân, trong 2 năm 2012 – 2013, huyện đã thực hiện dồn điền đổi thửa hơn 3.609 ha Các xã đã lập xong phương án dồn điền đổi thửa và được UBND huyện phê duyệt Song song với đó là các công tác đầu tư xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi nội đồng, các công trình phục vụ công tác phát triển nông nghiệp cũng được tiến hành, tạo nên một nét mới trong phát triển kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến đáng kể, tỷ trọng nông nghiệp giảm, tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế theo hướng hiện đại Trước năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp của huyện chiếm 40,1% cơ cấu kinh tế thì hết năm 2012 con số này giảm xuống chỉ còn 30% Tốc độ phát triển công nghiệp, thương mại – dịch vụ liên tục tăng so với các năm trước Gần đây nhất, trong 6 tháng đầu năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN ước đạt gần
Trang 32608 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ; tổng mức lưu chuyển hàng hoá thực hiện ước đạt 1.026 tỷ đồng, tăng 13,7%; dịch vụ vận tải thực hiện trên 37 tỷ đồng, tăng 20,1% cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện 5 năm qua vẫn duy trì trên 10% năm; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 17,6 triệu đồng/năm, tăng 36% so với trước khi về Hà Nội; số gia đình nghèo giảm xuống chỉ còn 2.577 hộ, chiếm 6,02% dân số, còn số cận nghèo là 2.188 hộ, chiếm 5,11% dân số
Định hướng phát triển
Theo quy hoạch, Phúc Thọ sẽ xây dựng mô hình thí điểm các cụm dân cư đổi mới gắn với các trung tâm dịch vụ sản xuất tại các cụm, điểm dân cư trung tâm xã, thúc đẩy phát triển sản xuất ở vùng nông thôn thông qua hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn, công nghệ, tiêu thụ sản phẩm Được hình thành nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao và hàng hóa chất lượng cao Bán kính phục vụ 2 - 3km, hình thành 1 - 2 cụm đổi mới; về vị trí, cụm đổi mới được tổ chức gắn với trung tâm tiểu vùng trong huyện và nằm trên trục giao thông chính của vùng để thuận tiện liên hệ với bên ngoài huyện
Quy mô cụm đổi mới từ 15 - 20 ha, với các chức năng chủ yếu sau: Khu quản lý, điều hành; Khu nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nông nghiệp; Trung tâm tín dụng nông nghiệp; Khu hội chợ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao; Kho bảo quản; Khu các dịch vụ cơ bản (các cửa hàng, nhà trẻ, y tế, nhà sinh hoạt chung )
Khu trung tâm hành chính huyện Phúc Thọ và cơ quan văn phòng được xây dựng, phát triển và hoàn thiện trên cơ sở khu hành chính hiện hữu (thị trấn Phúc Thọ), bao gồm các cơ quan của Huyện, thị trấn như: Huyện ủy, UBND huyện, UBND thị trấn, nhà văn hóa, thư viện, các phòng ban, cơ quan chức năng khác của Huyện, thị trấn Tại các xã đều được nâng cấp, cải tạo chỉnh trang trụ sở UBND, Đảng ủy Tại thị trấn sinh thái Phúc Thọ, xây dựng hệ thống trung tâm văn hóa - thể dục thể thao hiện đại, đa chức năng phục vụ chung cho toàn huyện và các vùng phụ cận Nâng cấp, cải tạo hệ thống công trình văn hóa thể dục thể thao tại các xã, bổ sung các trung tâm văn hóa thể dục thể thao tại các trung tâm cụm đổi mới
Trang 33Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc địa phương, nhấn mạnh các giá trị cốt lõi của văn hóa Việt, văn hóa vùng quê đồng bằng Bắc Bộ như tập tục ăn trầu, tập tục năm mới, dịp lễ tết không làm cho các công trình văn hóa hiện đại, đa chức năng lấn át
Theo quy hoạch chung thị trấn sinh thái Phúc Thọ đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, tổng diện tích đất lập quy hoạch 945,5ha, trong đó thị trấn Phúc Thọ hiện hữu 279ha, khu vực phát triển 666,5ha Cụ thể, phần diện tích đất thuộc ranh giới hành chính huyện Phúc Thọ 647,9ha, phần diện tích đất thuộc ranh giới xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất 297,6ha
Về quy mô dân số quy hoạch chung thị trấn sinh thái Phúc Thọ đến năm
2030 là 32.820 người (trong đó dân số thuộc huyện Phúc Thọ 25.000 người, dân số thuộc xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất 7.820 người) Quy mô dân số đến năm 2050
là 41.000 người (trong đó dân số thuộc huyện Phúc Thọ 29.500 người, dân số thuộc
xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất 11.500 người)
Về định hướng, phát triển thị trấn sinh thái Phúc Thọ trở thành trung tâm hỗ trợ phát triển vùng nông thôn với các cơ sở công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm gắn với tiểu thủ công nghiệp làng nghề, dịch vụ công cộng và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất khác, chuyển giao công nghệ và đào tạo
Tạo liên kết chặt chẽ với khu vực phát triển nông nghiệp năng suất cao của Vĩnh Phúc ở phía Bắc Phát triển thị trấn sinh thái gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa địa phương, hài hòa với không gian cảnh quan tự nhiên hiện có
Phát triển thị trấn dựa trên quốc lộ 32 và trục cảnh quan Bắc Nam dự kiến Hạn chế sự phát triển lan tỏa, tránh tác động tiêu cực tới môi trường cảnh quan tự nhiên hiện có và các vùng bảo tồn làng nghề, di tích lịch sử, công trình văn hóa Xây dựng khu trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Phúc Thọ tại khu vực thị trấn hiện hữu Phát triển phát triển thị trấn Phúc Thọ về phía đông cùng hệ thống trung tâm thương mại, dịch vụ, giáo dục đào tạo, văn hóa, xã hội nhằm hình thành đô thị ở cửa ngõ phía tây bắc Thủ đô theo hướng
đô thị sinh thái, phát triển bền vững
Trang 343.1.2 Khái quát về sự phát triển của Hợp tác xã Quang Minh
3.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của HTX sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh
Năm 2001 cơ sở sản xuất vật liệu Quang Minh được hình thành và đi vào hoạt động với loại hình sản xuất kinh doanh chính là gạch đất nung, với nền tảng là
2 lò gạch thủ công được xây dựng trên diện tích là 1,5 ha Tuy nhiên trong thời gian này công nghệ sản xuất còn dưới dạng thủ công, công nghệ đốt lò còn thô sơ nên chưa đạt được yêu cầu về mẫu mã cũng như chất lượng sản phẩm dẫn tới hiệu quả kinh tế còn chưa cao
Cùng với sự phát triển và thăng trầm của ngành vật liệu xây dựng cả nước nói chung và huyện Ba Vì nói riêng, Cơ sở sản xuất vậy liệu Quang Minh vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đến giai đoạn 2008 – 2009 cùng với sự nóng lên của ngành bất động sản làm nhu cầu xây dựng tăng cao và làm cho giá vật liệu xây dựng được đẩy lên đỉnh điểm, đây thực sự là thời điểm vàng của ngành vật liệu xây dựng nói chung và gạch xây dựng nói riêng Cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh cũng đã chớp lấy cơ hội này, đẩy mạnh sản xuất của mình để cung cấp ra thị trường nhiều sản phẩm hơn nhưng cũng đã nhận thấy vấn đề quan trọng là sản xuất thủ công, thì chỉ cung cấp được ra thị trường với số lượng nhỏ và chi phí sản xuất cao Vì vậy lãnh đạo của cơ sở đã bắt tay vào tìm kiếm công nghệ sản xuất tiên tiến hơn, mang tính công nghiệp hơn
Sau quá trình tìm hiểu về công nghệ sản xuất mới phù hợp với nguồn vốn và trình lên Sở xây dựng thành phố Hà Nội Đến tháng 4 - 2010 cơ sở sản xuất vật liệu Quang Minh được Sở xây dựng thành phố Hà Nội cấp giấy phép xây dựng và hoạt động 2 cặp lò úp vung thí điểm
Trong thời gian hoạt động 2 cặp lò úp vung thì lãnh đạo cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh, cũng đã nhận thấy ưu điểm của nó là nâng cao được số lượng sản phẩm sản xuất so với lò thủ công nhưng còn tồn tại một số điều chưa khắc phục được là vẫn mang hơi hướng sản xuất thủ công nhiều, năng xuất lao động chưa cao, xử lí khói thải chưa đạt yêu cầu Từ những tồn tại đó mà lãnh đạo cơ sở
đã tiếp tục tìm tòi, tham quan các công nghệ sản xuất gạch khác nhau, sau đó quyết định chọn công nghệ sản xuất lò tuynel làm con đường phát triển cho mình
Trang 35Công nghệ sản xuất gạch theo kiểu lò tuynel thì có ưu điểm công nghiệp hóa được tất cả các khâu trong sản xuất gạch, chất lượng và mẫu mã gạch đẹp và ổn định, công nghệ xử lí khói thải đạt tiêu chuẩn nhưng có một nhược điểm là chi phí đầu tư ban đầu cao Trước khó khăn về vốn thì lãnh đạo của cơ sở sản xuất gạch Quang Minh đã thuyết phục và cùng hợp tác với nhiều thành viên khác lập nên HTX sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh và triển khai xây dựng một nhà máy gạch tuynel trên địa điểm mới rộng rãi hơn Đến tháng 9 – 2012 nhà máy gạch tuynel được xây dựng xong và đi vào hoạt động và bắt đầu cung cấp gạch ra thị trường huyện Ba Vì và các địa bàn lân cận
- Tên hợp tác xã : Hợp tác xã sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh
- Trụ sở giao dịch : Đội 10 – Phú Phương – Ba Vì – Hà Nội
- Kinh doanh vật liệu cát, đá, sỏi xây dựng
- Chuyển giao công nghệ sản xuất gạch
Hiện nay, HTX có một nhà máy sản xuất gạch đất nung với công nghệ sản xuất và qui trình đốt hiện đại được xây dựng trên diện tích 6,8 ha Hàng năm, nhà máy cung cấp ra thị trường 23-25 triệu viên gạch và giải quyết việc làm thường xuyện cho 120 lao động với mức lương trung bình hàng tháng từ 3-3,5 triệu đồng
Với thời điểm hiện tại thì với số vốn và lao động như trên nhà máy có qui
mô vào loại vừa của huyện Ba Vì HTX cho xây dựng nhà máy hiện tại đã đáp ứng được phần nào nhu cầu về gạch xây dựng tại của người dân huyện Ba vì nói riêng
và các vùng lân cận nói chung Với công nghệ mới của nhà máy đủ đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm, đảm bảo khí thải môi trường và dần thay thế kiểu đốt gạch truyền thống của các lò thủ công vừa không đảm bảo chất lượng sản phẩm vừa không an toàn
Trang 36Theo luật pháp qui định của nhà nước về HTX thì HTX Sản xuất vật liệu xây dựng Quang Minh cũng đã thành lập đầy đầy đủ đại hội thành viên, hội đồng quản trị theo đúng qui định Hiện nay hội đồng quản trị của HTX bao gồm 5 thành viên
có đại diện cho các thành viên của HTX
3.1.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban
Thông qua việc tìm hiểu thì cơ cấu bộ máy được tổ chức thành những phòng ban như sau:
:Quan hệ mệnh lệnh : Quan hệ giám sát
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức của HTX
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán của HTX năm 2015)
Hội đồng thành viên, hội đồng quản trị
Với tư cách là các thành viên góp vốn của HTX, là những người chủ, những người sở hữu HTX, hội đồng thành viên và hội đồng quản trị được thành lập để đảm Dây chuyền sản xuất 1
Hội đồng quản trị
Phòng Tài
chính – Kế toán
Phòng Kinh doanh
Phòng kĩ thuật sản xuất
Phòng cơ giới – cơ khí Giám đốc
Ban kiểm soát
Dây chuyền sản xuất 2 Tổ vào lò Tổ ra lò Hội đồng thành viên
Trang 37bảo lợi ích của họ Hội đồng thành viên và hội đồng quản trị có quyền định đoạt những vấn đề lớn, ảnh hưởng đến tương lai của HTX như chiến lược kinh doanh ,
kế hoạch sản xuất trong dài hạn Nhiệm vụ của hội đồng thành viên và hội đồng quản trị là phải có mặt để bàn định các vấn đề có liên quan theo giấy triệu tập
Giám đốc HTX
Được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập HTX bổ nhiệm bằng thủ tục hành chính theo quy định bổ nhiệm của nhà nước và là người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của HTX Nhiệm vụ và quyền hạn của giám đốc :
- Xây dựng dự án kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, ngắn hạn và trung hạn hàng năm thông qua đại hội đồng thành viên ,hội đồng quản trị của HTX
- Tổ chức và điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX theo kế hoạch đã thông qua Chịu trách nhiệm ký các loại văn bản thuộc lĩnh vực quản lý,
ký các báo cáo cấp trên, các hợp đồng kinh tế
- Chỉ đạo điều hành mọi hoạt động của HTX Được quyền quyết định tổ chức
bộ máy quản lý, các bộ phận sản xuất kinh doanh của HTX
- Đề nghị hoặc trực tiếp bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật, nâng bậc lương, tuyển dụng đối với người lao động tại HTX
Phòng tài chính – kế toán
Đứng đầu là kế toán trưởng và kế toán trưởng chịu trách nhiệm về mặt tài chính trước giám đốc HTX và trước pháp luật của nhà nước Nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu của kế toán trưởng bao gồm:
- Chịu trách nhiệm hạch toán kế toán, công tác quản lý tài chính của HTX theo pháp lệnh kế toán thống kê và có trách nhiệm báo cáo trước giám đốc HTX Tài liệu giấy tờ của kế toán trưởng báo cáo yêu cầu trung thực, chính xác
- Định kỳ lập kế hoạch tài chính, tín dụng ngắn hạn, dài hạn, báo cáo thống
kê, tài chính, quản trị và báo cáo khác theo quy định của cấp trên và chế độ chính sách hiện hành
- Trực tiếp làm công tác kế toán tài sản cố định, kế toán giá thành sản phẩm, lập các bảng phân bổ chi phí giá thành
Trang 38- Kiểm tra giám sát và ký các chứng từ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX
- Tham mưu giúp giám đốc HTX trong công tác quản lý kinh tế, tài chính, cũng như công tác kinh doanh có hiệu quả
Ngoài nhiệm vụ của kế toán trưởng thì nhiệm vụ và chức năng chính của phòng là:
- Dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch tài chính đáp ứng đầy
đủ, kịp thời tiền vốn
- Theo dõi mở sổ sách, thiết lập hoá đơn chứng từ hạch toán đầy đủ quá trình sản xuất kinh doanh, theo dõi vật tư tài sản, tiền vốn theo quy định của pháp lệnh kế toán thống kê
- Phân tích hoạt động kinh doanh theo định kỳ, hàng quý, hàng năm tìm ra những nguyên nhân dẫn tới lỗ, lãi, đề xuất các biện pháp quản lý thích hợp
Tham mưu giúp Giám đốc trong việc thực hiện các chế độ chính sách tiền tệ, thanh quyết toán và làm đầy đủ các nghĩa vụ của đơn vị với Nhà nước
Phối kết hợp chặt chẽ các phòng chức năng, tổ chức và thu hồi công nợ
Phòng kinh doanh
- Tổ chức và triển khai các hoạt động kinh doanh các khu vực theo phương
án được duyệt
- Thiết lập quản lý và chỉ đạo hệ thống bán buôn, các đại lý bán lẻ
- Chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, không để khách hàng lợi dụng tiền vốn trì hoãn thanh toán trong thời gian dài
- Chịu trách nhiệm doanh số bán hàng trước ban giám đốc HTX
- Thu thập, xử lý các phản hồi của khách hàng đối với sản phẩm qua đó tìm phương án giải quyết
- Chăm sóc khách hàng và quan hệ với khách hàng hiệu quả
Quyền hạn của phòng kinh doanh là có quyền đôn đốc các dây chuyền sản xuất đáp ứng đơn đặt hàng của khách theo đúng thời gian, địa điểm, chủng loại Được yêu cầu cấp kinh phí để duy trì hoạt động bán hàng Ngoài ra còn có quyền yêu cầu các phòng ban khác thực hiện nhiệm vụ chung
Phòng kĩ thuật sản xuất
- Lập kế hoạch sản xuất dài hạn, ngắn hạn bao gồm sử dụng vật tư, lao động,
Trang 39tài chính
- Quản lý kỹ thuật và chất lượng sản phẩm
- Giám sát các dây truyền sản xuất
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất
- Phối hợp cùng các phòng ban khác làm tốt nhiệm vụ của công ty
Phòng Cơ giới – Cơ khí
- Quản lý các loại xe cơ giới, máy móc của HTX
- Vận chuyển cung cấp nguyên liệu sản xuất cho các dây truyền sản xuất
- Lên kế hoạch vận chuyển hàng hóa theo đơn đặt hàng của khách hàng
- Thiết kế khuân mẫu cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường
- Bảo dưỡng, sửa chữa các dây chuyền và các loại xe cơ giới của HTX
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.1.1 Thông tin thứ cấp
Bảng 3.1: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
của huyện Phúc Thọ
- Báo cáo, tạp chí, ấn phẩm đã công bố
- Thông tin trên các trang mạng
- Số liệu báo cáo thị trường từ các đối tác hợp tác kinh doanh
- Số liệu ghi chép hàng ngày của HTX
- Báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh của HTX
- Tình hình sản xuất kinh doanh
gạch đất nung của Hợp tác xã trong
những năm vừa qua
- Thực trạng thị trường gạch đất
nung của HTX trong 3 năm gần đây
3.2.2.2 Thông tin sơ cấp
Tổng hợp từ điều tra, phỏng vấn các đại lý, khách hàng có nhu cầu xây dựng và sử dụng gạch đất nung, các chủ xe làm dịch vụ vận tải chở thuê vật liệu xây dựng
Đối tượng khảo sát
- Đại lý: 15 đại lý
Trang 40- Khách hàng tiêu dùng sản phẩm cuối cùng: 30 người
- Các chủ xe làm dịch vụ vận tải chở vật liệu xây dựng: 30 lái xe
Phương pháp điều tra
- Phỏng vấn trực tiếp
Nội dung khảo sát
- Các thông tin chung: độ tuổi, nguồn lực, thời gian kinh doanh…
- Tình hình phát triển thị trường gạch đất nung:
+ Thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm gạch đất nung
+Kênh phân phối
+Hình thức thanh toán thường sử dụng
+Thực trạng thị trường gạch đất nung của HTX tại huyện Phúc Thọ
+ Nhu cầu về gạch đất nung trên địa bàn huyện Phúc Thọ
Đối tượng
khảo sát
Số lượng mẫu
trực tiếp
- Mức tiêu thụ gạch hàng tháng
- Địa bàn thường cung cấp gạch
- Các chính sách mà đại lý đang được hưởng từ các nhà máy gạch khác
- Mẫu mã gạch mà người tiêu dùng thường chọn sử dụng và ưa chuộng
- Mong muốn về chính sách đãi ngộ
Lái xe làm dịch
vụ vận chuyển 30
Phỏng vấn trực tiếp
- Trọng tải xe đang sử dụng
- Chính sách được hưởng từ nhà máy sản xuất gạch
- Mẫu mã gạch thường làm khách hàng ưng ý nhất
- Mong muốn về những chính sách đãi ngộ
Người tiêu
dùng sản phẩm 30
Phỏng vấn trực tiếp
- Mẫu mã sản phẩm gạch đất nung mà người tiêu dùng ưa chuộng
- Tham khảo thông tin về sản phẩm gạch đất nung qua nguồn nào
- Thường mua gạch từ nguồn cung cấp nào
- Chọn loại gạch nào để xây nhà
- Thời điểm chọn để xây dựng nhà cửa