BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HÀ THỊ LIÊN PHƯƠNG NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ CÔNG THỨC BÓN PHÂN THÍCH HỢP CHO ĐẬU TƯƠNG XUÂN TẠI HUYỆN VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ THỊ LIÊN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ CÔNG THỨC BÓN PHÂN THÍCH HỢP CHO ĐẬU TƯƠNG XUÂN TẠI HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ THỊ LIÊN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG VÀ CÔNG THỨC BÓN PHÂN THÍCH HỢP CHO ĐẬU TƯƠNG XUÂN TẠI HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hà Thị Liên Phương
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Vũ Đình Chính đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Nông học đặc biệt là bộ môn Cây Công nghiệp
đã trực tiếp hoặc gián tiếp truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo và các cán bộ Phòng Nông nghiệp, huyện Văn Chấn, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Hà Thị Liên Phương
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
MỤC LỤC
1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 6
1.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 6
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở tỉnh Yên Bái 121.2 Một số kết quả nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam 14
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới 14
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương ở Việt Nam 16
1.3 Nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 21
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới 21
1.3.2 Kết quả nghiên cứu phân bón cho đậu tương tại Việt Nam 24
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
2.5.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 342.5.3 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu (Theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN
3.1 Kết quả nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong điệu kiện vụ xuân tại huyện Văn Chấn, tỉnh
3.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương thí nghiệm và tỷ lệ nảy
3.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu tương 40
3.1.3 Một số chỉ tiêu sinh trưởng khác của các giống đậu tương 42
3.1.4 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu tương 43
3.1.5 Khả năng hình thành nốt sần của các giống đậu tương 45
3.1.6 Khả năng tích luỹ chất khô của các giống đậu tương 48
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
3.1.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống đậu tương 50
3.1.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 523.1.9 Năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm 54
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống đậu tương ĐT20 và Đ8 trong điều
3.2.1 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến thời gian mọc và tỷ lệ nảy
3.2.2 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến thời gian sinh trưởng của
3.2.3 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của hai giống đậu tương 58
3.2.4 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chỉ số diện tích lá 60
3.2.5.Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khả năng tích lũy chất
3.2.6 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến sự hình thành nốt sần và khối lượng nốt sần hữu hiệu của hai giống đậu tương 643.2.7 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến khả năng sinh trưởng của 2
3.2.8.Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của hai giống đậu tương 68
3.2.9.Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành
3.2.10 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến năng suất của hai giống
3.2.11 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến thu nhập thuần của hai
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương và tỷ lệ nảy mầm 38
Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống đậu
Bảng 3.3 Đường kính thân, chiều cao đóng quả, số cành cấp 1 và tổng số đốt mang quả của các giống đậu tương thí nghiệm 42
Bảng 3.4 Chỉ số diện tích lá (LAI) của các giống đậu tương qua 3 thời kỳ
Bảng 3.5 Số lượng và khối lượng nốt sần của các giống đậu tương 47
Bảng 3.6 Khả năng tích luỹ chất khô của các giống đậu tương 48
Bảng 3.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống đậu tương vụ xuân 2015 50
Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu tương 52
Bảng 3.9 Năng suất của các giống đậu tương vụ xuân 2015 54
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến thời gian mọc
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến thời gian sinh
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chiều cao thân chính của hai giống đậu tương ĐT20 và Đ8 (Đơn vị tính: cm) 59
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến khả năng sinh
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của hai giống đậu tương ĐT20 và Đ8 69
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống đậu tương ĐT20 và Đ8 72
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến năng suất của hai
Bảng 3.20 Hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón trên hai giống đậu
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày,
cung cấp thực phẩm cho người, nguyên liệu cho công nghiệp, làm thức ăn cho gia súc và là cây trồng góp phần nâng cao độ phì nhiêu cho đất Ngoài ra, đậu tương còn là cây trồng ngắn ngày, dễ luân canh, xen canh, gối vụ góp phần tăng
sản phẩm cho xã hội cũng như thu nhập của nông dân
Hạt đậu tương có các thành phần hoá học sau: Gluxit 15 - 25%, chất béo
15 – 20%, protein từ 35 - 45%, muối khoáng 6% và các vitamin, muối khoáng và các acid amin cơ bản như: isolơxin, lơxin, lysin, metionin, phenilalanin, triptophan, valin Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp prôtêin hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các amino axit không thay thế cần thiết cho cơ thể Các thực phẩm làm từ đậu tương được xem là một loại "thịt không xương" vì chứa tỷ lệ đạm thực vật dồi dào, có thể thay thế cho nguồn đạm từ thịt động vật Thậm chí, lượng đạm (protein) trong 100 gam đậu tương có thể tương đương với lượng đạm trong 800 gam thịt bò
Ngày nay người ta còn biết đến trong hạt đậu tương có chất Lecxithin có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tăng trí nhớ, tăng sức đề kháng của cơ thể Dầu đậu tương cũng là nguồn thực phẩm có giá trị cao, dùng dầu có thể thay thế mỡ động vật tránh được sơ vữa động mạch
Trên thế giới hiện nay đa số các nước trồng đậu tương, diện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới không ngừng tăng cao qua các năm Năm 2013, diện tích đậu tương chiếm 111,54 triệu ha, năng suất bình quân 24,75 tạ/ha, sản lượng đạt 276,03 triệu tấn, tăng 27,88 triệu ha và 85,37 triệu tấn so với năm
2003 Diện tích đậu tương trên thế giới, tập trung chủ yếu ở Mỹ, Brazin, Trung Quốc, Argentina và Ấn Độ, trong đó nước Mỹ là nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới diện tích đậu tương chiếm hơn 1/3 diện tích trồng đậu tương toàn thế giới Trong khu vực châu Á hiện nay, diện tích đậu tương Việt Nam đang
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
được tăng dần, đã vượt qua Myanmar và đang đứng thứ 4 sau các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên
Tại Việt Nam trong thời gian qua diện tích và sản lượng đậu tương đang sụt giảm nghiêm trọng, sản xuất đậu tương cho hiệu quả thấp, giá thành đậu tương trong nước cao khiến nước ta hàng năm đang phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ nước ngoài Chính vì vậy hiện nay, Chính phủ cũng như Bộ Nông nghiệp và PTNT đang có những ưu tiên cho nghiên cứu và phát triển cây trồng này thông qua chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu nành và lạc đến năm 2020 là phải đạt 500 ngàn ha, năng suất đạt 3 – 3,5 tấn/ha cho vùng thâm canh, đạt 1,5 – 2,5 tấn/ha, chịu hạn khá cho vùng nhờ nước trời (QĐ 35/QĐ-BNN-KHCN)
Văn Chấn là huyện phía Tây của tỉnh Yên Bái với tổng diện tích tự nhiên 121.090,02 ha, trong đó đất sản xuất nghiệp là 109.944,53 ha (chiếm 90,7% tổng diện tích tự nhiên), đất phi nông nghiệp là 5.473,06 ha (chiếm 4,5%) , còn lại là đất chưa sử dụng Tổng dân số toàn huyện là 145.711 người gồm 13 dân tộc anh em sinh sống bao gồm: Kinh- Tày – Thái – Dao - Mông – Nùng…, trong đó có tới 90% dân số tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Chấn còn mang tính tự cung tự cấp cao, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, cơ cấu cây trồng đơn điệu, nhiều nơi tình trạng độc canh cây lúa còn cao, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn Cơ cấu kinh tế giữa các ngành của huyện Văn Chấn (Nông, lâm nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ), trong đó cây lúa nước, ngô, đậu tương là cây lương thực chủ lực góp phần đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân trong huyện
Huyện Văn Chấn được phân ra 2 vùng sản xuất nông nghiệp rõ rệt: Vùng ngoài là các xã có địa hình thấp nằm trong thung lũng cánh đồng Mường Lò phì nhiêu, nơi đây có 3 dân tộc sinh sống: Kinh – Mường – Thái, do vậy trình độ dân trí và sản xuất nông có nhiều thuận lợi Vùng trong là các xã vùng cao bao gồm:
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Suối Giàng, Suối Quyền, Nậm Búng, … Nơi tập trung chủ yếu 2 dân tộc sinh sống là dân tộc Mông và dân tộc Dao, trình độ dân trí thấp, vị trí nằm cách xa đường quốc lộ nên khả năng giao thương tiếp thu khoa học công nghệ mới còn gặp rất nhiều khó khăn
Là một huyện miền núi, giao thông đi lại giữa các thôn bản và với các huyện bên ngoài còn gặp nhiều khó khăn, thông tin kinh tế có nhiều hạn chế, kỹ thuật canh tác chậm đổi mới, nhiều tiến bộ kỹ thuật phổ cập ở miền xuôi còn chưa được biết đến ở đây, đặc biệt là những giống cây trồng, vật nuôi mới, kỹ thuật thâm canh, sử dụng phân bón, phòng trừ sâu bệnh… Do đặc điểm địa hình chia cắt, đồi núi nhiều, nên để việc chỉ đạo sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả chưa cao
Trong nhiều năm qua, do sức ép của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển sản xuất để đảm bảo thu nhập và an ninh lương thực tại chỗ ở miền núi đã trở thành vấn đề ngày càng lớn vì thế cây đậu tương đã trở thành cây trồng không thể thiếu trong công thức luân canh, tăng vụ (lúa xuân sớm – lúa mùa - đậu tương đông hay đậu tương xuân – lúa mùa – cây vụ đông) do đó góp phần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích Tuy nhiên sản xuất đậu tương tại Văn Chấn còn nhiều hạn chế vì diện tích sản xuất nông nghiệp trên toàn huyện đang bị thu hẹp do từ năm 2013 trở lại đây chính sách hỗ trợ giống của Nhà nước cho người dân không còn Hiện nay người dân vẫn chỉ sử dụng giống DT84 để sản suất, đây là giống cũ năng suất thấp không cao như một số giống đậu tương mới hiện nay (ĐT51, Đ2101 ), bên cạnh đó phong tục tập quán canh tác của người dân chủ yếu theo hướng truyền thống, không đầu tư thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến năng suất đậu tương thấp Nông dân trong vùng có thói quen canh tác một vụ lúa hoặc 1 vụ màu do: thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt, mưa tập chung từ tháng 4 đến tháng 10, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau hầu như thời tiết không có mưa Nhiệt độ, độ ẩm không khí
và đất xuống rất thấp làm cho việc canh tác càng trở nên khó khăn gấp bội
Để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của sản xuất nông nghiệp, làm tăng
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
năng suất đậu tương trên một đơn vị diện tích, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa đồng thời đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế cho người dân tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Văn Chấn riêng, dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Đình Chính, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu xác định giống và công thức bón phân thích hợp cho đậu
tương xuân tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
Xác định một số giống đậu tương sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao và công thức bón phân hợp lý cho đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại xã Phù Nham, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại xã Phù Nham, Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất trên 2 giống đậu tương ĐT20 và Đ8
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lạc, thúc đẩy việc phát triển
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5 sản xuất đậu tương tại vùng đất cát pha của huyện theo hướng hàng hóa, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới, bởi giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất Xuất phát từ giá trị đó mà cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất nên diện tích, năng suất và sản lượng cũng được tăng dần qua các năm Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1:
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên thế giới
giai đoạn 2003 – 2013
(Triệu ha) (tạ/ha) (Triệu tấn)
(Nguồn: FAO STAT, 2014)
Qua bảng 1.1 cho thấy:
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới thời gian gần đây từ năm 2003 – 2013 có biến động tăng, riêng năm 2007 diện tích có giảm nhưng đã được phục
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
hồi và phát triển trở lại Về năng suất đậu tương luôn biến động song xu hướng chung là tăng lên, đạt cao nhất là 25,84 tạ/ha vào năm 2010 Đây cũng là mức năng suất đậu tương bình quân thế giới cao nhất theo thống kê của FAO và USDA cho đến nay Sản lượng đậu tương thế giới lại tăng khá ổn định, đến năm
2013 đạt 276,03 triệu tấn, tăng gấp 1,45 lần so với năm 2003
Năm 2007, diện tích giảm nhẹ so với năm 2006, tuy nhiên diện tích tăng trở lại vào năm 2008 và đến năm 2013 đã có sự tăng trưởng đáng kể Diện tích trồng đậu tương trên thế giới năm 2013 đạt 111,54 triệu ha, tăng lên gấp 1,33 lần so với năm 2003
Hiện nay, sản xuất đậu tương đã được mở rộng và phát triển trên toàn thế giới, tuy nhiên diện tích chủ yếu vẫn tập trung ở một số nước ở Châu Mỹ và Châu Á Các nước có trình độ thâm canh cao và diện tích trồng đậu tương lớn của thế giới hiện nay là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của các nước này trong 5 năm gần đây được thể hiện
Diện tích (triệu ha) 30,9 31 29,9 30,8 30,7
Năng suất (tạ/ha) 29,6 29,2 28,2 26,6 29,2
Sản lượng (triệu tấn) 91,4 90,6 84,2 82,1 89,5
Brazil
Diện tích (triệu ha) 21,8 23,3 24 25 27,9
Năng suất (tạ/ha) 26,4 29,5 31,1 26,4 29,3
Sản lượng (triệu tấn) 57,4 68,8 74,8 65,9 81,7
Achentina
Diện tích (triệu ha) 16,8 18,1 18,8 17,6 19,4
Năng suất (tạ/ha) 18,5 29,1 26,1 22,8 25,4
Sản lượng (triệu tấn) 31 52,7 48,9 40,1 49,3
Trung
Quốc
Diện tích (triệu ha) 9,2 8,5 7,9 6,8 6,6
Năng suất (tạ/ha) 16,3 17,7 18,4 19,3 18,9
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
Sản lượng (triệu tấn) 15 15,1 14,5 13,1 12,5
(Nguồn: FAO STAT, 2014)
Hiện nay Mỹ là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất đậu tương Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Mỹ trong thời gian gần đây khá ổn định Năm 2013 diện tích trồng đậu tương của Mỹ là 30,7 triệu ha chiếm 27,5 diện tích trồng đậu tương toàn thế giới Về sản lượng đậu tương của Mỹ năm 2013 đạt 89,5 triệu tấn chiếm 32,42% sản lượng đậu tương thế giới Về năng suất, Mỹ là nước có năng suất đậu tương đạt cao và ổn định nhất thế giới, năng suất đậu tương trung bình trong 5 năm từ năm 2009-2013 là 28,6 tạ/ha, cao hơn so với năng suất đậu tương trung bình của thế giới
Đứng thứ 2 thế giới về sản xuất đậu tương là Brazil Diện tích trồng đậu tương của Brazil không ngừng tăng lên trong các năm vừa qua, năm 2009 diện tích trồng đậu tương của Brazil là 21,8 triệu ha thì đến năm 2013 diện tích trồng đậu tương là 27,9 triệu ha, tăng lên 7,1 triệu ha và hiện nay diện tích trồng đậu tương của Brazil chiếm 25% diện tích trồng đậu tương trên thế giới Về năng suất,năng suất đậu tương của Brazil biến động khá lớn qua các năm tuy nhiên năng suất đậu tương trung bình của Brazil trong 5 năm từ năm 2009-2013 đạt 28,5 tạ/ha gần bằng so với năng suất của Mỹ Sự biến động lớn về năng suất làm cho sản lượng đậu tương của Brazil cũng có sự biến động khá lớn giữa các năm, năm 2013 sản lượng của đậu tương 81,7 triệu tấn chiếm 29,6% tổng sản lượng thế giới và chỉ đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ
Quốc gia đứng thứ ba sau Mỹ và Brazil về sản xuất đậu tương là Achentina Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì
Từ năm 1961-1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương nên cây đậu tương được phát triển khá mạnh Năm 2009 diện tích đậu tương của Achentina đạt 16,8 triệu ha thì đến năm 2013 diện tích trồng đậu tương của Achentina đã tăng lên 2,6 triệu ha đạt 19,4 triệu ha và chiếm 17,4% diện tích trồng đậu tương toàn thế giới Về năng suất, trong 5 năm trở lại đây năng suất
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
đậu tương của Achentina có sự biến động lớn giữa các năm Năng suất đậu tương đạt cao nhất vào năm 2010 với năng suất đạt 29,1 tạ/ha sau đó vào năm 2011 và
2012 năng lại suất giảm khá nhiều, năng suất đậu tương năm 2012 của Achentina chỉ đạt 22,8 tạ/ha và còn thấp hơn so với năng suất đậu tương trung bình của thế giới năm đó Tuy nhiên đến năm 2013 năn suất đã tăng trở lại đạt 25,4 tạ/ha Sự biến động lớn về năng suất đậu tương làm sản lượng đậu tương của Achentina cũng có sự biến động khá lớn qua các năm gần đây Sản lượng đậu tương năm
2010 đạt cao nhất với 52,7 triệu tấn, đến năm 2012 sản lượng giảm 1/5 chỉ còn 40,1 triệu tấn nhưng đến năm 2013 sản lượng đậu tương đã tăng trở lại đạt 49,3 triệu tấn
Đứng thứ 4 về sản xuất đậu tương trên thế giới và đứng đầu Châu Á là Trung Quốc Sản xuất đậu tương của Trung Quốc trong thời gian gần đây đang
có xu hướng giảm mạnh cả về diện tích và sản lượng khiến cho Trung Quốc phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương Nguyên nhân chính là do sự phát triển của các ngành kinh tế khác làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, bên cạnh đó là việc sản xuất đậu tương ở trong nước không đem lại năng suất và chất lượng cao như sản xuất đậu tương ở nước ngoài Năm 2013 diện tích trồng đậu tương của Trung Quốc là 6,6 triệu ha giảm 2,6 triệu ha so với năm 2009 Về năng suất đậu tương trung bình của Trung Quốc năm các năm gần đây có xu hướng tăng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất đậu tương trung bình của thế giới tuy nhiên đến năm 2013 năng suất lại có xu hướng giảm nhẹ so với năm trước và đạt 18,9 tạ/ha Năng suất tăng nhẹ nhưng diện tích lại giảm mạnh làm cho sản lượng đậu tương của Trung Quốc trong các năm gần đây liên tục giảm, so với năm 2009 thì năm 2013 sản lượng đậu tương của Trung Quốc giảm 2,5 triệu tấn chỉ còn 12,5 triệu tấn
1.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời và là chủ yếu cho nên cây đậu tương cũng được trồng từ rất sớm Hiện nay, ở Việt Nam cây
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
đậu tương có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
ở những vùng nông thôn nghèo, có nền kinh tế chưa phát triển Ngoài việc cung cấp nguyên liệu chế biến làm thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho xuất khẩu, cây đậu tương còn là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi rất tốt
Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đối với đất bạc màu và khô hạn thì cây đậu tương cho hiệu quả kinh tế cao nhất Đồng thời nó cũng đóng góp rất lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo đất đai, cải tạo môi trường
Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.3:
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
(Nguồn: FAO STAT, 2014)
Qua bảng 1.3 cho thấy:
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Diện tích đậu tương của nước ta trong 10 năm gần đây thì từ năm
2003-2010 có xu hướng tăng, tuy nhiên giai đoạn 3 năm gần dây từ năm 2011-2013 diện tích đậu tương có xu hướng giảm mạnh Diện tích trồng đậu tương của nước
ta năm 2013 chỉ còn 117,19 nghìn ha giảm 48,41 nghìn ha so với năm 2003 và so với diện tích trồng đậu tương năm 2005 thì diện tích giảm đi một nửa Nguyên nhân chính là do việc mở rộng đáng kể về diện tích cây trồng khác, sản xuất đậu tương hiệu quả kinh tế thấp, chi phí lao động cao và năng suất đậu tương của nước ta chưa cao, ngoài ra yếu tố thời tiết mưa nhiều cũng làm ảnh hưởng lớn đến diện tích và năng xuất của đậu tương
Về năng suất đậu tương của nước ta trong giai đoạn 10 năm gần đây khá
ổn định Tuy nhiên năng suất đậu tương của nước ta đạt thấp so với năng suất đậu tương trung bình của thế giới và chỉ bằng một nửa năng suất đậu tương của
Mỹ, theo số liệu của FAO thì năng suất đậu tương năm 2013 của nước ta chỉ đạt 14,36 tạ/ha trong khi năng suất đậu tương trung bình của thế giới là 24,75 tạ/ha, của Mỹ là 29,2 tạ/ha
Cùng với việc giảm về diện tích thì sản lượng đậu tương của nước ta trong
3 năm gần đây từ năm 2011-2013 cũng giảm mạnh Sản lượng đậu tương của nước ta năm 2013 là 168,3 nghìn tấn trong khi sản lượng đậu tương năm 2010 đạt 298,60 nghìn tấn giảm 130,3 nghìn tấn
Đến năm 2009, Việt Nam có 8 vùng trồng đậu tương lớn, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng 65% đậu tương của Việt Nam được trồng ở vùng cao, nơi đất không màu mỡ; 35% trồng ở vùng đất thấp khu vực đồng bằng sông Hồng (Cục xúc tiến thương mại, 2011)
Về thời vụ trồng đậu tương, theo những năm gần đây, nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cây đậu tương đã được trồng rộng rãi ở miền Bắc, biến đất 2 vụ lúa thành đất trồng được 3 vụ trong năm (Trần Đình Long, 1998) Vụ đậu tương xuân gieo từ 10/2 – 10/3, (vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có thể gieo sớm hơn từ 20/1 – 10/2 để tránh gió Tây cuối tháng 4; vùng Tây Bắc Bắc bộ
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
(Sơn La, Lai Châu…) gieo muộn từ 1/3 – 20/3) Vụ đậu tương hè gieo từ 25/5 – 20/6 (một số tỉnh có tập quán gieo đậu tương hè giữa 2 vụ lúa thì phải gieo kết thúc trước 1/6 và dùng giống ngắn ngày) Vụ đậu tương đông được gieo vào 05/9 – 05/10
Ở các tỉnh miền Nam thường chỉ có 2 vụ đậu tương trong năm và tùy từng vùng địa lý cụ thể mà có thời vụ trồng thích hợp: Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: vụ 1 gieo tháng 4, 5 và thu hoạch tháng 7, 8 (hay gặp mưa, chất lượng hạt kém); vụ 2 gieo tháng 7, 8 và thu hoạch tháng 10, 11 Vùng đồng bằng sông Cửu Long vụ 1 gieo tháng 12, thu hoạch vào tháng 2, 3; vụ 2 gieo cuối tháng 2 đến đầu tháng 3 và thu hoạch vào tháng 5 (Nguyễn Ngọc Thành, 1996)
Hiện nay, Chính phủ cũng như Bộ Nông nghiệp & PTNT đang có những
ưu tiên nghiên cứu và phát triển cây đậu tương thông qua chiến lược quốc gia sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu nành và lạc đến năm 2020 (Quyết định 20/2007/QĐ-BNN) và mục tiêu đề ra đến năm 2015 là phải đạt diện tích 500 nghìn ha, năng suất đạt 3 – 3,5 tấn/ha cho vùng thâm canh, đạt 1,5 – 2,5 tấn/ha, chịu hạn khá cho vùng nhờ nước trời (Quyết định 35/QĐ-BNN-KHCN)
1.1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở tỉnh Yên Bái
Yên Bái là tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc - Đông Bắc và Trung
du Bắc bộ Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái là 688.627,64 ha Trong đó diện tích nhóm đất nông nghiệp là 585.088,51 ha, chiếm 85% diện tích đất tự nhiên với các cây trồng chủ yếu như lúa, ngô, đậu tương, lạc, hoa màu…, còn lại 53.711,31 ha là đất phi lâm nghiệp và 49827,82 ha diện tích đất chưa sử dụng
Theo số liệu của tổng cục thống kê, diện tích và sản lượng đậu tương trong những năm qua có xu thế giảm mạnh, năng suất đậu tương có xu hướng tăng tuy nhiên vẫn thấp hơn năng suất bình quân của cả nước Năm suất trung bình của đậu tương năm 2011 thấp nhất đạt 11,08 tạ/ha và năm 2013 năng xuất đạt cao nhất là 12,32 tạ/ha, tăng 1,24 ta/ha so với năm 2011 Năng suất của đậu tương tăng là do người dân đã biết áp dụng nhiều tiến bộ, khoa học, kỹ thuật mới
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
vào sản suất như bón phân cân đối hợp lý, sử dụng các giống cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt… Tuy nhiên hiện nay tỉnh cũng chưa có nhiều nghiên cứu khảo nghiệm giống cũng như các loại phân bón thích hợp cho các vùng sinh thái trong tỉnh
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Yên Bái,
giai đoạn 2010 - 2014 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, năm 2015)
Đậu tương là cây trồng quan trọng, có thể trồng nhiều vụ trong năm, trên các loại đất khác nhau và là cây trồng tốt trong cơ cấu luân canh, xen canh, gối
vụ với các cây trồng khác tại huyện Văn Chấn Tuy nhiên hiện nay diện tích và sản lượng đậu tương của huyện Văn Chấn đang có xu hướng giảm từ 635,8 ha (2010) xuống 99,3 ha (2014) và sản lượng giảm từ 686,1 tấn xuống 119,1 tấn (2014) do thiếu nguồn giống năng suất cao, chất lượng hạt giống kém, giống bị lẫn, tỷ lệ nảy mầm không đảm bảo, dẫn đến sản lượng giảm
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở huyện Văn Chấn,
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
giai đoạn 2010 - 2014 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Yên Bái, năm 2015)
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới
Hiện nay nguồn gen đậu tương của thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 14 nước:
Mỹ, Trung Quốc, Australia, Pháp, Nigienia, Ấn Độ, Indonexia, Nhật Bản, Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan và Liên Xô (cũ) với tổng số 45.038 giống Nhìn chung những quốc gia sản xuất cũng như xuất – nhập khẩu đậu tương lớn trên thế giới cũng đồng thời là những nước rất chú trọng nghiên cứu về cây trồng này (Trần Đình Long và cs., 2005)
Mỹ là quốc gia luôn đứng đầu sản xuất đậu tương Mỹ đã nghiên cứu tạo
ra nhiều giống đậu tương mới, năm 1893, Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nước trên thế giới Từ năm 1928 – 1932 tính trung bình hàng năm nước Mỹ nhập nội trên 1.190 dòng, giống đậu tương từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Hiện đã có trên 100 dòng đậu tương khác nhau được Mỹ đưa vào sản xuất và đã chọn ra được một số giống có khả năng chống chịu với bệnh Phytopthora và có khả năng thích ứng rộng như: Amsoy 71, Lec
36, Clark 63, Harky 63 Mục tiêu của công tác chọn tạo giống đậu tương của
Mỹ là chọn tạo ra những giống có khả năng thâm canh, phản ứng với quang chu
kỳ, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, hàm lượng protein cao,
dễ bảo quản và chế biến (Johnson H, W and Bernard, R L, 1976)
Ngoài nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
tốt thì việc nghiên cứu, chọn tạo được các giống có sức đề kháng đa hiệu, kháng được nhiều loài sâu, bệnh hại và các điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng là một vấn đề rất quan trọng mà quốc gia sản xuất đậu tương hàng đầu thế giới này rất quan tâm Ở Mỹ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ tế bào phân tử để xác định các gen kiểm soát về sâu, bệnh hại, tuyến trùng, phản ứng thuốc, vi khuẩn
và nốt sần…, mặt khác còn chuyển ghép gen tạo vật liệu khởi đầu mới, áp dụng công nghệ tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công (Hội thảo đậu tương quốc gia, 2003)
Tại Brazil: Là nước sản xuất đậu tương lớn thứ hai trên thế giới Từ năm
1976 đã có gần 500 dòng đậu tương được trung tâm nghiên cứu quốc gia Brazil nghiên cứu và chọn tạo được nhiều giống thích hợp với vùng đất vĩ độ thấp ở Brazil, tiêu biểu như các giống: Numbairi, ABC – 8, Doko, Cristalina (Vũ Tuyên Hoàng và cs., 1995)
Tại Nhật Bản hiện Viện tài nguyên sinh học Nông nghiệp Quốc gia Nhật Bản hiện đang lưu giữ khoảng 6.000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó
có 2.000 mẫu giống được nhập từ nước ngoài về phục vụ cho công tác chọn tạo giống (Kamiya et al.,1998)
Johnson et al (1995) xác định giữa năng suất và thời gian sinh trưởng, khối lượng hạt và tính chống tách hạt có tương quan di truyền chặt
Năm 2002, Trung tâm OARDC (trường đại học Ohio) đã chọn tạo thành công 6 giống đậu tương mới cho vụ xuân bao gồm Ohio FG1, Ohio FG3, HS96-
3136, HS96-3140, HS96-3145 và HS96-3850 có năng suất và chất lượng cao hơn giống đối chứng và khả năng chống chịu tốt với bệnh lở cổ rễ và gỉ sắt (Anonymous, 2002)
Tại Đài Loan, Năm 1961 Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu tiến hành chương trình chọn tạo giống và đưa vào sản xuất các giống Kaosing 3, Tainung 3, Tainung 4 Đây là các giống được tạo ra thông qua xử
lý Nơtron và tia X cho các giống đột biến Tainung Tainung 1 và Tainung 2 có
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
năng suất cao hơn giống khởi đầu, vỏ quả không bị nứt và được sử dụng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau như trạm khí tượng Marjo (Thái Lan), trường đại học Philippin (Vũ Tuyên Hoàng và cs., 1995)
Tại Indonesia, nhằm mục đích cải tiến giống có năng suất cao, trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70 – 80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có hạt dạng thon dài; 13 giống
có năng suất cao đã được tạo ra và khuyến cáo gieo trồng Trong đó, giống Wilis được trồng phổ biến nhất, có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 25 tạ/ha Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất đậu tương đạt 25 tạ/ha, chất lượng hạt được tăng lên, tăng khả năng thích ứng với môi trường không thuận lợi… (Sumarno and T Adisan wanto, 1991)
Ở Thái Lan, sự phối hợp giữa hai Trung tâm MOAC và CGPRT nhằm cải tiến giống có năng suất cao, chống chịu tốt với một số sâu bệnh hại chính như gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn , đồng thời có khả năng chịu được đất mặn, chịu được hạn hán và ngày ngắn (Judy, W.H and Jackobs, J.A., 1979)
1.2.2 Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương ở Việt Nam
Qua xem xét và phân tích các số liệu thống kê về tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy diện tích sản xuất đậu tương
có xu hướng giảm, trong khi đó nhu cầu về đậu tương ngày càng cao, tuy nhiên theo thực tế hiện nay để mở rộng diện tích là vấn đề hết sức khó khăn bởi vậy
để có thể tăng sản lượng chúng ta phải đầu tư các biện pháp kỹ thuật, trong đó quan trọng và đầu tiên phải kể đến là công tác giống Hiện nay công tác chọn tạo giống cây trồng nói chung cũng như chọn tạo giống đậu tương nói riêng ở nước ta được tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau như: Lai hữu tính, tạo giống đột biến, chọn lọc từ các giống địa phương và nhập nội giống , bằng các biện pháp này đã có nhiều giống mới được chọn tạo, khảo nghiệm để bổ sung đưa vào sản xuất
Theo Viện Di truyền Nông nghiệp thì định hướng nghiên cứu chọn tạo
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
giống đậu tương ở Việt Nam hiện nay là:
+ Chọn tạo giống đậu tương ăn hạt thích ứng rộng, chịu nhiệt, năng suất cao ổn định 20 – 40 tạ/ha, thời gian sinh trưởng ngắn trung bình và cực ngắn phù hợp với các cơ cấu cây trồng
+ Chọn tạo giống đậu tương rau chịu nhiệt, năng suất cao 8 – 15 tấn quả non/ha, sản xuất được giống 18 – 27 tạ/ha, chất lượng tốt, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng quốc tế
+ Chọn tạo giống đậu tương chống chịu: chịu nhiệt, chịu bệnh, hạn, sâu
Về định hướng phương pháp nghiên cứu Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đã đưa ra các phương pháp nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương gồm các phương pháp:
+ Xây dựng tập đoàn công tác có chọn lọc nguồn gen (địa phương, nhập nội, giống đang phổ biến sản xuất) phục vụ cho công tác lai tạo
+ Sử dụng phối hợp phương pháp lai hữu tính kết hợp đột biến ở F3 – 4, kết hợp chọn lọc phả hệ theo phương pháp SSDM
+ Chọn lọc liên tục trong 3 thời vụ chính xuân, hè, đông và các vùng sinh thái thuộc các vĩ độ từ các tỉnh phía Bắc tới các tỉnh phía Nam, phân lập các kiểu hình năng suất cao, thích ứng rộng, chất lượng tốt, có thể chịu cả nóng và lạnh, trồng liên tục 3 vụ/năm năng suất cao, ổn định trên các vùng sinh thái
+ Nghiên cứu sử dụng chỉ thị phân tử (MAS), chuyển gen chọn tạo giống có các tính trạng định hướng như chịu hạn, chịu sâu bệnh
Trong thời gian qua công tác chọn tạo giống đậu tương của nước ta cũng
đã đạt được một số thành công nhất định
Trong công tác lai hữu tính: Lai hữu tính là phương pháp cơ bản trong chọn tạo giống Phương pháp này có thể phối hợp được các tính trạng có lợi, những ưu điểm tốt nhất của bố mẹ để tạo ra con lai với mục đích khác nhau
Tác giả Vũ Đình Chính (1995) đã lai tạo thành công giống đậu tương D140 từ tổ hợp lai DL02×ĐH4 Năm 1995, D140 được đưa vào thí nghiệm so
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
sánh giống chính quy Kết quả so sánh giống cho thấy D140 có khả năng thích ứng rộng, có thể gieo trồng ở cả 3 vụ trong năm với thời gian sinh trưởng 90 –
100 ngày, khối lượng 1000 hạt lớn, màu sắc đẹp và cho năng suất cao đạt 15 – 27 tạ/ha
Giống đậu tương ĐVN-6 được trồng là giống đậu tương được chọn tạo
từ tổ hợp lai hữu tính giữa giống AK-03 và DT96 ĐVN-6 có thời gian sinh trưởng trung bình từ 84 – 97 ngày, có thể trồng được 3 vụ trong năm, ưu thế đặc biệt trong vụ đông Giống sinh trưởng mạnh, thấp cây, chống đổ tốt, khả năng thích ứng rộng, hàm lượng protein trong hạt cao (41,69%), chống bệnh tốt, hình dạng và màu sắc hạt đẹp, được người tiêu dùng ưa chuộng ĐVN-6 cho năng suất khá cao và ổn định trong sản xuất, ở diện rộng đạt tới 27,70 tạ/ha, ở diện hẹp đạt 35,00 tạ/ha (Nguyễn Thị Thanh và cs., 2006)
Với mục tiêu chọn tạo giống đậu tương ngắn ngày bố trí trồng xen với ngô, Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp – Viện Nghiên cứu Ngô đã tạo ra giống đậu tương ngắn ngày ĐVN-9 ĐVN-9 được chọn lọc theo phương pháp phả hệ
từ tổ hợp lai DT-99×VN20-5 Giống có thời gian sinh trưởng ngắn 79 – 90 ngày, sinh trưởng khỏe, có khả năng thích ứng rộng, khả năng chống chịu sâu bệnh khá, phân cành mạnh, sai quả (22,9 – 49,5 quả/cây) và năng suất khá ở cả
3 vụ xuân, hè, đông (Dương Văn Dũng và cs., 2007)
Tác giả Nguyễn Tấn Hinh và Nguyễn Văn Lâm, (2010) đã chọn tạo thành công giống Đ2101 từ tổ hợp Đ95 x Đ9037 Giống Đ2101 có thời gian sinh trưởng từ
90 – 100 ngày, có số quả trên cây nhiều từ 38-42 quả, năng suất đạt 22 - 26 tạ/ha, rất thích hợp cho vụ xuân và vụ đông ở các tỉnh phía Bắc Từ năm 2008-2010, giống đậu tương Đ2101 được xây dựng mô hình tại nhiều tỉnh tại đồng bằng Bắc bộ và tỉnh Sơn La với diện tích 280 ha, kết quả được các địa phương có nhận xét và đánh giá chung: giống đậu tương Đ2101 sinh trưởng phát triển khỏe, chịu hạn khá, quả và hạt có màu vàng đẹp, hạt to và đều, năng suất đạt cao hơn giống đang sản xuất tại địa phương
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Chọn lọc từ tổ hơp lai DT2000 x TQ, tác giả Tạ Kim Bính và Nguyễn Thị Xuyến, (2006) đã chọn được dòng DT2006, DT2006 có thời gian sinh trưởng ngắn, chiều cao cây thấp và trọng lượng 1000 hạt từ 158 – 168g Đặc biệt DT2006 có năng suất rất cao từ 3 – 6 tấn/ha, thích hợp trồng cả 3 vụ trong năm
Trong công tác ứng dụng đột biến thực nghiệm: Ứng dụng đột biến thực nghiệm là một phương pháp chọn tạo giống mang lại nhiều thành công theo hướng tăng năng suất và chất lượng, đặc biệt là tăng hàm lượng và chất lượng protein trong hạt đậu tương Bằng ứng dụng đột biến thực nghiệm đã tạo ra nhiều giống đậu tương có khả năng chịu nóng, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh tốt
Bằng phương pháp xử lý đột biến, trong giai đoạn 1985-2005 nước ta đã tạo
ra được 5 giống đậu tương mới trong đó giống M103 là giống đầu tiên được tạo ra bằng phương pháp này (Trần Đình Long và Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1994)
Giống đậu tương ĐT22 được Trung tâm Nghiên cứu và phát triển đậu đỗ, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn tạo từ dòng đột biến hạt lai của tổ hợp DT95×ĐT12 Giống được công nhận chính thức năm 2006 ĐT22 có thời gian sinh trưởng trung bình 80 – 95 ngày, khối lượng 1000 hạt từ 145 – 180 g, có khoảng 33%
số quả 3 hạt, năng suất trung bình 17 – 25 tạ/ha Giống có thể trồng được 3 vụ trong năm, thích hợp nhất trong vụ xuân và vụ hè; khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất thuận khá (Trần Đình Long, 2007)
Giống DT84 được tạo ra bằng cách xử lý đột biến bởi tia gamma – Co60 trên dòng lai 8-33 (DT80 x DH4) Giống DT84 có tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá, khả năng thích ứng rộng, thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng hạt tốt, dễ để giống và hiện nay DT84 đang là giống được trồng phổ biến nhất miền Bắc nước ta (Mai Quang Vinh và Ngô Phương Thịnh, 1996)
Tác giả Hoàng Thị Thu Yến và cs (2005) bằng phương pháp đột biến thực nghiệm đã tạo ra 3 dòng đậu tương ML10, ML48, ML61 Các giống này có khả năng chịu nóng, được đánh giá là thích hợp với những vùng khí hậu nóng
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
như Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ
Viện Di truyền Nông nghiệp đã chọn tạo thành công giống DT2008 bằng phương pháp lai hữu tính kết hợp đột biến phóng xạ Đây là giống có nhiều ưu điểm vượt trội: năng suất cao 18 – 35 tạ/ha, có khả năng chống chịu tổng hợp trên đồng ruộng ở mức cao nhất với các điều kiện bất thuận như hạn, úng, nóng, lạnh, đất nghèo dinh dưỡng Giống sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều, hệ rễ rất phát triển, có nhiều nốt sần nên vừa có khả năng chịu hạn vừa có khả năng cải tạo đất tốt hơn các giống khác (Mai Quang Vinh và cs., 2008)
Trong chọn tạo giống, ngoài lai hữu tính và xử lý đột biến nhằm thu được những biến dị có lợi thì việc chọn các giống ở các giống địa phương và những mẫu giống nhập nội từ các nước khác nhằm thu được giống mới có nhiều ưu điểm hơn giống cũ cũng đã góp phần đáng kể vào những thành công trong công tác chọn tạo giống đậu tương ở nước ta
Trong giai đoạn từ 2001 – 2005 các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam đã nhập nội gần 540 mẫu giống đậu tương từ các nước Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc… bổ sung vào tập đoàn giống (Trần Đình Long và cs., 2005)
Tác giả Nguyễn Thị Văn và cs (2003), nghiên cứu các giống đậu tương nhập nội từ Úc tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và thu được kết quả: trong 25 mẫu giống thử nghiệm, có CLS1.112 cho năng suất cao Giống
96031411 thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn, có thời gian sinh trưởng dài từ 125 – 135 ngày, phân cành nhiều, cao cây, có thành phần sinh khối lớn, đề nghị thử nghiệm phát triển ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Đặc biệt trong đó các giống có khả năng chịu rét khá như: G12120.94252-911, 94252-1, đây sẽ là nguồn gen quý để lai tạo ra các giống đậu tương có khả năng chịu rét thích hợp trồng trong vụ đông và vụ xuân
Năm 2006, Trung tâm khảo nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón quốc gia đã tiến hành khảo nghiệm 12 giống mới tại 7 địa điểm trong mạng lưới khảo nghiệm quốc gia ở các tỉnh phía Bắc, vụ xuân hè 2006 Kết quả khảo nghiệm cho thấy 7 giống có triển vọng là Đ2501, ĐT24, DT2003, ĐT26,
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
ĐVN10, DT2006 và DT27 Trong đó, giống được khảo nghiệm qua 4 vụ có triển vọng là Đ2501 và ĐT24 cho sản xuất thử, hai giống ĐT26 và ĐVN10 được đưa vào khảo nghiệm sản xuất (Nguyễn Tiên Phong và cs., 2006)
Tiến hành nghiên cứu 14 giống đậu tương nhập nội từ Úc với giống đối chứng là DT84 kết quả cho thấy: Các giống đậu tương Úc nhập nội có thời gian nở hoa sớm và thời gian sinh trưởng ngắn (hầu hết dưới 100 ngày) Trong Vụ hè thu các giống đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt, hầu hết các giống đều có khối lượng chất khô tích lũy, khối lượng nốt sần đều cao hơn đối chứng Tất cả các giống đều có khả năng chống đổ tốt, nhiễm sâu bệnh ở mức nhẹ, tỷ lệ đậu quả cao
và tính tách quả hợp lý Các giống Au10, Au4 và Au3 là những giống đậu tương
có năng suất cao và ổn định nhất, phù hợp với điều kiện vụ hè thu trên đất Gia Lâm-Hà Nội (Vũ Đình Chính và Đinh Thái Hoàng, 2010)
1.3 Nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam
Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt, cây đậu tương cần được bón phân đầy đủ và cân đối Đối với phân khoáng thì đạm, lân và kali là ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng lớn đến năng suất đậu tương
1.3.1 Kết quả nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới
Để đạt được năng suất hạt cao (3 tấn/ha), đậu tương cần tích lũy 300 kg N/ha Bón 60 kg N/ha và 120 kg N/ha vào lúc ra hoa đã làm tăng năng suất đậu tương lên tương ứng 4,8% và 6,7% Năng suất đậu tương tiếp tục tăng tới lượng
N bão hòa là 180 kg N/ha (Wanatabe et al., 1986)
Theo Svetlana Balešević-Tubić et al (2011) việc tăng mức bón N có ảnh
hưởng tiêu cực đến sự cố định đạm của đậu tương: lượng bón đạm tăng 1 kg thì lượng đạm do cố định từ không khí giảm 1,72 kg Lây nhiễm vi khuẩn bằng phân
vi sinh đã làm tăng sự đa dạng của vi sinh vật trong vùng rễ, có tác động tích cực đến khả năng cố định đạm của đậu tương
Bón lân cho đậu tương làm giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt Tại Australia, Dickson et al (1987) đã tiến hành
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
những thí nghiệm về bón phân lân cho các cánh đồng tại vùng Queen- Sland đã chỉ ra rằng: năng suất đậu tương được tăng lên đáng kể khi được bón phân lân, sự mẫn cảm của đậu tương đối với phân lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất
Tại Indonexia, bón phân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu dưới 18ppm đã làm tăng năng suất đậu tương đáng kể, thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng Al, Fe, Mn cao gây trở ngại cho sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất (Salesh and Sumarno, 2002)
Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp của cây Không đủ K cho nhu cầu của cây làm giảm sự tăng trưởng, năng suất, cây dễ nhiễm sâu bệnh Kali
có tầm quan trọng như nhau ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây đậu tương
và ảnh hưởng đến cân bằng dinh dưỡng của cây Việc hút K có liên quan đến Ca, Mg: hàm lượng Ca, Mg thường giảm khi bón K (Thompson L.M, 1957) Theo nghiên cứu của Smit (1988), bón K trên lá không thay thế cho bón K trước khi trồng và hàm lượng protein trong hạt có tương quan nghịch nhưng hàm lượng dầu lại có tương quan thuận với lượng phân K (cả KCl và K2SO4) bón vào đất
Việc áp dụng công thức bón phân hợp lý có thể cải thiện sự tăng trưởng và nâng cao đáng kể năng suất của đậu tương Theo kết quả nghiên cứu bón kết hợp
ba loại phân N, P, K trên giống đậu tương Liaodou 11 trong vụ xuân năm 2006
và 2007 tại tỉnh Shandong (Trung Quốc), khi bón kết hợp N, P2O5 và K2O làm tăng liên tục hàm lượng chất khô tích lũy; tỷ lệ đồng hóa của N, P2O5 và K2O là 2,89:1,00:1,75 Năng suất của đậu tương tăng đáng kể 27,9% - 43,2% Tỷ lệ N:P:K hợp lý bón cho năng suất cao đối với giống này là 1: 2,1:1,8 (WANG
Zheng et al., 2008)
Tại Australia, Dickson et al (1987) đã tiến hành những thí nghiệm về bón
phân lân cho các cánh đồng tại vùng Queen-Sland đã chỉ ra rằng: năng suất đậu tương được tăng lên đáng kể khi được bón phân lân, sự mẫn cảm của đậu tương đối với phân lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
phần cơ giới đất
Tác giả B.B Mekki and Amal G Ahmed (2005), khi bón phân hữu cơ với lượng 20 tấn/mẫu Anh hoặc kết hợp phân hữu cơ + phân sinh học đã làm tăng chiều cao cây và khối lượng chất khô/cây của đậu tương Năng suất hạt (g/cây); khối lượng quả (g/cây), số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng 1000 hạt đạt cao nhất khi bón kết hợp phân hữu cơ + phân sinh học Chỉ bón phân sinh học và phân hữu
cơ + men đã làm tăng hàm lượng dầu trong hạt, trong khi hàm lượng protein lại tăng lên khi chỉ bón phân hữu cơ hoặc phân hữu cơ + phân sinh học và tăng dần khi tăng tỷ lệ N bón trên nền này
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón sinh học đến năng suất và hàm lượng protein của 2 giống đậu tương Williams và Line no.17 trong năm 2010 với các công thức: b1= N + P, b2= Bradyrhizobium japonicum + P, b3= N + Bacillus và Pseudomonas + 50%P, b4= B.japonicum + Bacillus và Pseudomonas + 50%P, b5= B.japonicum + 50%N + Bacillus và Pseudomonas + 50% P của tác giả Iraj Zarei và
cs (2012) kết quả cho thấy: mức năng suất cao nhất ở công thức bón b3 và thấp nhất
ở b2 Khối lượng 1000 hạt ở các công thức b1, b2, b5 thấp hơn đáng kể so với các công thức khác Các công thức bón khác nhau ảnh hưởng đáng kể đến số quả trên cây và công thức bổ sung phân bón sinh học cho số quả trên cây tương đương hoặc cao hơn so với công thức chỉ bón phân hóa học Các công thức bón b1, b3 và b5 cho hàm lượng protein trong hạt cao nhất Từ đó các tác giả đã kết luận: trong sản xuất đậu tương có thể thay thế một phần phân bón hóa học bằng các loại phân bón sinh
học (Iraj Zarei et al., 2012)
Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc bón bổ sung phân hữu cơ đối với sự sinh trưởng và năng suất đậu tương trong vụ mùa khô năm 2007 và vụ mùa mưa năm 2008 tại Pakchong (Thái Lan) cho thấy: trong vụ mùa khô, năng suất đậu tương đạt cao nhất ở mức bón phân hóa học 1755 kg/ha Trong vụ mùa mưa khi bổ sung 3 tấn khô dầu mè, năng suất hạt tăng đáng kể (5410,83 kg/ha); công thức bổ sung 6 tấn khô dầu mè đạt 4331,67 kg/ha và công thức chỉ bón
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
phân hóa học đạt 4190,83 kg/ha (Thu Zar Myint et al., 2009)
1.3.2 Kết quả nghiên cứu phân bón cho đậu tương tại Việt Nam
Cây đậu tương cần có một lượng dinh dưỡng rất lớn, nhất là đạm Tuy nhiên
trên thực tế do có khả năng sống cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium
Japonicum nên lượng phân đạm bón cho đậu tương không nhiều, bởi nguồn đạm cộng sinh đáp ứng tới 40 – 60% nhu cầu đạm của cây Sau khi cây có 2-3 lá thật cây đậu tương có khả năng cố định đạm để cung cấp cho hoạt động sống của mình Nguồn đạm này được tăng dần khi cây có 3 lá kép (nốt sần bắt đầu được hình thành)
và đạt tối đa khi cây ra hoa, làm quả sau đó giảm dần
Nhu cầu về đạm của cây đậu tương khác nhau ở mỗi giai đoạn sinh trưởng Giai đoạn khủng hoảng đạm nhất của cây là giai đoạn làm hạt và vào chắc (R5 – R6) Thiếu đạm ở giai đoạn này lá sẽ bị rụng sớm do đạm trong lá được di chuyển về cho phát triển hạt (Imasande J, 1992)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bộ (2001): Nếu chỉ bón riêng đạm cho đậu tương thì năng suất đạt 1,4 tạ/ha Trong khi đó cũng lượng đạm như vậy trên nền có bón lân cho năng suất đậu tương đạt 2,3 tạ/ha
Sau dinh dưỡng đạm, kali là nguyên tố được hấp thu đứng thứ hai về số lượng và có nhu cầu cao gấp khoảng 4 lần so với lân ở cây đậu tương Kali có vai trò quan trọng trong việc trao đổi đạm, chuyển hoá gluxit, cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng cường tính chống chịu cho cây Ở đất nghèo kali, đất cát, đậu tương phản ứng rõ rệt với phân kali, nhưng đối với các vùng trồng đậu tương thuộc đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long do đặc điểm đất ở đây tương đối giàu kali nên hiệu quả bón phân kali ở vùng này thấp Trên đất bạc màu, tùy theo liều lượng kali
và nền phân bón phối hợp, bón kali làm tăng năng suất đậu tương 45 – 136% so với không bón với hiệu suất từ 5,8 – 15 kg đậu/kg K2O Liều lượng kali bón cho đậu tương để đạt hiệu quả kinh tế cao là 60 – 90 kg K2O/ha Kali làm tăng hàm lượng protein trong hạt và tăng sản lượng protein Hàm lượng dầu ít thay đổi do bón kali nhưng sản lượng dầu lại tăng do năng suất tăng (Ngô Thế Dân và cs., 1999; Nguyễn
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
Trọng Thi và Nguyễn Văn Bộ, 1999)
Trong đời sống cây đậu tương, dinh dưỡng lân được hút từ phân bón và hút đến tận cuối vụ Lân có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần nên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cây đậu tương Đậu tương hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển nhưng quan trọng nhất là ở thời kỳ đầu sinh trưởng Thời kỳ cây hút nhiều lân nhất từ lúc bắt đầu ra quả cho đến 10 ngày trước khi hạt chín hoàn toàn Ở thời kỳ sinh trưởng cuối, lân được chuyển từ lá
về quả và hạt (Nguyễn Như Hà, 2006)
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất đồi trung du phía Bắc Việt Nam, Trần Văn Điền (2001) đã kết luận: bón lân cho đậu tương tăng lên, với giống đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng gì; còn với giống đậu tương có nốt sần thì có tác dụng tăng năng suất hạt và thân lá rõ rệt
Tác giả Võ Minh Kha (1996) đã khẳng định: trên đất đồi chua hàm lượng
Fe3+, Al3+ cao nên bón lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Diện tích đất canh tác của nước ta hiện nay nghèo lân vì diện tích đất phèn, đất bạc màu khá nhiều Riêng ở miền Bắc, trong hơn 2 triệu ha đất canh tác thì
có hơn 1 triệu ha là đất chua pH(KCl) = 4-4,5 Hàm lượng Fe, Al di động trong đất có khi lên tới 20-25 mg/100g đất, còn ở miền Nam có tới 2 triệu ha đất nghèo lân
Các yếu tố dinh dưỡng đa lượng có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây đậu tương Trên đất phèn, nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 – 50 kg N/ha; nếu bón lân thì có thể hút được 120 –
130 kg N/ha (Nguyễn Văn Bộ, 2001)
Khi nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật đối với các giống đậu tương triển vọng thuộc dự án ACIAR đã nhận thấy: mức phân bón thích hợp cho các giống triển vọng đạt năng suất cao là 15 tấn phân chuồng + 60 kgN + 80kg
P2O5+ 80kg/ha K2O (Trần Đình Long và cs., 2003)
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Theo kết quả nghiên cứu về công thức bón phân cho giống đậu tương ĐT2000 nhóm tác giả Tạ Kim Bính, Trần Đình Long, Nguyễn Văn Viết, Nguyễn Thị Bình năm 2004 kết luận: ở vụ xuân với mức bón 30kg N: 60 kg P2O5: 40 kg
K2O và vụ đông với mức bón: 40 kg N: 60 kg P2O5: 40 kg K2O thì hiệu quả phân bón đạt cao nhất và ĐT2000 cho năng suất cao nhất (Tạ Kim Bính và cs., 2004)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Đình Chính (1998) cho rằng: bón kết hợp N, P trên đất bạc màu nghèo dinh dưỡng với mức 90 kg P2O5/ha trên nền 40
kg N/ha làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt Theo tác giả thì trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu (Hiệp Hoà - Bắc Giang) bón cho giống đậu tương Xanh lơ Hà Bắc thích hợp nhất là 20 kg N: 90 kg P2O5: 90 kg K2O
Tác giả Trần Danh Thìn (2001) cho biết: khi bón kết hợp N, P, Ca có tác dụng rõ rệt trong việc khắc phục hạn chế của các yếu tố dinh dưỡng đất, nâng cao năng suất đậu tương và lạc Việc bón kết hợp cả 3 yếu tố N, P, K cho năng suất cao nhất ở cả 2 nền phân cao và thấp Đối với đất chua, nghèo dinh dưỡng bón 100N: 150P2O5: 800Ca: 50 K2O đã cho hiệu quả kinh tế của lạc và đậu tương cao
Theo Trần Thị Trường và cs (2006) tỷ lệ sử dụng phân đạm, lân, kali thích hợp nhất cho đậu tương là 1:2:2 Nếu bón riêng rẽ kali cho bội thu 1,4 tạ/ha; trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha Nếu bón riêng rẽ đạm cho bội thu 1,4 tạ/ha; trên nền có lân cho 2,3 tạ/ha; trên nền có kali cho 3,1 tạ/ha; trên nền có kali
và lân cho năng suất 5,4 tạ/ha
Thí nghiệm nghiên cứu về ảnh hưởng liều lượng phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương trên đất phù sa trong
đê huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tác giả Vũ Đình Chính và Lê Thị Lý, (2011) tiến hành trên 5 giống đậu tương gồm các giống AK06 (đối chứng), D140, ĐT22, D912, Đ9804 với 3 công thức bón phân là: CT1= nền: 8 tấn phân chuồng +300kg vôi bột, CT2: nền +30N+90 P2O5+60 K2O, CT3: nền +45N+135
P2O5+90K2O đã kết luận: Liều lượng phân bón có ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của các giống đậu tương Trong các nền phân bón nhận thấy nền phân
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
bón 2 (CT2) với lượng phân bón 8 tấn phân chuồng + 30N + 90P2O5 + 60K2O + 300kg vôi bột trên 1 hecta cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất Trong nền phân bón 2, năng suất của giống đậu tương D140 đạt cao nhất
Giống AK06 phát huy hết tiềm năng năng suất ở mật độ 30-35 cây/m2 và cho hiệu quả kinh tế cao ở công thức bón phân: 30 kg N: 60 kg P2O5: 60 kg K2O + 10 tấn phân chuồng (Đỗ Minh Nguyệt và cs., 2002)
Bên cạnh đó, bón phân hữu cơ và phân hữu cơ sinh học cho cây đậu tương cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và thu được những thành tựu nhất định
Theo tác giả Nguyễn Xuân Thành và cs (2003), phân sinh học (bao gồm phân hữu cơ vi sinh) có tác dụng rất lớn trong tạo nền thâm canh để tăng năng suất cây trồng, nhưng chỉ có phân sinh học thôi thì không thể cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây trồng để có năng suất cao, khó đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm cho nhân loại Do đó cần sử dụng tổng hợp các loại phân sinh học và hóa học một cách cân đối
Theo tác giả Tran Ngoc Son et al.(2001) với tỷ lệ bón phân 60 – 60 – 30
kg NPK/ha kết hợp với phân ủ từ rơm rạ hoặc chế phẩm vi sinh vật cố định đạm hoặc bón kết hợp với cả phân ủ từ rơm rạ và chế phẩm vi sinh vật cố định đạm có thể thu được năng suất đậu tương tương đương với mức bón 100 – 60 – 30 kg NPK/ha mà người dân thường áp dụng Hàm lượng và sự hấp thu của đậu tương với các dinh dưỡng N, P, K và lượng P, K dễ tiêu trong đất được cải thiện đáng
kể ở các công thức bón phân ủ rơm rạ và chế phẩm vi sinh vật SB 83 (Rhizobium
fredii ) và SB 177 (Bradyhrizobium sp)
Trong một vài năm trở lại đây ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu bón phân hữu cơ và phân hữu cơ vi sinh nói riêng cho cây đậu tương được thực hiện Theo tác giả Lưu Thị Xuyến (2012), nghiên cứu trên giống đậu tương 99084-A28 trong vụ xuân ở Thái Nguyên cho thấy: lượng phân bón 5 tấn phân chuồng + 40 kg N + 80 kg P2O5 + 40 kg K2O + 300 kg vôi bột/ha là thích hợp nhất vừa cho năng suất cao (30,5 tạ/ha) vừa cho lãi thuần cao nhất (27,8 triệu
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
đồng/ha)
Kết quả khảo nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Thuận Thành – Bắc Ninh cho thấy, bón phân hữu cơ vi sinh cho đậu tương làm tăng năng suất đậu tương 6,26 kg/sào, tương đương 12% so với đối chứng (Nguyễn Xuân Thành và cs., 2003)
Tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ vi sinh MT đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương xuân-hè giống D140 tại Gia Lâm - Hà Nội với nền phân bón 30N+60P P2O5+60
K2O với các công thức bón phân hữu cơ vi sinh MT là 0,1kg/m2, 0,15kg/m2, 0,2kg/m2, 0,25kg/m2 so với đối chứng 0kg/m2 đã kết luận: Bón chế phẩm hữu cơ
vi sinh cho cây đậu tương có tác dụng tốt đến giai đoạn sinh trưởng phát triển dinh dưỡng, tăng khả năng hình thành nốt sần và làm rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây, làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu tương Các công thức bón 0,2kg/m2 và 0,25kg/m2 chế phẩm hữu cơ vi sinh là có hiệu quả tác dụng cao nhất
Theo tác giả Phạm Văn Dân (2012), tổ hợp phân bón đối với 2 giống đậu tương ĐVN6 và ĐT26 cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao nhất là 40 kg N +
90 kg P2O5 + 60 kg K2O trên nền bón 500 kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh và
300 kg vôi/ha Khi áp dụng tổ hợp phân bón này giống ĐVN6 đạt được 23,4 tạ/ha
và thu được lãi thuần là 8,247 triệu đồng/ha; giống ĐT26 năng suất hạt đạt được
24,8 tạ/ha và thu được lãi thuần là 9,927 triệu đồng/ha
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
* Giống đậu tương: Gồm 7 giống
- Gống 1: DT84 do Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam chọn tạo bằng phương pháp xử lý đột biến dòng lai 3-33 giữa giống DT80 x ĐH (D9T) bằng phương pháp phóng xạ gama –Co60, 18 karad phối hợp phương pháp chọn lọc hạ bậc 1 hạt (SSDM) từ M3, được công nhận là giống Quốc gia năm 1995, (đối chứng)
- Giống 2: D140 do Bộ môn Cây công nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4 (trong đó dòng mẹ DL02 là dòng lai giữa V73 x V74, còn giống ĐH4 có nguồn gốc Trung Quốc) được công nhận giống quốc gia năm 2003
- Giống 3: DT2008 do Viện di truyền Nông nghiệp chọn tạo bằng phương pháp lai xa + đột biến phóng xạ Được công nhận cho sản xuất thử theo Quyết định số 385/QĐ-TT-CCN ngày 28 tháng 9 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
- Giống 4: Đ8 doViện Cây lương thực và thực phẩm lai tạo từ tổ hợp lai: AK03 X M103 bằng phương pháp lai hữu tính từ vụ Xuân 2004 Được công nhận giống cho sản xuất thử theo Quyết định số 614/QĐ-TT-CCN ngày 16 tháng
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
12 năm 2010 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
- Giống 5: ĐT20 do Trung tâm Đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam chọn tạo
- Giống 6: D912 do bộ môn Cây công nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ tổ hợp lai V74 x M103
- Giống 7: ĐVN11 do Viện nghiên cứu Ngô chọn tạo từ tổ hợp lai Cúc Tuyển x AK-05, được công nhận giống cho sản xuất thử năm 2010 theo Quyết định số 211/QĐ-TT-CCN ngày 01/07/2010 của Bộ Nông nghiệp & PTNT
* Phân bón:
- Đạm Ure (46% N)
- Supe Lân Lâm thao (16% P2O5)
- Kaliclorua (60% K2O)
- Phân chuồng hoai mục: 8 tấn/ha
- Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh: 1,5 tấn/ha (Độ ẩm: 30%; Hữu cơ: 15%; P2O5hh: 1,5%; Acid Humic: 2,5% Trung lượng: Ca: 1,0%; Mg: 0,5%; S: 0,3%; Các chủng vi sinh vật hữu ích Bacillus 1 × 106 CFU/g; Azotobacter: 1×106 CFU/g; Aspergillus sp: 1×106 CFU/g.)
- Phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm: 1,5 tấn/ha (Hữu cơ hàm lượng cao; Lân; Acid Humic; các nguyên tố trung vi lượng cu, fe, al, ca Vi sinh vật hữu ích)
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Thời gian: Vụ xuân năm 2015, gieo ngày 8/3/2015
* Địa điểm nghiên cứu: Xã Phù Nham, Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái
* Điều kiện đai nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí trên đất thịt pha cát
- Kết quả phân tích đất: Tại Phòng thí nghiệm trung tâm, Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam