1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định

127 478 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản NTTS Việt Nam được coi là tiến bộ nhanh nhất, bất chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng thuỷ sản của cả nước, góp phần quan tr

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

3.1.3 Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật 43

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 46 3.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 48

3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển NTTS 49 3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh đầu tư sản suất 49

4.1 Thực trạng phát triển NTTS trên địa bàn huyện Hải Hậu 51 4.1.1 Tình hình chung về phát triền NTTS giai đoạn 2012-2014 51 4.1.2 Tình hình phát triển NTTS nước lợ trên địa bàn huyện giai

4.3 Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NTTS ở huyện

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

2.1 Đặc điểm các hình thức nuôi trồng thủy sản 18

3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hải Hậu qua 3 năm (2012-2014) 41 3.2 Nguồn thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 46

4.1 Diện tích và cơ cấu diện tích NTTS huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014 53 4.2 Giá trị, cơ cấu GTSX nuôi trồng thuỷ sản huyện Hải Hậu năm 2012 - 2014 55 4.3 Thông tin chung về các hộ NTTS điều tra năm 2014 60 4.4 Vốn đầu tư ban đầu của các nhóm hộ theo quy mô diện tích nuôi 65 4.5 Chi phí đầu vào nuôi cá của các hộ phân theo xã và hình thức nuôi

4.6 Chi phí đầu vào nuôi tôm của các hộ phân theo xã và hình thức

4.7 Chi phí đầu vào nuôi cá theo quy mô nuôi và hình thức nuôi (Tính

Trang 6

4.16 Dự kiến một số chỉ tiêu về chuyển giao kỹ thuật NTTS huyện Hải

4.17 Nhu cầu vốn phát triển sản xuất NTTS vùng ven biển huyện Hải

4.18 Dự kiến xây dựng hệ thống CSHT đầu mối phục vụ phát triển

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

2.3 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất năm 2012 303.1 Cơ cấu kinh tế huyện Hải Hậu năm 2012 - 2014 383.2 Dân số Hải Hậu theo địa giới hành chính năm 2015 423.3 Cơ cấu lao động theo ngành huyện Hải Hậu năm 2015 434.1 Diện tích NTTS nước lợ giai đoạn 2012-2014 564.2 Giá trị sản suất NTTS nước lợ giai đoan 2012-2014 57

4.7 Diện tích NTTS nước lợ bình quân của hộ phân theo xã 694.8 Năng suất NTTS nước lợ bình quân của các hộ huyện Hải

4.9 Sản lượng NTTS nước lợ bình quân của các hộ tại huyện Hải

Trang 8

DANH MỤC CÁC HỘP

4.1 Ý kiến của cán bộ phòng nông nghiệp huyện về hộ NTTS 60 4.2 Ý kiến của chủ hộ NTTS nước lợ xã Hải Đông về lao động NTTS 61 4.3 Ý kiến của cán bộ phòng nông nghiệp về tiêu chuẩn kỹ thuật NTTS

4.4 Ý kiến của chủ hộ nuôi tôm xã Hải Phúc 74

Trang 9

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thủy sản Việt nam trong hơn 10 năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản nhanh trên thế giới Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) Việt Nam được coi là tiến bộ nhanh nhất, bất chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng thuỷ sản của cả nước, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng và giá trị xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân, đặc biệt

là vùng dân nghèo ven biển, vùng sâu vùng xa, hải đảo…Từ đó tiến tới sụ ổn định các mặt của xã hội Nuôi trồng thủy sản đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế thế giới, và thể hiện vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế -xã hội nhất là với một nước nghèo đi lên từ nền sản xuất nông nghiệp như Việt Nam Việc phát triển mạnh mẽ NTTS thay thế cho khai thác thủy hải sản đã phần nào giảm áp lực khai thác quá mức đối với vùng biển Việt Nam, tiến tới bảo tồn nguồn tài nguyên biển tự nhiên của đất nước

Nhận thức được tầm quan trọng của việc NTTS đặc biệt là NTTS nước lợ

và để phát huy thế mạnh của một huyện có hơn một nửa xã ven biển, từ năm

2004 huyện Hải Hậu đã xây dựng đề án chuyển đổi diện tích cấy lúa, làm muối kém hiệu quả sang NTTS Huyện đã thành lập ban chỉ đạo và có 16/35 xã, thị trấn tham gia Các xã căn cứ vào diện tích quy hoạch, tạo ra các vùng chuyển đổi tập trung với diện tích tối thiểu mỗi vùng 5ha Các vùng chuyển đổi đều thành lập các tổ hợp tác, CLB để chuyển giao kỹ thuật đào ao, quản lý môi trường nuôi trồng và thống nhất thả cùng giống nhằm tạo ra các vùng nuôi chuyên canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo hiệu quả bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn huyên (UBND huyện Hải Hậu, 2011)

Tuy nhiên, NTTS nước lợ trên địa bàn huyện vẫn còn không ít những bất cập và phải đối mặt với hàng loạt thách thức như: công tác quy hoạch chưa theo

Trang 10

kịp với tốc độ phát triển, đầu tư còn dàn trải, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hàm lượng khoa học công nghệ trong sản xuất nuôi trồng còn thấp, nguồn lợi thuỷ sản đang có xu hướng giảm , sự phát triển còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, không theo kịp quy hoạch dẫn đến môi trường một số nơi có dấu hiệu suy thoái, dịch bệnh phát sinh và có sự mất cân đối giữa cung và cầu Do đó, để khắc phục những tồn tại nêu trên, đáp ứng được những biến đổi về khí hậu, sự suy thoái về môi trường, sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như theo kịp sự tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại thì rất cần một chiến lược phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển ngành NTTS trên địa bàn huyện một cách bền vững hơn, góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân lao động

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển NTTS nước lợ trên địa

bàn huyện Hải Hậu, tôi đã lựa chọn đề tài: “Phát triển nuôi trồng thủy sản nước

lợ trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng tình hình NTTS nước lợ trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất định hướng và hệ thống các giải pháp nhằm phát triển NTTS cho huyện trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

(1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển NTTS nước lợ (2) Đánh giá thực trạng phát triển NTTS nước lợ tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển NTTS nước lợ của huyện Hải Hậu

(4) Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển NTTS nước lợ cho huyện Hải Hậu trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Những lý luận cơ bản về phát triển NTTS nước lợ là gì?

Trang 11

(2) Thực trạng phát triển NNTS nước lợ trên địa bàn huyện Hải Hậu hiện nay diễn ra như thế nào?

(3) Nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển NTTS nước lợ trên địa bàn huyện Hải Hậu?

(4) Những giải pháp nào để phát triển NTTS nước lợ tại huyện Hải Hậu?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phát triển NTTS nước lợ trên địa bàn huyện

- Các hộ gia đình NTTS nước lợ trên địa bàn huyện

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

a Nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau đây:

- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng NTTS trên địa bàn huyện

- Điều tra, khảo sát đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NTTS trên địa bàn huyện

- Nghiên cứu các giải pháp cần thiết để phát triển NTTS trên địa bàn huyện

b Không gian

- Đề tài tiến hành nghiên cứu tại huyện Hải Hậu cụ thể là 3 xã Hải Đông, Hải Phúc, Hải Chính

c Thời gian

- Thời gian thực hiện đề tài từ 8/2015 đến 10/2015

- Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2011 đến năm 2015

- Số liệu sơ cấp thu thập từ năm 2015

Trang 12

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về NTTS, NTTS nước lợ

Ngành thuỷ sản xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời với xuất phát điểm là đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Thời kỳ đầu đánh bắt thuỷ sản được coi là ngành quan trọng chủ yếu cấu thành nên ngành Thuỷ sản Vì vậy, ở thời điểm đó NTTS chưa phát triển và con người chưa ý thức được việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của các loài thuỷ sản Những thập

kỷ gần đây, khi sản phẩm thuỷ sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ sụt giảm và cạn kiệt vì đánh bắt quá nhiều, tràn làn trong điều kiện nguồn lực có hạn thì NTTS ngày càng phát triển và trở nên quan trọng NTTS được nhìn nhận trên

nhiều quan điểm như sau:

Theo Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung (2005): NTTS là một bộ

phận sản xuất có tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, các sản phẩm thuỷ sản được cung cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chế biến xuất khẩu Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nước với nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động NTTS

Theo quan điểm của FAO: NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh…quá trình này bắt đầu từ khi thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh

Nuôi trồng thủy sản là sự tác động của con người vào ít nhất một giai đoạn trong chu trình sinh trưởng, phát triển của các đối tượng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng để đạt hiệu quả kinh tế cao (Kim Văn Vạn, 2009)

NTTS nước lợ là hình thức nuôi động vật thủy sinh ở môi trường có độ

Trang 13

mặn từ 1 tới 10g/l hay 1 tới 10ppt hay ở thủy vực nước lợ

2.1.1.2 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế

Theo Vũ Thị Ngọc Phùng và cộng sự (2006), tăng trưởng và phát triển là hai khái niệm được dùng trong kinh tế phát triển, đôi khi được coi như nhau nhưng thực chất chúng có những nét khác nhau và có liên hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định

Trong tác phẩm “Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội - Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn” của Viện Chiến lược phát triển, tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là mức tăng lượng của cải (tài sản) trong một thời kỳ nhất định Khái niệm

này có thể được áp dụng cho nhiều cấp độ, cho toàn nền kinh tế, cho từng ngành, cho các doanh nghiệp, cho cấp độ gia đình và cấp độ cá nhân Để phản ánh tốc

độ tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ, người ta thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh bằng tốc độ gia tăng của các đại lượng trong các giai đoạn với nhau và được đo bằng phần trăm thay đổi, giá trị phần trăm cao hay thấp thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, 2005)

Lý thuyết phát triển bao gồm lý thuyết phát triển về kinh tế, phát triển dân trí, phát triển giáo dục, phát triển y tế, sức khoẻ và môi trường Lý thuyết về phát triển kinh tế đã được các nhà kinh tế học mà đại diện là Smith (1723-1790), Malthus (1776- 1838), Ricardo (1772-1823), Marx (1818- 1883), Keynes (1883-1946) đưa ra qua việc phân tích và giải thích các hiện tượng kinh tế, tiên đoán về phát triển kinh tế.Phát triển là quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội

Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ một trạng thái thấp nên một trạng thái cao hơn Do vậy không có tiêu chuẩn chung về sự phát triển để nói lên trình độ phát triển cao, thấp khác

Trang 14

đó ra các nấc thang: kém phát triển, đang phát triển và phát triển, gắn với các nấc thang đó là những giá trị nhất định, mà hiện tại chưa có cơ sở thống nhất hoàn toàn Trong chiến lược phát triển kinh tế có thể nhấn mạnh vào tăng trưởng tức là tăng thu nhập, nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội hoặc nhấn mạnh phát triển toàn diện, tức là vừa nhấn mạnh về số lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục tiêu công bằng và sự tiến bộ xã hội Trong thực tế phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế phải hài hoà với công bằng và tiến bộ xã hội, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất hỗ trợ cho việc thực hiện công bằng xã hội, ngược lại công bằng xã hội tạo ra động lực vững chắc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội thành hiệu quả kinh tế - xã hội Nó là tiêu chuẩn quan trọng của sự phát triển nền kinh tế (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, 2005)

2.1.1.3 Tăng trưởng và phát triển trong sản xuất nông nghiệp

Trong nông nghiệp thì đối tượng chính là cây trồng, vật nuôi, là ngành sản xuất có đặc thù riêng Tính đa dạng của sản xuất nông nghiệp tạo nên sự nhìn nhận phong phú từ các góc độ khác nhau của sự phát triển, nhưng tất cả đều hướng tới các biểu hiện tăng lên về quy mô, sản lượng, tốc độ phát triển và chất lượng của nó như cơ cấu hợp lý hơn và tính ổn định trong các chu kỳ kinh doanh Trong lĩnh vực nông nghiệp, kết quả sản xuất là kết quả quá trình hoạt động sinh học với sự tác động của các yếu tố đầu vào như lao động, phân bón, giống, thuốc trừ bệnh,… Quan hệ vật chất giữa sản xuất và các yếu tố đầu vào thường được biểu thị thông qua hàm sản xuất cổ điển và tân cổ điển Theo quan niệm cổ điển thì khi sử dụng tăng dần một lượng đầu vào nào đó thì (khi các đầu vào khác cố định), năng suất biên sẽ giảm Các nhà kinh tế cổ điển gọi hiện tượng này là quy luật lợi suất gia tăng giảm dần Ngoài các yếu

tố vật chất, năng suất cây trồng, vật nuôi còn chịu tác động của hàng loạt các yếu tố khác như chất lượng đất đai, diễn biến thời tiết, khí hậu, chất lượng giống… (Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, 2005)

Trang 15

Tóm lại, nông nghiệp là ngành sản xuất có đối tượng là những sinh vật sống, gắn liền với điều kiện ngoại cảnh, do đó kết quả sản xuất hay quy mô sản lượng và yếu tố đầu vào có tỷ lệ tăng không giống nhau, do vậy thâm canh trong

nông nghiệp cần chú ý tới quy luật lợi suất gia tăng giảm dần

2.1.1.4 Phát triển NTTS, NTTS nước lợ

Theo Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung (2005) phát triển NTTS nói chung và phát triển NTTS nước lợ nói riêng được hiểu là : Quá trình lớn lên tăng hay tiến về mọi mặt của NTTS trong một thời kỳ nhất định, nó bao gồm sự tăng thêm về quy mô diện tích (phát triển theo chiều rộng) và sự tiến bộ hoàn thiện trong cơ cấu (phát triển theo chiều sâu)

Phát triển theo chiều rộng: là quá trình nhằm tăng năng suất, sản lượng NTTS bằng cách: Tăng về quy mô diện tích: Diện tích nuôi trồng tăng dần theo thời gian, tuy nhiên mở rộng diện tích NTTS phải đảm bảo lợi ích chung của toàn

xã hội và lợi ích của người nuôi trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, từng địa phương nhằm khai thác lợi thế so sánh, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường Cùng với quá trình tăng về diện tích thì số lượng hộ, đơn vị NTTS cũng tăng theo

Phát triển theo chiều sâu: là quá trình nhằm tăng sản lượng NTTS bằng cách đầu tư thêm vốn hoàn thiện cơ sở hạ tầng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích ngày một cao hơn, từ đó tăng hiệu quả sản suất NTTS trên một đơn vị diện tích

Cơ cấu phản ánh chất lượng của một ngành, cơ cấu được xét theo nhiều phương diện: cơ cấu theo sản phẩm, cơ cấu theo quy mô sản xuất, theo hình thức

tổ chức, theo trình độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, theo phương thức tiêu thụ, theo phẩm cấp sản phẩm sản xuất ra,…đối với ngành NTTS nói chung, NTTS nước lợ nói riêng, quá trình hoàn thiện cơ cấu của ngành được xét trên một số phương diện chủ yếu sau:

+ Quy mô NTTS: Trong các quy mô NTTS nên áp dụng quy mô nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho từng vùng, từng địa phương cũng như từng quốc gia

+ Hình thức NTTS: Thực hiện tổ chức NTTS theo hình thức nào là phù

Trang 16

hợp cho từng vùng, từng địa phương (nuôi quảng canh, nuôi bán thâm canh, nuôi thâm canh, nuôi siêu thâm canh): hình thức nuôi theo hộ gia đình hay theo mô hình sản xuất tập trung quy mô lớn

+ Trình độ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: ngày nay, việc phát triển NTTS ngoài việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố truyền thống như thời tiết, vốn, lao động, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật,… thì các yếu tố của sản xuất trong thời đại mới như tổ chức quản lý, khoa học công nghệ (nhất là công nghệ sinh học), không thể thiếu trong quá trình phát triển Trong điều kiện diện tích đất đai có hạn, muốn tăng năng suất và sản lượng đòi hỏi người lao động không chỉ đơn thuần về số lượng mà cả yêu cầu về chất lượng, tức là phải có tri thức, học vấn,

kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất, khả năng quản lý, ý thức tổ chức quản lý,… mới

có thể học hỏi tiếp thu những tiến bộ của KHKT áp dụng vào sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Do đó, chăm lo phát triển dân trí, nâng cao kiến thức

và ý thức trách nhiệm của mỗi người trong sản xuất cũng là một biện pháp không thể thiếu trong phát triển sản xuất nói chung và trong NTTS nói riêng Tuy nhiên phát triển NTTS trong nền kinh tế thị trường phải chú ý đến quy luật cung cầu, giá cả, quy luật cạnh tranh thì sản xuất mới mang lại hiệu quả bền vững Trong nền kinh tế thị trường, phát triển NTTS phải gắn liền với chuyên môn hoá, tập trung hoá và đòi hỏi người sản xuất phải đạt tới trình độ cao, biết ứng dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường hàng hoá Sự phát triển ngành NTTS không chỉ biểu hiện ở sự tăng trưởng

về quy mô hay về số lượng mà còn thể hiện ở mặt chất lượng của sản xuất, đó là sản phẩm có chất lượng cao nhằm cải thiện dinh dưỡng cho người dân Tuy nhiên, thực tế vấn đề đó không đơn giản vì nó liên quan đến hàng loạt vấn đề như

tự nhiên, kinh tế, xã hội, nhu cầu thị trường, thị hiếu tập quán tiêu dùng, thu nhập của người dân và hiệu quả kinh tế mang lại cho người sản xuất

2.1.1.5 Nội dung phát triển NTTS

Theo Vũ Đình Thắng và Nguyễn Viết Trung (2005), nội dung phát triển NTTS bao gồm:

Trang 17

a, Kết quả và hiệu quả về mặt kinh tế

Yếu tố kinh tế tất nhiên đóng vai trò quan trọng trong phát triển Phát triển NTTS phải gắn với sự phát triển của cả hệ thống kinh tế, tạo cơ hội tiếp xúc với những nguồn tài nguyên một cách thuận lợi và quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ một cách bình đẳng Yếu tố được chú trọng ở đây phải là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người

b, Hiệu quả về môi trường

Phát triển NTTS phải đảm bảo duy trì sự cân bằng giữa phát triển và bảo

vệ môi trường tự nhiên, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất Phát triển phải gắn liền với quá trình tái tạo bảo vệ tài nguyên môi trường

c, Khía cạnh xã hội

Phát triển NTTS cần chú trọng vào sự công bằng xã hội, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người

cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được

Do áp lực của tăng dân số và tốc độ đô thị hóa, do các sai lầm trong lựa chọn kỹ thuật, con người đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, thiên tai xảy ra bất thường, bầu khí quyển, nguồn nước bị ô nhiễm nặng đang đe dọa cuộc sống của mọi người Hơn lúc nào hết phải đòi hỏi phải có những hành động kịp thời nhằm ngăn chặn đà suy thoái của môi trường sống

Đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trong nông nghiệp, quá trình chuyển dịch kinh tế đang diễn ra sôi nổi ở khắp các nước trên thế giới Làm thế nào để phát triển nhanh nhưng không tác động xấu đến môi trường, đến sinh hoạt bình thường của cộng đồng đang là mối quan tâm của toàn xã hội

Trang 18

Trước tình hình khủng hoảng tài chính toàn cầu, vấn đề phát triển bền vững lại càng nổ lên gay gắt bởi nó quan hệ đến an sinh xã hội, là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công

Cứ mỗi năm thế giới lại tăng thêm từ 80-100 triệu người Tăng dân số có nghĩa là tăng nhu cầu lương thực và thực phẩm, áp lực về công ăn việc làm theo

đó cũng tăng lên

d, Phát triển theo hướng bền vững

Phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững không thể nằm ngoài phát triển nông nghiệp bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững theo như Tổ chức

Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) năm 1992 định nghĩa như sau: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và

kỹ thuật nhằm bảo đảm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp sẽ không làm tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, phù hợp về kỹ thuật

và công nghệ, có hiệu quả kinh tế và được xã hội chấp nhận” (Mai Thanh Cúc

(2) - Gìn giữ chất lượng tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sau

(3) - Tìm cách bồi dưỡng tái tạo năng lượng tự nhiên thông qua việc tìm các năng lượng thay thế, nhất là năng lượng sinh học (chu trình sinh học)

Suy rộng ra, nói đến phát triển bền vững là đề cập đến các mối quan hệ xã hội, trình độ phát triển kinh tế với các biện pháp kỹ thuật được áp dụng

Tóm lại: Phát triển NTTS phải đem lại hiệu quả kinh tế, những lợi ích về

xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển NTTS nhanh nhưng phải bền vững, mang lại hiệu quả cao trong sự phát triển và bảo vệ môi trường sinh thái Ngày nay, đối với việc phát triển NTTS còn phải đặc biệt chú ý đến các yêu cầu cao cấp hoá thực phẩm, hiện đại hoá công nghệ sản xuất nông nghiệp, đô thị hoá nông thôn

Trang 19

và tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế - xã hội nông thôn Như vậy, ngày càng hoàn thiện cơ cấu trong NTTS sẽ góp phần thúc đẩy chất lượng của ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản không ngừng tăng qua các năm, duy trì được mức tăng trưởng cao, có đóng góp nhất định vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế trong nước (Nguyễn Văn Tư, 2011)

2.1.2 Đặc điểm của phát triển NTTS nước lợ

NTTS nước lợ là một bộ phận của ngành NTTS, mang đầy đủ những đặc điểm của ngành NTTS: đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, đối tượng NTTS là những

cá thể sống, hoạt động NTTS có tính mùa vụ rõ nét và chịu ảnh hưởng nhiều từ thiên nhiên nên trong quá trình phát triển phải chú trọng những vấn đề sau:

+ Vì diện tích mặt nước là có giới hạn, vị trí của chúng cố định nhưng sức sản xuất của chúng thì không có giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn còn tốt hơn nên (tức là độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước ngày một tăng) mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau Chính vì vậy khi phát triển NTTS đặc biệt là NTTS nước lợ cần sử dụng đất đai diện tích mặt nước một cách tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên cả ba mặt, pháp chế, kinh tế, kỹ

thuật (Vũ Đình Thắng, Nguyễn Viết Trung, 2005)

+ Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống- là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới có thể thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của nó Các biện pháp kỹ thuật sản xuất của con người chỉ khi nào phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của động thực vật thủy sản mới có thể thu được năng suất và sản lượng cao Do đó trong quá trình phát triển NTTS đòi hỏi những biện pháp thích hợp để nâng cao năng xuất các đối tượng NTTS như: Nâng cao chất lượng con giống, quản lý tốt

Trang 20

các yếu tố môi trường và xây dựng các quy trình sản xuất tiên tiên cho năng

suất cao (Vũ Đình Thắng, Nguyễn Viết Trung, 2005)

+ Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới, một mặt tạo ra nhiều thuận lợi cho phát triển NTTS: Có thể nuôi trồng được nhiều đối tượng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới (cá tra, cá basa, cá tai tượng, cá bống tượng, cá mè vinh, cá sặc rằn, tôm càng xanh…) và cả những đối tượng có nguồn gốc từ các vùng ôn đới (cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép…), đồng thời lại có thể nuôi trồng được nhiều vụ trong năm Mặt khác khí hậu nước ta cũng gây ra những khó khăn phức tạp trong quá trình phát triển NTTS như: bão lụt, gió mùa đông bắc, sương muối, các vùng ven biển sóng gió thủy triều, sóng thần.v.v…Do

đó khi phát triển NTTS cần có những phương án đề phòng để chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đảm bảo năng xuất sản lượng cao và ổn định (Vũ Đình Thắng,

Nguyễn Viết Trung, 2005)

2.1.3 Vai trò của ngành NTTS trong nền kinh tế quốc dân

Ngành Thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Quy mô của Ngành Thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành Thuỷ sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân

Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại

và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp

Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống

Trang 21

thuỷ lợi để không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Kể từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Nhiều

mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp đã được áp dụng, các vùng nuôi tôm lớn mang tính chất sản xuất hàng hoá lớn được hình thành, sản phẩm nuôi mặn lợ đã mang lại giá trị xuất khẩu rất cao cho nền kinh tế quốc dân

và thu nhập đáng kể cho người lao động Một bộ phận dân cư các vùng ven biển

đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ hải sản (Hà Xuân Thông, 2012)

Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào Ngành Thuỷ sản Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng nhất nhì trong nền kinh tế ngoại thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn gia tăng hàng năm và năm 2015 đạt gần 7.9 tỷ USD, vượt 18% so với năm 2013, đưa chế biến thuỷ sản trở thành một ngành công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và dành vị trí thứ 10 trong số nước xuất khẩu thuỷ sản hàng

đầu trên thế giới

*Vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

+ Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam : 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40%

sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Trong thời gian tới, các mặt hàng

Trang 22

thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp

nhân dân Việt Nam (Vũ Đình Thắng – Nguyễn Viết Trung, 2005)

+ Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm : Ngành Thuỷ sản là một trong

những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, Ngành Thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói Ngành Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển (Vũ Đình Thắng –

Nguyễn Viết Trung, 2005)

+ Xoá đói giảm nghèo : Ngành Thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa

đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo Tại các vùng duyên hải, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du miền núi, các chính sách xoá đói

giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa (Vũ Đình Thắng – Nguyễn Viết Trung, 2005) + Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn : Việt Nam có đầy đủ điều

kiện để phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế biển Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để mở rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh tế

Trang 23

công nghiệp hoá và hiện đại hoá Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng, khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển Đối với nền canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa NTTS và nông nghiệp càng trở nên cấp bách (Vũ Đình Thắng – Nguyễn Viết Trung,2005)

+ Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai : Ao hồ nhỏ là một

thế mạnh của nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nông thôn Việt Nam Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động Hầu như họ không phải chi phí nhiều tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ trong nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mè, trắm, các loại cá chép, trôi Ấn Độ

và các loài cá rô phi đơn tính (Vũ Đình Thắng – Nguyễn Viết Trung, 2005) + Nguồn xuất khẩu quan trọng : Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản

luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước Ngành Thuỷ sản còn là một trong 10 ngành

có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD

+ Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nhất là ở vùng biển và hải đảo : Ngành Thuỷ sản luôn giữ vai trò quan

trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh

tế các vùng ven biển, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây

Trang 24

dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ Chu và Phú Quốc (Kiên Giang) Hệ thống cảng

cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc (Vũ Đình Thắng – Nguyễn

Viết Trung, 2005)

2.1.4 Các hình thức NTTS nước lợ

- Nuôi quảng canh: là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào nguồn thức ăn và

con giống trong tự nhiên Diện tích ao, đầm nuôi quảng canh thưởng rất lớn (vài chục ha) và ít được đầu tư về cơ sở vật chất Mật độ tôm, cá trong ao đầm nuôi thấp do phụ thuộc vào nguồn giống có trong tự nhiên (phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, địa lý, địa hình của khu vực nuôi) (Kim Văn Vạn, 2009)

Ưu điểm: vốn vận hành sản xuất thấp do không phải chi phí đầu tư cho con giống và thức ăn Khi kỹ thuật nuôi còn hạn chế và ít chịt rủi ro về vấn đề dịch bệnh, sản phẩm thu được hiện tại được giá hơn sản phẩm từ các hình thức nuôi khác

Nhược điểm: năng suát và lợi nhuận thấp, quản lý và vận hành sản xuất khó khăn Hiện nay mô hình này thường bị hạn chế do giá đắt và hiệu quả kinh tế mang lại

- Quảng canh cải tiến: hình thức nuôi này gần giống với hình thức nuôi

quảng canh, nhưng người nuôi có bổ sung thêm một chút giống và thức ăn Mật

độ nuôi thả vẫn còn thấp (Kim Văn Vạn, 2009)

Ưu điểm: Chi phí sản xuất không nhiều Năng suất của ao đầm nuôi cao hơn nuôi quảng canh

Nhược điểm: năng suất và lợi nhuận còn thấp so với diện tích ao, hồ sử dụng

- Nuôi bán thâm canh: đây là hệ thống nuôi chủ yếu ở Việt Nam hiện nay,

chủ yếu sử dụng giống nhân tạo và thức ăn chế biến với diện tích nuôi không lớn (một vài ha), nguồn nước cung cấp chủ động, có các trang thiết bị hỗ trợ cho vận

Trang 25

hành hệ thống nuôi Do vậy, hệ thống nuôi này ngày càng phát triển

Ưu điểm: phù hợp với hành cảnh kinh tế hiện nay của người dân ở góc độ đầu tư và kỹ thuật canh tác Hệ thống nuôi này đã mang lại nhiều lợi nhuận hơn trên một đơn vị diện tích Trong hệ thống nuôi này đã mang lại nhiều hơn trên một đơn vị diện tích Trong hệ thống nuôi này ao, hồ thường được xây dựng khá hoàn chỉnh, diện tích không hơn do đó dễ dàng vận hành và quản lý

Nhược điểm: năng suất tuy cao hơn nuôi quảng canh và quảng canh cải tiện nhưng vẫn chưa đạt năng suất tối ưu trên một đơn vị diện tích mặt nước

Trang 26

Bảng 2.1 Đặc điểm các hình thức nuôi trồng thủy sản

TT Diễn giải Nguồn giống Nguồn thức ăn

Mức độ trang bị KHKT

Năng suất (tấn/ha/vụ)

Cá Tôm

1 Quảng canh Tự nhiên Tự nhiên Không <1 < 0,5

2 Quảng canh cải

tiến Có bổ sung giống nhân tạo Có sử dụng thức ăn bổ sung Ít 1 -3 0,5 – 2

3 Bán thâm canh Chủ yếu giống

nhân tạo Chủ yếu dùng thức ăn chế biến Trung bình 3 – 15 2 – 4

4 Thâm canh Hoàn toàn nhân

tạo

Thức ăn công nghiệp Nhiều >15 > 4

(Nguồn: Kim Văn Vạn, 2009)

- Nuôi thâm canh hay nuôi cao sản: đây là hệ thống nuôi dựa hoàn toàn

vào nguồn giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp dạng viên hoặc tươi sống có chất lượng cao Nguồn nước cấp và thoát cho hệ thống hoàn toàn chủ động, các trang thiết bị phục vụ vận hành nuôi đầy đủ kể cả thuốc, hóa chất trong phòng và

xử lý môi trường, bệnh Diện tích ao, hồ đầm nuôi không lớn, mật độ thả cao (Kim Văn Vạn, 2009)

Ưu điểm: năng suất cao, ao được xây dựng hoàn chỉnh có đủ các thiết bị như máy bơm nước, máy quạt nước, diện tích nuôi nhỏ nên dễ vận hành, quản lý

Nhược điểm: vốn đầu tư lớn, đòi hỏi người nuôi phải nắm vững kỹ thuật nuôi và có nhiều kinh nghiệm thực tế

2.1.5 Các nhân tố tác động đến phát triển NTTS nước lợ

Theo Vũ Trung Tạng và Nguyễn Đình Mão (2006), các nhân tố tác động đến phát triển NTTS nói chung và NTTS nước lợ nói riêng là:

a, Nhóm nhân tố bên ngoài

(1) Cơ chế chính sách

Do đặc điểm của ngành NTTS là nhỏ bé, manh mún và phân tán nên ngoài việc tăng nguồn vốn đầu tư để để phát triển giống, xây dựng trang trại nuôi trồng quy mô, đầu tư kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực… thì vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, chỉ đạo là vô cùng cần thiết để những đồng vốn đầu tư đó

Trang 27

được sử dụng đúng mực đích và hiệu quả Có thể nói vai trò của Nhà nước như kim chỉ nam trong công tác quy hoạch nhằm khắc phục những vấn đền còn tồn tại, yếu kém trong quá trình hoạt động và phát triển của ngành NTTS như: nạn ô nhiễm môi trường, dịch bệnh đang có nguy cơ bùng nổ, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực, khả năng ứng dụng KH-CN còn thấp Vì thế, nhà nước cần có những chính sách và thiết chế tổ chức có hiệu lực để khắc phục những tình trạng

còn tồn tại trên

(2) Điều kiện tự nhiên, khí hậu vùng

Có thể nói nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của ngành NTTS Môi trường nước được phân thành ba loại: nước ngọt, nước mặn, nước lợ Đối với mỗi loại nước có một đối tượng nuôi trồng phù hợp Đặc biệt nguồn nước phục vụ NTTS yêu cầu khá khắt khe nghiêm ngặt về chất lượng: nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng các chất độc trong nước thấp hoặc không có Để sử dụng nguồn nước mặt cho NTTS đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững phải đặc biệt chú ý giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng… làm cơ sở

Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển NTTS Bờ biển dài hơn 3.260 km với 112 cửa song, lạch và 12 đầm phá, eo vịnh, có khả năng phong phú nuôi thủy sản lợ, mặn Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Việt Nam rất đa dạng và chằng chịt có tới 15 con sông có diện tích lưu vực từ 300 km2 trở lên Ngoài ra, còn hàng nghìn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo đường biển là những khu vực có thể phát triển NTTS quanh năm Trong vùng viển có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long… đó là nguồn thực phẩm chính hằng ngày của hầu hết ngư

Trang 28

dân vùng nông thôn Việt Nam Ở đất nước này, có lẽ không có một gia đình nông dân nào mà ở đó người ta không thấy có một loại dụng cụ đánh bắt cá, chí ít cũng

có một cần câu

Trong nội địa hệ thống sông ngòi chằng chịt ở phía Bắc là hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, phía Nam là đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống kênh rạch liên hoàn Ngoài ra, còn có các đầm hồ thủy lợi, thủy điện đã tạo ra một tiềm năng to lớn về diện tích mặt nước

Theo thống kê của Bộ Thủy sản tổng diện tích có khả năng NTTS là khoảng 1.7 triệu ha gồm : 120.000 ha hồ chứa mặt nước lớn: 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa một vụ hoặc hai vụ bấp bênh: 635.000 ha vùng triều Ngoài ra, còn phải kể đến khoảng trên 100.000 ha eo vịnh, đầm phá ven biển đang được quy hoạch NTTS

(3) Nhân tố kỹ thuật NTTS: Cùng với sự phát triển của xã hội thì những

tiến bộ kỹ thuật của ngành NTTS ra đời cùng với sự phát triển đó của con người Tiến bộ khoa học ra đời đã làm thay đổi đời sống con người trong mọi lĩnh vực, trong

đó có ngành NTTS Khách hàng của ngành này thường khó tính, đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm và một hệ thống quản lý nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế Bởi vậy, ứng dụng KH - CN–KH - CN phục vụ công tác quản lý trong ngành thủy sản đang và sẽ là một đòi hỏi tất yếu

Đối với ngành NTTS nói riêng, nhờ áp dụng những tiến bộ này mà người

ta đã có thể sản xuất ra những giống thuỷ sản mới, chất lượng cao, sinh trưởng nhanh, có khả năng chống chịu với những điều kiện ngoại cảnh tốt…Ngoài ra, nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật mà người ta có thể kiểm soát và phòng trừ dịch bệnh trong NTTS, phát triển và mở rộng ứng dụng các kỹ thuật hiện đại chẩn đoán và xử lý kịp thời bệnh nguy hiểm ở động vật thuỷ sản

(4) Cơ sở hạ tầng, hậu cần dịch vụ: Cơ sở hạ tầng, hậu cần dịch vụ là yêu

cầu hết sức quan trọng trong phát triển nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, hệ thống thủy lợi kênh mương, hệ thống xử lý nguồn nước cấp, nguồn nước tiêu thoát không được xây dựng đúng yêu cầu kỹ thuật dẫn tới nguồn nước

ô nhiễm đã trở thành nguy cơ đối với phát triển nuôi trồng thuỷ sản quá nhanh

Trang 29

Vì vậy, nó làm lây lan nhanh mầm bệnh vào các vùng nuôi, đầu tư thâm canh quá cao, tập trung quá mức khi cơ sở hạ tầng vùng nuôi chưa đáp ứng được là nguyên nhân chủ yếu làm phá vỡ sự cân bằng nhiều vùng sinh thái ven biển

b, Nhóm nhân tố bên trong

(1) Vốn sản xuất: Vốn là biểu hiện bằng giá trị của tài sản bao gồm máy

móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản, có tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để tạo ra tổng số đầu ra của quá trình sản xuất Đối với phát triển NTTS, vốn là nhân tố ảnh hưởng đến việc

mở rộng quy mô và nâng cao trình độ thâm canh NTTS là ngành sản xuất yêu cầu có vốn đầu tư ban đầu lớn Năng suất, chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức quản lý sản xuất theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật

Vì vậy, đòi hỏi người nuôi phải có đủ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư con giống tốt, xây dựng hệ thống ao nuôi đáp ứng đúng yêu cầu kỹ thuật, tất cả các khâu phải thực hiện đồng bộ, hợp lý Vì vậy, việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả là nhân tố quyết định để phát triển sản xuất hiệu quả cao

(2) Lao động: Trong nuôi trồng thuỷ sản lao động là yếu tố hàng đầu Lao

động gắn liền với lao động nông thôn và nông nghiệp Do đặc điểm tính chất của nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là kinh tế hộ, tư nhân và tập thể nên lực lượng lao động bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất nuôi trồng thủy sản gồm nhiều công việc khác nhau, phù hợp với nhiều đối tượng lao động khác nhau nên có thể tận dụng được nhiều loại lao động trên địa bàn nông thôn, lao động làm việc ngay tại các hộ gia đình ở các đầm, hồ để nuôi trồng thủy sản là chủ yếu Lao động được chia làm 2 loại (lao động gia đình và lao động làm thuê) với các trình độ khác nhau

Như vậy, lao động trong nuôi trồng thủy sản là những lao động vừa chuyên, vừa tận dụng, có cả lao động có kỹ thuật nuôi trồng cao lâu năm kinh nghiệm, lao động được đào tạo, tập huấn nhưng đồng thời tỷ lệ lao động phổ thông cũng khá cao Do đó, việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong nông thôn

có thể phát huy được lao động có trình độ có kinh nghiệm, vừa có thể tận dụng được lao động dư thừa và tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi trong nông thôn Vì

Trang 30

vậy, việc sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn lao động trong nuôi trồng thủy sản là hết sức quan trọng

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển NTTS

2.2.1.1 Kinh nghiệm NTTS của Trung Quốc

Hiện nay, Trung Quốc là nhà cung cấp thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 35% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu Trung Quốc cũng là nước duy nhất trên thế giới có sản lượng nuôi trồng vượt quá sản lượng khai thác Năm

2004, tổng sản lượng thủy sản của Trung Quốc đạt 49 triệu tấn, trong đó 64% là thủy sản nuôi Thủy sản nước mặn chiếm 56% tổng thủy sản nuôi, trong đó phần lớn là thủy sản có vỏ; thủy sản nước ngọt chiếm 44%, chủ yếu là họ cá chép

Dự báo, tiêu thụ thủy sản bình quân trong nước của Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, từ 25 kg/người năm 2004 lên 36 kg/người vào năm 2020 (Nguyễn Thị Tuyết, 2009) Việc Trung Quốc đầu tư mạnh vào sản xuất cá rô phi cũng góp phần phát triển ngành thủy sản trong nước, đưa Trung Quốc trở thành nhà sản xuất cá rô phi hàng đầu thế giới Sự phát triển nhanh của ngành thuỷ sản không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường và cải thiện đời sống dân cư, mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và góp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Từ năm 1979 – 1996, ngành thủy sản đã tạo thêm khoảng 9 triệu việc làm cho người lao động Năm 1999, số lao động tham gia sản xuất thuỷ sản là 12,57 triệu người, trong đó lao động nuôi trồng thuỷ sản chiếm tới 70% Đời sống của ngư dân cũng được cải thiện rõ rệt, thu nhập của lao động nghề cá từ 126 nhân dân tệ năm 1979, tăng lên 4.474 nhân dân tệ năm 1999, nghĩa là gấp 35 lần sau

20 năm (Nguyễn Thị Tuyết, 2009) Mức thu nhập của lao động thuỷ sản gấp gần 2 lần so với thu nhập bình quân đầu người của dân cư nông thôn Đồng thời ngành thuỷ sản cũng tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như chế biến, vận chuyển, thương mại, v.v…

Trang 31

Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển cho đến nay, ngành thuỷ sản phải thường xuyên đối mặt với những vấn đề ngày càng lớn lên, như suy giảm nguồn lợi tự nhiên, suy thoái môi trường, dư thừa lao động…

Bên cạnh những ưu đãi về điều kiện tự nhiên để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, Chính phủ Trung Quốc còn có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản và tăng cường mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thuỷ sản (ngư dân, nông dân, hợp tác xã, công ty) Các biện pháp này góp phần quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành thuỷ sản Trung Quốc trong tương lai Vì vậy đã tạo nên một sức mạnh mới cho ngành nuôi trồng thủy sản Trung quốc phát triển mạnh mẽ sau này Các biện pháp quan trọng có thể kể đến là:

- Tăng cường cung cấp các dịch vụ tiền sản xuất và hỗ trợ sau thu hoạch thông qua việc đầu tư xây dựng nhiều trại sản xuất giống, các trạm kiểm soát dịch bệnh thuỷ sản, phổ biến kỹ thuật cho ngư dân Bên cạnh đó chính phủ còn

đề ra các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế và tín dụng cho các hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản ở nông thôn

- Ưu tiên thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ thuỷ sản, chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Thông qua các chính sách ưu đãi của chính phủ, nhiều nhà khoa học được khuyến khích làm việc cùng ngư dân và người nuôi thuỷ sản Ước tính đóng góp của khoa học và công nghệ trong giá trị gia tăng của sản suất thuỷ sản đã tăng từ 30% vào đầu những năm 1980 lên 47% năm 1996 Ví dụ, nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, năng suất nuôi cá thương phẩm trong ao từ mức bình quân 724kg/ha năm 1979, đã tăng 4,7 lần, đạt 4.097kg/ha năm 1996 (Nguyễn Thị Tuyết, 2009) Sự phát triển của công nghệ nuôi lồng và nuôi rào chắn đã giúp tăng diện tích mặt nước có thể sử dụng để nuôi thuỷ sản Sự thành công của công nghệ nuôi và sản xuất giống nhân tạo các loài có giá trị cao như tôm, bào ngư, điệp, hải sâm, cá rô mo thân cao, cua đồng,

đã làm tăng thu nhập cho người nuôi và mở rộng thị trường xuất khẩu

Trang 32

- Tăng cường hiệu lực hệ thống pháp luật thuỷ sản và quản lý nguồn lợi thuỷ sản: Để bảo vệ và sử dụng nguồn lợi thuỷ sản hợp lý, chính phủ Trung Quốc

đã chú trọng đến việc xây dựng Luật Thuỷ sản Ngay từ năm 1979, Hội đồng Nhà nước đã thông qua “Quy định về bảo vệ và nhân giống nguồn lợi thuỷ sản”

- Mở rộng hợp tác quốc tế: đến năm 1996, Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động hợp tác thuỷ sản với hơn 60 quốc gia và các tổ chức quốc tế Những hoạt động này đã mang đến cho Trung Quốc một triển vọng mới trong nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tạo ra một môi trường đầu tư tốt để thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản của nước này

2.2.1.2 Kinh nghiệm NTTS của Thái Lan

Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển từ đầu thế kỉ 19 Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưng nghề nuôi thủy sản nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây Trong năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khỏang 1.064 triệu tấn và đạt giá trị 1.46 tỉ USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản Sự họat động của nghành nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan có thể được chia thành hai nhóm: thủy sản nước ngọt và nước mặn (Nguyễn Thị Tuyết, 2009)

Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chủ yếu là trong các ao, hồ và trên cánh đồng lúa, đã tồn tại ở Thái Lan trên 80 năm Sự phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt bắt đầu vào năm 1922 sau khi sự nhập khẩu cá chép Trung Quốc để làm cá nuôi lan rộng toàn Bangkok Năm 1951, bộ thủy sản đã thiết lập một chương trình quảng bá nghề nuôi trồng thủy sản Hiện nay, có hơn 50 loài thủy sản nước ngọt đã

và đang được nuôi trồng Có 5 loài quan trọng, nuôi hàng năm thu sản phẩm có giá trị cao: cá rô sông Nile, cá trê lai, cá ngạch bạc, tôm càng xanh, cá rô phi (Nguyễn Thị Tuyết, 2009)

Gần gây, nghề nuôi trồng thủy sản ven biển bắt đầu được phổ biến với kỹ thuật thâm canh và bây giờ đã trở nên rất thành công cho những vụ nuôi Nó cũng được khuyến khích bởi vì nó hạn chế sự khai thác quá mức nguồn lợi ven

Trang 33

biển và sự ô nhiễm môi trường Một trong những loài thủy sản nước mặn quan trọng là: cá vược, cá mú, tôm he, nghêu, sò, cua, ghẹ Nó bao gồm hai hệ thống nuôi cá giống từ cá bột ở biển và những con đang thành thục mắc trong bẫy nhưng là trường hợp của loài cua bùn Nghề nuôi trồng nghêu, sò và tôm mang lại hiệu quả cao nhất

Thái Lan tiếp tục triển khai Dự án “Phát triển nuôi trồng hải sản và đánh giá nguồn lợi thủy sản tại biển Andaman, Thái Lan nhằm giúp người Thái có thể tự nuôi thuỷ sản theo kỹ thuật hiện đại Viện Nghiên cứu Biển là nhà tư vấn chính của dự án Dự án này bao gồm hai phần “Phát triển nuôi trồng hải sản ” và “Đánh giá nguồn lợi thuỷ sản ở biển Andaman” Hai phần dự án sẽ đuợc thực hiện cho đến hết năm 2009 Viện Nghiên cứu Biển và Bộ Nghề cá Thái Lan cùng tham gia thực hiện dự án này

Theo mong muốn của các nhà chức trách Thái, trọng tâm của dự án là phát

triển cơ sở “nuôi lồng thử nghiệm” Mục tiêu của Viện Nghiên cứu Biển là

truyền đạt cho người nuôi kiến thức về nuôi trồng thuỷ sản và việc áp dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động nuôi

Cá giò là loài mà Bộ Nghề cá Thái Lan chọn để thí điểm Đây là loại cá biển sống ở vùng nước ấm nhiệt đới, thịt ngon và lớn rất nhanh, rất quen thuộc với ngư dân Loài cá này cũng đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển những loài nuôi mới ở Đài Loan, Việt Nam và các nước Mỹ La tinh

Dự án cũng tập trung vào điều chỉnh kích cỡ lồng nuôi Thái Lan đã ưu tiên thành lập một trung tâm nuôi trồng thuỷ sản tại Phuket để sản xuất con giống hàng loạt Ba lồng nuôi ở Phuket là các lồng nuôi lớn lần đầu tiên được sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản tại Thái Lan Sự kiện này đã thu hút được rất nhiều mối quan tâm từ ngành thuỷ sản và nhiều đối tượng khác Một hội thảo khác được tổ chức tại Songkhla, Thái Lan tập trung thảo luận các loại bệnh và kí sinh trùng thường thấy

ở cá giò, những biện pháp phòng và trị bệnh tại các lồng nuôi lớn

Dự án nuôi cá lồng sẽ được tiếp tục cho đến hết năm 2009 Sản lượng và kết quả dự án nuôi hải sản và trại sản xuất giống sẽ là nền tảng để xây dụng kế

Trang 34

hoạch chiến lược cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2009-2013 (Nguyễn Thị Tuyết, 2009)

2.2.2 Tình hình phát triển NTTS ở Việt Nam

2.2.2.1 Tổng quan chung tình hình phát triển NTTS ở Việt Nam

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài hơn 3.260

km, nên rất thuận lợi để phát triển hoạt động khai thác và NTTS Trong năm 2012, sản lượng khai thác tăng mạnh 10,6% so với năm 2011, chủ yếu do sản lượng đánh bắt cá ngừ tăng mạnh ở các tỉnh miền Trung nhờ thời tiết thuận lợi và việc ngư dân

sử dụng công nghệ đánh bắt cá ngừ đại dương bằng đèn cao áp, nâng công suất lên gấp đôi và giảm thời gian đi biển 15-30% Trong khi đó, sản lượng nuôi trồng năm

2012 chỉ tăng 6,8% khi hoạt động nuôi tôm gần như không tăng trưởng do hội chứng tôm chết sớm EMS hoành hành trên diện rộng Sản lượng cá tra chỉ tăng nhẹ 3,4% trong năm 2012, nhưng đã đạt mức cao kỷ lục 1.190 nghìn tấn Tăng trưởng sản lượng nuôi trồng đến chủ yếu từ hoạt động nuôi trồng các loài thủy sản khác, với mức tăng khá cao 10,6% trong năm 2012

Bảng 2.2 Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2012

1 Tổng sản lượng thủy sản Nghìn tấn 5.471 5.876 8,51

(Nguồn: Trung tâm thông tin thủy sản Cục thủy sản, 2013)

Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm

Trang 35

qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động NTTS đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng

kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước Trong khi đó, trước sự cạn kiệt dần của nguồn thủy sản tự nhiên và trình độ của hoạt động khai thác đánh bắt chưa được cải thiện, sản lượng thủy sản từ hoạt động khai thác tăng khá thấp trong các năm qua, với mức tăng bình quân 6,42%/năm

Biểu đồ 2.1 Sản lượng thủy sản qua các năm

(Nguồn: Vasep, 2013) 2.2.2.2 Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước

Hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nằm rải rác dọc đất nước với sự đa dạng về chủng loại thủy sản, nhưng có thể phân ra thành 5 vùng xuất khẩu lớn:

Trang 36

Biểu đồ 2.2 Xuất khẩu thủy sản của các vùng

(Nguồn: Vasep, 2013)

Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: NTTS nước mặn lợ, đặc biệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào một số đối tượng chủ yếu như: tôm các loại, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò, cá hồng

Vùng ven biển Nam Trung Bộ: NTTS trên các loại mặt nước mặn lợ, với một số đối tượng chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại

Vùng Đông Nam Bộ: Bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP.HCM, chủ yếu nuôi các loài thủy sản nước ngọt hồ chứa và thủy sản nước lợ như cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại

Vùng ven biển ĐBSCL: gồm các tỉnh nằm ven biển của Đồng Bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang…Đây là khu vực hoạt động thủy sản sôi động, hoạt động NTTS trên tất cả các loại mặt nước, đặc biệt là nuôi tôm, cá tra - ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển

Các tỉnh nội vùng: Bao gồm những tỉnh nằm sâu trong đất liền nhưng có

hệ thống sông rạch khá dày đặc như Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Hậu Giang,

Trang 37

Đồng Tháp, An Giang, thuận lợi cho nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt như:

cá tra - basa, cá rô phi, cá chép…

Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống kênh rạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển, đã trở thành khu vực nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam Theo thống kê, năm 2011 cả nước có 37 tỉnh có doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, trong đó các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất lần lượt là Cà Mau (chủ yếu nhờ kim ngạch xuất khẩu lớn của Minh Phú, Quốc Việt), TP.HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng…

2.2.2.3 Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn trong nước

Sau giai đoạn bùng nổ số lượng doanh nghiệp thủy sản các năm trước, trước tình hình vô cùng khó khăn của ngành thời gian qua, số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã giảm đáng kể (hơn 33%), chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không chủ động được vùng nguyên liệu, số lượng đối tác hạn chế và uy tín thương hiệu thấp Theo thống kê từ Vasep, đến cuối năm 2012, chỉ còn khoảng

600 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản so với con số 900 của năm 2011 Với tình hình hiện tại vẫn còn nhiều khó khăn, dự kiến số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới

Trang 38

Biểu đồ 2.3: 10 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn nhất năm 2012

(Nguồn: Vasep, 2013)

Trong danh sách 10 doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu lớn nhất, chỉ duy nhất Yuen Chyang Co là xuất khẩu hải sản, còn lại hầu hết là các doanh nghiệp xuất khẩu tôm và cá tra

2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển NTTS nước lợ

- Quy hoạch phát triển: quy hoạch phát triển là một nhân tố cực kỳ quan trọng quyết dịnh đến sự phát triển bền vững trong NTTS nước lợ Cơ sở cơ bản

để xây dựng được một quy hoạch mang tính khoa học và khả thi là công tác nghiên cứu, đánh giá về tiềm năng, nguồn nhân lực đầu vào cũng như đầu ra cho các sản phẩm, khôn chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà còn tương lai lâu dài Khi quy hoạch vùng nuôi, cũng cần phải chú ý đến quy hoạch tổng thể để

Trang 39

tránh sự tác động ô nhiễm của ngành công nghiệp, và quy hoạch phải đồng bộ Nền nông nghiệp Việt Nam và ngành NTTS nói riêng đang chịu sự tác động tiêu cực, cùng với sản xuất nhỏ lẻ, tự phát,thu nhập nông dân còn thấp là yếu tố đe dọa đến môi trường và cạn kiệt tài nguyên, mà ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của các hộ NTTS Rất nhiều bài học đã được rút ra do quy hoạch yếu kém, đã để lại hậu quả nặng nề, như ở Bình Thuận (2005), các hộ ồ ạt nuôi tôm trên cát, dẫn đến nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn nghiêm trọng làm cho tôm chết hàng loạt, hay như việc phá rừng và các vùng đệm để NTTS ở Cà Mau (2006) Rõ ràng là đang đi ngược với sự phát triển bền vững (Hà Xuân Thông, 2012)

- Kỹ thuật NTTS: Ngoại trừ các yếu tố khách quan về điều kiện tự nhiên thì kỹ thuật trong NTTS nước lợ là yếu tố quyết định nhất tới kết quả sản xuất Tuy nhiên thì kỹ thuật NTTS ở đây không chỉ là quy trình công nghệ mà còn bao gồm cả trình độ, kinh nghiệm của chủ thể nuôi và các trang thiết bị phục vụ Quy trình công nghệ cho một mô hình nuôi phải bao gồm tất cả các thông số về môi trường, giống, thức ăn cho từng giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi Việc xử

lý ao nuôi như thế nào trước khi nuôi, chọn lựa những loại cá gì để tận dụng tầng nước thức ăn, đáp ứng nhu cầu thị trường,thời điểm nào cho ăn thức ăn thích hợp nhất, và bao nhiêu thức ăn, Tất cả những điều đó đòi hỏi hộ nuôi phải tích lũy kinh nghiệm, học hỏi từ các hộ khác và thông tin đại chúng để có chi phí thấp nhất và năng suất cao nhất (Hà Xuân Thông, 2012)

- Môi trường nước: Bảo vệ nguồn nước là công tác cực kỳ quan trọng Nguồn nước như thế nào cho cá phát triển tốt, khi nước trong ao bị ô nhiễm thì cách khắc phục ra sao, cách cho ăn như thế nào để hạn chế ô nhiễm? Đó

là những câu hỏi mà hộ nuôi cần giải quyết nếu muốn đạt năng suất cao Kinh nghiệm của các hộ nuôi cho thấy, nếu nguồn nước thuận lợi, giàu Oxy,

ít độc tố, hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng phù hợp thì các hộ có thể tăng đầu tư thâm canh và có thể thu hoạch 3 vụ/năm Ngược lại, nguồn nước bị ô nhiễm sẽ làm cho các đối tượng nuôi mắc các bệnh về hô hấp, về da do vi

Trang 40

khuẩn gây nên và giảm năng suất hoặc thất thu, qua đó đòi hỏi phải có kế hoạch thay nước trong ao, sử dụng nước thức ăn hợp lý, phù hợp với từng mùa Ngoài sự cố gắng của hộ, thì cơ quan chức năng cần phải vào cuộc để

có biện pháp làm giảm mức độ ô nhiễm nguồn nước thấp nhất

- Cơ chế chính sách: Sau khi chính sách giao đất lâu dài cho nông dân,và chính sách dồn điền đổi thửa đã tạo nên sự phát triển nhanh chóng cả về lượng và chất của ngành NTTS Ngành NTTS đã dần dần chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Việc giao đất lâu dài và diện tích được mở rộng, tạo cho các

hộ tăng cường đầu tư trên diện tích mình sở hữu Cùng với sự đổi mới và hội nhập của nền kinh tế, ngành NTTS đã tiếp thu được những tiến bộ khoa học của các nước đi trước để phát huy lợi thế của mình, thông qua công tác lai tạo giống tạo ra thức ăn tổng hợp với giá thanh thấp hơn, chất lượng tốt hơn Bên cạnh các chính sách tác động trực tiếp vào ngành NTTS, thì các chính sách tác động gián tiếp khác như chính sách vốn, chính sách đào tạo lao động cũng có vai trò rất quan trọng, nó như những cú hích tạo đà cho ngành NTTS phát triển (Hà Xuân Thông, 2012)

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Hồ Công Hường (2006), “Tính bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản ở huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định”, Tạp chí thuỷ sản, số 8/2006, trang 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản ở huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định
Tác giả: Hồ Công Hường
Năm: 2006
1. Albert G.J. Tacon (2010). Xu hướng toàn cầu trong nuôi trồng thủy sản và sản xuất thức ăn thủy sản hợp chất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Mai Thanh Cúc – Quyền Đình Hà (2005). Giáo trình phát triển nông thôn, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
5. Đặng Thị Hoa – Quyền Đình Hà (2015). Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản suất nông nghiệp của người dân ven biển Giao Thủy – Tỉnh Nam Định, Tạp trí khoa học phát triển, tập 12, số 6, trang 885 – 894 Khác
7. Phòng kinh tế huyện Hải Hậu (2012). Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2012, Hải Hậu Khác
8. Phòng kinh tế huyện Hải Hậu (2013). Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2013, Hải Hậu Khác
9. Phòng kinh tế huyện Hải Hậu (2014). Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2014, Hải Hậu Khác
10. Vũ Trung Tạng – Nguyễn Đình Mão (2006), Khai thác và sủ dụng bền vững đa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Vũ Đình Thắng - Nguyễn Viết Trung (2005), Giáo trình kinh tế thuỷ sản, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Khác
12. Hà Xuân Thông (2012), Đánh giá tác động ngành Thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân, Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Thị Tuyết (2009). Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
14. Nguyễn Văn Tư (2011). Giáo trình hệ thống và quản lí nuôi trồng thủy sản, Đại học Cần Thơ Khác
15. UBND tỉnh Nam Định (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản Nam Định đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Nam Định Khác
16. UBND tỉnh Nam Định (2015) Điều chỉnh bổ sung quy hoach tổng thể phát triển KT – XH tỉnh Nam định đến năm 2020 định hướng 2030, Nam Định Khác
17. UBND huyện Hải Hậu (2009), Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu đến năm 2020, Nam Định Khác
18. UBND huyện Hải Hậu (2011), Báo cáo tình hình công tác thủy sản năm 2011, nhiệm vụ trọng tâm năm 2012, Nam Định Khác
19. UBND huyện Hải Hậu (2012), Báo cáo tình hình công tác thủy sản năm 2012, nhiệm vụ trọng tâm năm 2013, Nam Định Khác
20. UBND huyện Hải Hậu (2013), Báo cáo tình hình công tác thủy sản năm 2013, nhiệm vụ trọng tâm năm 2015, Nam Định Khác
21. Kim Văn Vạn (2009). Giáo trình thủy sản đại cương, nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hải Hậu qua 3 năm (2012-2014) - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hải Hậu qua 3 năm (2012-2014) (Trang 49)
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu diện tích NTTS   huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014 - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu diện tích NTTS huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014 (Trang 61)
Bảng 4.2 Giá trị, cơ cấu GTSX nuôi trồng thuỷ sản huyện Hải Hậu năm 2012 - 2014 - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.2 Giá trị, cơ cấu GTSX nuôi trồng thuỷ sản huyện Hải Hậu năm 2012 - 2014 (Trang 63)
Bảng 4.5 Chi phí đầu vào nuôi cá của các hộ phân theo xã và hình thức nuôi - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.5 Chi phí đầu vào nuôi cá của các hộ phân theo xã và hình thức nuôi (Trang 80)
Bảng 4.6 Chi phí đầu vào nuôi tôm của các hộ phân theo xã và hình thức - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.6 Chi phí đầu vào nuôi tôm của các hộ phân theo xã và hình thức (Trang 81)
Bảng 4.8 Chi phí đầu vào nuôi tôm theo quy mô nuôi và hình thức nuôi - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.8 Chi phí đầu vào nuôi tôm theo quy mô nuôi và hình thức nuôi (Trang 83)
Bảng 4.9 Kết quả và hiệu quả sản xuất nuôi cá - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.9 Kết quả và hiệu quả sản xuất nuôi cá (Trang 84)
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả nuôi cá phân theo quy mô và hình thức nuôi - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả nuôi cá phân theo quy mô và hình thức nuôi (Trang 86)
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ thủy sản ở huyện Hải Hậu - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ thủy sản ở huyện Hải Hậu (Trang 93)
Bảng 4.14: Ma trận SWOT trong phân tích phát triển NTTS nước lợ huyện Hải Hậu - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.14 Ma trận SWOT trong phân tích phát triển NTTS nước lợ huyện Hải Hậu (Trang 98)
Bảng 4.16 Dự kiến một số chỉ tiêu về chuyển giao kỹ thuật NTTS huyện Hải - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.16 Dự kiến một số chỉ tiêu về chuyển giao kỹ thuật NTTS huyện Hải (Trang 107)
Bảng 4.17 Nhu cầu vốn phát triển sản xuất  NTTS   vùng ven biển huyện Hải Hậu đến 2015 - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Bảng 4.17 Nhu cầu vốn phát triển sản xuất NTTS vùng ven biển huyện Hải Hậu đến 2015 (Trang 110)
3.2. Hình thức nuôi: - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
3.2. Hình thức nuôi: (Trang 123)
Hình thức nuôi  Tôm  Cá  Khác - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Hình th ức nuôi Tôm Cá Khác (Trang 124)
Hình thức nuôi - Phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn huyện hải hậu, tỉnh nam định
Hình th ức nuôi (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm