Chủ động trồng và phát triển sản xuất ba kích, ngoài giá trị bảo tồn còn mang lại lợi ích kinh tế thiết thực bởi đây là loại cây tốn ít đất, có khả năng sống chịu bóng, sản phẩm có giá t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT BA KÍCH TÍM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT BA KÍCH TÍM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi và được
sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Song Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn của mình ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều cá nhân và tổ chức các nhà khoa học Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ tận tình chỉ dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Song là người hướng dẫn chính trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Ba Chẽ, Phòng Nông nghiệp &, Phòng Tài nguyên và Môi trường Lãnh đạo các xã và các hộ gia đình trồng ba kích tím của 3 xã Đồn Đạc, Thanh Lâm, Thanh Sơn, các đại lý thu mua ba kích tím tại huyện Ba Chẽ, những người đã cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của tất cả bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và những người thân trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá
4.1 Tổng quan phát triển sản xuất ba kích tím huyện Ba Chẽ 59 4.2 Thực trạng phát triển sản xuất ba kích tím của các hộ điều tra 66 4.3 Tình hình tiêu thụ ba kích tím của huyện Ba Chẽ qua 3 năm 79 4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất Ba kích tím 81
Trang 7UICN :Liên hiệp Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.4 Danh mục loài cây thuốc hiện có tại huyện Ba Chẽ 45 3.5 Số lượng, thông tin của các đối tượng tiến hành phỏng vấn 54 4.1 Số lượng hộ trồng Ba kích tím tại các xã của huyện qua 3 năm 62 4.2 Diện tích ba kích tím các xã của huyện Ba Chẽ qua 3 năm 64 4.3 Đặc điểm của hộ trồng ba kích tím tại 3 xã điều tra 66 4.4 Tình hình đất đai, lao động, vốn của các hộ trồng ba kích tím 68 4.5 Số cây ba kích tím của các hộ tại 3 xã điều tra 70 4.6 Diện tích sản xuất ba kích tím của các hộ tại 3 xã điều tra 70 4.7 Sản lượng ba kích tím của các hộ tại 3 xã điều tra 71 4.8 Năng suất ba kích tím của các hộ tại 3 xã điều tra 72 4.9 Đầu tư chi phí vật chất bình quân 1 hộ trồng ba kích tím của các hộ điều tra
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2.1 Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới 22
3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 31 4.1 Mô hình trồng giống ba kích tím của HTX Toàn Dân xã Thanh Lâm, huyện
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
4.3 Trình độ dân trí của các hộ dân tại 3 xã điều tra 84 4.4 Tỷ lệ số hộ có vay vốn sản xuất ba kích tại 3 xã điều tra 86 4.5 Số hộ có tham gia tập huấn kỹ thuật trồng ba kích tím tại 3 xã điều tra 87
Trang 111
PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng nước ta nói chung và Quảng Ninh nói riêng là môi trường thuận lợi cho nhiều loài cây đặc sản quý phát triển, trong đó có cây ba kích Từ lâu, người dân đã biết dùng củ ba kích chủ yếu là củ ba kích tím để bồi dưỡng cơ thể, làm thuốc chữa bệnh như bổ thần kinh, trí não, làm mạnh gân cốt, tăng lực, chữa chứng xơ cứng động mạch, thấp khớp Nhu cầu về củ ba kích ở thị trường trong nước rất lớn Củ nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ củ ba kích là mặt hàng có giá trị kinh tế cao Hiện nay, ba kích là một trong những loại cây dược liệu được chú ý đặc biệt để trồng nhân tạo trong các vườn nhà, vườn rừng và trong rừng nghèo
Ba Chẽ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha (trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1.346,98 ha chiếm 2,2%; đất lâm nghiệp là 55.273,48 ha, chiếm 90,8% diện tích
tự nhiên) được chia thành 8 đơn vị hành chính gồm 7 xã và 1 thị trấn, dân số 20.906 người (năm 2014), sống rải rác ở 75 thôn, khu Toàn huyện có 9 dân tộc,
trong đó có 8 dân tộc thiểu số (chiếm 80,2% dân số toàn huyện) (Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ, 2015)
Tuy ba kích mọc tự nhiên trên vùng rừng núi Đông Bắc nhưng củ và rượu
ba kích vẫn được coi là đặc sản huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, giá 1 kg củ ba
kích tươi từ 120.000-150.000 đồng (Nguyễn Viết Đoàn, 2005) Do nhu cầu sử
dụng lớn nên ba kích bị khai thác lạm dụng tùy tiện, đào bới gốc lấy củ mà không chú ý đến duy trì, nuôi dưỡng tái sinh nên trong tự nhiên số lượng cây còn sót lại rất ít, thưa thớt, thậm chí có vùng hầu như không còn ba kích
Chủ động trồng và phát triển sản xuất ba kích, ngoài giá trị bảo tồn còn mang lại lợi ích kinh tế thiết thực bởi đây là loại cây tốn ít đất, có khả năng sống chịu bóng, sản phẩm có giá trị, thị trường tiêu thụ rộng Phát triển sản xuất ba kích là biện pháp hữu hiệu tạo thêm việc làm tại chỗ, tăng năng suất sinh học trên một đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người dân miền núi Để góp phần phát triển sản xuất và định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm ba kích tím trong thời gian tới nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân tôi đi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phát triển sản xuất Ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”
Trang 12- Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất Ba kích tím góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển sản xuất Ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân trồng Ba kích tím, đại lý thu mua ba kích tím, cán bộ địa phương, khách hàng
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây Ba kích tím của các hộ dân trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi về không gian: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chủ yếu trong
vị trí địa lý và ranh giới hành chính của huyện Ba Chẽ
- Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015 + Thời gian số liệu: Dữ liệu và thông tin được sử dụng nghiên cứu phát triển sản xuất và chế biến Ba kích tím được thu thập trong từ năm 2010-2014
Trang 132.1.1.1 Khái niệm về phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con
người (World Bank, 1992)
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”(Raanan Weitz, 1995)
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển, nhưng nhìn chung các
ý kiến cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia
Tóm lại, phát triển kinh tế là sự phát triển trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng tiến bộ của nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối cùng đó là tăng hiệu quả kinh tế
2.1.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Trong quá trình phát triển kinh tế, khái niệm phát triển bền vững được
Trang 144
hình thành và ngày càng được hoàn thiện Khái niệm này đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Sau một thời kỳ các nước trên thế giới thi đua công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên, tìm kiếm thị trường; sự tăng trưởng kinh tế và dân số quá nhanh cùng với tình trạng thi đua sản xuất không giới hạn và khai thác vô ý thức các tài nguyên làm ô nhiễm môi trường, môi sinh và làm cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên thế giới Vào đầu thập niên những năm 1980, Liên hiệp Quốc tế Bảo
vệ Thiên nhiên (UICN) là tổ chức đã đề khởi khái niệm “phát triển bền vững” (PTBV) Năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển do bà Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu, khai triển và định nghĩa như sau “ phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng
yêu cầu của chính họ” (Gro Harlem Brundtland, 1987)
2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là một quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra những sản phẩm hữu ích (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư và xã hội Sản xuất là quá trình các đầu vào được kết hợp, sử dụng công nghệ nhất định tạo ra sản phẩm và dịch vụ
Sản xuất cho tiêu dùng tức là tạo ra sản phẩm mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ,
không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường (Ngô Đình Giao, 1995)
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Hình thức này mang tính tập trung chuyên
canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao (Phan Công Nghiệp, 2002)
Tóm lại, sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu
Trang 155
ra) (Lã Đình Mới, 2001) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ
thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q= f(X1, X2, Xn)
Trong đó:
Q: là biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định
X1, X2, Xn : là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất
Ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm
+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đây là sự biến đổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị bằng đơn vị riêng của nó Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là lớn nhất
+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đem chia tổng sản phẩm có số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP Khi một yếu tố đầu vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác không thay đổi thị mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi
Tóm lại: Sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm phối hợp tối ưu các yếu tố tham gia sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm hữu ích phục vụ cho nhu cầu con người và xã hội
Sản xuất trong nền kinh tế thị trường thường trả lời các câu hỏi như: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
Sản xuất Ba kích tím là hoạt động trồng trọt cây Ba kích tím như chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến,… theo quy trình kỹ thuật nhất định nhằm tạo
ra sản phẩm hữu ích phục vụ nhu cầu chế biến, công nghiệp dược phẩm của con
người và xã hội (Lã Đình Mới, 2001)
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
+ Vốn sản xuất: Là những tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình sản xuất là
vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng
số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên trong thực
Trang 16+ Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngành nông nghiệp, mà cũng rất quan trọng với sản xuất công nghiệp và dịch
vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi qui mô, nên người ta phải đầu
tư thêm vốn và lao động trên một diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất
+ Khoa học công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đó giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động
và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của
xã hội
+ Ngoài ra cũng có một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu
thụ sản phẩm,v.v cũng có tác động tới quá trình sản xuất (Lã Đình Mới, 2001) 2.1.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm Phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về qui mô (sản
lượng) và hoàn thiện về cơ cấu (Ngô Đình Giao, 1995)
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản
đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển
Trang 17PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai
PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế Như vậy PTSX theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm
và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động
Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về qui mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo
Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
Vậy tăng trưởng sản xuất là sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm sản xuất trong một thời gian nhất định Là kết quả của tất cả các hoạt động và dịch vụ sản xuất tạo ra
Còn hiệu quả sản xuất phản ánh quy mô sản lượng sản phẩm và dịch vụ sản xuất ra trong 1 năm
Như vậy có thể thấy phát triển sản xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Thứ nhất đây là quá trình tăng quy mô về số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai là quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Cả hai quá trình này đều nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người
Trang 188
Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận Hay phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy
mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục
vụ đời sống ngày càng cao của con người (Ngô Đình Giao, 1995)
2.1.2 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ và ba kích tím
2.1.2.1 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ
Ba kích tím không phải cây nông nghiệp hay lâm nghiệp mà thuộc giống lâm sản ngoài gỗ Để hiểu rõ hơn về ba kích tím nói riêng và lâm sản ngoài gỗ nói chung đề tài tìm hiểu thêm về khái niệm và phân loại lâm sản ngoài gỗ Hiện nay có nhiều định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ đôi khi còn gọi là (NWFP) Định nghĩa lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm được thu hoạch từ rừng Lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả củi, gỗ đồ mộc, bột sợi và gỗ nhỏ để cho kiến trúc
nhẹ Có lẽ đây là định nghĩa đơn giản nhất và phù hợp với các đối tượng (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002)
J.H.De Beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài gỗ, trong đó
có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”, tháng 7/2000 là một ấn phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ đã đưa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-timber forest products) bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, mây
song, gỗ nhỏ và sợi” (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002)
Trang 199
Định nghĩa của J.H.De Beer là đơn giản, dễ sử dụng, nhưng khác với hầu hết các định nghĩa trước đây là ông ta đã đưa ra củi, gỗ nhỏ vào nhóm lâm sản ngoài gỗ
Hội nghị do FAO (Tổ chức Lương nông thế giới) tổ chức vào tháng 6 năm
1999 đã đưa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật,
khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây có thân gỗ” (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002)
Mặc dù có nhiều định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ nhưng để đảm bảo sự hòa nhập với các nước trong vùng, ta nên sử dụng định nghĩa lâm sản ngoài gỗ đã được thống nhất trong hội nghị các chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á-Thái Bình Dương họp tại BangKok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 Nhìn chung định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ rất khó và thường dựa vào tiêu chí bởi vì sự khác nhau rất lớn trong số lâm sản ngoài gỗ Điều quan trọng ở chỗ
là xác định cụ thể các sản phẩm và hữu ích của nó, điều đó thường các nhà kinh doanh hay chính phủ bỏ qua bởi họ chỉ chú trọng đến gỗ công nghiệp, nhưng thực tế lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước
và địa phương, bảo tồn rừng và đa dạng sinh học, xóa đói giảm nghèo và phát
triển vùng cao, các vấn đề bình đẳng giới và dân tộc thiểu số (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002)
* Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Trên thế giới cũng đã có nhiều hệ thống phân loại lâm sản ngoài gỗ được
đề xuất, một số hệ thống phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như: nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thảo hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ như hệ thống phân loại
đã thông qua trong hội nghị tháng 11/1991 tại BangKok Trong hệ thống này lâm sản ngoài gỗ được chia thành 6 nhóm:
- Nhóm 1 Các sản phẩm có sợi: Tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ
Trang 2010
- Nhóm 2 Sản phẩm làm thực phẩm Các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm; Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng
Nhóm 3 Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật
Nhóm 4 Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh
và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu
Nhóm 5 Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, côn trùng; lông mao, long vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ
Nhóm 6 Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở
Ấn Độ) (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002)
2.1.2.2 Đặc điểm cây Ba kích tím
* Tên khoa học: Morinda officinalis How
Họ: Cà phê – Rubiaceae (Lecomte H, 1905-1952) Theo hệ thống phân
loại thực vật APG II họ Cà phê có khoảng 611 chi và hơn 13.000 loài Sự đa dạng về số lượng các loài đã đưa họ cà phê đứng vị trí thứ tư về số lượng các loài thực vật có hoa và đứng thứ năm về số lượng chi Trong đó có chi Nhàu (Morinda) có khoảng 80 loài, hầu hết các loài trong chi Nhàu được phân bố ở các vùng nhiệt đới trên thế giới Các loài trong chi này bao gồm cả cây thân gỗ, cây bụi và cây dây leo; hầu hết quả của các loài trong chi này là quả thịt, trong đó có
loài Ba kích Ở Ấn Độ Ba kích được gọi là “Nhàu Ấn Độ” (Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ, 2015)
Tên khác: Ba kích thiên, dây ruột gà; chẩu phóng xì, thau tày cáy (Tày);
chồi hoàng kim, sáy cáy (Thái); chày kvằng dòi (Dao); Medicinal indian
mulberry (Anh) (Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ, 2015)
* Hình thái
Ba kích là cây lâm sản ngoài gỗ, sống lâu năm, dạng dây leo cuốn vào giá thể Rễ có thịt dầy, hình trụ tròn, cong queo, thắt thành từng đoạn như ruột gà, được chế biến sử dụng làm thuốc Thân hình trụ tròn, phân nhánh nhiều Cành
Trang 2111
non có lông thô màu nâu khi già nhẵn không lông Lá đơn nguyên, mọc đối chéo chữ thập, có cuống Lá kim nhỏ hợp thành ống màu xám nâu Phiến lá hình elip thuôn dài, lá non màu tím có lông, lá già màu xanh không lông Cụm hoa ở nách
lá hay đầu cành Hoa nhỏ màu trắng ngà Quả khi còn non màu xanh, khi chín màu hồng
Hình 2.1: Cây Ba kích
(Nguồn: Thu thập trong quá trình điều tra)
Ba kích có 2 loại, Ba kích tím và Ba kích trắng, là căn cứ vào màu thịt của
củ và lá để xác định Trong tự nhiên có Ba kích quả đơn và quả kép Những dạng thường gặp là quả đơn và quả kép lá dài thường có củ tím, dạng lá bầu thì củ có màu vàng đến hồng, gọi là Ba kích trắng hoặc hồng
Củ Ba kích có hình xoắn như ruột gà, dài từ 20-60cm, cây lâu năm có thể
có củ dài hơn, đường kính củ từ 1-3cm, chia thành nhiều đoạn chỗ phình to chỗ thắt lại rất đều đặn Thịt củ màu vàng/hồng/trắng hoặc tím, có lõi như củ sắn
Trang 2212
Hình 2.2 Củ Ba kích tím tươi Hình 2.3 Củ Ba kích tím khô
(Nguồn: Thu thập trong quá trình điều tra)
Ba kích ra hoa vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6 Hoa tự đầu trạng xếp thành hình tán, hoa nhỏ hình trụ, bầu hạ, đài hoa liền, màu xanh, xẻ 3 hoặc 4 thùy nông Hoa và quả tập trung ở đầu đoạn dây cành thứ cấp Khi hình thành quả, vỏ bao hạt dính liền nhau, tạo thành 2-3 quả giả có vách ngăn hạt bên trong Mỗi quả có từ 1-2 hạt
Quả của cây Ba kích hình cầu, màu xanh thẫm Quả chín vào tháng 12,
màu quả chuyển từ xanh sang hồng, rồi sang màu đỏ (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
Hình 2.4 Quả của cây Ba kích
(Nguồn: Thu thập trong quá trình điều tra)
Trang 2313
* Đặc điểm phân bố
Cây Ba kích mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An Ở tỉnh Quảng Ninh, ba kích mọc nhiều ở Hoành Bồ, Ba
Chẽ, Vân Đồn Ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào và Triều Tiên (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
* Điều kiện gây trồng
Cây thích ứng rộng với điều kiện sinh thái Cây ưa sáng ở giai đoạn trưởng thành, chịu bóng nhất là cây dưới 2 năm tuổi (khi cây non là cây ưa bóng, khi trưởng thành là cây ưa sáng) Cây tồn tại và phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ
từ 22,5oC – 23,1oC, chịu được nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -2,8oC và tối cao tuyệt đối 41,4oC Độ ẩm không khí trung bình từ 82-89% Lượng mưa bình quân năm
từ 1420,7 – 2574,5mm Ba kích ưa đất feralit đỏ vàng và đất feralit giàu mùn trên núi, đất thịt ẩm mát Cây sinh trưởng sau 3 đến 5 năm mới thu dược liệu, năng suất bình quân 3-4 kg củ tươi/gốc, càng để lâu năm sản lượng càng cao chất
lượng dược liệu càng tốt (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
* Kỹ thuật nhân giống Ba kích tím
Ba kích có thể tạo nguồn giống bằng 3 cách:
- Phương pháp tạo cây giống từ hom thân (dây)
- Phương pháp tạo cây giống từ hạt
- Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cây Ba kích
(Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
* Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
- Giá trị sử dụng:
Củ Ba kích làm dược liệu có nhiều tác dụng ôn thận, trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp, bổ thần kinh Ngoài ra còn có thể chữa xơ cứng động mạch,
Trang 2414
thấp khớp Người Trung Quốc thường nấu củ Ba kích với thịt chân giò để ăn bồi
bổ cơ thể dùng cho phụ nữ mới sinh con Tăng sức dẻo dai: Với phương pháp chuột bơi, Ba Kích được dùng với liều 5-10 g/kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy
có tác dụng tăng sức dẻo dai cho súc vật thí nghiệm Tăng sức đề kháng: dùng
phương pháp gây nhiễm độc cấp bằng Ammoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15 g/kg, Ba Kích có tác dụng tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối
với các yếu tố độc hại Chống viêm: Trên mô hình gây viêm thực nghiệm ở chuột
cống trắng bằng Kaolin với liều lượng 5-10 g/kg, Ba Kích có tác dụng chống
viêm rõ rệt Đối với hệ thống nội tiết: thí nghiệm trên chuột lớn và chuột nhắt
cho thấy Ba Kích không có tác dụng kiểu Androgen nhưng có thể có khả năng tăng cường hiệu lực của Androgen hoặc tăng cường quá trình chế tiết hormon
Androgen Nước sắc Ba Kích có tác dụng làm tăng co bóp của ruột và hạ huyết
áp Củ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giảm áp huyết; có tác dụng
nhanh đối với các tuyến cơ năng, tăng cường não, giúp ngủ ngon (Ban Quản lý
dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường,
Ba Kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trường hợp giao hợp yếu và thưa Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu
nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen Tuy không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì sử dụng
Ba Kích chưa thấy kết quả Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu
tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba Kích có tác dụng tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảm giác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon, ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực Còn đối với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu
Trang 25trăm triệu đồng/ha (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
2.1.3 Khái niệm về phát triển sản xuất Ba kích tím
Dựa trên cơ sở lý luận về phát triển và phát triển sản xuất, chúng ta có thể quan niệm phát triển sản xuất cây Ba kích tím là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu giống, mùa vụ và chất lượng Ba kích tím sản xuất
ra Sản phẩm có thị trường tiêu thụ ổn định, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Như vậy phát triển sản xuất Ba kích tím bao hàm sự biến đổi về số lượng và chất lượng Sự thay đổi về số lượng và chất lượng Sự thay đổi về số lượng đó là sự tăng lên về quy mô diện tích, sản lượng và tăng tỷ trọng trong ngành sản xuất Ba kích tím trong tổng giá trị ngành nông nghiệp và trồng trọt Sự tăng quy mô diện tích và sản lượng trong tương lai phải phù hợp với đặc điểm của vùng, địa phương hay tỉnh Mở rộng diện tích Ba kích tím phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của người sản xuất Ba kích tím Hiện nay diện tích sản xuất Ba kích tím nói chung của nước ta còn rất thấp, do vậy việc tăng diện tích, sản lượng Ba kích tím là cần thiết Song sản xuất trong điều kiện kinh tế thị trường thì phải chú ý đến quy luật cung cầu, giá cả, quy luật cạnh tranh thì sản xuất mới mang lại hiệu quả và phát triển sản xuất mới đảm bảo tính bền vững
Như vậy, phát triển sản xuất Ba kích tím là một quá trình tăng tiến về qui
mô và năng suất sản xuất Ba kích tím
Sự phát triển sản xuất Ba kích tím còn thể hiện sự phù hợp về cơ cấu giống phục vụ cho việc sản xuất, chế biến Không những đáp ứng cho nhu cầu
Trang 262.1.4 Nội dung phát triển sản xuất ba kích tím
Theo Võ Châu Tấn và Huỳnh Minh Tư, (2010) thì ta thấy các nội dung thể hiện sự phát triển bao gồm 3 nhóm chính là: nhóm thể hiện sự phát triển kinh tế (phát triển sản xuất); nhóm nội dung thể hiện sự phát triển xã hội và nhóm nội dung thể hiện sự bảo vệ môi trường Như vậy, phát triển sản xuất ba kích tím là:
- Sự phát triển kinh tế (phát triển sản xuất):
+ Sự phát triển về số lượng hộ tham gia sản xuất, số cây, diện tích sản xuất, sản lượng, năng suất ba kích tím
+ Chi phí cho sản xuất ba kích tím
+ Tình hình tiêu thụ ba kích tím của hộ nông dân
- Sự tiến bộ về mặt xã hội: phát triển sản xuất sẽ đóng góp tích cực cho phát triển xã hội, phát triển sản xuất ba kích tím sẽ góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập cho người dân và góp phần phát triển kinh
tế xã hội ở địa phương
- Gắn liền với hoạt động phát triển sản xuất thì các hoạt động sản xuất ba kích tím góp phần bảo vệ môi trường địa phương
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Ba kích tím
Quá trình phát triển sản xuất cây trồng nói chung và sản xuất ba kích tím nói riêng chịu tác động của rất nhiều yếu tố Những yếu tố có sự biến đổi trong từng thời kỳ và theo chiều hướng khác nhau Chúng có thể là những yếu tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất Có thể chia những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất ba kích tím thành 6 nhóm sau đây:
2.1.5.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện đất đai, khí hậu: đất đai, khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trồng cây Ba kích tím Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự
Trang 2717
nhiên, nhân tố đầu tiên phải kể đến đó là điều kiện đất đai Các tiêu thức của đất đai cần được đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất ba kích Nguồn tài nguyên đất là điều kiện quan trọng mà địa phương sẵn có giúp cho các
hộ dân phát triển sản xuất cây Ba kích tím, đặc biệt là các xã có diện tích đất chưa trồng rừng Nguồn tài nguyên Đất feralits đỏ vàng phát triển trên đá Mácma axít của huyện chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên rất phù hợp với trồng cây lâm nghiệp đặc biệt là cây Ba kích tím Do vậy, toàn huyện với 2.202,59 ha đất chưa sử dụng, đây là một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân phát triển sản xuất Ba kích tím Đối với sản xuất hàng hóa nông nghiệp nói chung và sản xuất ba kích nói riêng, đất đai tuy thường được xem xét trước nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đến sản xuất không mang tính quyết định bằng điều kiện khí hậu Những thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấp nhất hàng năm, hàng tháng, lượng mưa hàng năm, hàng tháng; lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất; độ ẩm không khí; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như sương mù, mưa đá, cần được phân tích, đánh giá
về mức độ ảnh hưởng phát triển của ba kích Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Nguồn nước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác đến vùng sản xuất
2.1.5.2 Trình độ dân trí: Phát triển sản xuất nhanh hay chậm, tốt hay không tốt
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của người dân trong việc tiếp thu các kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến Ba kích tím Trong quá trình sản xuất ba kích tím, yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình độ, đặc biệt là kinh nghiệm thì hoạt động sản xuất chắc chắn đem lại hiệu quả cao Trình độ tổ chức và quản lý giúp con người sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lực tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhất với chi phí bỏ ra là thấp nhất
2.1.5.3 Nhóm nhân tố về khoa học - công nghệ
- Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
- Kỹ thuật trồng
Trang 2818
- Kỹ thuật chăm sóc:
- Kỹ thuật khai thác, chế biến: Công nghệ chế biến sau thu hoạch là quá
trình kiểm định chất lượng Ba kích tím, đầu tư các máy móc hiện đại trong quá trình phơi sấy, chế biến là điều kiện làm tăng chất lượng sản phẩm Ba kích tím,
tạo được thị trường tiêu thụ ổn định hơn
2.1.5.4 Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số, lao động: tạo ra nhu cầu lớn cho sản phẩm Ba kích tím đồng thời cung cấp lao động cho phát triển trồng Ba kích tím Con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quyết định đối với mọi hoạt động sản xuất Đây là một trong những nhân tố kích thích để phát triển sản xuất, tăng sản lượng Ba kích tím tiêu thụ trên thị trường và cải tiến phương thức tiêu thụ để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường
- Cơ sở hạ tầng - kỹ thuật:
+ Cơ sở hạ tầng góp phần vào việc phát triển sản xuất ba kích tím như hệ thống cung cấp nước, các tuyến giao thông đường bộ, hệ thống Để phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng cần được nâng cấp Công trình thủy lợi nhằm đảm bảo tưới tiêu đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Còn hệ thống giao thông
nó liên quan đến quá trình vận chuyển các yếu tố đầu vào như cây giống, các loại vật tư cũng như đầu ra của quá trình sản xuất Trên thực tế cho thấy ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống cơ sở hạ tầng thì ở đó sản xuất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và tiêu thụ sản phẩm Như vậy, phát triển sản xuất ba kích và nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong
đó quy hoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước
+ Sản xuất ba kích tím đồi hỏi đầu tư nhiều lao động sống với có trình độ Một mặt họ phải nắm vững đặc tính sinh trưởng của cây và chăm sóc cây để thu được sản phẩm đạt yêu cầu Mặt khác, việc lựa chọn giống cũng rất quan trọng
Vì vậy, yếu tố kỹ thuật có vai trò quyết định đến sự thành bại của hộ nông dân Khoa học ngày càng phát triển, các kỹ thuật nhân giống phục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất của hộ nông dân Việc nắm bắt và học tập các tiến bộ kỹ thuật
Trang 2919
này kết hợp với kinh nghiệm sản xuất là rất quan trọng Do đó, không phải cứ bón nhiều phân thì cây phát triển mà cần thiết phải đầu tư nhiều lao động chất lượng cao để chăm sóc
- Vốn đầu tư: Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất ba kích tím vì ba kích tím cho thu hồi vốn chậm do chu kỳ kinh doanh dài Hơn nữa, việc chăm sóc cây ba kích cũng đòi hỏi đầu tư khá lớn
về cơ sở vật chất, điều kiện chăm sóc, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng
do đó để phát triển sản xuất ba kích tím đòi hỏi các hộ nông dân cần có nguồn vốn để chủ động đối phó với các rủi ro: thời tiết, thị hiếu thay đổi, giá trị đầu vào tăng cao
2.1.5.5 Nhóm nhân tố về chính sách
Vai trò của các chính sách đó là cơ sở động viên người nông dân làm giàu Khuyến khích phát huy mặt mạnh trong sản xuất Tạo việc làm, ổn định đời sống nông dân
Hệ thống chính sách của các cấp chính quyền: việc quy hoạch tổng thể vùng trồng Ba kích tím để khai thác lợi thế tiềm năng, có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ trong sản xuất là điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng tập trung
Ngoài ra chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng: việc định hướng trong tiêu thụ đặc biệt là trong xuất khẩu sản phẩm
là điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm Ba kích tím trên thị trường trong nước và quốc tế
2.1.5.6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm Ba kích tím
- Quy mô sản xuất: trồng Ba kích tím với diện tích tập trung và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, việc trồng Ba kích tím có sự đầu tư chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật sẽ làm cho chất lượng Ba kích tím được tăng lên tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm Ba kích tím trên thị trường
- Trong cơ chế tiêu thụ hiện nay, sự phát triển sản xuất cây trồng đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng và giá cả Phát triển sản
Trang 3020
xuất ba kích tím cũng vậy, để cạnh tranh được trên thị trường các hộ cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm Ba kích tím: thị trường chịu ảnh hưởng bởi quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu như các thị trường khác Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được ổn định và phát triển mở rộng
- Sản xuất muốn phát triển đòi hỏi cần có thị trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của hộ nông dân Việc định giá cả đầu ra cũng như nguồn cung ứng các vật tư đầu vào, tạo lập và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho nông hộ
- Chất lượng Ba kích tím: để có được thị trường tiêu thụ ổn định tăng cường chất lượng sản phẩm, bảo đảm sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao
- Sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: để vấn đề này xảy ra trong thị trường tiêu thụ đòi hỏi sản phẩm Ba kích tím phải có thương hiệu, được
sự công nhận của thị trường trong và ngoài nước
- Sự hoàn thiện các kênh phân phối sản phẩm, công tác quảng bá sản phẩm cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình tiêu thụ Nếu kênh tiêu thụ hoàn hảo thì sản lượng Ba kích tím tiêu thụ ngày càng lớn, công tác quảng bá sản phẩm tốt khách hàng biết đến giá trị mang lại của sản phẩm Ba kích tím sẽ tạo điều kiện cho cả quá trình tiêu thụ
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Các nghiên cứu liên quan
2.2.1.1 Ngoài nước
- Trung Quốc là nước sử dụng thảo dược để làm thuốc chữa bệnh nhiều nhất từ trước tới nay, Ba kích được sử dụng như một loại dược liệu làm thuốc bổ Tại Trung Quốc có tài liệu hướng dẫn lấy gốc Ba kích còn rễ và hom thân trồng thẳng xuống đất rừng Để cải thiện hệ số nhân giống cây Ba kích, một số tác giả
Trang 3121
đã nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào: Chen W, Xu L, Li Z, Li
K (2006), đã nghiên cứu và nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cây Ba kích như sau: tỷ lệ tạo chồi cao nhất 95% trên môi trường MS+1,0 mg/1,6-BA + 0,5 mg/l α-NAA Kết quả 85% chồi đã ra rễ trên môi trường MS không bổ sung
chất điều tiết sinh trưởng và 90% chồi đã ra rễ sống sót sau khi cấy (Chen W, et
al, (2006)) Theo nghiên cứu của He và CS (2000), tỷ lệ chồi tạo rễ đạt được cao nhất là 80% khi bổ sung α-NAA vào môi trường với nồng độ 0,2 – 0,5 mg/l (He
H, et al (2000)) Huang và CS (2007), đã nghiên cứu đưa ra môi trường MS bổ
sung 1,0 mg/l BA + 0,2 mg/l IBA sau 60 ngày nuôi cấy cho hệ số nhân chồi cao
nhất đạt 6 lần (Huang NZ, et al, 2007)
- Thị trường dược liệu đầu ra tiềm năng
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 80% dân số ở các nước đang phát triển việc chăm sóc sức khỏe ít nhiều vẫn còn liên quan đến y học cổ truyền hoặc thuốc từ dược thảo truyền thống để bảo vệ sức khỏe Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, bào chế và sản xuất các chế phẩm
có nguồn gốc thiên nhiên từ cây thuốc để hỗ trợ, phòng ngừa và điều trị bệnh Theo thống kê của WHO, ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%), Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), Châu
Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004), Tính trên toàn thế giới, hàng năm doanh thu thuốc
từ dược liệu ước đạt khoảng trên 80 tỷ USD
Những nước sản xuất và cung cấp dược liệu trên thế giới chủ yếu là những nước đang phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Bangladesh ở Châu Phi như Madagasca, Nam Phi ở Châu Mỹ La tinh như Brasil, Uruguay
Những nước nhập khẩu và tiêu dùng chủ yếu là những nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), chiếm 60% nhập khẩu của Thế giới Trung bình hàng năm các nước
EU nhập khoảng 750 triệu đến 800 triệu USD dược liệu và gia vị Nguồn cung cấp dược liệu chính cho thị trường EU là Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Brazil
Trang 3222
Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất) có xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển Xu thế trên thế giới con người bắt đầu sử dụng nhiều các loại thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe
có nguồn gốc từ thảo dược hơn là sử dụng thuốc tân dược vì nó ít độc hại hơn và
ít tác dụng phụ hơn Hơn nữa hiện còn nhiều triệu chứng và bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc đặc hiệu để chữa trị, người ta hi vọng rằng từ nguồn động thực vật
tự nhiên hoặc từ vốn trí tuệ bản địa của các cộng đồng, qua nghiên cứu sàng lọc
có thể cung cấp cho nhân loại những hợp chất có hoạt tính sinh học cao để làm ra các loại thuốc mới có hiệu quả chữa bệnh như mong muốn Nghiên cứu sàng lọc cây thuốc hiện cũng được chú trọng ở nhiều quốc gia, nhiều lĩnh vực như dược liệu, công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm
Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước Châu phi, Ở Trung Quốc chi phí cho sử dụng y học cổ truyền khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới
(Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
Trang 3323
Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu… Chính vì vậy, sản xuất dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi lớn
cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc (Ban Quản
lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
2.2.1.2 Trong nước
- Một số nghiên cứu về sản xuất Ba kích
+ Trung tâm Khoa học và sản xuất lâm nông nghiệp Quảng Ninh nghiên cứu sản xuất Ba kích bằng phương pháp nuôi cấy mô, qua trồng thử nghiệm năm
2012 tại hợp tác xã Toàn Dân huyện Ba Chẽ cho thấy cây Ba kích sau khi trồng 8 tháng đã cho chùm củ khoảng 30 đến 40 nhánh, củ to cỡ chiếc đũa ăn cơm, cây phát triển bình thường, thậm chí còn tốt hơn cây mọc tự nhiên Hơn nữa, xét về lâu dài việc trồng cây Ba kích tím xen canh với trồng các cây rừng khác rất có lợi Bởi chỉ sau 2 đến 3 năm cây Ba kích đã cho thu hoạch Trong khi đó trồng rừng cần thời gian lâu hơn 7-10 năm, như vậy với việc trồng xen cây Ba kích tím đương nhiên cho phép người dân có nguồn thu trong thời gian ngắn, lấy ngắn nuôi dài để đầu tư lớn Với 3/4 diện tích tự nhiên là rừng và ít rừng, nếu được bảo
vệ và trồng thêm nhiều các loài cây dược liệu thì rừng Quảng Ninh sẽ phát huy thế mạnh và là một nguồn lợi lớn của tỉnh Hiện nay,việc nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy mô của Trung tâm đã có những kết quả đáng kể có thể cung cấp mỗi năm từ 500.000 - 700.000 cây, song chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu thị trường cho một số địa phương trên địa bàn tỉnh, riêng huyện Ba Chẽ nhu cầu cây giống đã lên đến trên 2 triệu cây giống/năm; Ngoài ra còn các huyện thị khác trong tỉnh như Hoành Bồ, Vân Đồn, Tiên Yên cũng đang mở rộng diện tích trồng Ba kích ; Viện Công nghệ Sinh học Việt Nam đã nghiên cứu thành công quy trình công nghệ và triển khai sản xuất nhân giống cây Ba kích bằng phương pháp nuôi cấy mô ở quy mô công nghiệp và hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu về cây giống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 3424
+ Trung tâm nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ tỉnh Quảng Ninh (2007) đã triển khai tập huấn kỹ thuật nhân giống cây Ba kích cho 50 người dân và xây dựng 02 mô hình vườn ươm Ba kích tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ Khóa tập huấn đã cung cấp cho người dân kiến thức về kỹ thuật tạo giống cây Ba kích, bao gồm thiết lập vườn ươm quy mô gia đình, giâm hom, chăm sóc cây Ba kích tại vườn Tiếp theo đã tập huấn kỹ thuật xây dựng mô hình gây trồng cây Ba kích cho 29 hộ dân và gây trồng được 5,0 ha quy mô vườn hộ và 61 ha làm giàu
rừng bằng cây Ba kích (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, 2007)
+ Ngoài ra, một số nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng của Triệu Văn Hùng (2007) đã cho thấy Ba kích có thể trồng trên đất nương rẫy còn màu mỡ, vườn trang trại hoặc trồng xen với cây ăn quả trong vườn hộ Trước khi trồng cần phát dọn thực bì, lên luống ruộng 0,8 - 1 m, cao 30 cm, cự ly hố 1,5 m/hố Bón lót phân chuồng mục 15-20 tấn/ha Cây trồng sau 8 - 12 tháng cần cắm giá thể leo, sau 2 năm cây bắt đầu ra quả, sau 4 - 5 năm có thể cho thu hoạch củ Nếu được
chăm sóc tốt mỗi khóm có thể cho 1 - 3 kg rễ củ tươi (Triệu Văn Hùng, 2007)
- Phát triển sản xuất một số cây trong nước
+ Theo Luận văn thạc sĩ kinh tế của Dương Thị Thu Hường (2012) về phát triển sản xuất hồi của hộ nông dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho biết hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong sản xuất hồi của hộ nông dân huyện Cao Lộc đã rõ rệt Bình quân một ha hồi một năm hộ nông dân thu được là 466,18 triệu đồng đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, diện tích hồi phân bố không đều, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chưa có liên kết, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, chưa có bảo quản chế biến tại chỗ và chưa có áp dụng công nghệ mới trong sản xuất chế biến Diện tích sản xuất ngày càng được
mở rộng và phát triển tuy nhiên phân bố không đồng đều giữa các xã, vùng và có
sự chênh lệch lớn về diện tích, năng suất, sản lượng Chưa thành lập được tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất cây hồi, chỉ sản xuất ở quy mô hộ gia đình Việc phối hợp, liên kết trong việc tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người sản xuất còn hạn chế Phát triển sản xuất hồi được đánh giá là mang lại hiệu quả cao nhưng đòi hỏi người sản xuất phải có kinh nghiệm,
Trang 3525
trình độ, kiến thức về tiến bộ khoa học kỹ thuật Sản phẩm cây hồi được tiêu thụ bằng hai cách chính là bán trực tiếp tại nhà cho người thu gom sản phẩm và bán tại chợ địa phương Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây hồi: Về quy hoạch vùng sản xuất: Có sự quan tâm, chỉ đạo quy hoạch vùng sản xuất tập trung tuy nhiên chưa cụ thể, chi tiết với từng vùng nên quy mô sản xuất của các hộ vẫn nhỏ
lẻ, phân tán chưa tập trung; Về thị trường tiêu thụ: Chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, việc ép cấy, ép giá vẫn xảy ra tại nơi mua bán sản phẩm; Về kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, chế biến bảo quản: Chưa chú trọng
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; Về chính sách của nhà nước:
Còn chậm và chưa kịp thời (Dương Thị Thu Hường, 2012)
+ Luận văn thạc sĩ kinh tế của Phạm Quốc Duy (2012) về phát triển sản xuất cà phê theo hướng bền vững tại huyện Cư M’Gar tỉnh Đắk Lắk cho rằng định hướng phát triển cà phê bền vững phải đạt các mục đích và điều kiện sau: Tăng năng suất cà phê của huyện phải ổn định, bền vững gắn với việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo môi trường sinh thái; Tăng khả năng cạnh tranh của ngành cà phê trên cơ sở phát huy được lợi thế so sánh của địa phương
về sản xuất và tiêu thụ; Góp phần đảm bảo đời sống cho nông dân gắn với phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới; Sự hỗ trợ của Nhà nước
về các cơ chế, chính sách có hiệu quả nhưng phải phù hợp với đặc thù của từng vùng miền; Phát triển cà phê theo hướng toàn diện và bền vững Tác giả đã chỉ ra được một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển cà phê nói chung và phát triển cà phê bền vững nói riêng Một số nhân tố cụ thể như: Chủ thể sản xuất (Nguồn nhân lực, kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ sản xuất, khả năng vốn ), điều kiện tự nhiên - xã hội, nhóm nhân tố thị trường và nhóm chính sách vĩ mô của nhà nước đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến phát triển bền vững cà phê
(Phạm Quốc Duy, 2012)
+ Trong Luận văn thạc sĩ của Đặng Xuân Thủy (2013) về giải pháp phát triển sản xuất cây đậu tương trên đất 2 lúa của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đã chỉ ra rằng kết quả sản xuất đậu tương phụ thuộc lớn vào mức độ đầu tư của hộ trồng Các hộ có mức đầu tư cao vào giống, phân bón, lao động sẽ đem
Trang 3626
lại năng suất đậu tương cao hơn các hộ khác, điều này kéo theo kết quả sản xuất cũng tăng theo Trong những năm qua Xuân Trường đã có các chính sách phát triển sản xuất đậu tương với các nhóm giải pháp chủ yếu như: Quy hoạch vùng,
hỗ trợ sản xuất thông qua hỗ trợ chi phí các yếu tố đầu vào (giống, phân bón ),
tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật (Đặng Xuân Thủy, 2013)
- Nhu cầu sử dụng dược liệu của Việt Nam
BMI dự báo, trong 5 năm tới thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ là mảnh đất giàu tiềm năng cho các công ty nước ngoài do thị trường bắt đầu mở cửa rộng hơn cho các doanh nghiệp và thị trường Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng: 17%-19% năm và tiền thuốc tăng gấp đôi sau 5 năm
Theo cam kết của WTO, các công ty dược phẩm nước ngoài có quyền mở chi nhánh tại Việt Nam và được tham gia nhập khẩu trực tiếp dược phẩm, mặc dù chưa được quyền phân phối Thêm vào đó, Việt Nam sẽ giảm thuế cho sản phẩm y tế là 5% và 2,5% cho thuốc nhập khẩu trong vòng 5 năm sau khi gia nhập WTO
Biểu đồ 2.2 Dự báo nhu cầu sử dụng thuốc của Việt Nam
Biểu đồ 2.3 Biểu đồ Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam
(Trích bởi Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
Dự báo về cung cầu thị trường dược liệu trong nước, khả năng xuất khẩu dược liệu của Việt Nam đến các thị trường Quốc tế:
Nhu cầu trong nước: Với trên 86 triệu dân Việt Nam, hứa hẹn cho dược liệu một thị trường tiềm năng khi nhu cầu sử dụng mặt hàng này của mặt hàng này ngày càng lớn, có tốc độ tăng trưởng bình quân cao 11,7%/năm Không chỉ
Trang 37Với tiềm năng sẵn có về nguồn dược liệu tự nhiên, kết hợp với quy hoạch nuôi trồng dược liệu, đồng thời xây dựng một số nhà máy chế biến và chiết xuất thì khả năng cung ứng và xuất khẩu dược liệu và thuốc từ dược liệu trong giai đoạn tới là rất có khả năng Hàng năm khối lượng dược liệu xuất khẩu có thể đạt tới 15.000 - 20.000 tấn nguyên liệu/năm, cung ứng cho sản xuất trong nước khoảng 20.000 tấn/năm, các sản phẩm từ dược liệu đảm bảo sức cạnh tranh với
thị trường quốc tế (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014)
2.2.2 Chính sách của địa phương
- Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Tại mục III về nội dung quy hoạch có đưa ra quy hoạch vùng trồng dược liệu tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ như Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh, Lạng Sơn phát triển trồng 16 loài dược liệu trong đó có ba kích được ưu tiên phát triển Ngoài ra việc phát triển nguồn giống dược liệu thì chú trọng phát triển 28 giống cây bản địa trong đó có ba kích
- Quyết định số 603/QĐ-UBND ngày 04/3/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh “Bảo tồn cây Ba kích tím trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với mục tiêu bảo tồn nguồn gen ba kích tím nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, phục vụ phát triển bền vững kinh
tế, xã hội và môi trường ở một số huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh Góp
Trang 38- Quyết định số 2870/QĐ-UBND ngày 22/10/2013 về việc phê duyệt Đề
án “Tỉnh Quảng Ninh - Mỗi xã, phường một sản phẩm”, giai đoạn 2013-2016 nhằm phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh các sản phẩm truyền thống có lợi thế ở khu vực nông thôn góp phần tái cơ cấu nền kinh tế nông thôn Quảng Ninh theo hướng phát triển sản xuất, tăng giá trị sản phẩm
- Quyết định số 2917/QĐ/UBND ngày 08/11/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt thực hiện Dự án “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Quảng Ninh cho sản phẩm rượu Ba kích tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 3514/QĐ-UBND ngày 23/12/2013 về việc cho phép thành lập Hội sản xuất và Kinh doanh rượu Ba kích Quảng Ninh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản; tự chủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, địa điểm làm việc,
kinh phí và bộ máy hoạt động
- Ghi nhớ Hợp tác giữa UBND huyện Ba Chẽ và Công ty Cổ phần dược VTYT Quảng Ninh ngày 09/11/2014 về phát triển vùng trồng cây dược liệu và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn huyện
- Thỏa thuận hợp tác giữa Công ty cổ phần dược và Y tế Quảng Ninh và đại diện doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ ngày 3/2015 về việc thu mua dược liệu trên địa bàn huyện Ba Chẽ
- Ghi nhớ hợp tác giữa UBND huyện Ba Chẽ và Công ty dược Trung ương Mediplantex ngày 9/11/2014 về Hợp tác chiến lược trong lĩnh vực trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và đầu tư vùng dược liệu tập trung quy mô 200 ha
theo hướng GACP – WHO
- Quyết định số 12/QĐ-HĐQLQPTKH&CN ngày 18/4/2014 của Hội đồng quản lý quỹ phát triển khoa học và công nghệ về việc phê duyệt kinh phí hỗ
Trang 3929
trợ không hoàn lại cho nội dung đào tạo chuyên môn và tổ chức tập huấn kỹ thuật cho 10 kỹ thuật viên, tập huấn cho 120 xã viên HTX thuộc dự án: “Trồng và phát triển cây ba kích tím tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” từ nguồn vốn của Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ
- Quyết định số 39/QĐ-QPTKH&CN ngày 11/11/2013 của Hội đồng quản lý quỹ phát triển khoa học và công nghệ về việc phê duyệt kinh phí vay vốn thực hiện dự án: “Trồng và phát triển cây ba kích tím tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” từ nguồn vốn của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Theo đó, Hợp tác xã Toàn dân làm chủ đầu tư với các nội dung hỗ trợ vay vốn như: Cho vay vốn ưu đãi lãi suất 0% từ Quỹ phát triển KH&CN tỉnh Quảng Ninh với tổng
số tiền là: 1.200.000.000 đồng cho nội dung mua vật liệu, thiết bị công nghệ thiết yếu để xây dựng 01 ha nhà lưới thuần dưỡng cây giống; cho vay lãi suất ưu đãi 5,9% (bằng 50% lãi suất vay của 03 ngân hàng thương mại tại thời điểm ra Quyết định cho vay) từ Quỹ phát triển KH&CN tỉnh Quảng Ninh với tổng số tiền 5.300.000.000 đồng cho nội dung chi phí mua cây giống ba kích tím Thời gian cho vay trong 36 tháng (một chu kỳ sản xuất ba kích tím) trong đó thời gian ân
hạn trả lãi và vốn vay là 12 tháng
2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu đề tài và địa phương
Trên thế giới ba kích được sản xuất ở một số nước như Trung Quốc, Ấn
Độ, Lào và Triều Tiên
Ở nước ta, diện tích ba kích phân bố tại một số tỉnh phía bắc Việt Nam như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An Diện tích ba kích lớn nhất ở tỉnh Quảng Ninh
Phát triển sản xuất ba kích là sự gia tăng về diện tích, sản lượng, số hộ trồng và đầu tư khoa học công nghệ tiên tiến để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái
Ba kích tím là cây trồng lâu năm nhưng phát triển ba kích tím cùng một lúc có thể đạt được ba mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Phát triển trồng ba kích tím đem lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ nông dân huyện Ba Chẽ, đặc biệt
Trang 40Cùng với sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, sản phẩm ba kích tím ngày càng quan trọng đối với ngành công nghiệp dược phẩm Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm ba kích hiện tại và tương lai có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ba kích nhưng mới đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật trồng như cây Ba kích được nghiên cứu khá toàn diện về các đặc điểm hình thái, phân bố, thành phần hóa học, giá trị sử dụng Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật cây trồng,
sơ chế và sử dụng ở các mức độ khác nhau Các nghiên cứu này là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác gây trồng và phát triển cây Ba kích tím trên thế giới
và ở nước ta Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về phát triển sản xuất ba kích tím Hơn nữa, loài cây này trong tự nhiên đã và đang bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ bị tuyệt chủng cao Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển sản xuất Ba kích tím ở Quảng Ninh là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất
Một vài năm gần đây, chính quyền địa phương có các chính sách chú trọng hơn việc phát triển ba kích tím, hỗ trợ các hộ dân quy trình kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, xây dựng chỉ dẫn địa lý sản phẩm cho cả tỉnh nhằm quảng bá và tìm thị trường tiêu thụ giúp các hộ nông dân yên tâm sản xuất
Nhiều chính sách cho vay vốn và hỗ trợ đào tạo, tập huấn kỹ thuật được chính quyền địa phương đưa ra rất hấp dẫn và ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân trồng và phát triển sản xuất ba kích tím
Địa phương đang có chính sách hướng tiêu thụ sản phẩm ba kích tím sang thị trường dược liệu Đây sẽ là thị trường trọng tâm mà địa phương hướng tới để phát triển sản xuất ba kích tím trong tương lai