Tuy nhiên, do virus cúm A/H5N1 có đặc điểm là luôn biến đổi, đã xuất hiện nhiều clade mới, gây khó khăn cho công tác phòng chống dịch, khó khăn trong việc chọn lựa vacxin phù hợp với các
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ ix
DANH MỤC ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung 3
1.1.1 Bệnh cúm gia cầm 3
1.1.2 Tình hình bệnh dịch 6
1.2 Căn bệnh 10
1.2.1 Hình thái, cấu trúc 10
1.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A 14
1.2.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm A/H5N1 16
1.2.4 Độc lực của virus 17
1.2.5 Đặc tính sinh học và sức đề kháng của virus cúm 18
1.2.6 Đáp ứng miễn dịch của gia cầm đối với virus 20
1.2.7 Động vật cảm nhiễm 21
1.2.8 Khả năng truyền lây 22
1.2.9 Triệu chứng và bệnh tích 22
1.2.10 Chẩn đoán bệnh 24
1.2.11 Một số nghiên cứ về sinh học phân tử virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam 24
1.2.12 Công tác phòng, chống dịch bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm 26
Trang 2Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Nội dung nghiên cứu 27
2.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 27
2.1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 27
2.1.3 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ dịch cúm gia cầm (A/H5Nx) tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 27
2.1.4 Nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch cúm gia cầm 27
2.1.5 Kết quả chẩn đoán xét nghiệm cúm gia cầm và tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm tại Thái Bình 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hồi cứu 27
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng (case - control study) 29
2.2.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm trong phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật RT-PCR (Real time - Polymerase chain reaction) 30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2010 - 2014 33
3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên đàn gia cầm tại Thái Bình 37
3.3 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 39
3.3.1 Phân bố dịch theo không gian trong giai đoạn nghiên cứu 40
3.3.2 Phân bố dịch theo thời gian 42
3.3.3 Phân tích theo thời gian về tính chất lây lan của dịch 43
3.3.4 Tỷ lệ mắc bệnh của gia cầm 46
3.4 Nghiên cứu bệnh chứng nhằm xác định yếu tố nguy cơ phát sinh và lây lan dịch cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 49
3.5 Kết quả chẩn đoán xét nghiệm cúm gia cầm và tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm tại Thái Bình 55
3.5.1 Kết quả chẩn đoán xét nghiệm cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 55
Trang 33.5.2 Tình hình sử dụng vacxin tiêm phòng bệnh cúm gia cầm 59
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 65
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 66
PHỤ LỤC 67
Trang 4DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
95% CI 95 % Confidence level
ADN Axit deoxyribonucleic
ELISA Enzyme-linked immunosorbent assay
HCL High Confidence level
LCL Lower Confidence level
OIE World Organisation for Animal Health
Office International des Epizooties PCR Polymerase Chain Reaction
RT - PCR Reverse transcription - polymerase chain reaction
Trang 5DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Cấu tạo bên ngoài của virus cúm gia cầm 11
1.2 Cấu trúc virus cúm 12
3.1 Tỷ lệ cơ cấu đàn gia cầm theo đối tượng gia cầm nuôi tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 34
3.2 Phân bố dịch cúm gia cầm theo không gian tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 40
3.3 Phân bố không gian theo đối tượng mắc cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010 – 2014 41
3.4 Phân bố dịch cúm gia cầm theo thời gian tại các huyện 42
3.5 Phân bố dịch cúm gia cầm theo thời gian tại Thái Bình, giai đoạn 2010 – 2014 43
3.6 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2010 tại Thái Bình 44
3.7 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2011 45
3.8 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2012 45
3.9 Biểu đồ so sánh tỷ lệ gia cầm mắc bệnh theo loài 48
3.10 Phân bố sự lưu hành của virus cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 57
3.11 Phân bố clade virus cúm H5N1 năm 2014 tại Việt Nam 58
Trang 6DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
1.1 Cấu tạo bên ngoài của virus cúm gia cầm 11
1.2 Cấu trúc virus cúm 12
3.1 Tỷ lệ cơ cấu đàn gia cầm theo đối tượng gia cầm nuôi tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 34
3.2 Phân bố dịch cúm gia cầm theo không gian tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 40
3.3 Phân bố không gian theo đối tượng mắc cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010 – 2014 41
3.4 Phân bố dịch cúm gia cầm theo thời gian tại các huyện 42
3.5 Phân bố dịch cúm gia cầm theo thời gian tại Thái Bình, giai đoạn 2010 – 2014 43
3.6 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2010 tại Thái Bình 44
3.7 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2011 45
3.8 Phân bố dịch cúm gia cầm năm 2012 45
3.9 Biểu đồ so sánh tỷ lệ gia cầm mắc bệnh theo loài 48
3.10 Phân bố sự lưu hành của virus cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 57
3.11 Phân bố clade virus cúm H5N1 năm 2014 tại Việt Nam 58
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, sản xuất chăn nuôi của tỉnh tiếp tục phát triển, tổng đàn gia súc, gia cầm năm sau luôn tăng so với năm trước Chỉ tính riêng chăn nuôi gia cầm, theo số liệu của Cục thống kê Thái Bình hàng năm, luôn đạt từ 10 triệu đến trên 11 triệu con gia cầm các loại và là một trong những tỉnh có tổng đàn gia cầm cao trong cả nước; Một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định
để sản xuất chăn nuôi gia cầm của tỉnh đã và sẽ phát triển bền vững chính là việc kiểm soát và ngăn ngừa sự phát sinh các dịch bệnh nguy hiểm, nhất là dịch cúm gia cầm
Thực tế, dịch cúm A/H5N1 đã xảy ra trên đàn gia cầm của tỉnh từ năm
2004, gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm, làm xáo trộn an sinh xã hội cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe con người Giai đoạn 2004-2005, Thái Bình là tỉnh trọng điểm về dịch cúm gia cầm của cả nước Giai đoạn 2006 -
2013, dịch cúm A/H5N1 trên địa bàn tỉnh đã cơ bản được kiểm soát, dịch chỉ xảy
ra ở dạng nhỏ lẻ, thiệt hại kinh tế giảm nhiều so với giai đoạn trước, nguyên nhân
là do tăng cường giám sát phát hiện sớm, xử lý dịch kịp thời, đặc biệt là đã thực hiện tiêm vacxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm khá triệt để Tuy nhiên, do virus cúm A/H5N1 có đặc điểm là luôn biến đổi, đã xuất hiện nhiều clade mới, gây khó khăn cho công tác phòng chống dịch, khó khăn trong việc chọn lựa vacxin phù hợp với các clade virus mới biến đổi, do đó, các loại vacxin cúm gia cầm sử dụng tiêm phòng giai đoạn 2005-2010 đã phải dừng triển khai tiêm phòng tại hầu hết các địa phương trong cả nước từ năm 2011
Ngay từ đầu năm 2014, dịch cúm gia cầm tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều typ virus cúm khác nhau gồm: cúm A/H5N1, A/H5N2, A/H5N3, A/H5N6, A/H7N9 và A/H10N8 gây bệnh ở người, ngày càng gia tăng số ca mắc mới và ca tử vong tại Trung Quốc và một số nước trong khu vực Các tỉnh biên giới của Trung Quốc, nơi có hoạt động xuất gà loại thải chủ lực vào nước ta, đã công bố có sự lưu hành của virus cúm A/H7N9 trên gia cầm Trong nước, nhiều
Trang 8địa phương phát sinh dịch cúm A/H5N1 trên gia cầm, trong đó, có tỉnh Nam Định, địa phương có nhiều bến đò, bến phà, cầu giáp ranh với Thái Bình Đồng thời, chỉ trong tháng 01/2014, cả nước đã phát hiện 02 người tử vong vì nhiễm virus cúm A/H5N1, vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhằm xác định các yếu tố nguy cơ để có biện pháp chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn gia cầm, góp phần phòng chống dịch cúm gia cầm cho người là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia
cầm (A/H5) tại tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2010-2014” Luận văn này tập trung
vào nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xây dựng bản đồ dịch tễ của bệnh cúm gia cầm tại tỉnh Thái Bình với những mục tiêu cụ thể sẽ được nêu dưới đây
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm tại các địa phương
có dịch cúm gia cầm tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2010-2014;
- Xác định các yếu tố nguy cơ làm lây lan dịch bệnh tại một số địa phương đại diện có dịch cúm gia cầm tại tỉnh Thái Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng xác thực để làm rõ hơn đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm gia cầm (A/H5) tại tỉnh Thái Bình phục vụ công tác phòng chống dịch cúm gia cầm tại các địa phương của tỉnh Thái Bình, góp phần phòng chống dịch cúm gia cầm tại Việt Nam
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung
Cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính
ở gia cầm, do nhóm virus cúm typ A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Đây
là nhóm virus có biên độ vật chủ rộng, được phân chia thành nhiều subtyp khác nhau dựa trên hai kháng nguyên bề mặt capsid của hạt virus là HA và NA Nhóm virus cúm A có 16 subtyp HA (từ H1 đến H6) và 9 subtyp NA (từ N1 đến N9) Sự tổ hợp giữa các subtyp HA và NA sẽ tạo ra nhiều subtyp khác nhau Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng đột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA) hoặc trao đổi các gen với nhau, trong quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ, dẫn đến việc tạo nên nhiều subtyp có độc tính và khả năng gây bệnh khác nhau (Nguyễn Tiến Dũng, 2004)
Trước đây bệnh còn được gọi là bệnh dịch tả gia cầm (Fowl plague), nhưng từ Hội nghị Quốc tế lần thứ nhất về bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm tại Beltsville, Mỹ, năm 1981 đã thay thế tên này bằng tên “Bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm” (Highly pathogenic avian influenza viết tắt là HPAI)
Tổ chức thú y thế giới (OIE) đã xếp HPAI vào danh mục 15 bệnh nguy hiểm nhất của động vật
Virus gây bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm chủ yếu là subtyp H5, H7 và H9, gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loại chim Virus còn gây bệnh cho cả con người và có thể thành đại dịch, vì thế bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết (Cục thú y, 2005; Lê Văn Năm, 2004)
Theo hiểu biết trước đây bệnh chỉ xuất hiện ở gà và gà tây, do typ virus có độc lực cao (HPAI) gây ra và đang lưu hành nhanh chóng qua một loạt các nước Châu Á Gần đây, theo thông báo của Tổ chức Thú y thế giới (OIE) bệnh đã lan sang cả Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Phi Bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm thể độc
Trang 10lực cao hiện nay không chỉ xuất hiện ở loài gà (với tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết 100%)
mà còn xuất hiện ở cả vịt, ngỗng, ngan, chim cút Không những thế, bệnh còn tạo nên một mối quan tâm quốc tế đặc biệt do số lượng người bị nhiễm bệnh và
tử vong do virus H5N1 ngày càng tăng lên Để tránh thiệt hại cho ngành chăn nuôi, đảm bảo nhu cầu thực phẩm của người dân và tránh thảm họa đại dịch cúm ở người, cần phải có biện pháp khống chế thật tốt và tiến tới thanh toán cúm gia cầm
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm Năm
1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xảy ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm qua đã xảy ra 4 vụ đại dịch cúm vào các năm 1889,
1918, 1957, 1968 (Cục Thú y, 2004)
Bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm (Avian Influenza - AI) được Porroncito
mô tả lần đầu tiên ở Italy vào năm 1878 với tên gọi là bệnh “Dịch tả gia cầm” (Fowl plague), đến năm 1901, Centanni và Savunozzi mới xác định được yếu tố gây bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua lọc Tuy nhiên, phải đến năm
1955, Schafer mới xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm A/H5N1
ở gia cầm là virus cúm typ A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác (Schafer, 1955)
Năm 1933, Smith đã phát hiện virus cúm người bằng cách dùng nước rửa mũi - họng của người bị cúm gây lây qua đường mũi cho chồn
Năm 1940, Fransis và Magill đã xác định một virus mới có những đặc tính sinh học và kháng nguyên khác Virus đầu tiên trong số virus đã tìm ra được gọi
là typ A, virus thứ 2 là typ B, virus thứ 3 là typ C
Năm 1963, virus cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di trú dẫn nhập virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, serotyp H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây Mối liên hệ giữa lợn và gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về virus cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu đều cho rằng virus cúm typ A serotyp H1N1 đã ở lợn và truyền cho gà tây, ngoài ra serotyp H1N1 ở vịt còn truyền cho lợn (Cục Thú y, 2004)
Trang 11Bệnh cũng được Beard C.W mô tả khá kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên
gà tây ở Mỹ vào năm 1971 Các năm tiếp theo, bệnh được phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ rồi Nam Phi, Trung Cận Đông, Châu Âu, liên hiệp Anh và Liên Xô cũ (Beard and Schnitziein)
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú (Cục Thú y, 2004)
Dịch cúm gia cầm liên tục bùng nổ khắp các Châu lục trên thế giới, đã thúc đẩy các nhà khoa học tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm (Hội thảo lần đầu tiên vào năm 1981 tại Beltsville MD, lần thứ 2 tại Athen năm 1986, lần 3 tại Madison WI vào 1992, lần thứ 4 tại Athen năm 1997
và lần thứ 5 cũng tại Athen năm 2003) Từ đó đến nay trong các hội thảo về dịch
tễ bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm luôn là một trong những nội dung được coi trọng và được liên tục tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới Qua đó có thể thấy, bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về mặt kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm trên phạm vi toàn cầu
Các mốc thời gian chính trong lịch sử bệnh cúm gia cầm (Lupiani và cs, 2009) như sau:
Năm 1878 Lần đầu tiên mô tả bệnh cúmg ia câmg thể độc lực cao
(HPAI) hay bệnh “dịch tả gà” (“Fowl plague”) Năm 1880 Phân biệt HPAI và bệnh “Fowl cholera”
Năm 1901 Nhận biết nguyên nhân gây HPAI là một loại virus
1901-1930s Các đợt dịch HPAI trên toàn thế giới
Năm 1918 Đại dịch trên người
Năm 1931 Virus cúm đầu tiên được phân lập (trên lợn)
Năm 1941 Nhận biết được tính ngưng kết hồng cầu của virus cúm
Năm 1942
Virus gây HPAI và virus gây bệnh Newcastle được chứng minh là có khả năng gây ngưng kết hồng cầu và có đặc tính huyết thanh học khác nhau
Trang 12Năm 1955 Virus gây HPAI được xác định là một loại của virus cúm A
Năm 1959
Phân lập được virus cúm gây HPAI có đặc tính huyết thanh học trong phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu khác với virus gây Dịch tả gà
1970s
Điều tra chuyên sâu về virus cúm gia cầm ở chim hoang dã
và đã xác định được rằng chim hoang dã có mang tất cả các subtyp đã được nhận biết của virus cúm
Năm 1971 Phân loại virus cúm dựa trên các đặc tính kháng nguyên của
protein NP (typ) và HA, NA (subtyp) và nguồn gốc của loài
1977-1981
Nhận biết được sự có mặt của nhiều loại amino acid cơ bản ở các vị trí phân đoạn của HA có liên quan tới sự lan tràn các
mô và độc lực của các chủng virus cúm gia cầm
Năm 1978 Nhận biết được các chủng virus gây đại dịch 1957 (h2N2) và
1996 (H3N2) là do sự tái tổ hợp giữa các virus cúm gia cầm
Năm 1980 Phânloại ácc virus cúm dựa trên đặc tính kháng nguyên của
proteins NP (typ) và HA, NA (subtyp) bất kể nguồn gốc của loài
Năm 1981
Hội nghị chuyên đề Quốc tế đầu tiên về Cúm gia cầm;
Tên gọi “Cúm gia cầm thể độc lực cao” được đề xuất thay cho tên gọi “Dịch tả gia cầm”
1999-2001 Virus H9N2 truyền sang người
1997 đến nay Virus HPAI H5N1 truyền sang người
2000s Virus H9N2 gây thành dịch ở châu Á
2003 đến nay Virus HPAI H5N1 lan tràn khắp châu Á, châu Âu, châu Phi
và gây thành dịch ở châu Á
1.1.2 Tình hình bệnh dịch
* Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Virus cúm A (H5N1) ở gia cầm phân bố khắp toàn cầu, vì vậy dịch bệnh
đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới
Trang 13- Năm 1983 - 1984 ở Mỹ, dịch cúm gia cầm xảy ra do chủng virus H5N2
ở 3 bang Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu huỷ hơn 19 triệu gà (Phạm Sĩ Lăng, 2004), cũng trong thời gian này tại Ireland người ta đã phải tiêu huỷ 270 nghìn con vịt tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus cúm chủng độc lực cao (HPAI) để loại trừ bệnh một cách hiệu quả, nhanh chóng
- Năm 1977, ở Minesota đã phát hiện dịch trên gà tây do chủng H7N7;
- Năm 1986, ở Australia dịch cúm gia cầm xảy ra tại bang Victoria do chủng H5N2;
- Năm 1997, ở Hồng Kông dịch cúm gia cầm xảy ra do virus cúm typ A subtyp H5N1 Toàn bộ đàn gia cầm của lãnh thổ này đã bị tiêu diệt vì đã gây tử vong cho con người (Cục Thú y, 2004) Như vậy, đây là lần đầu tiên virus cúm A/H5N1 ở gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây cho người ở Hồng Kông làm cho 18 người nhiễm bệnh, trong đó có 6 người chết (Nguyễn Hoài Tao và Nguyễn Tuấn Anh, 2004)
- Năm 1999, Guet on, Hoffman et on và Xuet on đã chứng minh sự xuất hiện của virus H5N1 tại Hồng Kông vào năm 1997 là do sự tổ hợp của virus cúm
từ ngỗng, vịt, mòng và chim cút Vào các năm 2000, 2001, Guet on đã phát hiện
và thấy 8 chủng virus khác nhau lưu hành tại Hồng Kông, trong đó có 5 chủng lưu hành do sự tổ hợp Mặt khác sự tổ hợp gen giữa các chủng virus đã tạo ra loại virus H5N1 có độc lực cao đối với vịt mà thông thường virus cúm không gây bệnh cho thuỷ cầm
Từ giữa tháng 12/2003, đã có 11 quốc gia ở Châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Inđônêxia, Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan, Việt Nam và Pakistan đã thông báo bùng phát dịch cúm gia cầm độc lực cao ở gà và vịt Sự lây lan nhanh chóng dịch cúm gia cầm xảy ra đồng thời ở một
số nước đã trở thành mối quan tâm lớn trên toàn cầu (Bùi Quang Anh, 2005; Cục Thú y, 2004; Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004; Phạm Sỹ Lăng, 2004; Tô Long Thành, 2004)
Trang 14Ngoài các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có các ổ dịch cúm gia cầm do các chủng khác là Pakistan (H7N3 và H9N2), Canada (H7N3), Mỹ (H7N2), Nam Phi (H6 và H5N2), Ai Cập (H10N7)
và Triều Tiên (H7) (Tô Long Thành, 2006)
Giữa năm 2005, dịch cúm gia cầm do H5N1 bắt đầu xuất hiện tại Kazakhstan, Nga rồi nhanh chóng lan rộng sang các nước khác ở khu vực Châu
Âu như Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, rồi tràn sang Châu Phi, các nước khác thuộc Châu Á như ở vùng Vịnh, Trung Quốc và Iraq Tính đến ngày 02/8/2006, chủng virus độc lực cao H5N1 đã có mặt tại 51 quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu khắp các châu lục, tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Âu
Ngoài thiệt hại về kinh tế do bệnh gây ra, theo thống kê số người bị nhiễm cúm gia cầm H5N1 của các nước báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ tháng 12/2003 đến tháng 6/2008, đã có tới 385 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó có 243 trường hợp đã tử vong chiếm 63,11% Trong đó, Việt Nam và Indonesia là 2 nước có số người tử vong và nhiễm cao nhất do virus cúm A(H5N1) trên thế giới (Indonesia có số người tử vong do nhiễm cúm gia cầm 110/135 người; Việt Nam 52/106 người)
Năm 2013, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra ở 17 nước trên thế giới, riêng tại Trung Quốc đã xảy ra dịch cúm A/H7N9 trên người tại 12 tỉnh làm 140 người mắc bệnh và đã gây tử vong 47 người (ca bệnh đầu tiên xảy ra vào ngày 17/02/2013); Gần đây, tại tỉnh Giang Tây - Trung Quốc đã phát hiện có 01 người mắc bệnh cúm A/H10N8 và đã tử vong vào ngày 06/12/2013, kết quả giám sát virus này, đã tìm thấy trên các loài chim hoang dã, đã có biến đổi và lây sang người Đặc tính của virus cúm A/H7N9 là dễ biến đổi, thích nghi cao với động vật có vú, có khả năng lây lan rộng Tuy nhiên, đến nay chưa có hiểu biết đầy đủ các nguồn lây bệnh Đặc biệt biểu hiện cúm A/H7N9 ở gia cầm không rõ ràng
Từ tháng 01/2014 đến ngày 21/02/2014, tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1, H7N9, H10N8 diễn biến phức tạp, dịch đã xảy ra tại một số nước trong khu vực như: Căm-phu-Chia, Trung Quốc, Hàn Quốc cụ thể:
Trang 15- Tại Căm-phu- chia: đã phát sinh dịch cúm gia cầm cúm A/H5N1 với số lượng gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1, chết là 5.250 con;
- Tại Trung Quốc:
Dịch cúm A/H5N1 phát sinh, lây lan tại tỉnh Quý Châu, Hà Bắc, với số gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1, chết là 81.564 con; Dịch cúm A/H5N2 phát sinh tại tỉnh Sơn Đông, với số gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1, chết là 18.857 con Đồng thời, diễn biến dịch cúm A/H7N9 ở người rất phức tạp, từ 01/4/2013 (ca tử vong đầu tiên) đến 18/02/2014, tại Trung Quốc có 355 trường hợp nhiễm,
67 tử vong, số ca mắc bệnh hiện đang có chiều hướng gia tăng
- Tại Hàn Quốc: Phát sinh 05 ổ dịch cúm A/H5N8 với số gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1, chết và tiêu hủy là 60.580 con
* Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
- Dịch cúm A/H5N1 ở gia cầm
Cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm phát ra tại trại gà giống của Công ty C.P (Thái Lan) ở xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây gây ốm, chết 8.000 gà trong 4 ngày Ngày 02/01/2004, Công ty đã tiến hành tiêu huỷ 107.000 gà (Trần Hữu Cổn, Bùi Quang Anh, 2004) Dịch đã nhanh chóng lây lan
ra hầu hết các tỉnh trong cả nước
Dịch cúm gia cầm xảy ra vào cuối năm 2003 đầu năm 2004, là dịch cúm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam nên sự nghiên cứu về bệnh còn chưa sâu Để xác định chủng virus gây bệnh, Chính phủ đã gửi mẫu bệnh phẩm sang Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) của Hoa Kỳ để xác định loại protein N và đã xác định được virus gây bệnh trên đàn gia cầm là H5N1
Các năm 2008 - 2012, dịch cúm gia cầm tiếp tục xảy ra các ổ dịch rải rác trên cả nước, các năm 2010, 2011 và 2012 tình hình dịch có diễn biến phức tạp hơn, đã gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm, cụ thể:
Năm 2010: Dịch xảy ra ở 56 xã ở 33 huyện thuộc 19 tỉnh, với 75.970 gia cầm phải tiêu huỷ, bao gồm: 29.048 con gà (chiếm 38.2%); 43.975 con vịt (chiếm 57,90%) và 2.965 con ngan chiếm 3,9 %;
Trang 16Năm 2011: Dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại 71 xã của 40 huyện ở 21 tỉnh, với 99.789 gia cầm mắc mắc bệnh (trong đó gà 37.558 con, vịt 61.171 con
và 1.051 ngan); Số gia cầm buộc phải xử lý là 132.667 con
Theo báo cáo của Cục Thú y, giai đoạn 2012- 2013, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại 50 xã (giảm 83% so với năm 2012), phường của 23 huyện, quận (giảm 81% so với năm 2012) thuộc 7 tỉnh (giảm 78% so với năm 2012), làm 59.829 con gia cầm mắc bệnh cúm A (H5N1); số gia cầm chết và tiêu hủy là 79.522 con (giảm 88% so với năm 2012);
Kết quả chương trình giám sát sự lưu hành virus cúm ở gia cầm bán tại chợ năm 2012 của Cục Thú y ở 30 tỉnh, thành phố trên cả nước, cho kết quả: 29/30 tỉnh, thành phát hiện có virus cúm A; 23/30 tỉnh, thành đã phát hiện có virus cúm H5; 20/30 tỉnh, thành đã phát hiện có virus cúm H5N1
Tháng 01/2014 - 21/02/2014, trên địa bàn cả nước đã phát sinh nhiều ổ dịch cúm A (H5N1) ở gia cầm, tính đến 21/02/2014, thống kê của Cục Thú y trên
cả nước có 67 ổ dịch cúm A (H5N1) tại 17 tỉnh, với số gia cầm mắc bệnh cúm A (H5N1), chết là 61.196 con; Số gia cầm phải tiêu hủy là 84.653 con Riêng trong tháng 01/2014, ở người đã phát hiện 02 trường hợp mắc cúm A/H5N1 và đã tử vong tại tỉnh Bình Phước, Đồng Tháp
- Dịch cúm A /H7N9 ở gia cầm
Đến nay, trên cả nước chưa phát hiện gia cầm, môi trường và người tại Việt Nam bị nhiễm virus cúm A/H7N9, tuy nhiên với sự xuất hiện nhiều ca bệnh cúm A /H7N9 trên người và gia cầm tại các tỉnh biên giới liền kề với nước ta; Virus cúm A /H7N9 không xuất hiện triệu chứng lâm sàng trên gia cầm do đó khó phát hiện, nguy cơ phát sinh dịch vào nước ta là rất đáng lo ngại
1.2 Căn bệnh
1.2.1 Hình thái, cấu trúc
Virus có dạng hình cầu hoặc xoắn, đường kính trung bình của hạt virus từ 80-120 nm Virus có vỏ bọc ngoài Phân tử lượng của hạt virus khoảng 250 triệu Dalton
Trang 17Hình 1.1 Cấu tạo bên ngoài của virus cúm gia cầm
Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền ARN của virus, bản chất cấu tạo là màng lipit kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hoá gắn vào các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng
500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10-14 nm có đường kinh 4-6 nm, đó là những kháng nguyên bề mặt vỏ virus, bản chất cấu tạo
là glycoprotein gồm HA, NA, MA (matrix) và các dấu ấn khác của virus Có sự phân bố không đồng đều giữa các phân tử NA và HA (tỷ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là hai loại protein kháng nguyên có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus tế bào cảm nhiễm
Hệ gen của virus cúm A là ARN sợi đơn âm (viết tắt là (-) ssRNA) gồm 8 phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS, NP, PA, PB1 VÀ PB2) nối với nhau thành một sợi duy nhất bên trong vỏ capsid, mã hoá cho 11 protein tương ứng của virus, trong đó phân đoạn M mã hoá cho 2 protein là M1 và M2; phân đoạn
NS mã hoá cho 2 protein là NS và NEP, phân đoạn PB1 mã hoá cho 2 prrotein là PB1 và PB1-F2 Các phân đoạn gen M, NP và NS mã hoá tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A Tất cả 8 đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng thông qua phương pháp điện di, các protein có vỏ bọc nhân nối 8 đoạn này với nhau, được bọc bên ngoài bằng các protein và có màng lipip ở ngoài cùng (Alexander, 1993; WHO Expert committee, 1980)
Trang 18Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm
(Nguồn:http://www.biolog.p/ptasia-grypa-5.htm)
Phân đoạn 1-3: mã hoá cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có chức năng là enzym polymerase tổng hợp axid Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus
Phân đoạn 4: mã hoá cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào, có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hoà virus HA là polypeptid gồm 02 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptid ngắn, thuộc loại hình mo typ riêng đặc trưng cho các subtyp H (H1-H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến
Trang 19chủng Mô typ của chuỗi oligopeptid này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtyp H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới
Phân đoạn 5: mã hoá cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein được phosphoryl hoá, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group – specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi là Ribonucleo protein
Phân đoạn 6: mã hoá cho protein enzym Neuraminidae (NA), có chức năng là một enzym phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân đoạn 7: mã hoá cho hai tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1
và M2 là protein màng không được glycosyl hoá, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus
Phân đoạn 8: có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hoá cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interferon
Đoạn ARN có trọng lượng nhỏ nhất mã hoá cho 2 loại không có cấu trúc protein là NS1 và NS2, chúng dễ dàng tách được ở các tế bào bị nhiễm Các đầu 5’ và 3’ của hệ gen chứa những chuỗi nucleotit bảo tồn về thành phần có chức năng là promotor khởi động sao chép của hệ gen virus Thành phần hoá học của virus: ARN 0,8-1%; 5-8% carbonhydrate; 20% lipid và 70% protein
Virus cúm typ A được xác định subtyp dựa trên cơ sở kháng nguyên (protein) bề mặt Virus cúm gia cầm có mang 2 loại kháng nguyên chính là hemagglutinin (HA) có đặc tính gây ngưng kết hồng cầu và neuraminidase (NA)
là một enzym làm cầu nối acid neuraminic với polysaccarid, giải phóng acid neuraminic và phá huỷ thụ thể mucoproteit của hồng cầu Hemagglutinin được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A Đối với sự lây nhiễm, 2 kháng nguyên H và N có vai trò rất lớn giúp virus gây bệnh Kháng nguyên H giúp virus bám vào tế bào và nhờ đó virus xâm
Trang 20nhập vào bên trong tế bào; kháng nguyên N giúp virus ra khỏi tế bào đã nhiễm để lan sang tế bào lành khác
Virus cúm được phân loại serotyp chủ yếu dựa vào các phản ứng huyết thanh học của các protein (chủ yếu là NP và M1), gồm 3 loại: A, B và C Cúm gia cầm typ A được phân lập từ các loài gia cầm Tất cả cúm gia cầm thuộc typ B
và typ C chủ yếu phân lập ở người, hải cẩu và lợn mà không phân lập được từ gia cầm Riêng virus cúm typ A còn phân lập thành các subtyp dựa vào kháng nguyên HA (gồm 16 loại) và NA (gồm 9 loại)
Virus cúm A thường có đột biến gen và tạo ra các subtyp mới:
- Drift (trôi dạt): là loại đột biến của kháng nguyên HA hoặc/và NA làm thay đổi nhỏ tính kháng nguyên, gây ra các vụ dịch nhỏ hàng năm; do vậy, vacxin cũng cần phải thay đổi cho phù hợp
- Shift (di chuyển): là sự tái tổ hợp giữa 2 đoạn gen của 2 virus cúm đồng nhiễm vào một tế bào tạo ra kháng nguyên HA và NA hoàn toàn mới, gây ra các
vụ đại dịch
Virus cúm được chia thành 4 nhóm là:
- Virus có độc lực cao (Highly Virulent): gồm các virus HPAI H5 hoặc H7 gây bệnh cho gà với tỷ lệ gây chết cao Triệu chứng thể hiện ở hầu hết các cơ quan, trong đó có triệu chứng thần kinh và hệ tuần hoàn Tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết
có thể lên đến 100%
- Virus có độc lực vừa (Moderately Virulent): tỷ lệ gây chết từ 5-97% ở gà con, gà đẻ Bệnh tích đặc trưng thường gặp ở đường hô hấp, sinh sản, thận hoặc tuỵ Bệnh nặng hơn nếu như kế phát virus hoặc vi khuẩn gây bệnh khác
- Virus có độc lực thấp (Mildly Virulent): tỷ lệ gây chết thấp (< 5%), có triệu chứng nhẹ ở đường hô hấp và giảm tỷ lệ đẻ
- Virus không có độc lực (Avirulent): gồm các chủng virus không gây ra dịch cúm với các triệu chứng lâm sàng và không gây chết gà
1.2.2 Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Vỏ của virus cúm A có bản chất là glycoprotein, bao gồm 2 kháng nguyên: kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H, hay còn gọi là HA (Hemaglutinin)
Trang 21và kháng nguyên trung hoà N, hay còn gọi là NA (Neuraminidase) HA có vai trò giúp virus gắn vào tế bào vật chủ, còn NA có tác dụng giải phóng virus khỏi các
tế bào Kháng thể đối với HA có tác dụng bảo vệ vật chủ trước virus cúm (đối với các chủng tương ứng), trong khi đó kháng thể đối với NA giúp thay đổi mức
độ trầm trọng khi mắc bệnh
Tới nay, các nhà khoa học đã tìm thấy 16 loại kháng nguyên H (được đánh
số thứ tự từ H1 đến H16) và 9 loại kháng nguyên N (được đánh số thứ tự từ N1 đến N9) Những cách tổ hợp khác nhau của hai loại kháng nguyên này tạo nên các phân nhóm khác nhau của virus cúm A Trong quá trình lưu hành của virus cúm A, hai kháng nguyên này, nhất là kháng nguyên H, luôn luôn biến đổi Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là “trôi” kháng nguyên (antigenic drift) diễn ra khi xuất hiện điểm đột biến trong chuỗi ARN của virus cúm A Hiện tượng này thường gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ (còn gọi là dịch cúm theo mùa)
Virus cúm typ A được xác định subtyp dựa trên kháng nguyên (protein) bề mặt là HA (Hemagglutinin – viết tắt là H) và NA (Neuraminidase – viết tắt là N)
có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ Hemagglutinin được coi là yếu tố vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus cúm A Theo Ito T and ect (1998) và Kawaoka Y (1991) sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên của virus cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Có 2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm: Đột biến điểm và đột biến tái tổ hợp di truyền
Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vacxin cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito, Couceiro and etc, 1998; Kawaoka, 1991)
Trên thực tế, các nhà khoa học đã phát hiện virus cúm có thể nhanh chóng trao đổi nhiều gen cùng một lúc để tạo ra các chủng mới, kháng thuốc chứ không phải trao đổi dần dần từ mùa cúm này sang mùa cúm khác Khi phân tích 156 chủng virus cúm A lưu hành trong thời kỳ 1999 - 2004 tại New York, các nhà
Trang 22khoa học đã phát hiện một số chủng thay đổi ít nhất 4 lần trong một thời gian ngắn Điều đó cho thấy các chủng virus cúm có thể biến đổi lớn trong mỗi mùa, gây khó khăn lớn cho công tác phòng trị Khi nghiên cứu di truyền học của virus H5N1 các nhà khoa học của Việt Nam cũng nhận thấy chúng có nhiều thay đổi Trong các đàn vịt nuôi của Việt Nam không chỉ có H5N1 mà còn có nhiều loại virus cúm A (H5N1) ở gia cầm khác như H3, H4, H7, H8, H9 và H11 (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2005; Nguyễn Tiến Dũng, Đào Thanh Vân và cs, 2005)
Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng
HA, chỉ có kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của vi rút, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2 không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu
X, Tumpey, 1999; Seo and Webter, 2001)
1.2.3 Tính thích ứng đa vật chủ của virus cúm A/H5N1
Vật chủ tự nhiên của tất cả các chủng virus cúm A/H5N1 là chim hoang
dã (chủ yếu là vịt trời), đây là nguyên nhân lan truyền virus trong tự nhiên rất khó kiểm soát Virus cúm A có khả năng gia tăng biên độ vật chủ của chúng trong quá trình lây truyền tự nhiên Nhờ đặc tính luôn thay đổi kháng nguyên trong tự nhiên, virus cúm A có khả năng xâm nhiễm ở nhiều loài vật chủ trung gian khác nhau như gia cầm, một số loài động vật có vũ (hải cẩu, cá voi, ngựa, lợn) và cả ở người, tạo nên tính thích ứng lan truyền (nội loài” như gà – gà, hay
“ngoại loài” như gà – lợn; gà – lợn – người Vịt (vịt trời) và một số loài thuỷ cầm khác (ngỗng) luôn luôn là vật chủ tàng trữ nguồn virus gây nhiễm Đặc điểm thích ứng vật chủ này là điều kiện thuận lợi cho virus cúm A trao đổi, tái tổ hợp các phân đoạn gen, đặc biệt là các phân đoạn gen kháng nguyên (gen “độc” HA
và NA) giữa các chủng, tạo ra một chủng virus cúm mới có khả năng thích ứng xâm nhiễm ở loài vật chủ mới của chúng đặc biệt khi chúng vượt qua được “rào cản loài” dễ dàng thích ứng lây nhiễm gây bệnh từ gia cầm sang người và giữa người với người Trong lịch sử đại dịch cúm ở người, lợn thường là vật chủ trung gian chuyển tiếp giúp cho virus cúm A biến đổi dễ dàng lây nhiễm sang người gây nên bệnh dịch
Trang 23Ví dụ: cúm A/H3N2 là kết quả tái tổ hợp tự nhiên của virus cúm A/H2N2 của người và virus chứa gen H3 trong tự nhiên thông qua đồng nhiễm trên lợn, gây nên đại dịch cúm Châu Á năm 1968
1.2.4 Độc lực của virus
Độc lực của virus cúm A/H5N1 ở gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là protein HA Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả năng lây nhiễm của virus phụ thuộc vào tác động của men proteaza vật chủ đến sự phá vỡ của liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết, thực chất là sự cắt rời protein HA thành 2 tiểu phần HA1 và HA2
Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của men protease lại phụ thuộc vào số lượng các aminoaxit cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ các liên kết Các enzim giống trypsin có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một phân tử Arginine, trong khi đó các enzim protease khác lại cần nhiều amino axit cơ bản
Vì thế ở một số nước đánh giá độc lực của virus trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các aminoaxit của virus Cụ thể người ta quan tâm đến việc giải trình tự vùng “cleavage site” của gen HA mà sự có mặt của các aminoaxit như arginine (R) hay lysine (K) sẽ cho phép dự đoán rằng virus đó có độc lực cao hay không Tuy nhiên, người ta thường chỉ thực hiện điều này đối với virus thuộc subtyp H5 và H7
Trong thực tế, người ta chia virus cúm ra làm 2 loại: loại virus có độc lực thấp – LPAI và loại virus có độc lực cao – HPAI
- LPAI là loại virus khi phát triển trong cơ thể nhiễm, có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Đây là loại virus lây truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm
A Loại này có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng một tế bào và trở thành một loại HPAI nguy hiểm
- HPAI là loại virus cúm A có khả nảng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể nhiễm, trên gia cầm chúng thường gây chết 100% số gia cầm bị nhiễm trong vòng 48 giờ sau nhiễm Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà, tế bào thận chó (MDCK) không có trypsin Các vụ dịch lớn đều do virus HPAI gây ra, thường là virus có kháng nguyên H5 và H7
Trang 24Virus cúm A có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp, gây bệnh chủ yếu ở đường hô hấp và cũng có tác động làm tổn thương nhiều cơ quan khác trong cơ thể của động vật cảm nhiễm, do đó còn được gọi là virus hướng đa phủ tạng
1.2.5 Đặc tính sinh học và sức đề kháng của virus cúm
1.2.5.1 Sự hấp phụ virus
Virus gắn kết vào bề mặt tế bào bằng cách gắn đầu ngoài của HA vào acid sialic của các glycolipid và glycoprotein của tế bào, nối sialic acid vào đường galactose gần sát phần đuôi hoặc alpha 2, 3 (ở chim) hoặc alpha 2, 6 (ở người), sẽ quyết định tính chuyên biệt ký chủ Do trên nhiều dòng tế bào của sinh vật đều
có gốc carbohydrat chứa sialic acid cho nên khả năng gắn kết của HA lý giải vì sao nhiều loại tế bào trong một sinh vật có thể nhiễm virus cúm
1.2.5.2 Virus trong tế bào
Sau khi gắn vào trong tế bào, virus được đưa vào bên trong tế bào theo cơ chế nội bào (endocytosis) trung gian qua thụ thể có bọc clathrin Khi đã vào bên trong tế bào, các phân tử Clathrin sẽ được phóng thích và bọc nhỏ có chứa toàn
bộ virus bên trong sẽ hoà màng với thể nội bào (endosome) Những gì nằm bên trong túi nhỏ thường sẽ bị tiêu đi khi pH bên trong thể thực bào giảm dần
1.2.5.3 Virus cởi vỏ bọc
Khi pH bên trong hạ thấp xuống một mức độ nào đó thì sẽ dừng lại do tác động của protein M2 Protein này lại dẫn dụ sự phóng thích một phần của peptid hoà màng của HA Điều này cho phép sự hoà nhập HA với màng của vỏ bọc nhỏ và phóng thích các Ribonucleoprotein (RNP) vào trong bào tương như
mô tả ở trên Khi ion tràn từ thể nội bào vào virus sẽ dấn tới sự phân tách nhiều protein virus khác nhau; protein M1 mất kết cụm và RNP không còn dính vào phức hợp protein M1 Hiện tượng cởi vỏ hoàn tất trong vòng 20-30 phút khi virus gắn vào tế bào
1.2.5.4 Sự tổng hợp RNA và các protein của virus
Các RNP được vận chuyển vào bên trong nhân Tại đây, phức hợp polymerase gắn vào RNA virus, rồi qua hoạt tính endonuclease sẽ chia tách RNA
Trang 25virus và đồng thời kéo chuỗi RNA ra NP đóng vai trò điều chỉnh sự sản xuất RNA virus chủ yếu là mRNA Cả hai được vận chuyển vào trong bào tương – là nơi mà ty lạp thể sản xuất ra các protein virus Phần của mRNA virus được nối lại bằng enzym của tế bào để cuối cùng các protein virus, như M1 và NS2, có thể được tổng hợp mà không cần phải chia tách thêm Một số trong các protein virus mới tổng hợp được vận chuyển vào bên trong nhân là nơi chúng sẽ gắn với các RNA virus để tạo thành RNP Những protein virus được tổng hợp mới khác sẽ gắn thêm gốc đường tại hệ nội võng và bộ Golgi Những protein cải biến này sẽ được vận chuyển ra ngoài màng tế bào rồi bám dính vào màng lipid 2 lớp Khi đạt đủ nồng độ tại màng bào tương, các protein RNP và M1 kết tụ và cô đặc lại thành những vi hạt virus Cuối cùng, vi hạt này được tống xuất ra khỏi màng tế bào và được Neuramidase phóng thích Thời gian tính từ lúc virus xâm nhập đến khi sản sinh được virus mới trung bình là 6 giờ
1.2.5.5 Thải loại virus và tính lây nhiễm
Các hình ảnh tổ chức miễn dịch cho thấy, các tế bào sinh sản virus tụ tập thành từng cụm trong lớp màng niêm mạc của đường hô hấp, ruột và ngay cả ở các lớp nội mạc mạch máu, cơ tim và não Có đến hàng triệu hạt virus được thải loại trong dịch tiết ở mũi, cho nên 0,1 µl hạt khí dung chứa trên 100 vi hạt virus Một liều virus cúm gây nhiễm ở người có thể chứa từ 100 đến 1.000 vi hạt Ngay
từ khi mới nhiễm cúm, đã có thể phát hiện virus trong máu và trong các dịch cơ thể khác
Tính lây nhiễm của các vi hạt virus cúm được duy trì tuỳ theo nhiệt độ,
pH, độ mặn của nước và độ chiếu xạ cực tím Ở 40C, thời gian nửa đời của tính lây nhiễm khoảng 2-3 tuần trong nước Do cấu tạo của 2 lớp lipid, thời gian tồn tại ở các điều kiện môi trường bình thường có thể ngắn hơn Vi hạt virus cúm dễ mất tính lây nhiễm với chất khử khuẩn còn gốc cồn, chlorin và alđehy Tính lây nhiễm của virus sẽ bị diệt trong vòng vài giây ở nhiệt độ > 700C
1.2.5.6 Sức đề kháng của virus
Do bản chất là lipoprotein, virus có sức đề kháng yếu, virus không bền vững với nhiệt độ, ở 56 - 600C chỉ vài phút virus mất độc lực Tuy nhiên, virus
Trang 26tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như phân gà ít nhất 3 tháng, 30 - 35 ngày ở nhiệt độ 40C, 7 ngày ở nhiệt độ 200C Trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm
và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004)
Trong nước ao hồ virus vẫn có thể duy trì đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở nhiệt độ 220C và trên 30 ngày ở nhiệt độ 00C (Webster R G, W J Bean, 1992)
Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên virus cúm dễ bị bất hoạt bởi các chất như formaldehyd, natri hypochlorite 5,25%, acid loãng, xút 2%, , sau khi tẩy vỏ, các hóa chất như phenolic, NH4+, axit loãng, natrihypochlorit và hydroxylanine có thể phá hủy virus cúm A (H5N1) ở gia cầm Người ta thường dùng các hóa chất này như các chất sát trùng hữu hiệu để tẩy uế chuồng trại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi
1.2.6 Đáp ứng miễn dịch của gia cầm đối với virus
Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, sự chăm sóc nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào bản chất kháng nguyên Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như sau:
+ Bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất là protein và có tính kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt
+ Đường xâm nhập của kháng nguyên: thường đường xâm nhập tốt nhất là dưới da và trong bắp thịt
+ Liều lượng kháng nguyên: lượng kháng nguyên đưa vào vừa đủ sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức tối đa mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch
+ Số lần đưa kháng nguyên vào cơ thể: tiêm nhắc lại vacxin có tác dụng tốt, kháng thể sinh ra nhiều hơn và được duy trì trong thời gian lâu hơn
+ Chất bổ trợ: chất bổ trợ cho vào khi chế vacxin với mục đích giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể nhờ đó tạo kích thích liên tục, đều đặn các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì được lâu hơn Những chất bổ trợ thường dùng là keo phèn, nhũ tương, dầu khoáng, dầu thực vật, saponin
Trang 271.2.7 Động vật cảm nhiễm
Tất cả các loài chim thuần dưỡng (gia cầm) hoặc hoang dã (đặc biệt các loài thuỷ cầm di cư) đều mẫn cảm với virus Bệnh thường phát hiện khi lây nhiễm cho gia cầm (gà, vịt, gà tây, chim cút) Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm A
Virus cúm của loài chim có thể gây bệnh cho các loài động vật có vú (lợn, ngựa ) và cả con người
Virus cúm typ A phân bố ở hầu hết các loài chim và động vật có vú từ loài sống trên cạn đến loài sống dưới nước (cá voi, hải cẩu ) Lợn mắc bệnh cúm thường do subtyp H1N1, H3N3 Vịt nuôi cũng bị nhiễm virus cúm nhưng ít phát hiện do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh kể cả chủng có độc cao gây bệnh nặng cho gà, gà tây
Virus cúm đã phân lập được ở hầu hết các loài chim hoang dã như vịt trời, thiên nga, hải âu, mòng biển, vẹt, vẹt đuôi dài, vẹt mào, chim thuộc họ sẻ, diều hâu Tần xuất và số lượng virus phân lập được ở thủy cầm (đặc biệt vịt trời) đều cao hơn các loài khác (Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004)
Kết quả điều tra thuỷ cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non mang virus do tập hợp đàn trước khi di trú
Trong các loài thuỷ cầm di trú thì vịt trời có tỷ lệ bị nhiễm virus cao hơn các nhóm khác
Khi nghiên cứu sự lưu hành của virus cúm A (H5N1) ở gia cầm ở khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2005; Nguyễn Tiến Dũng, Đào Thanh Vân và cs, 2005) phát hiện thấy vịt nuôi là con vật mang trùng và gây bệnh trong khu vực châu thổ đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long; chính đàn vịt thuần hoá là nơi lưu giữ virus cúm A (H5N1) ở gia cầm và gây ra dịch địa phương sau khi đợt dịch lần thứ nhất kết thúc
Các ổ dịch trong những năm gần đây, số lượng thủy cầm mắc và chết do virus cúm A (H5N1) nhiều hơn so với gà (các năm 2012 - 02/2014, số thủy cầm mắc bệnh chiếm trên 70% số gia cầm mắc bệnh cúm A (H5N1), các ổ dịch phát sinh từ tháng 01/2014 - 21/02/2014 đã có số gia cầm tiêu hủy là 30.777 con,
Trang 28trong đó: gà chiếm 25% và vịt chiếm 75%); Virus cúm A (H7N9) có thể tồn tại ở trên gia cầm nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh
1.2.8 Khả năng truyền lây
Lây trực tiếp do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm Theo các tổ chức WHO và FAO thì con người có nguy cơ lây nhiễm virus cúm A/H5N1 ở gia cầm cao nhất là do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm
bị bệnh trong quá trình bắt và giết mổ
Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần hoặc những dụng cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh cúm A/H5N1 bài thải qua phân hoặc lây qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, Đây là phương thức lây truyền chủ yếu
Như vậy, virus cúm dễ dàng lây truyền tới những vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, Đối với các virus gây bệnh cúm truyền nhiễm độc lực cao ở gia cầm thì sự truyền lây chủ yếu qua phân, đường miệng
1.2.9 Triệu chứng và bệnh tích
1.2.9.1 Triệu chứng của bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm
Thời kỳ nung bệnh từ vài giờ đến 3 ngày, tuỳ theo lượng virus nhiễm, đường nhiễm bệnh và loài vật thụ cảm
Thời kỳ lây nhiễm từ 3-7 ngày kể từ khi có triệu chứng bệnh
Biểu hiện lâm sàng: các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh diễn biến rất đa dạng và phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực, số lượng vi rút, loài nhiễm bệnh, mật độ chăn nuôi, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng, tình trạng miễn dịch của vật chủ trước khi nhiễm virus và sự cộng nhiễm cùng với virus cúm A (H5N1) ở gia cầm của các vi khuẩn, virus khác như E.coli, các Mycoplasma, Ncicatin…(Nguyễn Tiến Dũng, 2004)
Triệu chứng điển hình là gia cầm chết ác tính, chết đột ngột, chết nhiều, chết giống ngộ độc với tỷ lệ chết từ 20-100% Gà thường sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn uống, giảm đẻ, suy yếu và đứng tụm lại thành từng đám, lông xù, xơ xác, vùng
Trang 29da không có lông và da chân xung huyết màu thâm tím Gà có các triệu chứng cảm mạo như: chảy nước mũi, dịch mũi nhày màu xám, khó thở, vươn cổ để thở, thở khò khè, hắt hơi, chảy nước mắt, viêm kết mạc mắt, nhắm mắt Sưng phù đầu, mào tích sưng phù, màu tím sẫm Con vật có triệu chứng thần kinh như co giật, mất thăng bằng, vận động xoay tròn Gà bị ỉa chảy
Những dấu hiệu lâm sàng này dễ thấy ở gia cầm trước khi chết, nếu bệnh bùng phát nhanh thì gia cầm bị chết nhưng chưa có bất kỳ biểu hiện lâm sàng Nhưng khi có các vi khuẩn cộng nhiễm với virus cúm hoặc gia cầm bị điều kiện môi trường bất lợi tác động thì các biểu hiện lâm sàng cũng nặng hơn
1.2.9.2 Bệnh tích của bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm
Mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh (Lê Văn Năm, 2004)
Bệnh tích chủ yếu của cúm gia cầm là sung huyết, xuất huyết, tiết nhiều dịch rỉ viêm, hoại tử các cơ quan và hoại tử cơ Mổ khám gia cầm chết thấy: mào, tích sưng to, tím sẫm, phù mí mắt, phù có keo nhày và xuất huyết dưới
da đầu
Ở hệ thống tiêu hoá: xuất huyết điểm ở miệng, viêm cata và xuất huyết
niêm mạc ruột, xuất huyết dạ dày cơ, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến giống bệnh Newcastle Hạch ruột sưng, màng ruột bị viêm có tơ huyết
Ở hệ thống hô hấp: viêm cata và viêm tơ huyết niêm mạc khí quản, khí
quản phù, chứa nhiều dịch nhày, dịch nhày có thể đông đặc như pho mát, tăng sinh túi khí, phổi sưng to
Các cơ quan tổ chức khác: viêm tơ huyết tương mạc của các cơ quan nội
tạng như màng bao tim, màng gan Gan, lách, thận sưng to, có điểm hoại tử màu vàng hoặc xám Xuất huyết mỡ vành tim, xuất huyết và hoại tử tuyến tuỵ, tuyến tuỵ màu vàng có các vệt màu sẫm
Xuất huyết điểm ở túi Fabricius và lỗ huyệt Phù keo nhày và xuất huyết
cơ đùi phần giáp đầu gối Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng và vỡ trứng non Da chân sung huyết đỏ thẩm Chảy máu ở các lỗ chân lông, máu không đông hoặc
Trang 30Chẩn đoán virus học
Bệnh phẩm dùng để phân lập virus gồm: dịch nhày họng, khí quản, ổ nhớp; các bộ phận nội tạng như gan, lách, phổi; phân hoặc chất chứa đường ruột Bệnh phẩm được đựng trong dung dịch bảo quản hoặc các dụng cụ tiệt trùng tuỳ theo từng loại mẫu
Mẫu được giữ ở 40C và phải tiến hành phân lập virus trong phạm vi 48 giờ Trường hợp cần bảo quản lâu dài thì nên giữ mẫu ở -700C
Phương pháp xét nghiệm: sử dụng phương pháp tiêm truyền qua phôi trứng và phản ứng ngưng kết hồng cầu gà hoặc sử dụng kỹ thuật RT-PCR để xác định virus
1.2.11 Một số nghiên cứ về sinh học phân tử virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam
Nghiên cứu đặc tính sinh học phân tử (định typ, biến đổi di truyền và gen học tiến hoá) của virus gây bệnh cúm gia cầm H5N1 được các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam tiến hành ngay từ những tháng đầu tiên xảy ra dịch cúm gia cầm cuối năm 2003 (Lê Thanh Hoà và cs, 2008) Các chuỗi gen giúp xác định phân typ H5, phân typ N1 và các gen cấu trúc đã được Viện Pasteur Hồ Chí Minh, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương, Viện thú y giải mã và công bố trên ngân hàng gen (Lê Thanh Hoà và cs, 2006; Nguyen và cs, 2008; Nguyễn Thị Bích Nga và lê Thanh Hoà, 2012) Trên cơ sở phân tích trình tự gen kháng nguyên H5 và N1, các tác giả khẳng định nguồn gốc của virus cúm A gây bệnh trên đàn gia cầm và người tại Việt Nam cùng nhóm với virus H5N1 phân lập tại Trung Quốc (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004; Lê Thanh Hoà và cs, 2006; Muramoto và cs,
Trang 312006; Wan và cs, 2008) Các biến chủng H5N1 của Hồng Kông, Trung Quốc phân lập những năm 1997-2001 và Hàn Quốc, Đài Loan phân lập năm 2003 đều
có nguồn gốc từ chim cút và ngỗng (A/Goose/guandong/1/96) vùng Quảng Đông, đó là các biến chủng thuộc dòng Quảng Đông (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004; Lê Thanh Hoà và cs, 2008) Như vậy virus cúm gia cầm gây bệnh ở gia cầm và người của Việt Nam là cúm H5N1 typ A thuộc thế hệ mới đã có biến đổi
về gen H5 và N1, nhưng vẫn cùng nguồn gốc với H5N1 từ vùng địa lý Nam Trung Quốc và Hông Kông (Nguyễn Tiến Dũng và cs, 2004; Nguyen và cs, 2008; Li và cs, 2004; Smith và cs, 2006) Sự xâm nhập và tiến hoá của các biến chủng virus cúm A/H5N1 ở Việt Nam cũng được nhiều tác giả nghiên cứu (Nguyen và cs, 2008; Wan và cs, 2008; Nguyen và cs, 2009; Nguyễn Thị Bích Nga và Lê Thanh Hoà, 2012; Văn Đăng Kỳ, 2012) đã và đang làm phức tạp thêm vấn đề dịch tễ học và quan hệ kháng nguyên – miễn dịch
Những kết quả nghiên cứu về cúm gia cầm A/H5N1 ở gia cầm và người trên nền virus cúm A/H5N1 của Việt Nam đã và đang làm sáng tỏ thêm về mối quan hệ tiến triển bệnh học lây nhiễm, dịch tễ học phân tử, phát triển tiến hoá và genotyp và kháng nguyên – miễn dịch – vacxin của cúm gia cầm tại Việt Nam (Lê Thanh Hoà và cs, 2008) Tuy nhiên, trong những năm đầu tiên khi dịch cúm gia cầm mới bùng phát, do tập trung đối phó với dịch nên phần lớn các công trình nghiên cứu về virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam còn thiếu sự gắn kết giữa nghiên cứu về gen và nghiên cứu dịch tễ học; những năm sau đó, các nghiên cứu dần dần có tính hệ thống hơn Các công trình nghiên cứu chủ yếu là về virus cúm A/H5N1, tập trung trong lĩnh vực dịch tễ học và khả năng kháng thuốc của virus, chưa quan tâm nhiều đến các phân typ của virus cúm A khác nên rất khó dự đoán khả năng trao đổi chéo, tái tổ hợp gen giữa các phân typ virus cúm A Gần đây, Viện Công nghệ sinh học, trên cơ sở đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đã hoàn thiện quy trình sản xuất vacxin NIBRG – 14 (clade 1) và đã chuyển giao cho công ty thuốc thú y trung ương II (NAVETCO) Hiện nay, NAVETCO đã được cấp phép sản xuất loại vacxin này
Trang 321.2.12 Công tác phòng, chống dịch bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm
Bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm cũng như các bệnh truyền nhiễm nói chung, quá trình sinh dịch có 3 khâu quan trọng là nguồn bệnh, yếu tố truyền lây, động vật cảm nhiễm và có sự liên hệ giữa 3 khâu Nếu thiếu 1 trong 3 khâu, đặc biệt là khâu thứ nhất thì bệnh không thể xảy ra Nếu có đủ 3 khâu nhưng không có sự liên hệ giữa 2 trong 3 khâu thì bệnh cũng không thể xảy ra Để kiểm soát, khống chế bệnh cúm A/H5N1 ở gia cầm có hiệu quả chúng ta cần tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch
Như vậy để kiểm soát dịch cúm gia cầm có hiệu quả cần thực hiện đồng
bộ các biện pháp để tác động vào cả 3 khâu của quá trình sinh dịch trong đó có biện pháp tiêm vacxin cho đàn gia cầm
Theo quy định hiện nay, công tác xử lý dịch cúm A/H5N1 thực hiện theo: Thông tư 69/2005/TT-BNN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn thực hiện một số biện pháp cấp bách phòng, chống dịch cúm gia cầm (H5N1) ở gia cầm;
Dịch cúm A/H7N9 thực hiện theo: Quyết định số 201/QĐ-BNN-TY ngày 14/02/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Ban hành Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm nguy hiểm có khả năng lây lan sang người Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm như ở Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vacxin cho đàn gia cầm Tuy nhiên, do đặc tính biến đổi của mầm bệnh nên hiện nay, việc xác định chính xác loại vacxin tiêm phòng trong từng thời điểm còn rất cần nhiều nghiên cứu Trước mắt, khi chưa chủ động được vacxin tiêm phòng, việc xác định đặc điểm dịch tễ của bệnh tại mỗi địa phương để hướng dẫn quy trình chăn nuôi an toàn sinh học vẫn đang được nhiều tỉnh, thành phố áp dụng có hiệu quả
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2010-2014 2.1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014
2.1.3 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ dịch cúm gia cầm (A/H5Nx) tại Thái Bình, giai đoạn 2010-2014
- Phân bố dịch theo không gian
- Phân bố dịch theo thời gian
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học hồi cứu
2.2.1.1 Thu thập số liệu
Số liệu tình hình chăn nuôi gia cầm tại Thái Bình từ năm 2010-2014
Số liệu dịch cúm gia cầm, hộ chăn nuôi gia cầm có dịch giai đoạn
2010-2014 theo báo cáo của Chi cục Thú y Thái Bình và điều tra tại các hộ chăn nuôi Trong đó:
Gia cầm mắc cúm gia cầm là những đàn gia cầm có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh cúm gia cầm được xác nhận và báo cáo của cán bộ thú y địa phương tới Chi cục Thú y
Hộ có dịch cúm gia cầm là hộ có gia cầm mắc cúm gia cầm
Xã có dịch là xã có gia cầm mắc bệnh cúm gia cầm và có kết quả xét nghiệm dương tính với virus cúm gia cầm trong phòng chẩn đoán xét nghiệm của phòng thí nghiệm (Cơ quan Thú y vùng II và Trung tâm Chẩn đoán thú y trung ương)
Trang 342.2.1.2 Sử dụng các phương pháp tính toán, phân tích dịch tễ học
- Sử dụng phương pháp thống kê sinh vật học
+ Tổng đàn: Là tổng số gia cầm trong phạm vi xã hoặc huyện ở cùng thời
kỳ (TĐX, TĐH)
Cơ sở dữ liệu dịch bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm được xây dựng dựa trên bản mã số của các địa phương (bảng Excel) Trên cơ sở đó, sử dụng chương trình ArcGIS 9.3 để vẽ bản đồ dịch tễ học của bệnh cúm A (H5N1) ở gia cầm theo không gian, thời gian, theo chủng loại gia cầm mắc bệnh cúm A (H5N1)
- Phương pháp phân tích
Sử dụng phần mềm phân tích dịch tễ học WinEpiscope và chương trình
MS Excel để tổng hợp, phân tích và so sánh các tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết với độ tin cậy 95% được theo công thức sau:
x σ p ˆ × ± z SEpˆ
Trang 35Khi đó, ta tính được độ tin cậy có công thức như sau:
pSE
- Sử dụng chương trình ArcGIS 9.3 (ESRI Inc, USA) để vẽ bản đồ
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng (case - control study)
2.2.2.1 Thu thập số liệu
- Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành thu thập 90 phiếu điều tra tại
11 xã thuộc 5 huyện theo tỷ lệ điều tra tại 01 hộ có bệnh và 05 hộ không có bệnh
với số phiếu điều tra tại các xã (bảng 2.1)
Bảng 2.1: Số lượng phiếu điều tra trong nghiên cứu bệnh chứng
Trang 36- Để có thêm các thông tin liên quan đến yếu tố nguy cơ làm phát sinh dịch cúm gia cầm trong thời gian vừa qua, liên quan đến công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện các biện pháp chủ động phòng chống dịch của chính quyền, nhất
là chính quyền cấp xã, chúng tôi tiến hành điều tra theo phiếu 42 người tại 22 xã (mỗi xã: điều tra 01 trưởng ban chăn nuôi thú y và 01 trưởng thôn; điều tra tại 11
xã có dịch và 11 xã không có dịch theo lựa chọn ngẫu nhiên)
Nếu: OR = 1: Không có ảnh hưởng, khác nhau giữa hai nhóm
OR > 1: Nguy cơ tăng
OR < 1: Nguy cơ giảm Nếu: P-value < 0,05 so sánh có ý nghĩa thống kê
P-value > 0,05 so sánh không có ý nghĩa thống kê
- Xác định các yếu tố nguy cơ chính: các yếu tố nguy cơ (có P-value < 0,05) được đưa vào phần mềm Epi Info vision 3.5.3 (analysis data/logistic regression) để xác định các yếu tố nguy cơ chính có khả năng làm lây lan dịch
2.2.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm trong phòng thí nghiệm bằng kỹ thuật RT-PCR (Real time - Polymerase chain reaction)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, các mẫu xét nghiệm được thực hiện tại Trạm chẩn đoán xét nghiệm của Cơ quan thú y vùng 2 – Cục thú y Phương pháp
Trang 37chẩn đoán bệnh cúm gia cầm trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi là quy trình xét nghiệm của Trạm chẩn đoán xét nghiệm của Cơ quan thú y vùng 2 – Cục thú
y Quy trình xét nghiệm như sau:
Chiết tách ARN:
Huyễn dịch bệnh phẩm sau khi được xử lý, tiến hành chiết tách ARN bằng kit thương mại
Tiến hành phản ứng:
Các bước thực hiện phản ứng realtime RT-PCR để phát hiện mỗi loại gen
M, H5 và N1 được thực hiện như sau:
Chuẩn bị mồi ở nồng độ 20 µM và mẫu dò ở nồng độ 6 µM với nước sạch Dnase/Rnase
Trình tự các cặp mồi và mẫu dò để phát hiện gen M virus cúm A và các gen H5, N1
(AAHL)
Forward AGATGA GYC TTC TAA CCG AGG TCG None None Reverse TGC AAA NAC ATC YTC AAG TCT CTG None None Probe TTT GTA TTC ACG CTC ACC GTG CCCA FAM BHQ1 H5-3S
(China)
Reverse TGTCAATGGTTAAGGGCAACTC None None Chuẩn bị hỗn hợp phản ứng real-time PCR để phát hiện mỗi loại gen của virus cúm gia cầm theo hướng dẫn của bộ kit được sử dụng
Trang 38Hỗn hợp phản ứng được chuẩn bị trong ống 0,2 ml
Hỗn hợp phản ứng
(Kít Invitrogen Superscript 3
qRT-PCR Kit)
Lượng cho 01 phản ứng, 25 µl
Lượng cho 01 phản ứng, 15 µl
Đặt ống vào máy Realtime và Chạy chu trình nhiệt sau:
Chương trình nhiệt độ và thời gian cho máy RealTime-PCR
Điều kiện phản ứng được công nhận: Mẫu đối chứng dương (được chuẩn
độ trước) có giá trị Ct ≤ 35 (± 2 Ct), mẫu đối chứng âm tính không có Ct
Với điều kiện như trên, mẫu có giá trị Ct ≤ 35 được coi là dương tính Mẫu không có Ct là âm tính Mẫu có giá trị 35< Ct ≤ 40 được coi là nghi ngờ
Những mẫu nghi ngờ cần được xét nghiệm lại bằng phương pháp khác (phân lập virus) để khẳng định
Các thông tin trong quá trình thực hiện phản ứng được ghi lại trên phiếu Theo dõi thử nghiệm