1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015

87 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, hiện nay người nông dân đã gia tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích và thâm canh nhằm tăng năng suất qua việc sử dụng khối lư

Trang 1

MỤC LỤC

1.2.3 Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ 11

1.3.2 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ 16

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ bọ trĩ hại rau gia vị 24

2.4.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây Tía tô 24

Trang 2

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Thành phần một số loài bọ trĩ trưởng thành trên rau gia vị 28

3.2 Đặc điểm phân loại của các loài bọ trĩ trên một số loại rau gia vị tại

3.2.1 Loài Scirtothrips dorsalis Hood, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 29

3.2.2 Loài Haplothrips sp., họ Phlaeothripidae, bộ Thysanoptera 31

3.2.3 Loài Thrips hawaiiensis Morgan, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 32

3.2.4 Loài Frankliniella intonsa Trybom, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 34

3.2.5 Loài Frankliniella occidentalis Pergande, họ Thripidae, bộ Thysanoptera 35

3.2.6 Loài Megalulothrips sp., họ Thripidae, bộ Thysanoptera 37

3.2.7 Loài Thrips tabaci Linderman, họ Thripidae, bộ Thysanoptera. 37

3.2.8 Loài Anaphothrips sudanensis Trybom, họ Thripidae, bộ Thysanoptera. 39

3.2.9 Loài Selenothrips rubrocinctus Giard, họ Thripidae, bộ Thysanoptera. 40

3.3 Thành phần loài bọ trĩ trên các loại rau gia vị tại Thường Tín - Hà

3.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ trên 3 loại rau gia vị húng quế, tía tô, kinh

3.4.1 Diễn biến mật độ bọ trĩ trên rau húng quế tại Thường Tín, Hà

3.5 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây tía tô 53

3.5.2 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng 54

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

BNNPTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn BVTV Bảo vệ thực vật

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

2.1 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ và nồng độ, liều lượng sử dụng 26

3.1 Thành phần bọ trĩ trên rau gia vị tại Thường Tín, Hà Nộinăm 2014 28

3.2 Thành phần loài bọ trĩ trên húng quếtại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 42

3.3 Thành phần loài bọ trĩ trên rau tía tôtại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 43

3.4 Thành phần loài bọ trĩ trên kinh giớitại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 44

3.5 Thành phần loài bọ trĩ trên húng Láng tại Thường Tín- Hà Nội

3.6 Thành phần loài bọ trĩ trên ngải cứutại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 45

3.7 Thành phần loài bọ trĩ trên rau lá mơtại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 46

3.8 Thành phần loài bọ trĩ trên rau rămtại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 46

3.9 Thành phần loài bọ trĩ trên cây sả tại Thường Tín- Hà Nội năm 2014 47

3.10 Thành phần loài bọ trĩ trên cây hành tại Thường Tín - Hà Nội

3.15 Diễn biến mật độ bọ trĩ hại hại tía tô ở 2 công thức được quây

nilon và công thức đối chứng không quây nilon tại Thường Tín,

3.16 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô 54

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

2.14 Sơ đồ thí nghiệm phương pháp quây nilon quanh ruộng 25

2.15 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực của 3 loại thuốc trừ bọ trĩ 26

3.1 Đặc điểm hình thái của loài Scirtothrips dorsalis Hood 30

3.3 Đặc điểm hình thái loài Thrips hawaiiensis Morgan. 33

3.4 Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom 34

3.5 Đặc điểm hình thái của Frankliniella occidentalis Pergande 36

3.8 Đặc điểm hình thái của loài Anaphothrips sudanensis Trybom 39

3.9 Đặc điểm hình thái của loài Selenothrips rubrocinctus Giard 41

3.10 Hiệu lực (%) của thuốc BVTV trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô 55

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau là cây thực phẩm quan trọng về mặt dinh dưỡng, nó rất cần thiết và cung cấp nhiều loại vitamin cho sự sống của con người, đặc biệt rau gia vị là loại rau không thể thiếu cho mỗi bữa ăn của gia đình Việt cũng như trên thế giới, giúp cho món ăn có hương vị đặc trưng toát ra từ tinh dầu của mỗi loại rau mang lại cảm giác ngon miệng, là vị thuốc hữu ích đối với sức khỏe chúng ta Bên cạnh đó rau gia vị có vai trò điều hòa tính hàn nhiệt của thực phẩm Ngoài ra, rau còn có tác dụng kích thích các giác quan của con người, làm tiết dịch tiêu hóa nhiều hơn, thức ăn tiêu hóa nhanh, các chất dinh dưỡng được hấp thụ nhiều (Tạ Thu Cúc và

cs, 2000) Chính vì vậy mà nhu cầu về rau gia vị đang ngày càng được tăng cao Bên cạnh phục vụ nhu cầu trong nước thì rau gia vị còn là một mặt hàng xuất khẩu đầy tiềm năng bởi rau gia vị rất phong phú, đa dạng và giúp cho món

ăn thêm sắc màu, tạo hương vị độc đáo riêng, phù hợp với các món ăn của nhiều quốc gia trên thế giới

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, hiện nay người nông dân đã gia tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích và thâm canh nhằm tăng năng suất qua việc sử dụng khối lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, phân bón (đặc biệt là lạm dụng phân đạm), chất kích thích sinh trưởng… điều đó làm nảy sinh ra nhiều vấn đề như dư lượng thuốc BVTV, dư lượng nitrat trong rau…Song song với việc thâm canh tăng năng suất thì tình hình dịch hại trên nhóm rau màu này cũng ngày càng trở nên phổ biến tới mức khó kiểm soát, đặc biệt khi đối tượng gây hại là các loại côn trùng nhỏ thì việc phát hiện sớm để phòng trừ là rất khó khăn trong đó có các loài bọ trĩ

Trong những đối tượng kiểm dịch thực vật thì bọ trĩ thuộc đối tượng kiểm dịch nhóm I Những năm gần đây, bọ trĩ trở thành loài sâu gây thiệt hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng khác nhau từ giai đoạn cây giống đến khi thu hoạch Điều đáng nói bọ trĩ phát triển quanh năm, kể cả mùa đông nhưng phát triển mạnh và có mật độ cao khi nhiệt độ ấm và trời khô lạnh, hơn nữa một số

Trang 7

loài bọ trĩ còn là tác nhân truyền bệnh virus thực vật

Năm 2012 việc xuất khẩu rau tăng trưởng chậm lại là do vướng mắc phải rào cản kỹ thuật về kiểm dịch thực vật, nhiều lô hàng rau quả của Việt Nam trong

đó có một số loại rau gia vị như Húng Quế, Ớt, Ngò Gai,…xuất khẩu sang thị trường Liên minh Châu Âu (EU) bị thông báo vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật trong đó có bọ trĩ (Vũ Ngọc Anh và Hà Thanh Hương, 2013)

Tại Việt Nam, đã có rất nhiều các nghiên cứu về bọ trĩ trên các loại cây trồng khác nhau: lạc (Phạm Thị Vượng, 1998; Nguyễn Đức Thắng, 2011); khoai tây (Trần Văn Lợi, 2001); cây bông (Hoàng Anh Tuấn, 2002); dưa chuột (Yorn Try, 2008), hoa (Nguyễn Thị Minh Hằng, 2007) Đặc biệt, các loại rau gia vị cũng là ký chủ của bọ trĩ, nhưng những nghiên cứu về bọ trĩ hại rau gia vị ở Việt Nam còn rất hạn chế, chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần, diễn biến mật độ

và biện pháp quản lý chúng Để phòng chống bọ trĩ phần lớn người dân trồng rau mới chỉ sử dụng biện pháp hoá học một cách liên tục, sự hiểu biết còn hạn chế, điều đó dẫn tới hiện tượng bọ trĩ kháng thuốc, đồng thời thuốc lại tiêu diệt các loài thiên địch của bọ trĩ, làm mất an toàn thực phẩm, gây ô nhiễm môi trường

Để góp phần hạn chế tác hại của bọ trĩ đối với cây rau gia vị tại vùng sản

xuất rau trên địa bàn Thường tín (Hà Nội), chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã Tân Minh, Thường Tín, Hà Nội năm 2014 - 2015”

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Trên cơ sở điều tra, xác định thành phần và diễn biến mật độ bọ trĩ trên một số loại rau gia vị tại huyện Thường Tín, TP Hà Nội, thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ trên cây tía tô nhằm góp phần quản lý chúng một cách hợp lý, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa

2.2 Yêu cầu

- Xác định được thành phần bọ trĩ hại trên một số loại rau gia vị khác nhau

Trang 8

- Điều tra diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số loại rau gia vị chủ yếu tại Thường Tín, Hà Nội

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả điều tra nghiên cứu góp phần bổ sung thành phần, diễn biến mật

độ bọ trĩ hại rau gia vị và kết quả thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ ở vùng nghiên cứu Đây là những dẫn liệu khoa học giúp người sản xuất nhận biết

bọ trĩ hại rau và biện pháp phòng trừ trên đồng ruộng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở kết quả điều tra nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ để từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ hại rau gia vị theo hướng tổng hợp (IPM) có hiệu quả kinh tế và giảm sử dụng thuốc góp phần quản lý kiểm dịch thực vật trên sản phẩm rau gia vị

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu

Bọ trĩ là loài đa thực, chúng hại trên nhiều cây trồng, ở nhiều nước khác nhau, tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán, dũa hút dịch của lá, nụ hoa và quả non gây thành những dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng

Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền bệnh virus từ cây này sang cây khác Khi nghiên cứu về bọ trĩ trên các cây có củ, cây họ đậu và ngũ cốc, Chang (1987) đã đưa ra bảng thành phần các loài bọ trĩ quan trọng và đã chỉ ra rằng bọ trĩ là dịch hại nguy hiểm, là vector truyền một số bệnh: vi khuẩn, nấm và virus cho cây trồng

Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục thiếu hiểu biết đã dẫn đến hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc, đồng thời gây mất an toàn thực phẩm

Hiện nay ở nước ta những nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng trừ còn rất hạn chế, chưa có nhiều nghiên cứu

về bọ trĩ trên rau gia vị

1.2 Những nghiên cứu về bọ trĩ ở nước ngoài

1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ

Bọ trĩ là côn trùng có kích thước cơ thể nhỏ bé nên rất khó phát hiện, ngay

cả khi xuất hiện với số lượng lớn, hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài, phân bố hầu khắp thế giới

Các loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips và Liothrips là những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ Trong đó số loài của mỗi giống là: Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng 255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài (Mound, 1997)

Theo Mound (2007) bộ cánh tơ (Thysanoptera) có 2 bộ phụ là Tubulifera

Trang 10

Melanthripidae có 65 loài, Aeolothripidae có 190 loài, Fauriellidae có 5 loài, Adiheterothripidae có 6 loài, Heterothripidae có 70 loài, Thripidae có 4 họ phụ tổng là 2060 loài và họ Uzelothripidae có 1 loài Bộ Tubulifera có 1 họ là Phlaeothripidae, hai họ phụ và có tổng số là 3500 loài

Theo Balou et al (2011) đã thống kê tổng số loài bọ trĩ ở Trung Quốc

(bao gồm cả Đài Loan) là 566 loài thuộc 155 chi Trong 313 loài thuộc bộ phụ Terebrantia có 290 loài thuộc 74 chi trong họ Thripidae, 18 loài thuộc 3 chi trong

họ Aeolothripidae, 2 loài thuộc 1 chi trong họ Melanthripidae và 3 loài thuộc 1 chi trong họ Merothripidae Bộ phụ Tubulifera có 253 loài thuộc 76 chi đều thuộc họ Phalaeothripidae và có 2 loài mới được ghi nhận ở Trung Quốc là

Aeolothrips collaris và Odontothrips meliloti

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, trong một cuộc khảo sát trên cây cam, quýt tại Adana, Mersin, Hà Tây và tỉnh Osmaniye trong khu vực Đông Địa Trung Hải của Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2003 và 2004 đã xác định được 8 loài bọ trĩ gây hại trên các mẫu hoa thu thập được Trong đó có 5 loài thuộc họ Thripidae, 2 loài thuộc họ Phlaeothripida và một loài thuộc họ Aeolothripida Các loài bọ trĩ bao gồm:

Frankliniella occidentalis (Pergande), Thrips meridionalis (Priesner), Thrips major (Uzel), Thrips tabaci (Lindeman), Pezothrips kellyanus (Bagnall), Haplothrips reuteri (Karny), H distinguendus (Uzel) và Melanthrips sp (Nas et

al., 2007)

Pobozniak and Sobolewska (2011) cho biết ở Ba Lan, trong cuộc điều tra thành phần bọ trĩ trên các loại cây thảo mộc ở Vườn thảo mộc – Khoa Nông học – Trường Nông nghiệp Cracow từ năm 2004 đến năm 2006 và ở Vườn thực vật Cracow từ năm 2006 đến năm 2008 đã thu thập được 16058 cá thể trưởng thành

bọ trĩ Thysanoptera thuộc trên 37 loài thảo mộc khác nhau Các loài chiếm ưu thế

gồm có Thrips fuscipennis, Thrips flavus, Frankliniella intonsa, Thrips albopilosus và Thrips major Một số loài bọ trĩ phá hại cây trồng một cách nghiêm trọng, một trong số đó là Thrips tabaci, loài này được phát hiện gây hại

trên 27 loài cây thảo mộc

Theo Chen and Chang (1987), đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong

Trang 11

đó có 70 loài gây hại trên cây trồng Riêng trên cây rau Wang (1989) cho rằng có

27 loài bọ trĩ Các loài có ý nghĩa quan trọng là Thrips palmi Karny, Frankliniella intosa Trybom, Thrips tabaci Linderman, Megalurothrips usitatus

Bagnall Những loài không gây hại nghiêm trọng nhưng thường xuyên trên đồng

ruộng là Thrips hawaiiensis Morgan, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips colouratus Schmutz, Thrips flavus Schrark, Haplothrips chinensis Priesner Sự

xuất hiện, mức độ gây hại và khóa phân loại của 9 loài này đã được xác định

Theo Hua et al (1997), khi nghiên cứu về các loài bọ trĩ chủ yếu hại cây

hoa ở phía nam Đài Loan, đã xác định trên hoa hồng có 7 loài bọ trĩ đó là:

Haplothrips chinensis Priesner, Rhipiphorothrips cruentatus Hood, Franklniella

dorsalis Hood, Thrips hawaiinensis Morgan và Thrips tabaci Linderman Trên hoa cúc có 5 loài bọ trĩ, bao gồm: F intonsa, M.abdominalis, T hawaiiensis và

T tabaci và T palmi (Chu, 1987)

Theo Tillekaratne et al (2011), cuộc điều tra về thành phần bọ trĩ hại cây

trồng ở Sri Lanka thu được tổng cộng 72 loài thuộc 5 phân họ gồm: Thripinae, Phlaeothripinae, Panchaetothripinae, Dendrothripipnae và Idolpthripinae, trong

đó có 25 loài chưa được ghi nhận là đã xuất hiện tại đất nước này Trong số 324

loại ký chủ điều tra, phát hiện Haplothrips gowdeyi là loài phổ biến nhất, có mật

độ cao được tìm thấy trên 44 loại ký chủ, Thrips palmi là loài gây hại phổ biến

thứ hai được tìm thấy trên 43 loại ký chủ

1.2.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ

Bọ trĩ (Thysanoptera) là loài côn trùng nhỏ, trong đó trưởng thành thường

có cánh rất hẹp với lông viền dài Mặc dù thường được coi là loài côn trùng hại hoa nhưng trên toàn thế giới khoảng 40% các loài bọ trĩ chỉ ăn nấm trong lá rụng hoặc trên cành cây chết, và khoảng 30% các loài ăn trên các mô lá màu xanh lá cây Nhiều loài ăn hoa chẳng hạn như bọ trĩ hoa phương Tây và bọ trĩ hành tây là loài gây hại vườn quan trọng (Mound, 2004)

Từ khi bọ trĩ được nhận biết, chúng đã trở thành loài côn trùng có tầm

Trang 12

thế giới, đồng thời là vectơ truyền bệnh virus và vi khuẩn cho cây Bọ trĩ bay kém nhưng có thể dễ dàng lây lan khoảng cách xa bằng cách bay theo gió hoặc di chuyển trên thực vật bị nhiễm khuẩn Loài bọ trĩ mới có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng và khó xác định

Bọ trĩ dùng miệng xuyên qua tế bào thực vật và hút dịch bên trong làm tế bào thực vật bị phá vỡ, dẫn đến biến dạng lá, hoa hoặc các đốm bạc nhỏ li ti trên

lá dần mở rộng Nếu bọ trĩ tiếp tục ăn trên bề mặt lá hoặc cánh hoa thì sẽ xuất hiện những vết sẹo nhỏ hay các đốm bạc Nếu bọ trĩ ăn trong nụ đang phát triển các tế bào sẽ không phát triển được như ở lá có thể bị rụng nếu bị nhiễm nặng Ở một số cây đang sinh trưởng nơi mà trứng bọ trĩ đã được đưa vào trong cây sẽ tạo thành một điểm chết hoặc bị đổi màu, một vài loài bọ trĩ cũng được biết đến như

là vector của virus cho thực vật nhất định

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình công bố thiệt hại do bọ trĩ gây ra trên thế giới như Philippin, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Ấn Độ Chúng gây hại nhiều loại cây trồng như dưa hấu, khoai tây, đậu đỗ, bầu bí, hành tỏi, ớt, lúa, ngô,… Ở Đông Nam Á: Năm 1925, trong quá trình thu mẫu trên cây

thuốc lá ở Sumatra-Indonesia Karny đã phát hiện ra loài bọ trĩ Thrips palmi, vào

thời điểm này chúng được xem là một loài mới, sau đó vào năm 1929

Dammerman cũng đã chỉ ra rằng Thrips Palmi là loài bọ trĩ phổ biến nhất trên

đảo Java và Sumatra ở Indonesia Loài gây hại chính trên rau ở Indonesia là

trĩ cũng như nhiều loài sâu bệnh hại nguy hiểm khác được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất rau ở Indonesia Theo thống kê ở miền đồng bằng

của miền trung Java, bọ trĩ (Thrips tabaci Lindeman) đã gây hại đáng kể trên cây

hành non đặc biệt vào mùa khô Chúng gây hại trên các bộ phận của cây trồng như nõn, lá, hoa và quả non

Bọ trĩ xuất hiện nhiều ở thực vật, đặc biệt là trong hoa Chúng phá hủy thực vật bằng nhiều cách, chẳng hạn như tạo u sưng, làm phồng lá lên và sống ở bên trong Bọ trĩ là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho cây trồng, làm hư hại các loại rau quả làm thiệt hại kinh tế tại Thái Lan Chúng còn được

Trang 13

coi là loài côn trùng phá hoại nhất trong cả vùng cao và vùng thấp Các cây trồng

bị bọ trĩ tấn công nghiêm trọng nhất là ớt, dưa hấu, dưa chuột, hành tây, hẹ, tỏi,

cà tím, cà chua, khoai tây, măng tây, đậu dài, đậu bắp Bọ trĩ hại trên lá hoặc rau quả sẽ làm giảm chất lượng khi thu hoạch, từ đó làm giảm giá thành của sản phẩm Đồng thời, cây trồng bị bọ trĩ hại sức sống bị giảm và trì hoãn thời gian thu hoạch, gây khó khăn trong việc bố trí thời vụ cho vụ tiếp theo Ở Thái Lan, các loại rau có lá (cây rau thập tự) thường ít bị hư hỏng hơn so với rau củ quả (dưa chuột, ớt, cà tím, cà chua và đậu bắp) Bọ trĩ ớt, bọ trĩ hại dưa hấu và bọ trĩ

cà tím gây hại nặng trong mùa khô và trong các bộ phận khô Các loài bọ rĩ hại

rau quan trọng ở Thái Lan: Sciriothrips dorsalis, Thrips parvispinus, Thrips tabaci , Haplothrips floricola, và Thrips flavus (Bansiddhi and Poonchaisri,

1991)

Theo Chang (1987) nghiên cứu về bọ trĩ trên các cây có củ, cây họ đậu và cây ngũ cốc, để đưa ra bảng liệt kê các loài bọ trĩ quan trọng và chỉ ra rằng bọ trĩ

là dịch hại nguy hiểm, là vectơ truyền bệnh vi khuẩn, nấm và virus cho cây trồng

Châu Á – Thái Bình Dương Những cây trồng thường bị chúng gây hại nghiêm trọng là cà tím, tiêu, đậu đũa, khoai tây, thuốc lá, dưa chuột, dưa hấu, bí ngô, đậu trắng, đậu răng ngựa, đậu xanh, đậu tương, hoa cúc, bông, hoa anh thảo, thược dược, bầu hoa lan, vừng, khoai lang,…

Ở Malaysia, có nhiều nghiên cứu chỉ rõ bọ trĩ là một trong những loài sâu hại nguy hiểm trên rau và các cây trồng khác Những loài bọ trĩ phổ biến phân bố

rộng bao gồm Thrips palmi Karny hại trên dưa chuột, ớt, cà chua Loài Megalurothrips usitatus Bagnall hại trên rau đậu, Thrips hawaiiensis Morgan hại trên mướp đắng, đặc biệt Thrips parvispinus là loài sâu hại mới phát hiện trên đu

đủ Bọ trĩ châm hút dịch của lá non khi bị hại nặng cây sẽ bị lùn và không cho quả, hầu hết các giống đu đủ đều rất mẫn cảm với bọ trĩ (Talekar, 1991)

Ở Philippines, trong những năm gần đây bọ trĩ đã trở thành sâu hại nguy hiểm gây hại đáng kể đối với một số loại cây trồng ở quy mô trung bình hoặc lớn, tuy nhiên

Trang 14

động số lượng của chúng thay đổi theo mùa vụ và vùng sinh thái Nhiều nghiên cứu

cho rằng, những loài bọ trĩ phổ biến nhất trên rau là Thrips palmi Karny mà trước đây người ta cho là loài bọ trĩ Thrips tabaci Lindeman Cho đến tận cuối năm 1970, bọ trĩ Thrips palmi Karny được xác định là gây hại nghiêm trọng trên dưa hấu, dưa chuột, dưa bở, cà chua, cà và khoai tây Một số trường hợp bọ trĩ hại nặng làm cho cây rau chết hàng loạt Người ta còn phát hiện bọ trĩ hại đáng kể trên tỏi nhưng chưa xác định

tên loài Ở một số vùng trồng rau mật độ quần thể bọ trĩ Megalurothrips usitaus

Bagnall lên khá cao và gây hại trên cà chua, khoai tây (Talekar, 1991)

Công bố của Mammen and Naier (1997) chỉ rõ bọ trĩ Thrips palmi được

phát hiện sớm ở Philippines vào năm 1997, vào thời điểm đó chúng phá hại hầu như 80% các ruộng dưa hấu ở miền Trung Luzon và Laguna Việc trồng cà tím

với quy mô lớn để lấy hạt giống xuất khẩu bị Thrips palmi phá hại rất nặng Để

phòng chống chúng nông dân sử dụng thuốc hóa học 4 ngày 1 lần nhưng không đạt hiệu quả như mong muốn

Năm 1989-1990 một nghiên cứu về Thrips parvispinus trên ớt được tiến

hành ở các vùng đất thấp Kết quả sơ bộ cho thấy loài này có thể gây ra thiệt hại năng suất 22,8% (Sastrosiswojo, 1991)

Trong khu vực Brebes (Indonesia), ớt được trồng ở cả hai mùa: mùa khô (tháng 4 - tháng 10) và mùa mưa (tháng 11- tháng 3) Kết quả nghiên cứu cho thấy ở hai thời điểm trồng khác nhau thì bọ trĩ gây hại nặng trong mùa khô hơn là mùa mưa Có thể giải thích rằng bởi vì mùa mưa làm rửa trôi bọ trĩ và tỷ lệ tử vong cao hơn do trong điều kiện ẩm ướt làm gia tăng hoạt động của nấm gây

bệnh cho côn trùng (Vos et al., 1991) Lewis (1973), cho rằng bọ trĩ dễ bị tổn

thương với độ ẩm đất quá cao hoặc thấp

Nghiên cứu phổ kí chủ của giống Frankliniella của Mau and Martin

(1993) cho biết chúng có mặt trên 500 loài cây thuộc 50 họ thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng nông nghiệp và hoa cây cảnh

Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, nhưng nguy hiểm hơn chúng là

môi giới truyền bệnh virus từ cây trồng này sang cây trồng khác Thrips tabaci là

Trang 15

môi giới quan trọng truyền bệnh virus TSWV trên cây dứa, cà phê, thuốc lá và

cây trồng khác Frankliniella Schulzei là môi giới truyền bệnh virus TSWV trên cây lạc tại Úc Theo Inoue et al (2001), virus TSWV được truyền bởi 6 loài bọ trĩ: Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa, Thrips tabaci, Thrips setosus, Thrips palmi và Thrips hawaiiensis, do chúng có khả năng tích lũy

protein N của TSWV trong cơ thể

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, qua điều tra sơ bộ thiệt hại do Frankliniella intonsa gây

ra trên cây bông ở bang Cukurova, Atakan and Ozgur (2001) đã đưa ra nhận xét:

số lượng lớn bọ trĩ ở trên hoa (350 con/hoa) cũng không ảnh hưởng tới sự thụ phấn của hoa Tuy nhiên bọ trĩ trưởng thành tấn công vào hoa có thể gây rụng quả non, rõ nhất là sau 10 ngày, tỷ lệ rụng quả non lên tới 80-90% với 101-150 con/hoa

Nghiên cứu phổ ký chủ của giống Frankliniella của Mau and Martin (1993)

cho biết chúng có mặt trên 500 loài cây thuộc 50 họ thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng nông nghiệp và hoa cây cảnh Các cây trồng bị tấn công bởi bọ trĩ gồm có:

cây họ đậu, ớt, dưa chuột, lạc, rau diếp, hành, cà chua và dưa hấu (Roberts et al,

1990)

Một số loài bọ trĩ quan trọng là dịch hại ở Indonesia: bọ trĩ hại hành

(Thrips tabaci Lind.), bọ trĩ hại khoai tây (Thrips palmi Karny), Chaetanaphothrips (=Scritothrips )signipennis (Bagn) hại trên ớt, thuốc lá hoặc

Thrips (= Isoneurothrips ) parvispinus (Karny) hại trên ớt và bầu bí, và

Frankliniella sp Hại trên cây họ đậu (Sastrosiswojo, 1991) Thrips (= Isoneurothrips ) parvispinus (Karny) là một dịch hại nghiêm trọng của ớt ở Indonesia Chúng gây hại ở lá phía dưới sau đó lây lan lên các lá trên trong giai đoạn sinh trưởng của cây Nhiều đốm màu bạc xuất hiện gần các gân lá, sau đó thường nối với nhau, dẫn đến gân lá có màu trắng lốm đốm Các vết bạc để lại sẹo và làm biến dạng lá, hoa và quả; sự đổi màu cộng với phân của chúng và sự phát triển của nấm mốc nên lúc này thường dễ phát hiện Tuy nhiên, tầm quan trọng về kinh tế của chúng là khó đánh giá, đặc biệt là nếu kết hợp với sự tấn

Trang 16

Tại Ấn Độ, Scirtothrips dorsalis gây hại nghiêm trọng trên lạc làm thất thu

năng suất trung bình 29,3%, ngoài ra còn gây hại trên bông, chè, cà phê (Talekar, 1991)

Bệnh chết chồi do virus lan truyền rộng rãi ở nhiều quốc gia trồng lạc trên

thế giới mà cho đến nay người ta đã biết là do bọ trĩ truyền bệnh Ghanekar et al (1978) cho biết, loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis là vectơ truyền bệnh Tới những năm sau đó thì Palmer et al (1989) đã phát hiện ra loài Thrips palmi là đối tượng chính truyền bệnh chết chồi lạc Điều này Syed et al (1996) đã kiểm chứng trên các loài bọ trĩ: Scitorthrip dorsalis, Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa

và Thrips palmi Bọ trĩ được xem là dịch hại nguy hiểm bởi sự có mặt và gây hại

của chúng buộc người dân phải phun thuốc hóa học mà lẽ ra không cần thiết phải phòng trừ Hậu quả của nó làm bùng phát dịch hại khác do mất cân bằng sinh học (Ranga Rao and Shanower, 1998)

Trong vùng đồng bằng miền Trung Java, cây hẹ thường bị phá hủy do sự

phá hoại nặng nề của Thrips tabaci (Lindeman), đặc biệt là trong mùa khô Bọ trĩ

thường kiếm ăn ở mặt dưới của lá Chúng hút các dịch bên trong của mô tế bào thực vật, kết quả là không gian không khí phát triển trong các mô này và lá trở nên méo mó Lá bị hư hỏng thường xuyên tạo thành những đốm bạc nhỏ li ti (dẫn theo Sastrosiswojo, 1991)

1.2.3 Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ

1.2.3.1 Biện pháp hóa học

Biện pháp phòng trừ bọ trĩ bằng thuốc trừ sâu thường khó khăn vì chúng

có cơ thể nhỏ và ẩn náu ở những nơi kín đáo Theo Cermeli et al (1993), trên cây

đậu côve 11 loại thuốc đã được kiểm tra, kết quả cho thấy Flufiloxuron 11, Imidaclopid 11, Chlofluazuron và oxamy là những loại thuốc có triển vọng, đúng yêu cầu và hiệu quả nhất Nhưng khi quan sát thì không có loại thuốc nào có hiệu quả trên 81.5% Bọ trĩ ăn trên bề mặt mô lá, vì thế các thuốc tiếp xúc, vị độc tỏ ra

có hiệu quả hơn các loại thuốc nội hấp (Kuepper, 2004) Theo tác giả Bounier

(1987) thành phần chất hoạt động hiệu quả nhất trong phòng chống Thrips palmi

là Profenofos, Avermectin, Abamectin và Carbofuran Theo Hazara et al (1999)

Trang 17

nước nghiền lá thuốc lá và thuốc có hoạt chất Methamidophose đều có hiệu lực

cao với bọ trĩ Thrips tabaci trên cây hành ở Dhalar

1.2.3.2 Biện pháp quản lý bọ trĩ

Theo Kawai and Kitamura (1999), đã nghiên cứu ảnh hưởng của quần thể

bọ trĩ và mức thiệt hại do chúng gây ra, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ và đã có những kết luận: Hiệu quả của 4 phương pháp phòng trừ bọ trĩ

T palmi trên cà tím và ớt ngọt ở 25oC đã đánh giá được việc dùng phương pháp quây nilon tổng hợp đã có hiệu quả phòng trừ cao Những phương pháp được dùng là thuốc trừ sâu, phương pháp quây nilon để ngăn cản sự lây lan, dùng số lượng lớn bẫy dính màu vàng để thu hút bọ trĩ trưởng thành

1.2.3.3 Biện pháp cơ giới

Cỏ dại và các loại cây trồng khác trong hệ sinh thái đồng ruộng làm suy giảm hoặc gia tăng số lượng quần thể bọ trĩ, sự thay đổi mùa vụ, vùng sản xuất cũng là yếu tố tác động lớn đến sự thiết lập hay làm giảm số lượng quần thể cũng như mức độ gây hại của chúng

Theo Kueppe (2004), việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể hạn chế sự phát triển mạnh của chúng

Trong thực tế bọ trĩ không phải là vấn đề đáng lo ngại trong mùa mưa Bởi

vì, mưa giúp rửa trôi một lượng đáng kể bọ trĩ cũng như côn trùng nhỏ trên cây, mật độ bọ trĩ thường đạt cao nhất vào cuối mùa khô (Rueda and Shelton, 1995)

Bọ trĩ khi di chuyển khoảng cách xa phải nhờ gió vì vậy những ruộng gieo sau nên bố trí phía đầu gió so với các ruộng đã gieo để hạn chế sự lây lan của bọ trĩ vào ruộng mới trồng (Rueda and Shelton, 1995)

Việc tiêu hủy cỏ dại trên đồng ruộng cũng có thể làm giảm mật độ bọ trĩ vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Kuepper, 2004)

Bọ trĩ có tính dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc, những nghiên cứu ở Loiuisiana

đã chỉ ra rằng loại màng phủ được tráng nhôm có tính phản quang có khả năng làm giảm mật độ bọ trĩ từ 33% đến 68% (Quarles and William, 1990)

Trang 18

1.2.3.4 Biện pháp canh tác học

Việc tiến hành quản lý cây trồng theo IPM giúp tăng cường sự sinh trưởng của cây, giảm sự tấn công của dịch hại bọ trĩ và đôi khi có thể hạn chế sử dụng các biện pháp hóa học Các biện pháp có lợi có thể áp dụng lâu dài như: luân canh cây trồng, canh tác, tưới tiêu, thời gian gieo trồng và thu hoạch, khoảng cách cây và xen canh thích hợp

Biện pháp luân canh có hiệu quả giúp hạn chế các loài sống trong đất hoặc trên tàn dư cây trồng

Theo Weber et al (1998), xen canh có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh

và các côn trùng gây hại trên nhiều loại rau Việc trồng xen với cây ngũ cốc (không phải là ký chủ của bọ trĩ) có thể giảm sự gây hại của bọ trĩ trên cây trồng

chính Ở Anh, khi xen canh giữa hành và cà rốt, mức độ nhiễm bọ trĩ Thrips tabaci giảm tới 50% Khi trồng xen bắp cải với cỏ 3 lá có thể làm mật độ quần

thể bọ trĩ Thrips tabaci giảm 10 lần so với trồng độc canh

Pedigo (1987), nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp sinh học phòng

chống bọ trĩ T palmi Tác giả cho rằng sự xuất hiện lại của loài dịch hại này ở

Đông Nam Á trong 10 năm qua là do việc tiêu diệt thiên địch của chúng khi sử dụng thuốc trừ sâu lặp đi lặp lại nhiều lần Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến bọ xít

bắt mồi Orius sp được Nagai (1990) nghiên cứu ở Nhật Bản

Các loài ong kí sinh được biết đến nhiều nhất thuộc các họ: 2 họ ong kí

sinh là Eulophidae và Trichogrammatidae đã được nhân nuôi và đưa ra sản xuất

như những sản phẩm thương mại đặc dụng trong phòng trừ bọ trĩ trong nhà kính

(Hoodle, 2000) Ong kí sinh Ceranisus menes (Hymenoptera: Eulophidae), được

Trang 19

Murai and Loomans (2001), đánh giá là tác nhân sinh học mang lại hiệu quả phòng

trừ cao với các loài bọ trĩ: F Intonsa, F Occidentalis, T Palmi và T Tabaci

1.3 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, trước đây bọ trĩ được coi là sâu hại thứ yếu đối với ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất rau nói riêng.Việc thâm canh cây trồng bằng cách sử dụng nhiều phân đạm để tăng năng suất nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho nhiều loài sâu bệnh hại phát triển Dó đó việc sử dụng nhiều thuốc để phòng trừ các loài dịch hại đó, đồng thời cũng tiêu diệt một số kẻ thù tự nhiên của sâu hại, dẫn đến các loài côn trùng có kích thước nhỏ bé như bọ trĩ chiếm ưu thế cao trong quần thể sinh vật từ đó dẫn đến sự bùng nổ về số lượng, gây hại nghiêm trọng và đã trở thành sâu hại chủ yếu trên đồng ruộng Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về bọ trĩ được tiến hành trên các loại cây trồng khác nhau: Lạc, dưa hấu, xoài, khoai tây, hoa cúc, cam quýt, đậu trạch, lúa, bông, ớt, dưa chuột, nho… đã ghi nhận được khá nhiều loài với mật độ gây hại khác nhau

1.3.1 Những nghiên cứu về thành phần bọ trĩ

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Thắng (2011), thành phần bọ trĩ

hại cây lạc trong năm 2008 - 2010 tại Nghệ An gồm 9 loài: Frankliniella intonsa Trybom, Frankliniella schultzei Trybom, Megalurothrips sjostedti Trybom, Megalurothrips usitatus Bagnall, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips palmi Karny, Thrips tabaci Lindeman, Thrips hawaiiensis Morgan và Haplothrips gowdeyi Franklin

Trên đậu rau tại vùng Gia Lâm, Hà Nội, Yorn Try (2003), đã xác định được

4 loài bọ trĩ gây hại: Frankliniella sp., Caliothrips sp., Scirtothrips dorsalis Hood

và Thrips palmi Karny Trong đó, Thrips palmi Karny gây hại chủ yếu trên lá, ngọn cây còn Frankliniella sp Bắt đầu có mặt khi cây bước vào giai đoạn ra hoa

Còn trên dưa chuột tại vùng Gia Lâm, Hà Nội, Yorn Try (2008), đã xác

định được 7 loài bọ trĩ gây hại là: Thrips palmi Karny, Thrips parvispinus Karny, Thrips flavus Schrank, Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa

Trang 20

Thrips palmi là loài gây hại chủ yếu xuất hiện quanh năm với mức độ phổ biến cao nhất, tấn công lên lá, chồi và hoa

Nguyễn Văn Hùng (2013) cũng cho biết thành phần bọ trĩ hại dưa chuột

tại huyện Kim Bảng, Hà Nam vụ Xuân năm 2013 gồm 4 loài: Thrips palmi Karny, Thrips flavus Schrank, Thrips tabaci Linederman và Frankliniella occidentalis pergande trong đó Thrips palmi Karny là loài gây hại chủ yếu xuất

hiện quanh năm với mức độ phổ biến cao nhất

Cây khoai tây là loại rau được trồng nhiều và phổ biến ở vụ Đông cũng đã phát hiện bị bọ trĩ gây hại nghiêm trọng trong những năm gần đây Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Lợi (2001) thì thành phần bọ trĩ hại khoai tây chính là

Thrips palmi Karny

Theo Hà Quang Hùng và cs (2005), có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên

hoa cúc: Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella intonsa Trybom, Scirtothrips dorsalis Hood và Frankliniella sp., trong đó có 3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là Thrips tabaci, Thrips flavus, Frankliniella intonsa.

Nguyễn Thị Minh Hằng (2007) lại cho biết thành phần bọ trĩ hại hoa cúc

xuất nhập khẩu tại Hà Nội gồm 5 loài phổ biến: Thrips palmi Karny, Thrips hawaiiensis Morgan, Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa Trybom và Scirtothrips dorsalis Hood

Theo Hà Thanh Hương và cs (2007), thành phần bọ trĩ trên hoa cúc có tiềm năng xuất khẩu ở Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội chủ yếu tập trung ở họ

Thripidae, trong đó có loài Thrips hawaiiensis và loài Frankliniella intosa xuất

hiện phổ biến trên cúc trắng và cúc vàng

Nguyễn Việt Hà (2008) cho biết Tại Hải Phòng vụ Xuân 2008 thành phần

bọ trĩ hại hoa hồng gồm 3 loài: Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood

và Frankliniella intonsa Trybom; còn thành phần bọ trĩ hại hoa cúc gồm 5 loài là : Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips hawaiiensi Morgan, Thrips sp và Frankliniella intonsa Trybom

Nghiên cứu về thành phần bọ trĩ hại bông của Hoàng Anh Tuấn (2002)

cho thấy ở Việt Nam tại vùng Ninh Thuận có 3 loài bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis

Trang 21

Hood, Thrips palmi Karny, Ayyarria chaetophora Karny) gây hại trên cây bông Trong đó Thrips palmi là đối tượng gây hại quan trọng nhất khi cây bông ở giai

đoạn cây con và về sau mật độ của chúng giảm dần

Theo Hà Thanh Hương và cs (2008) cho biết kết quả điều tra thành phần

bọ trĩ hại xoài ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam gồm 4 loài: Haplothrips leucanthemi Schrank, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips coloratus Schmutz và Thrips hawaiiensis Morgan

Nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng tại Ninh Bình, Hà Thanh Hương và cs

(2008) cho biết thành phần bọ trĩ gồm 9 loài: Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa Trybom, Megalurothrips mucunae Priesner, Megalurothrips usitatus Bagnall, Microcephalothrips abdominalis Crawford, Thrips hawaiiensis Morgan, Thrips palmi Karny, Thrips tabaci Linderman và Haplothrips gowdeyi Franklin

Theo Nguyễn Thị Thanh Nga (2010) cho biết thành phần bọ trĩ hại hoa

hồng, hoa dừa cạn tại Lăng Bác Hồ gồm: Thrips palmi Karny, Frankliniella intonsa Trybom, Thrips tabaci Linderman, và Scirtothrips dorsalis Hood

Theo Vũ Ngọc Anh và Hà Thanh Hương (2013), thành phần bọ trĩ trên

rau gia vị tại một số địa điểm ở Hà Nội gồm: Thrips hawaiiensis Morgan, Haplothrips gowdeyi Franklin, Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella intonsa Trybom, Haplothrips sp

1.3.2 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ

1.3.2.1 Biện Pháp hóa học

Trong thực tế, sử dụng thuốc hóa học vẫn là biện pháp chủ yếu được nghiên cứu và sử dụng trong phòng trừ bọ trĩ trên nhiều loại cây trồng

Theo Trần Thị Tuyết (2005), khi thử nghiệm một số thuốc: Tập kỳ 1,8EC,

Arrivo 10EC, Actara 25WG và Spinosad với Thrips palmi trên lá bí xanh, đã cho

rằng Actara có hiệu lực phòng trừ nổi trội so với các loại thuốc kia Thuốc Spinosad cũng có hiệu lực phòng trừ bọ trĩ tương đương Actara mặc dù thuốc không có tác dụng nhanh nhưng hiệu lực kéo dài

Theo Hà Quang Hùng và cs (2005), các thuốc như Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt

Trang 22

Theo Yorn Try (2008) chỉ rõ thuốc Marshal 200SC có hiệu lực cao nhất

trong phòng chống bọ trĩ Thrips palmi, sau đó lần lượt là các thuốc Amico

10EC, Conphai 10WP và Regent 800WP Trong số các loại thuốc có nguồn gốc sinh học thì Alphatin 1,8EC là có hiệu lực cao nhất, tiếp theo là Abatimec 3,6E, Thần tố 78DD

1.3.2.2 Biện pháp quản lý tổng hợp

Theo Hà Quang Dũng (2002), để phòng chống bọ trĩ Franhkliniell intonsa Trybom và Scirtothrips dorsalis Hood hại cam quýt đạt hiệu quả cần thực hiện

phối hợp các biện pháp canh tác, hóa học, sinh học một cách hợp lý:

+ Từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau phát quang diệt cỏ dại đặc biệt là hoa đơn buốt và ký chủ phụ khác của bọ trĩ xung quanh vườn cam quýt

+ Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học có tính chọn lọc cao để bảo vệ thiên địch

+ Chăm sóc, bón phân kết hợp phòng chống sâu hại khác

Theo Yorn Try (2008) để phòng trừ bọ trĩ Thrips palmi hại trên dưa

chuột có thể:

+ Chọn giống dưa chuột Sokhun 701 trồng từ giữa tháng 02 đến đầu tháng

03, kết hợp giữ độ ẩm của đất hoặc cho nước vào rãnh giai đoạn cây được 7 lá

+ Giai đoạn trước khi ra hoa, nếu mật độ bọ trĩ Thrips palmi từ 15 con/ lá

trở lên có thể xử lý bằng thuốc Marshal 200SC, giai đoạn ra hoa đến trước thu

hoạc lứa đầu tiên nếu mật độ Thrips palmi vượt ngưỡng trên tiến hành phun

thuốc có nguồn gốc sinh học Alphatin 1.8 EC

+ Quây nilon xung quanh ruộng dưa chuột cao 1,5 m tính từ mặt đất có thể hạn chế được sự phát tán gây hại của bọ trĩ trên ruộng dưa chuột giảm 5% và đồng thời có tác dụng ngăn cản khả năng truyền bệnh của chúng

Theo Nguyễn Văn Hùng (2013) đã kết luận biện pháp phòng trừ bọ trĩ T

xung quanh ruộng dưa chuột có thể làm giảm mật độ của bọ trĩ T palmi 9,04%

so với ruộng không quây nilon Dùng bẫy dính màu vàng ngay từ giai đoạn cây con có thể làm giảm mật độ bọ trĩ 20 %, tỷ lệ hại 16,9%

Trang 23

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bọ trĩ hại chủ yếu trên các loại rau gia vị tại Thường Tín, Hà Nội

- Vật liệu nghiên cứu gồm 10 loại rau gia vị là: húng quế, húng Láng, tía

tô, kinh giới, ngải cứu, lá mơ, rau răm, hành, sả, mùi tàu

Nhóm rau theo nhu cầu

sử dụng

Tên rau (Việt Nam)

Tên rau (Khoa học)

Nhóm rau ăn thân, lá

Rau răm Persicaria odorata

Nhóm rau ăn lá

Húng Láng Mentha aquatic

Kinh giới Elsholtzia ciliate

Ngải cứu Artemisia vulgaris

- Dụng cụ nghiên cứu:

+ Khay nhựa mầu trắng đục để thu thập mẫu

+ Lọ đựng, bảo quản mẫu bọ trĩ (ống eppendorf)

+ Túi nilon có mép dán kín

+ Bút lông, bút chì, giấy ghi địa điểm thu mẫu, sổ ghi chép

+ Kính lúp soi nổi và kính hiển vi huỳnh quang quan sát các đặc điểm hình thái của bọ trĩ trưởng thành

+ Lam phẳng, lam lõm, lamen để làm mẫu tiêu bản bọ trĩ, giấy thấm, panh, kéo, kim lên tiêu bản, cốc đong, nồi, bếp điện, tủ lạnh

+ Cồn 70°, dung dịch NaOH 5%, Glycerine, nước cất

Trang 24

+ Thuốc bảo vệ thực vật, bình bơm, nilon…

Hình 2.1 Dụng cụ

thu mẫu

Hình 2.2 Kính lúp soi nổi và kính hiển vi

Hình 2.3 Một số dụng cụ, hóa chất, mẫu thu được

Hình 2.4 Nồi, bình tam giác

(cốc đong), bếp điện

Hình 2.5 Lam lõm

(Nguồn ảnh: Nguyễn Thị Mơ, 2014)

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Vùng sản xuất rau gia vị tại xã Tân Minh - Thường Tín – Hà Nội

+ Phòng thí nghiệm NH6, Khoa Nông học, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam; Phòng Côn trùng, Trung tâm giám định kiểm dịch thực vật, Cục BVTV

- Thời gian nghiên cứu:

+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 08/2014 đến tháng 10/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, xác định thành phần bọ trĩ trên 10 loại rau gia vị: Húng quế, húng Láng, tía tô, kinh giới, ngải cứu, lá mơ, rau răm, hành, sả, mùi tàu

- Xác định đặc điểm hình thái của một số loài bọ trĩ chủ yếu gây hại rau gia vị

Trang 25

- Điều tra diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số rau gia vị: Húng quế, tía

tô, kinh giới

- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây tía tô: Quây nilon

và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra ngoài đồng ruộng

2.4.1.1 Phương pháp điều tra thu thập thành phần bọ trĩ

Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng - QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT và phương pháp thu thập bọ trĩ ngoài đồng của Mound (2007)

- Thời gian điều tra lấy mẫu: định kỳ 7 ngày/lần, điều tra liên tục theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây rau gia vị có liên quan đến sự xuất hiện và gây hại của bọ trĩ Số lượng mẫu càng nhiều càng tốt Tiến hành thu mẫu

bổ sung trên ruộng rau gia vị quanh điểm nghiên cứu

Trên khu ruộng điều tra thu thập bọ trĩ, chọn 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên đường chéo của khu vực điều tra Điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2 m, điều tra

0

Trang 26

giai đoạn sinh trưởng, bộ phận thu mẫu vào ống Các mẫu vật này được mang về phòng thí nghiệm để xác định thành phần loài

Đối với các cây còn lại ở giai đoạn cây con tiến hành thu mẫu bằng cách dùng túi nilon có mép dán ( kích thước 0.04 x 300 mm x 400 mm) từ từ chùm lên cả cây, sau đó dùng kéo cắt bỏ gốc và bịt chặt lại Mẫu sau khi thu được mang về phòng thí nghiệm cho vào khay đá 10-15 phút cho bọ trĩ ngất lịm rồi rũ nhẹ vào khay màu trắng, nhẹ nhàng dùng bút lông thu bọ trĩ đặt vào ống eppendorf có chứa cồn 700 ngoài có ghi nhãn như trên

Hình 2.6 Ruộng tía tô Hình 2.7 Thu mẫu trên cây tía tô

Hình 2.8 Thu mẫu trên hành Hình 2.9 Một số mẫu thu được

- Các chỉ tiêu cần điều tra

+ Tên loài bọ trĩ gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học)

+ Độ thường gặp của từng loài bọ trĩ trên từng loại rau gia vị trong thời gian nghiên cứu

+ Mức độ phổ biến của bọ trĩ ở mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây trồng theo độ thường gặp của loài bọ trĩ cần xác định

Mức độ phổ biến của sâu hại được đánh giá bằng chỉ tiêu:

Trang 27

Số lần bắt gặp cá thể của mỗi loài

Độ thường gặp (OD %)= x100

Tổng số lần điều tra

Trong đó:

+++ : Rất phổ biến (OD >50%) ++ : Phổ biến (OD 25 - 50%) + : Ít phổ biến (OD 5 – 25%)

- : Rất ít gặp (OD <5%)

2.4.1.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ của bọ trĩ

Chọn ruộng điển hình cho 3 loại rau là húng quế, kinh giới, tía tô Tiến hành điều tra mật độ bọ trĩ với 10 điểm theo đường chéo của ruộng điều tra, mỗi điểm thu ngẫu nhiên 10 búp (giai đoạn cây con – thu hoạch búp gồm cả lá thứ 2,3

kể từ ngọn – Hình 2.11), (giai đoạn ra hoa - tạo hạt búp gồm hoa và hai lá liền kề) định kỳ 7 ngày một lần, theo suốt các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây rau gia vị

Thu thập mẫu bọ trĩ: dùng túi nilon có mép dính (kích thước: 0.04 x 140mm x100mm) nhẹ nhàng chùm lên búp lá, sau đó dùng kéo cắt và dán mép túi lại Mẫu sau khi thu được mang về phòng thí nghiệm cho vào khay đá 10 - 15 phút cho bọ trĩ ngất lịm rồi rũ nhẹ vào khay màu trắng, nhẹ nhàng dùng bút lông thu và đếm số lượng bọ trĩ, đồng thời mẫu bọ trĩ được bảo quản trong ống eppendorf có cồn 700(mỗi điểm một ống), ghi rõ nhãn như trên, 10 ống của mỗi ruộng cho vào từng túi nilon riêng

Hình 2.10 Thu mẫu

Kinh giới

Hình 2.11 Mẫu vật thu được

Hình 2.12 Thu mẫu

Tía tô

Trang 28

2.4.2 Phương pháp giám định mẫu

a) Phương pháp làm mẫu tiêu bản bọ trĩ

Để phân loại bọ trĩ, các tác giả Mound and Kibby (1998), Hà Quang Hùng và cs (2005) đã tiến hành phân loại trên cá thể trưởng thành và được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Phân loại sơ bộ

Toàn bộ mẫu bọ trĩ thu thập được cho vào lam lõm và đặt dưới kính lúp soi nổi Tiến hành tách những cá thể có đặc điểm hình thái bên ngoài giống nhau cho vào cùng trong một ống eppendorf có chứa sẵn cồn 700 Thông tin địa điểm, cây kí chủ, ngày thu mẫu được tiến hành ghi trên nhãn theo từng ống

Bước 2: Chuẩn bị mẫu làm tiêu bản

- Từ mẫu phân loại sơ bộ ở bước 1, tiến hành tách các cá thể cái ra riêng từng ống và ghi thông tin mẫu cũng được thực hiện như Bước 1

- Làm sạch mẫu trước khi lên tiêu bản bằng cách đun cách thủy:

+ Cho các cá thể bọ trĩ ở bước 2 vào cốc đong có chứa NaOH 5% + Sau đó cho cốc đong vào nồi nước ngập bằng 1/3 cốc đong Cho lên bếp điện đun sôi lăn tăn cho đến khi cá thể bọ trĩ chìm hết dưới đáy cốc Sau

đó tiến hành lấy mẫu bọ trĩ ra khỏi dung dịch và rửa sạch hết mỡ thừa và tạp chất bằng nước cất

Bước 3: Lên tiêu bản mẫu bọ trĩ

+ Mẫu sau khi rửa sạch được đưa vào ống eppendorf có chứa sẵn dung dịch cồn 700

+ Lấy một giọt Glycerine (đủ lớn) cho lên lamen và đặt bọ trĩ vào giữa giọt Glycerine đó, dùng bút lông hoặc kim côn trùng điều chỉnh cho hai cánh dang đều, đầu và râu đầu thẳng, nhẹ nhàng hạ thấp lam kính (hạ lam kính song song với lamen) Đảo ngược lam ngay sau khi giọt Glycerine đã lan rộng đầy đủ

Bước 4: dán 2 nhãn lên lam

Nhãn 1 ghi ngày thu mẫu, địa điểm thu mẫu, người thu mẫu

Nhãn 2 ghi tên khoa học, tên Việt Nam loài bọ trĩ và ký chủ

Trang 29

Hình 2.13 Ghi nhãn tiêu bản mẫu bọ trĩ b) Phương pháp định loại bọ trĩ

Mẫu vật bọ trĩ thu thập ở ngoài đồng, sau khi lên lam đạt tiêu chuẩn tiến hành soi trên kính hiển vi có độ phóng đại từ 10 đến 100 lần và chụp các đặc điểm phân loại được trình bày dưới đây: Màu sắc cơ thể, số lượng đốt râu, kiểu râu đầu, các vị trí lông cũng như số lượng mảnh trên đầu, mảnh lưng ngực trước, mảnh lưng giữa, mảnh lưng ngực sau và cánh; quan sát các đốt bụng, đặc biệt đốt bụng thứ VIII, số lượng và chiều dài lông ở đốt bụng cuối (ống đẻ trứng), lỗ thở, vị trí hàng lược,…

Dựa vào khóa phân loại của Mound L.A, cùng với sự giúp đỡ của TS Phạm Hồng Thái để xác định chính xác tên loài

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ bọ trĩ hại rau gia vị

Mật độ bọ trĩ được tính theo công thức:

Tổng số bọ trĩ thu được

Mật độ bọ trĩ (con/búp ) =

Tổng số búp điều tra

2.4.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ trên cây Tía tô

2.4.4.1 Phương pháp quây nilon quanh ruộng

Bố trí thí nghiệm 2 công thức 3 lần nhắc lại

Công thức 1: quây nilon (quây nilon cao 0,8 m tính từ mặt đất) nhằm hạn chế sự phát tán của bọ trĩ

Công thức 2: đối chứng không quây nilon

Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh theo sơ đồ sau:

Trang 30

Hình 2.14 Sơ đồ thí nghiệm phương pháp quây nilon quanh ruộng

Tiến hành điều tra sự khác nhau về mật độ bọ trĩ giữa các công thức theo các giai đoạn sinh trưởng của cây tía tô

(Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 30 m2)

Thời gian tiến hành thí nghiệm từ ngày 30/03/2015 đến ngày 04/07/2015

2.4.4.2 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng

Các loại thuốc được dùng để thử nghiệm là các thuốc bảo vệ thực vật được khuyến cáo là trừ bọ trĩ tốt, hiện đang bán rộng rãi trên thị trường, nằm trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng phòng trừ bọ trĩ trên một số đối tượng cây trồng trong đó có cây rau (Danh mục của Cục bảo vệ thực vật theo Thông tư 03/2015/TT-BNNPTNT) để làm thí nghiệm

Việc thử nghiệm tiến hành khi mật độ bọ trĩ vượt ngưỡng (>30% số cây bị bọ trĩ hại) trên ruộng trồng tía tô tại xã Tân Minh – Thường Tín – Hà Nội

Tổng số cây bị hại

Tỷ lệ cây bị hại (%) = x 100

Tổng số cây điều tra

Phun trực tiếp dung dịch thuốc đã pha theo nồng độ khuyến cáo lên tán cây tía tô bằng bình phun tay 2 lít

Ngày phun thuốc: 12/05/2015

Điều tra mật độ bọ trĩ trước phun 1 ngày và sau phun 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày

Trang 31

Thí nghiệm 4 công thức với 3 lần nhắc lại, diện tích của mỗi ô thí nghiệm là 30

m2 và các công thức được sắp xếp theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

Hình 2.15 Sơ đồ thí nghiệm khảo sát hiệu lực của 3 loại thuốc trừ bọ trĩ Bảng 2.1 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ và nồng độ, liều lượng sử dụng

Liều lượng

sử dụng (g, l/ha)

1 Bafurit 5.0WG Emamectin benzoate 5% 100 g/ha

2 TP – Thần tốc 16.000 IU Bacillus thuringensis var T36 400 g/ha

ĐC Phun nước lã

Ghi chú đặc tính của từng loại thuốc Thí nghiệm:

+ Bafurit 5.0WG có tác động tiếp xúc, vị độc, nội hấp

+ Thần tốc 16.000 IU là thuốc có nguồn gốc sinh học, có tác động tiếp xúc, vị độc

+ Sokupi 0,36SL Là thuốc có nguồn gốc thảo mộc được chiết xuất từ cây khổ sâm có tác dụng tiếp xúc, vị độc và thấm sâu, không có tác dụng nội

hấp và xông hơi

- Hiệu lực của thuốc ngoài đồng được tính theo công thức Henderson Tilton

Trang 32

Ta x Cb

H (%) = ( 1- -) x 100

Ca x Tb Trong đó: H: Hiệu lực của thuốc

Ta: Mật độ bọ trĩ sống ở công thức xử lý thuốc sau phun

Tb: Mật độ bọ trĩ sống ở công thức xử lý thuốc trước phun Ca: Mật độ bọ trĩ sống ở công thức đối chứng sau phun Cb: Mật độ bọ trĩ sống ở công thức đối chứng trước phun

2.4.5 Phương pháp tính toán

Toàn bộ số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm EXCEL và phần mềm thống kê sinh học IRRISTAT 5.0

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần một số loài bọ trĩ trưởng thành trên rau gia vị

Sau thời gian điều tra nghiên cứu ở khu vực huyện Thường Tín, Hà Nội chúng tôi đã phát hiện được một số loài bọ trĩ trên các loại ký chủ khác nhau Kết quả được thể hiện trong bảng 3.1 dưới đây:

Bảng 3.1 Thành phần bọ trĩ trên rau gia vị tại Thường Tín, Hà Nội năm 2014

đó có 8 loài thuộc họ Thripidae, bộ phụ Terebrantia; 1 họ Phlaeothripidae, phân

bộ Tubulifera chúng đều thuộc bộ Thysanoptera Đặc biệt trong quá trình điều tra nghiên cứu, chúng tôi phát hiện và bổ sung được 4 loài bọ trĩ khác với các kết quả công bố trước đây của Vũ Ngọc Anh và Hà Thanh Hương (2012) đó là các

loài: Megalulothrips sp., Thrips tabaci Linderman, Anaphothrips sudanensis Trybom, Selenothrips rubrocinctus Giard

Hai loài Scirtothrips dorsalis Hood và loài Haplothrips sp xuất hiện với mức độ rất phổ biến, loài Thrips hawaiiensis Morgan, Frankliniella intonsa

Trang 34

Trybom, Megalulothrips sp và Thrips tabaci Linderman xuất hiện với mức độ phổ biến, loài Frankliniella occidentalis Pergande, Anaphothrips sudanensis Trybom

và loài Selenothrips rubrocinctus Giard xuất hiện với mức độ ít phổ biến

3.2 Đặc điểm phân loại của các loài bọ trĩ trên một số loại rau gia vị tại Thường Tín, Hà Nội

3.2.1 Loài Scirtothrips dorsalis Hood, họ Thripidae, bộ Thysanoptera

- Cơ thể mới vũ hóa màu trắng hoặc vàng nhạt, sau chuyển thành màu vàng và có thể đến vàng đậm, giữa bụng có màu đậm (hình 3.1A)

- Đầu có 1 đôi lông rất phát triển nằm giữa 2 mắt đơn phía sau, các lông còn lại nhỏ và ngắn (hình 3.1B)

- Râu đầu có 8 đốt, cả 8 đốt đều màu nâu nhạt (đậm hơn màu của cơ thể

trưởng thành Scirtothrips dorsalis (hình 3.1C)

- Mảnh lưng ngực trước có 3 đôi lông dài ở mép sau (hình 3.1D)

- Mảnh lưng ngực giữa có những nếp sọc ngang chạy dài Lông ở mảnh lưng ngực sau không nằm sát mép trước

- Cánh trước có lông ở mép trước, trên gân có 12 lông ngắn nằm dọc theo gân của cánh (hình 3.1E)

- Đốt bụng thứ V – VII có những hàng lông nhỏ ở 2 bên sườn, các nếp gân xếp thành từng lớp liên tiếp nhau (đây là đặc điểm phân biệt của giống Scirtothrips ) (hình 3.1F)

- Ống đẻ trứng có dạng như hình 3.1G

A TT S.dorsalis Nguồn: Skarlinsky (2004)

Trang 35

B Đầu S.dorsalis Nguồn: Mound and Palmer (1981)

C Râu đầu S.dorsalis D Ngực trước S.dorsalis

G Ống đẻ trứng

Hình 3.1 Đặc điểm hình thái của loài Scirtothrips dorsalis Hood

Trang 36

3.2.2 Loài Haplothrips sp., họ Phlaeothripidae, bộ Thysanoptera

A TT Haplothrips sp B.Đầu Haplothrips sp

C Ngực trước D Mảnh lưng ngực sau

E Cánh trước Haplothrips sp Nguồn: Palmer, Mound and Heause (1989)

F Ống đẻ trứng Nguồn: Palmer, Mound and Heause (1989)

Hình 3.2 Đặc điểm hình thái của loài Haplothrips sp

Trang 37

- Cơ thể màu nâu sẫm (hình 3.2A)

- Râu đầu 8 đốt; các đốt dài và mảnh, đốt thứ VI, VII, VIII và đốt gốc màu đậm, đốt thứ II đậm nhưng nhạt phần sát với đốt thứ III; Đốt thứ III đến đốt thứ

IV màu nhạt, đốt thứ V đậm nhưng nhạt phần sát với đốt thứ IV Đầu có chiều dài dài hơn chiều rộng, có đôi lông ở dưới 2 mắt kép (hình 3.2B)

- Mảnh lưng ngực trước có 2 đôi lông ở mép trước và 2 đôi lông ở mép sau (hình 3.2C)

- Giữa mảnh lưng ngực sau xương hình chữ U (hình 3.2 D)

- Cánh trước và cánh sau: Không màu, chính giữa gân cánh có đường kẻ dài màu sậm (đường kẻ ở gân cánh sau nhạt hơn đường kẻ ở gân cánh trước ), có lông dài xung quanh cánh (hình 3.2E)

- Đốt cuối bụng kéo dài dạng ống (hình 3.2F)

3.2.3 Loài Thrips hawaiiensis Morgan, họ Thripidae, bộ Thysanoptera

- Cơ thể dài khoảng 1,5 mm; màu nâu nhạt hoặc có 2 màu (đầu và ngực màu vàng đến da cam, bụng màu nâu); phủ lông màu nâu (hình 3.3A)

- Râu đầu 8 đốt, màu nâu, nhưng đốt thứ III và gốc đốt thứ IV màu vàng hoặc nâu nhạt, đốt thứ V có màu vàng ở phần gần với đốt thứ IV và có màu nâu ở phần gần với đốt thứ VI (hình 3.3B)

- Đầu chiều rộng lớn hơn chiều dài; không có lông đuôi ở gần với mắt đơn thứ nhất, vòng quanh phía dưới 2 mắt kép là các lông ngắn (hình 3.3C)

- Mảnh lưng ngực trước có 2 đôi lông dài ở góc mép sau, 3 hoặc 4 đôi lông nhỏ hơn chạy dọc theo mép sau, trên bề mặt có rất nhiều lông nhỏ (hình 3.3D)

- Giữa mảnh lưng ngực sau có 1 đôi lông nằm gần mép trước (hình 3.3E)

- Cánh trước màu nâu, gốc cánh màu nhạt; hàng gân thứ nhất của cánh trước có 3 lông nằm ở khoảng giữa cánh đến ngọn cánh (hình 3.3F)

- Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ VIII có hàng lông dạng lược ngắn và mảnh; mảnh lược (ctenidia) nằm sau lỗ thở tính từ mép bụng vào giữa bụng (hình 3.3G)

- Ống đẻ trứng của trưởng thành cái có dạng như hình 3.3H

Trang 38

A TT T.hawaiiensis B Râu đầu

C.Đầu T.hawaiiensis D Mảnh lưng ngực trước

G Mảnh lưng đốt bụng thứ VIII H Ống đẻ trứng

Hình 3.3 Đặc điểm hình thái loài Thrips hawaiiensis Morgan

Trang 39

3.2.4 Loài Frankliniella intonsa Trybom, họ Thripidae, bộ Thysanoptera

A TT cái F.intonsa B Đầu F.intonsa Nguồn: Palmer, Mound

and Heause (1989)

C Râu đầu F.intonsa Nguồn: Palmer, Mound

and Heause (1989)

D Ngực trước F.intonsa

E.Ngực sau F.intonsa F Cánh F.intonsa G Ống đẻ trứng F.intonsa

Hình 3.4 Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom

- Cơ thể dài khoảng 1,5 đến 1,7 mm; phần đầu và ngực màu vàng sẫm, phần bụng màu nâu đen (hình 3.4A)

- Đầu chiều rộng lớn hơn chiều dài, phình ra ở phần gốc Ở giữa 2 mắt đơn

có đôi lông rất phát triển (hình 3.4B)

Trang 40

thứ III – V màu vàng đậm, đỉnh đốt IV và đốt V màu nâu đậm, đốt VI – VIII màu nâu, đốt râu III và IV đều có cơ quan cảm giác chia 2 nhánh (hình 3.4C)

- Trên mảnh ngực trước có 5 đôi lông dài, 2 đôi lông ở mép trước và 3 đôi lông ở mép sau gần bằng nhau Đôi lông ở giữa của mép sau kém phát triển hơn (hình 3.4D)

- Mảnh lưng ngực sau có 1 đôi lông dài và 1 đôi lông ngắn nằm sát mép trước (hình 3.4E)

- Cánh trước màu vàng, trên gân có 2 hàng lông cứng, dài, liên tiếp nhau khá rõ và màu đậm, diềm lông mép sau lượn sóng (hình 3.4F)

- Ống đẻ trứng của trưởng thành cái có dạng như hình 3.4G

3.2.5 Loài Frankliniella occidentalis Pergande, họ Thripidae, bộ Thysanoptera

- Cơ thể dài khoảng 1,5 mm; màu sắc cơ thể thay đổi từ vàng đến vàng xám đậm; phần đầu và ngực màu vàng sẫm, phần bụng màu vàng đậm về phần đuôi (hình 3.5A)

- Đầu có chiều rộng lớn hơn chiều dài; giữa 2 mắt đơn có 1 đôi lông phát triển ; dưới 2 mắt kép cũng có 1đôi lông dài (hình 3.5B)

- Râu đầu 8 đốt: Đốt gốc, đốt II, đốt VI, đốt VII và VIII mầu đậm; đốt III,

IV màu nhạt; đốt V có màu nhạt phần giáp với đốt IV và đậm hơn ở phần giáp với đốt VI (hình 3.5C)

- Trên mảnh lưng ngực trước có 5 đôi lông cứng, 2 đôi ở mép trước và 3 đôi ở mép sau, các đôi lông này rất phát triển và dài gần bằng nhau (hình 3.5D)

- Trên mảnh lưng ngực sau có 2 đôi lông cứng phát triển, 1 đôi ở giữa dài hơn và 1 đôi ở 2 bên ngắn hơn (hình 3.5E)

- Cánh rất phát triển có lông tơ màu xám đến đen, trên cánh có 2 hàng lông ngắn, cứng mọc đều nhau (hình 3.5F)

- Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ VIII có hàng lông dạng lược mảnh

và phình ra ở gốc, mảnh lược nằm trước lỗ thở tính từ mép bụng vào giữa ống bụng (hình 3.5G)

- Ống đẻ trứng của trưởng thành cái có dạng như hình 3.5H

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.6. Ruộng tía tô  Hình 2.7. Thu mẫu trên cây tía tô - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 2.6. Ruộng tía tô Hình 2.7. Thu mẫu trên cây tía tô (Trang 26)
Hình 3.1. Đặc điểm hình thái của loài Scirtothrips dorsalis Hood - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.1. Đặc điểm hình thái của loài Scirtothrips dorsalis Hood (Trang 35)
Hình 3.2. Đặc điểm hình thái của loài Haplothrips sp. - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.2. Đặc điểm hình thái của loài Haplothrips sp (Trang 36)
Hình 3.3. Đặc điểm hình thái loài Thrips hawaiiensis Morgan. - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.3. Đặc điểm hình thái loài Thrips hawaiiensis Morgan (Trang 38)
Hình 3.4. Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.4. Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom (Trang 39)
Hình 3.5. Đặc điểm hình thái của Frankliniella occidentalis Pergande - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.5. Đặc điểm hình thái của Frankliniella occidentalis Pergande (Trang 41)
Hình 3.6. Đặc điểm hình thái loài Megalulothrips sp. - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.6. Đặc điểm hình thái loài Megalulothrips sp (Trang 42)
Hình 3.7. Đặc điểm hình thái Loài Thrips tabaci Linderman - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.7. Đặc điểm hình thái Loài Thrips tabaci Linderman (Trang 43)
Hình 3.8. Đặc điểm hình thái của loài Anaphothrips sudanensis Trybom - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.8. Đặc điểm hình thái của loài Anaphothrips sudanensis Trybom (Trang 44)
Hình 3.9. Đặc điểm hình thái của loài Selenothrips rubrocinctus Giard - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.9. Đặc điểm hình thái của loài Selenothrips rubrocinctus Giard (Trang 46)
Bảng 3.13.  Diến biến mật độ bọ trĩ trên cây kinh giới - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Bảng 3.13. Diến biến mật độ bọ trĩ trên cây kinh giới (Trang 56)
Hình 3.10. Hiệu lực (%) của thuốc BVTV trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3.10. Hiệu lực (%) của thuốc BVTV trừ bọ trĩ trên cây rau tía tô (Trang 60)
Hình 3. Ruộng húng láng  Hình 4. Ruộng hành - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 3. Ruộng húng láng Hình 4. Ruộng hành (Trang 85)
Hình 5. Ruộng rau răm  Hình 6. Ruộng ngải cứu - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 5. Ruộng rau răm Hình 6. Ruộng ngải cứu (Trang 86)
Hình 11: Công thức 1 quây nilon  Hình 12: CT đối chứng không - Nghiên cứu thành phần, diễn biến mật độ bọ trĩ trên cây rau gia vị và biện pháp phòng trừ trên tía tô tại xã tân minh, thường tín, hà nội năm 2014 2015
Hình 11 Công thức 1 quây nilon Hình 12: CT đối chứng không (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w