Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh.. 47 3.10 Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM -o0o -
PHẠM VĂN PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
BỆNH LÝ LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ NGHÉ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀ
TRUNG TỈNH THANH HOÁ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo
vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm
ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Phạm Văn Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS -TS Nguyễn Văn Thọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Hà Trung, Trạm thú y huyện Hà Trung
và Trường trung cấp Nông Lâm Thanh Hóa, đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Văn Phương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 3
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé 9
1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 12
1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé 15
1.1.5 Biện pháp phòng trị bệnh 17
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh giun đũa bê, nghé ở hai xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. 25
2.3.2 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa. 25
Trang 52.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé. 25
2.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai xã của huyện tỉnh Thanh Hóa. 26
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa. 31
2.4.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa bê, nghé. 32
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai xã của huyện Hà Trung thuộc tỉnh Thanh Hóa 35
3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé. 35
3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh. 46
3.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 51
3.2.1 Ảnh hưởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé. 51
3.2.2 Tỷ lệ bê, nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa. 53
3.3 Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé 54
3.3.1 Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng. 54
3.3.2 Nghiên cứu công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để diệt trứng giun đũa bê nghé 56
3.3.3 Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé. 59
3.3.4 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé. 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 KẾT LUẬN 62
2 ĐỀ NGHỊ: 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé tại hai xã Hà Toại và Hà
Lĩnh của huyện Hà Trung thuộc tỉnh Thanh Hóa 35
3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ 37
3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tuổi 39
3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo địa hình 41
3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tính biệt 42
3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 43
3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê và ghé 45
3.8 Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê nghé ở chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trâu, bò 46
3.9 Sự phát tán trứng giun đũa bê nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 47
3.10 Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sức gây bệnh 48
3.11 Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong phân 50
3.12 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé bình thường và tiêu chảy 51
3.13 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa 53
3.14 Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng 55
3.15 Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức ủ 1 56
3.16 Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức ủ 2 57
3.17 Tổng hợp khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của 2 công thức ủ 58
3.18 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 59
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên hình Trang
1.1 Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum 4
3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ trong năm 38
3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi 40
3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh 44
3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu , bò về cả số lượng lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng, ổn định nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống xã hội Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê nghé
Bệnh giun đũa bê nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, Nhưng nó thường kéo dài âm
ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê nghé
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), giun đũa Toxocara Vitulorum gây
tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao trong tổng số bê nghé sinh ra, tỷ lệ chết có thể tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh
Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê nghé của nước ta Bệnh thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi Bê nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), Phan Địch Lân và cs (2005),
bệnh do giun Toxocara vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong ruột non của bê
nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho bê nghé bị trúng độc, sốt cao,
ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời
Thanh Hóa là một tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu
bò, bê, nghé Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về bệnh giun đũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý Vì vậy, bê nghé ở các địa phương của tỉnh Thanh Hóa còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Trong mấy năm gần đây, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền trung nói riêng có nhiều biến đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy
Trang 10luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Thanh Hóa và
những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sang và biện pháp phòng trừ bệnh giun đũa bê nghé trên địa bàn huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa"
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài làm hoàn thiện hơn những thông tin khoa học về bệnh giun đũa bê nghé tại một số địa phương của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu bò áp dụng biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé
1.1.1.1 Phân loại vị trí giun đũa bê nghé trong hệ thống động vật
Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay
còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anisakidae gây ra
Theo Phan Thế Việt và cs (1977), giun đũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau:
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Toxocara vitulorum Goeze, 782
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái của Toxocara vitulorum
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999),
giun tròn Toxocara vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của
những môi này có răng cưu , thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46
mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm
hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm
Trang 12Hình 1.1 Cấu tạo giun đũa bê nghé Toxocara vitulorum
(theo MOZGOVOI, DAVTIAN).
a) Miệng: 1- Đỉnh đầu; 2- Môi phía lưng;
3- Môi phía cạnh giáp bụng
b) Đầu đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp;
3- Đoạn đuôi con cái (phía cạnh) c)1 Đoạn thân trước; 2.3 trứng
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Phan Địch Lân và cs
(2005), giun đũa Toxocara vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê nghé có kích
thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 70 - 75 x 80 - 90 µm; giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100 µm Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân
Phan Lục (2005) cho biết, giun đũa có kích thước to , vàng nhạt , dài 13 - 22 cm,, trên đầu có 3 môi Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ
Trang 13dày giả Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ Như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970), Euzeby (1981) Nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu - Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cái ở 1/6 trước thân
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài
110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng bao bọc ; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 - 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm
Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) từ năm 1982 - 1988, về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14,0 - 18,0 cm), giun cái 25,75 cm (16,5 - 34,0 cm) Thân trắng đục và mềm Trứng giun dài 81,6µm và rộng 71,8µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo
Prokopic J và Sterba J (1989) đã quan sát giun đũa Neoascaris vitulorum
trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên
Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) thì giun đũa T viturlorum là
ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30,00 cm Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt
1.1.1.3 Đặc điểm vòng đời của Toxocara vitulorum
Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian Davtian (1934 -
Trang 141937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứngtỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ
ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs, 2008)
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), trứng giun thải ra môi trường ở thời kỳ đầu là trứng không cảm nhiễm Skjabin và Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt
độ 28-300C và 17-19 ngày ở nhiệt độ 250C
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Toxocara vitulorum
hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân
Phạm Sỹ Lăng (2005) cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây
nhiễm qua 2 con đường:
- Qua đường tiêu hóa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962), trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 – 170C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 – 220C thì phải sau 20 ngày Nếu để phân khô đi hoặc
ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 - 15 ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt
Vichitr Sukhapesna (1982) đã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ nhiễm Strongyloides papillosus và Toxocara vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi bê nghé được sinh ra
Tác giả cho rằng trâu bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh chính làm cho bê nghé con bị
nhiễm S papillosus và T vitulorum Bê nghé đã bị nhiễm S papillosus qua bú sữa từ trâu bò mẹ , và nhiễm T vitulorum qua nhau thai
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai
Trang 15Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng
Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau
Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời của Toxocara vitulorum
Theo Soulsby (1965), ở nhiệt độ tối ưu 28 – 300C, thời gian này là 7 ngày; ở
250C cần 10 - 11 ngày, ở 15 – 180C cần trên 28 ngày Trứng giai đoạn cảm nhiễm có chứa ấu trùng, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh
Galila A.B và cs (1990) cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày Kết quả trên giống với nghiên cứu của Refuerzo
và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 270C Nhưng theo báo cáo của Schwartz (1922)
là mất 10 - 12 ngày ở 250C để phát triển thành trứng chứa ấu trùng Giai đoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng đã được quan sát thấy ở vào ngày thứ 11 và có 91% trứng được phát triển đến giai đoạn này vào ngày 15 ngày Tawkif (1970) báo cáo rằng mất 9 ngày ở 26 – 280C để phát triển đến giai đoạn trứng chứa ấu trùng
Irfan và Sarwar (1954) đã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến giai
Trang 16đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 260C; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở nhiệt độ
300C; ở 100C trứng ngừng phát triển
Euzeby (1981) đã theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt độ 15 – 170C, cần
38 ngày để trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh Theo Orlov (1970),
ở nhiệt độ 300C cần hai tuần, ở nhiệt độ 250C cần ba tuần Refuerzo và Jemenez (1954) đã quan sát sự phát triển của trứng giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt độ
170C phôi bắt đầu hình thành vào ngày thứ sáu, hoàn thành vào ngày thứ 9 và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13 - 15
Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng
Refuerzo và Jemenez (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng của trứng giun đũa ở Philippin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế; trong nước nóng 90 – 1000C, trứng đã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, Nhưng nếu ở trong phân thì chỉ ở lượt ngoài trứng
bị hỏng
Đối với một số chất sát trùng thông thường như: Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt Phạm Chức (1980) cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong 1 giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), trứng giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 – 220C, Nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17oC
Dương Công Thuận và cs (1986) đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt độ trong phòng khoảng 15 – 220C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 – 170C phôi hình thành sau 38 ngày
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) cho biết, con cái đẻ trứng ở ruột
Trang 17non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 – 170C cần 38 ngày, 19 – 220C cần 20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 – 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 – 350C thì trứng không phát triển)
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008), trứng giun đũa bê, nghé có sức
đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu, bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim trái và từ đó vào đại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và có thể sống từ 5 đến 6 tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng đóng kén
ở mô và phủ tạng, khi trâu, bò chửa ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu, bò mẹ như:
cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng 6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai
Ở bào thai ấu trùng sống trong gan Theo Augustine (1972) và Noda (1954)
ấu trùng sống không biến đổi trong suốt thời kỳ bào thai còn ở trong tử cung Theo Spent (1958), thời kỳ cuối trước khi đẻ ấu trùng có thể từ gan lên phổi biến thái một lần Nhưng nói chung, ở mọi trường hợp, chỉ sau khi bê, nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống Như sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê, nghé do Toxocara vitulorum gây ra, thường xảy ra hầu
khắp các nơi trên thế giới
Trang 18Travassos và Lacombe (1959) đã điều tra ở Braxin và cho biết, giun đũa Toxocara vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê
Swain G.D (1987) cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy 4 con có Toxocara vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột Tripathi J.C (1967) cũng
cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh
Theo Vichitr Sukhapesna (1981), bê, nghé nhiễm giun đũa Toxocara vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa
Ranatunga (1960) điều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy nhiều nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10 - 26 ngày sau khi đẻ Theo tác giả, tỷ lệ nghé chết về bệnh này còn cao hơn bệnh do cầu trùng gây ra
Muangyai M (1989) thông báo rằng, giun đũa bê, nghé Toxocara vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho bê, nghé
Theo Pandey V.S và cs (1990), kiểm tra phân của 20 bê nghé
trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng /gam phân
Akyol C.V (1993) cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị nhiễm Toxocara vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu trùng cũng
được tìm thấy trong mẫu sữa Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê, nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau
Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun đũa với tỷl ệ 58%
ở tuần tuổi thứ nhất ; 87,5 % ở tuần tuổi thứ 2; 96 % ở tuần tuổi thứ 3 và 100% ở tuần thứ 4 Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ít truờng hợp nhiễm qua sữa Bê, nghé phát bệnh trong độ tuổi 3 - 17 tuần tuổi (Barbosa và Correa, 1989)
Starke W.A., Machado R.Z., Becchara G.H và Zocoller M.C (1996) đã kiểm tra 75 mẫu phân bê, nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê, nghé nhiễm giun đũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi
Wen Y.L và cs, (1986) đã phát hiện 99 con nghé nhiễm giun đũa trong số
245 nghé ở 7 làng của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc Tỷ lệ nhiễm giun đũa của nghé đực cao hơn nghé cái (43,02% so với 38,03%)
Trang 19Theo Roberts J.A (1990), tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu sau khi
sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Toxocara vitulorum và S papillosus
Gupta và cs (1985) cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũa 15,2%; giun đầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%) Trong 2411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũa là 29,1%; giun móc 20,7%; giun đầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%)
và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%)
Kết quả điều tra cho thấy, có trường hợp bê mắc bệnh sớm nhất là 15 ngày (Lee - Nigeria, 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga, 1960) Theo Orlov (1970), sau
3 tháng tuổi bê có hiện tượng tự thải giun đũa
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê, nghé là một bệnh rất phổ biến Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh
"Nghé ỉa cứt trắng" Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh trên nghé Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú ý vì nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết, do ảnh hưởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng "nghé ỉa cứt trắng"
Do tập tính sinh sản của trâu, bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê, nghé gây tác hại nhiều đối với nghé sơ sinh
Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ biến ở nước ta, tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chưa thấy bò trưởng thành mắc bệnh Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn cảm hơn là ở bê và có thể bị chết do tiêu chảy
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở
Trang 20lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng trung du, miền núi Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn
Tô Du (2005) cho biết, bệnh giun đũa ở bê, nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng , hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa , bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ Đông - Xuân
Bệnh giun đũa bê, nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999)
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) cho biết bê ng hé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng Ở nước ta bê nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường
đẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê, nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở 65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh
Qua điều tra liên tục 6 vụ đông xuân (từ 1954 - 1960) trên hàng nghìn nghé tại xã Hoà Phú, Phúc Thịnh (Chiêm Hoá - Tuyên Quang), xã Minh Sơn (Ngọc Lặc
- Thanh Hoá), xã Phượng Tiến (Định Hoá - Thái Nguyên), Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38 - 44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25 - 50% số nghé ốm.Như vậy, mỗi năm số nghé chết về giun đũa chiếm 20% số nghé đẻ ra
1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé
1.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh
Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở ruột non bê, nghé.Trong thời kỳ ấu trùng giun đũa di hành đến một số khí quan Như phổi, gan Khi giun trưởng thành ở ruột non số lượng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc chui vào ống dẫn mật, gan
Giun còn tiết chất độc làm cho bê, nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy
Trang 21sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê và
Phan Lục, 1999) Giun đũa Toxocara vitulorum cũng Như các loài giun sán khác,
ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương niêm
mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá (E.coli, Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân tiết, viêm ruột và
tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương ở phổi cũng được phát hiện Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có thể chết đến 80%
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen
kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006), ấu trùng sau khi xâm nhập vào cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều cơ quan Chúng đem theo nhiều vi khuẩn, virus gây các truyền nhiễm kế phát Giun chiếm đoạt nhiều chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê, nghé gầy yếu, ỉa chảy, ỉa phân trắng
Do giun có kích thước lớn, khi ký sinh với số lượng lớn thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) cho biết giun đũa ký sinh trong ruột non bê, nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới : Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi Giun trưởng thành dùng các lá môi vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại
Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình phân hủy protit Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có mùi thối khắm Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm phúc mạc
- Tác động do độc tố: giun đũa ký sinh ở bê, nghé sẽ tiết độc tố làm cho con vật trúng độc
Trang 22- Tác động chiếm đ oạt chất dinh dưỡng: giun đũa lấy dinh dưỡng làm Cho bê, nghé gầy còm
1.1.3.2 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích
Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biến là 11
- 30 ngày Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian tiến triển của bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi, sức khỏe của gia súc, cách nuôi dưỡng
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977), bê, nghé bị bệnh giun đũa có dáng
đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ không theo mẹ Bệnh nặng bê, nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần chuyển thành màu trắng, lỏng
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), con vật ăn kém, ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật Trường hợp
tự thải giun hay được điều trị thì các triệu chứngsẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng
Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun đũa và bệnh viêm phổi, một phần do giun phổi
Phan Địch Lân (1986) đã thông báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa ở Nông trường Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) có triệu chứngỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại chỗ và có con chết
Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986), Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) cho biết bê, nghé mắc bệnh thường lù đù, chậm chập, đầu cúi, lưng cong, bụng to, lông xù lên, kheo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi tanh khắm, màu trắng ngà
Chu Thị Thơm và cs (2006) cho biết về lâm sàng của bệnh giun đũa bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê, nghé từ 11 - 30 ngày tuổi Bê, nghé ủ rũ, lù khù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, thường chết vào ngày thứ 7 - 16 Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng Có khi nghe rõ tiếng
Trang 23sôi bụng Bê, nghé gấy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê, nghé
Theo Usanakorkul S (1987), khoảng 10 - 30% nghé ở Thái Lan bị chết trước khi chúng được cai sữa Hầu hết chúng bị chết bởi nguyên nhân là ký sinh trùng Nghé nhiễm bệnh giun đũa và giun lươn qua đường sữa Trứng của giun đũa có trong phân bê, nghé từ 21 - 131 ngày tuổi Cường độ nhiễm cao nhất trong khoảng 21 - 35 ngày Khi có số lượng giun lớn bê, nghé bệnh có triệu chứng kém
ăn, ỉa chảy và thiếu máu
Hossain M.I và cs (1988) đã thông báo, Toxocara vitulorum đã được tìm
thấy ở 296/350 nghé (84,57%) với triệu chứng chậm phát triển, còi cọc, thiếu máu,
ỉa chảy và mất nước
Aumont và cs (1991) cho biết, giun đũa Toxocara vitulorum là ký sinh
trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa khoảng 10,5kg
Theo Srivastava A.K., Sharma D.N (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16 trong
90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500 - 700 trứng giun đũa trong 1 gam phân, có những triệu chứng biếng ăn, gày còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc
Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể tạo thành búi làm tắc ruột Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét Có trường hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc Ngoài ruột non, có thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi
1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Toxocara vitulorum ở bê nghé dựa vào triệu
chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng
Trang 24phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh
* Đối với bê nghé sống:
Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Toxocaras vitulorum ở
bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ
lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh
Phạm Văn Khuê và cs (1996) Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trâu, bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản để sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký sinh
trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng giun đũa Toxocaras vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán bệnh Các phương
pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master để xác định mức
độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ
* Đối với bê, nghé chết:
Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đường tiêu hoá của bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), áp dụng phương pháp mổ khám toàn diện của Skriabin K.I (1982) Phương pháp mổ khám có thể phát hiện tất cả các loài giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé Phương pháp này được đánh giá là phương pháp chẩn đoán bệnh chính xác nhất, không những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà còn quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hoá do giun sán gây ra
Trang 25- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường, cho uống nước sạch, giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo Tập trung phân ủ để diệt trứng giun
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997), Piperazin, Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho
bê, nghé
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết, trong bệnh giun đũa Toxocara vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02 g/kg TT, cho
uống thuốc tẩy kèm theo
Balabakian X.P (1956) đã ứng dụng có kết quả dung dịch Natri sunfat 10% với liều 4,0 g cho 1 kg thể trọng để tẩy giun đũa cho bê, cho uống qua ống cao su
và phễu
Theo Robert J.A (1989), hiệu quả tẩy giun đũa bê, nghé của Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%
Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với
20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong
3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60 ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3 gam/kg TT
Lê Đăng Đảnh và cs (2004) cho biết, để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê nghé ngay sau khi sinh , chúng ta dùng một số thuốc đặc trị bệnh giun đũa cho bê, nghé
Trang 26có thể dùng : Polystrongle với liều 0,04 g/kg TT cho uống, Levamisol tiêm bắp, Ivomec tiêm dưới da với liều 1 ml/50kg TT
Vichitr Sukhapesna (1981) đã dùng Pyrantel Tartrate với các liều khác nhau 5,10 và 20 mg/kg tẩy cho bê, nghé bị nhiễm giun đũa thì thấy với các liều lượng trên thì đều có hiệu quả cao (100%) Số lượng trứng giun đũa thải ra theo phân giảm nhiều sau 1 tuần điều trị
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982): Piperazin 0,3 - 0,5 gam/kg TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30 - 60
ml, cho uống Kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu đáo cho trâu,
bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê, nghé cho kết quả tốt
Theo Cao Tuyết Lan (1996), dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt
Vương Đức Chất (1995) đã tẩy giun đũa cho bê, nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT lúc 15 - 20 ngày tuổi, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kết quả tốt
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) đã thử nghiệm ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng (Nam Hà), Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn
(Hà Nội) dùng Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kg TT, tẩy cho 73 bê nhiễm toxocara vitulorum, kết quả đạt 100%
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) cho biết, dùng các loại
hoá dược Như Piperazin 0,3 - 0,5g/kg TT, Tetramizole 10 mg/kg TT, Mebenvet
0,5 g/kg TT và một số hoá dược khác để tẩy trừ Toxocara vitulorum cho kết quả
rất tốt; bê, nghé khỏi bệnh phân trắng
Chu Thị Thơm và cs (2006) đã đưa ra các phác đồ sau: Dùng Piperazin 0,5 g/kg TT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng; Phenolthiazin 0,5 g/kg TT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền; Tetramisol 10
- 15 mg/kg TT, cho uống sau khi bê, nghé đã bú hoặc ăn Ngoài ra tác giả còn đưa
ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun đũa như:
- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu, sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống
3 - 5 g liên tục 3 buổi sáng Hoặc có thể săc lấy nước, cô đặc, cho uống vào lúc
Trang 27sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30 - 50 ml
- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống Hoặc nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tô Ngọc Đại (1953) cho biết, bệnh giun đũa bê, nghé gây ra tình trạng bê nghé ỉa phân trắng là khá phổ biến và trầm trọng ở miền núi, nơi có chăn nuôi trâu
bò sinh sản với số lượng lớn
Trịnh Văn Thịnh (1959) cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào thai, đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi đến tuổi ấy nghé
tự tống giun ra ngoài
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962), qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm 39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm Đặc biệt bệnh chỉ phổ biến trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng đồng bằng bệnh giảm rõ rệt
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966), ở Sơn Tây, Phia Đén (Cao Bằng) Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), đàn bê mắc bệnh giun đũa chiếm 20% so với số bê đẻ ra và bê chết do giun đũa chiếm 5% so với số bê ốm
Theo Thanh Cưu (1970), đàn bê của nông trường Ba Vì nhiễm giun đũa 14,6%, thường từ lứa tuổi sơ sinh đến sáu tháng
Dương Công Thuận (1972) đã điều tra trên đàn bê của nông trường Tam Đảo (Vĩnh Phú), nông trường Hà Trung (Thanh Hoá), thấy có 30 - 40% mắc giun đũa, Nhưng triệu chứng lâm sàng không rõ như ở nghé, số chết rất ít
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977), bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi
Phạm Văn Khuê và cs (1981) cho biết, bệnh giun đũa bê nghé khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc Theo Nguyễn Bá Phụ (1992), ở Việt Bắc bê nghé thường mắc bệnh giun đũa từ 30 - 50%
Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) đã điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murah ở nước ta: 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%; 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%; 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%; 7 tuần tuổi nhiễm 28%; 9 tuần tuổi nhiễm 25%;
Trang 2810 tuần tuổi nhiễm 23%
Phan Địch Lân (1986) đã kiểm tra 30 bê Hà Lan nhập nội ở nông trường Sao Đỏ, cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun đũa 25% Ở Mộc Châu, kiểm tra 50 bê Hà Lan dưới 6 tháng thấy tỷ lệ nhiễm 30% Nghé Murah dưới 3 tháng tuổi nuôi ở HTX Trực Chính - Khánh Phù - Phù Thượng - Hà Nam Ninh nhiễm tới 71%, nghé
1 tháng tuổi nhiễm 67%
Phan Lục (1993) đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá vùng đồng bằng sông Hồng cho kết quả; trâu, bò bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đó nghé nhiễm giun đũa là 15,1%, bê là 5,4%
Vương Đức Chất (1995) cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) cho biết, bệnh giun đũa bê, ghé có
tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh
Theo Cao Tuyết Lan (1996), Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 35,3%, cao nhất lúc
31 - 45 ngày tuổi (71,4%)
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs Có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê, nghé: Piperazin dùng liều 0,3 - 0,5gam/kg
TT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn; Levamisol dùng với liều 15 -
20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kg TT dùng tiêm; Mebenvet(10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kg TT tiêm cho bê, nghé
Lê Thị Thanh Nhàn (2008) đã điều trị tiêu chảy cho bê, nghé do giun đũa bằng cách: sử dụng một trong các thuốc kháng sinh Như Norfacoli hoặc Colistin
để điều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun đũa cho bê nghé dưới 3 tháng tuổi với mục đích điều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun đũa Trong quá trình điều trị bổ sung chất điện giải và vitamin C
để tăng cường sức đề kháng cho con vật
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Davtian (1934 - 1937), nếu cho bê nuốt trứng giun đũa gây bệnh sau
43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho bò mẹ
Trang 29trước khi đẻ 124 đến 192 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 -
31 ngày trong phân có trứng giun đũa
Gadjiev (1953) cho biết, Hexachloretan với liều 0,2 ml/kg TT, cho uống 2 lần, cách nhau 10 ngày cho kết quả tốt trong việc tẩy giun đũa bê nghé
Srivastava và Sharma (1981); Makundi và cs (1996) cho biết, Toxocara vitulorum là một trong những ký sinh trùng nguy hiểm nhất của bê nghé Ấu trùng của T vitulorum di hành gây ra tổn thương lớn cho nhiều cơ quan, đặc biệt là gan
và ruột, nó gây chết cho bê , nghé từ 11 đến 50%
Gupta và cs (1985), Hussein M.O và Barriga O (1991) đều cho biết: giun
đũa Toxocara vituorum có thể lây nhiễm sang nhiều loài động vật khác, nhưng ký
sinh chính là trên bê , nghé ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Bằng thực nghiệm, người ta thấy giun đũa có thể lây nhiễm sang thỏ và chuột
Swain G.D., Misra S.C., Panda D.N (1987) cho biết, ở Ấn Độ trứng giun đũa đã được tìm thấy trong mẫu phân của 170 nghé dưới 6 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nghé 1 - 2 tháng tuổi, giảm dần sau 3 tháng tuổi
Iskander A.R., Tawjeek Afarid A.F (1987) đã điều tra 87 nghé ở 60 ngày tuổi bị ỉa chảy từ các tỉnh Sharkia, Dakahlia, Kaliobia và Assiut (Ai Cập), có 18 con (21%) bị nhiễm giun đũa và cầu trùng, có 4 con đã bị chết Noãn nang Eimeria và trứng giun đũa theo tỷ lệ 5:1
Roberts J.A (1989), Devi và cs (2001) cho rằng, giun đũa Toxocara vitulorum muốn phát triển thành ấu trùng lây nhiễm đòi hỏi phải có đầy đủ độ ẩm
và nhiệt độ trong khoảng 200C đến 300C Trong mùa hè nóng, hầu hết các ấu trùng
bị chết Tuy nhiên, ở nhiều khu vực ẩm ướt, có lượng mưa lớn, sự phát triển của
ấu trùng rất thuận lợi
Theo Roberts J.A (1990), giun đũa Toxocara vitulorum chỉ ký sinh ở trong
ruột của bê, nghé dưới 3 tháng tuổi Bệnh được truyền cho bê, nghé qua bào thai
và qua sữa non của trâu, bò mẹ Bê, nghé bắt đầu có giun đũa trưởng thành ký sinh sau 22 ngày tuổi Trứng giun đũa được thải ra trong phân có chứa ấu trùng giai đoạn 1, sau đó chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 và giai đoạn 3 trong 2 -
4 tuần Trứng có chứa ấu trùng giai đoạn 3 không nở cho đến khi chúng được nuốt vào đường tiêu hóa của bê, nghé
Trang 30Trâu, bò mang thai bị nhiễm trứng giun đũa do ăn phải trứng chứa phôi từ
môi trường Ấu trùng Toxocara vitulorum di chuyển qua gan, phổi, cơ bắp, não,
thận, hạch bạch huyết, tuyến vú và các cơ quan khác, tuy nhiên giun trưởng thành không tìm thấy trong ruột non của trâu, bò mẹ
Theo Balabakyan thì Toxocara là một bệnh phổ biến ở Azecbaijan Tác giả
cho biết, tỷ lệ cảm nhiễm trung bình là 14,5%, đa số là ở những bê nghé 1 - 2 tháng tuổi, ít hơn ở 3 - 4 tháng tuổi; bê, nghé lớn hơn không có giun Độ cảm nhiễm phụ thuộc vào yếu tố địa lý: miền núi 24,9%; trung du 17,5%; đồng bằng 0,09%
Theo Lora R.B (2001), trứng Toxocara vitulorum phát triển đến giai đoạn
lây nhiễm từ 7 đến 12 ngày ở 28 – 300C, là nhiệt độ tối ưu để phát triển Dưới 120C trúng không phát triển , nhưng trứng tồn tại và sẽ tiếp tục phát triển khi nhiệt độ
tăng lên Trứng Toxocara vitulorum có thể tồn tại ở môi trường không thuận lợi
trong vài tháng và có thể lên đến hai năm
Hussein M.O., Barriga O (1991) đã làm thí nghiệm: gây nhiễm cho 10 thỏ cái New Zealand trứng giun đũa bê, nghé có sức gây nhiễm Kết quả kiểm tra máu thấy
tế bào hồng cầu giảm, nhưng bạch cầu ái toan và ái kiềm tăng
Starke W.A và cs (2001) đã tìm hiểu phản ứngmiễn dịch, mức độ kháng thể, kháng nguyên chiết xuất hòa tan (Ex) từ nghé bị nhiễm ấu trùng giun đũa bằng phương pháp ELISA gián tiếp với huyết thanh của 15 nghé con, mẫu được lấy ở 15 và 180 ngày tuổi Từ tất cả các mẫu huyết thanh kiểm tra trong thời gian
180 ngày đầu tiên, mức độ kháng thể thấp nhất và cao nhất trong bê ở 1 ngày tuổi trước và sau khi bú sữa đầu cho thấy rằng nguồn gốc của kháng thể là sữa non Ngay sau khi sinh, nồng độ kháng thể trong bê được bú sữa vẫn ở mức cao cho đến 15 ngày tuổi, sau đó bắt đầu giảm xuống mức thấp hơn từ 15 đến 30 ngày tuổi
và tương đối ổn định cho đến 120 ngày tuổi
Maria F.N., Wilma A.S.B., Alessandra M.M.G (2003) đã tìm hiểu sự phát triển phản ứng viêm của ruột và mô của bê bị nhiễm giun đũa trong trong các giai đoạn tuổi Các mẫu máu được thu thập hai tuần một lần từ khi sinh ra đến 174 ngày sau sinh và thấy trong mô cơ ở chân của bê bị nhiễm giun đũa, số lượng tế bào mast tăng đáng kể, số lượng bạch cầu ái toan tăng ở niêm mạc của tá tràng
Trang 31(gấp 2 - 5 lần so với bình thường)
Abdulalim Aydin và cs (2005) đã xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi
bê nghé ở Hakkari thuộc khu vực phía Đông của Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborne và buồng đếm Mc Master để đếm trứng giun đũa
có trong 1 gam Trứng giun đũa Toxocara vitulorum đã được tìm thấy trong 208
mẫu phân trên trong 718 mẫu phân bê, nghé được xét nghiệm (28,96%) Bê, nghé
từ 1- 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 34,4%, từ 6-12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 6,6%, trên 12 tháng tuổi là 3,3%
Theo nghiên cứu của Acacio Cardoso Amaral (2005), ở Đông Timor bê, nghé nhiễm giun đũa với số lượng trứng cao nhất là 1.830 trứng /gam phân Con số này thấp hơn so với ở các nước khác Ví dụ: số lượng này của bê, nghé tại Birsa, Ấn Độ
là 8.000 đến 26.000 trứng /gam phân (Devi và cs., 2000), của bê, nghé ở Nigeria là 10.000 đến 30.000 trứng /gam phân (Lee, 1955)
Fabio R.B., Sebastiao R.F., Jackson V.A., Juliana M.A và Andre R S.(2010) đã nghiên cứu khả năng diệt của nấm Nematophagous và nấm Pochonia chlamydosporia đối với trứng giun đũa bê nghé trong môi trường thạch có 2% nước Trứng giun đũa trong môi trường có nấm bị tiêu diệt sau 10 và 15 ngày còn
ở môi trường không có nấm thì không thấy có sự biến đổi của trứng giun đũa Những kết quả này cho thấy rằng Nematophagous và P chlamydosporia có khả năng diệt trứng giun đũa
Gabriel Davila, Max Irsik và Ellis C G (2010) đã đánh giá tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê tại Bắc Trung Bộ Florida - Mỹ Phân tích 433 mẫu phân bê dưới 9 tháng tuổi thấy có trứng giun đũa trong phân Tỷ lệ nhiễm theo các lứa tuổi là: bê dưới 3 tháng tuổi là 17,6%, 3 - 4 tháng tuổi là 0,4% và bê 5 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 0,9% và không thấy trứng trong bê lớn hơn 6 tháng tuổi 20 bê bị nhiễm giun đũa được tẩy bằng Fenbendazole (10% Fenbendazole) với liều 5 mg/kg TT Sau 2 tuần dùng thuốc, phân tích lại tỷ lệ và cường độ nhiễm để đánh giá hiệu quả của Fenbendazole, thì thấy
có 17 bê không có trứng giun đũa trong phân, chiếm tỷ lệ 85%
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Bê, nghé dưới 3 tháng tuổi nuôi tại nông hộ, trại gia đình ở huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
- Bệnh giun đũa bê, nghé
* Vật liệu nghiên cứu:
- Mẫu phân tươi của bê, nghé; mẫu đất bề mặt, nước ở bãi chăn thả và mẫu đất (cặn) nền chuồng và khu vực xung quanh chuồng bê, nghé (để xác định tỷ lệ
và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé, xác định sự ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở ngoại cảnh)
- Trứng giun đũa bê, nghé (để xác định sự phát triển và tồn tại của chúng ở ngoại cảnh)
- Phân bê, nghé và nguyên liệu ủ (lá xanh, tro bếp, vôi bột): để xác định công thức ủ có khả năng sinh nhiệt tốt nhất nhằm diệt trứng giun đũa bê nghé
- Kính hiển vi quang học Labophot - 2 gắn máy ảnh và màn hình, buồng đếm
Mc Master, máy ly tâm, hoá chất và các dụng cụ thí nghiệm khác
- Thuốc sát trùng chuồng trại: BiosepT và Virkon S
- Thuốc phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé: Bivermectin 1%, Levavet
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu:
- Các mẫu phân bê, nghé được thu thập ở các nông hộ, trại chăn nuôi bê nghé gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau trong 2 xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
Phòng thí nghiệm khoa chăn nuôi thú y trường trung cấp Nông Lâm Thanh Hóa
* Thời gian nghiên cứu: tháng 10/2014 đến tháng 9/2015
Trang 332.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh giun đũa bê, nghé ở hai xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
2.3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé tại hai xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi bê nghé
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo địa hình chăn thả
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tình trạng vệ sinh
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo loại gia súc (bê, nghé)
2.3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh
- Xác định tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng trại
- Xác định sự ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở bãi chăn thả (ở đất bề mặt,
ở vũng nước trên bãi chăn)
- Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng sống của trứng có sức gây bệnh trong phân
2.3.2 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
2.3.2.1 Vai trò của giun đũa trong hội ch ứng tiêu chảy ở bê, nghé
2.3.2.2 Triệu chứng lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé
2.3.3.1 Xác định tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng giun đũa và trứng có sức gây bệnh
2.3.3.2 Xác định công thức thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để diệt trứng giun đũa bê nghé
2.3.3.3 Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé
2.3.3.4 Đề xuất quy trình phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé
Trang 342.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai xã của huyện tỉnh Thanh Hóa
2.4.1.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi
* Bố trí điều tra:
Mẫu được thu thập theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Chúng tôi
đã thu thập và xét nghiệm phân của 300 bê, nghé dưới 3 tháng tuổi tại 2 xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé tại 2 xã của huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa
Việc thu thập, xét nghiệm mẫu phân bê, nghé ở 2 xã của huyện đã được bố trí cụ thể như sau:
Địa phương (huyện, xã) Số bê nghé xét nghiệm phân (con)
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo địa hình
Địa hình được đánh giá theo 2 loại
- Địa hình bằng phẳng, cao ráo
- Địa hình xen kẽ đồi núi và ruộng nước
Sơ đồ bố trí lấy mẫu như sau:
Địa hình
Địa phương
Hà Tại (con)
Hà Lĩnh (con)
Địa hình xen kẽ với đồi núi và ruộng nước 72 81
Trang 35+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo mùa vụ
Mùa vụ trong năm được theo dõi gồm:
- Vụ Đông - Xuân: Từ tháng 10 - tháng 3 năm sau
- Vụ Hè - Thu: Từ tháng 4 - tháng 9
Chúng tôi đã theo dõi ở hai mùa vụ, bê nghé tương đối đồng đều về tuổi, tính biệt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Hà Toại (Con) Hà lĩnh (Con)
Phân loại tình trạng vệ sinh như sau:
- Tình trạng vệ sinh tốt: Chuồng trại có xây dựng từng bao quanh, nền chuồng được làm bằng vật liệu cứng (bê tông, nền gạch…), thường xuyên quét
dọn vệ sịnh chuồng
- Tình trạng vệ sinh trung bình: Chuồng trại có xây dựng từng bao quanh, nền chuồng không được làm bằng vật liệu cứng, vệ sinh chuồng trại không
thường xuyên
- Tình trạng vệ sinh kém: Chuồng trại không được xây chuồng bao
quanh, nền chuồng bằng đất, rất ít khi được vệ sinh chuồng trại
Số mẫu đã được thu thập như sau:
Tình trạng vệ sinh
Địa phương
Hà Toại (Con) Hà Lĩnh (Con)
Trang 36+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo tuổi
Chúng tôi đã theo dõi bê, nghé ở 5 lứa tuổi và lặp lại 2 lần tại 2 xã của huyện Hà Trung Bê, nghé các lứa tuổi tương đối đồng đều về tính biệt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, trong cùng một mùa vụ, được bố trí theo sơ đồ sau:
Tuổi bê, nghé
(ngày tuổi)
Địa phương
Hà Toại (Con)
Hà Lĩnh (Con)
Hà Lĩnh (Con)
Hà Lĩnh (Con)
Trang 37* Phương pháp xét nghiệm mẫu
Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp Fulleborn: : Lấy phân hòa với nước muối bão hòa trong cốc thủy tinh để 20 – 30 phút, noãn nang có tỷ trọng nhẹ hơn sẽ nổi lên và vớt noãn nang đặt lên lam, kiểm tra dưới kính hiển
vi có độ phóng đại 100 lần
Soi trứng giun đũa trên kính hiển vi có độ phóng đại 100 lần
* Phương pháp đếm trứng giun đũa bằng buồng đếm Mc Master:
Cường độ nhiễm giun đũa Toxocara vitulorum được đánh giá bằng số
lượng trứng /gam phân:
< 500 trứng /gam phân: nhiễm nhẹ (+)
500 - 800 trứng /gam phân: nhiễm trung bình (++)
800 - 1200 trứng /gam phân: nhiễm nặng (+++)
> 1200 trứng /gam phân: nhiễm rất nặng (++++)
Số trứng /gam phân được đếm bằng buồng đếm Mc Master: Cân 4 gam phân cho vào cốc thủy tinh, thêm 56 ml dung dịch nước muối bão hòa, khuấy đều cho tan phân Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều Trong khi đang khuấy dừng lại đột ngột và lấy công tơ gút hút 1 ml dung dịch nhỏ đầy cả hai buồng đếm Mc Master (mỗi buồng đếm có dung tích 0.5 ml) Đếm toàn bộ số trứng có trong hai buồng đếm
Số trứng /1 gam phân =
(Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1,0 ml dung dịch phân)
2.4.1.2 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng sống của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh
+ Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi
* Phương pháp thu thập mẫu:
- Mẫu đất hoặc cặn nền chuồng nuôi bê, nghé: tại mỗi ô chuồng, lấy mẫu đất (cặn) ở 4 góc chuồng và ở giữa chuồng, trộn đều được một mẫu xét nghiệm
∑ số trứng ở hai buồng đếm x 60
4
Trang 38(khoảng 80 - 100 gam/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu
- Mẫu đất bề mặt khu vực xung quanh chuồng: lấy mẫu đất bề mặt tương tự như cách lấy mẫu cặn nền chuồng
* Phương pháp thu thập mẫu ở khu vực bãi chăn thả:
- Mẫu đất bề mặt ở khu vực bãi chăn thả bê, nghé: tại mỗi khu vực chăn thả, cứ khoảng 20-30 m2 lấy ngẩu nhiên ở vị trí 4 góc và giữa trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khối lượng khoảng 80 - 100 g/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu
- Mẫu nước ở những vũng nước trên khu vực bãi chăn thả: dùng que khuấy đều vũng nước, lấy cốc thuỷ tinh múc khoảng 150 - 200 ml/vũng, cho vào túi nilon nhỏ, có nhãn ghi loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu