68 4.17 Đánh giá của các đội trưởng về tính phù hợp của công tác kiểm tra, giám sát thực hiện giao khoán sản phẩm chè búp tươi của xí nghiệp cho các đội ..... Học viện Nông nghiệp Việt N
Trang 1Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ ix
Danh mục sơ đồ x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KHOÁN SẢN PHẨM CHÈ BÚP TƯƠI 4
2.1 Cơ sở lý luận về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Hình thức, nguyên tắc, điều kiện của khoán sản phẩm chè búp tươi 5
2.1.3 Vai trò của khoán sản phẩm chè búp tươi 12
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về khoán sản phẩm chè búp tươi 13
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác khoán sản phẩm chè búp tươi 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi 18
2.2.1 Kinh nghiệm khoán sản phẩm chè búp tươi của các nước trên thế giới 18
2.2.2 Kinh nghiệm về công tác khoán sản phẩm của các công ty chè trong nước 21
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi cho công ty chè Phú Đa 26
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
3.1 Giới thiệu chung về Công ty chè Phú Đa 28
3.1.1 Thông tin chung 28
3.1.2 Quá trình thành lập và phát triển 28
3.1.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 31
3.1.4 Tài sản và nguồn vốn của Công ty 35
3.1.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 42
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 42
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất, chế biến chè 43
3.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình thực hiện giao khoán 43
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Thực trạng công tác khoán và thực hiện khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 44
4.1.1 Căn cứcủa công tác khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 44
4.1.2 Phương pháp khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 67
4.1.3 Tổ chức thực hiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 71
4.1.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 73
4.1.5 Đánh giá kết quả thực hiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa 76
4.2 Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty chè Phú Đa 94
4.2.1 Định hướng 94
4.2.2 Giải pháp hoàn thiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi các cấp 95
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình lao động của Công ty trong 3 năm 2011-2013 35
3.2 Tình hình tài sản, nguồn vốn của Công ty chè Phú Đa qua 3 năm 2011-2013 35
3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chè Phú Đa 2011 - 2013 38
3.4 Đối tượng, phương pháp chọn mẫu, thu thập thông tin và thông tin cần thu thập 41
3.5 Kết cấu mẫu điều tra các hộ nhận khoán 42
4.1 Diện tích, Năng suất và Sản lượng khoán của Công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011 - 2013 45
4.2 Cơ cấu diện tích các giống chè của công ty chè Phú Đa qua 3 năm 2011 -2013 46
4.3 Diện tích, Năng suất và Sản lượng khoán của xí nghiệp chè Phú Sơn trong 3 năm 2011 -2013 48
4.4 Diện tích, Năng suất và Sản lượng khoán của xí nghiệp chè Thanh Niên 50
4.5 Diện tích, Năng suất và Sản lượng khoán của xí nghiệp chè Tân Phú 52
4.6 Diện tích, Năng suất và Sản lượng khoán của xí nghiệp chè Phú Long 53
4.7 Đánh giá của các đội trưởng về tính phù hợp của các căn cứ giao khoán sản phẩm chè búp tươi của xí nghiệp cho các đội 55
4.8 Thông tin chung về chủ hộ điều tra 56
4.9 Tình hình đất đai và lao động của hộ 59
4.10 Trang thiết bị lao động của các hộ nhận khoán được điều tra 60
4.11 Bảng diện tích chè của các hộ điều tra 61
4.12 Diện tích, năng suất, sản lượng chè theo tuổi chè của các hộ điều tra 62
4.13 Diện tích, năng suất, sản lượng chè theo giống chè của các hộ điều tra 63
4.14 Chi phí đầu vào cho 1ha chè ở giai đoạn kinh doanh theo nhóm hộ năm 2014 64
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
4.15 Chi phí đầu vào cho 1ha chè ở giai đoạn kinh doanh theo giống chè
năm 2014 65
4.16 Đánh giá của các đội trưởng về tính phù hợp của phương pháp giao khoán của các xí nghiệp cho các đội 68
4.17 Đánh giá của các đội trưởng về tính phù hợp của công tác kiểm tra, giám sát thực hiện giao khoán sản phẩm chè búp tươi của xí nghiệp cho các đội 75
4.18 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán của công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011 – 2013 76
4.19 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán của các đội tại xí nghiệp chè Phú Sơn, Công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011-2013 80
4.20 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán của các đội tại xí nghiệp chè Thanh Niên, công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011 – 2013 83
4.21 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán của các đội tại xí nghiệp chè Tân Phú Công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011 – 2013 85
4.22 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán của các đội tại xí nghiệp chè Phú Long, công ty chè Phú Đa trong 3 năm 2011 – 2013 88
4.23 Kế hoạch và kết quả thực hiện của các hộ điều tra 90
4.24 Tổng hợp các hộ điều tra thực hiện kế hoạch qua 3 giống chè 91
4.25 Ý kiến đánh giá của các hộ trồng chè về sản lượng giao khoán của đội 92
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
DANH MỤCBIỂU ĐỒ
4.1 Sản lượng khoán và kết quả thực hiện sản lượng khoán chè búp tươi của công ty chè Phú Đa qua 3 năm 2011 -2013 77 4.2 Sản lượng giao khoán và kết quả thực hiện sản lượng giao khoán chè búp tươi của xí nghiệp chè Phú Sơn qua 3 năm 2011 -2013 81 4.3 Sản lượng giao khoán và kết quả thực hiện sản lượng giao khoán chè búp tươi của xí nghiệp chè Thanh Niên qua 3 năm 2011 - 2013 83 4.4 Sản lượng giao khoán và kết quả thực hiện sản lượng giao khoán chè búp tươi của xí nghiệp chè Tân Phú qua 3 năm 2011 -2013 86 4.5 Sản lượng giao khoán và kết quả thực hiện sản lượng giao khoán chè búp tươi của xí nghiệp chè Phú Long qua 3 năm 2011 -2013 89 4.6 Ý kiến đánh giá sản lượng giao khoán sản phẩm của các hộ làm chè theo giống chè 93
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
DANH MỤC SƠ ĐỒ
3.1 Tổ chức bộ máy công ty chè Phú Đa 32
4.1 Bộ máy giao khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty chè Phú Đa 72
4.2 Bộ máy giao khoán sản phẩm chè búp tươi của xí nghiệp cho đội 73
4.3 Giao khoán sản phẩm chè búp tươi của đội cho hộ làm chè 73
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ty chè Phú Đa là một trong những công ty liên doanh đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích là 1.483 ha và có trên 3 nghìn công nhân
và hợp đồng lao động trải dài trên 3 huyện của tỉnh Phú Thọ với năng suất bình quân đạt trên 15 tấn/ha
Trong quá trình xây dựng và phát triển của công ty phải kể đến mối quan
hệ khăng khít, gắn bó bền chặt giữa công nhân và hợp đồng làm chè với các đội sản xuất của các xí nghiệp trong công ty Thông qua mô hình khoán sản phẩm, giữa các hộ và xí nghiệp đã có nhiều những hợp đồng ký kết về khoán đất trồng cây lâu năm với thời hạn 50 năm và lâu dài, khoán lượng sản phẩm giao nộp hàng năm, các hợp đồng ký kết về việc đầu tư các yếu tố đầu vào:giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… Nhờ các hợp đồng khoán sản phẩm với các hộ trồng chè giúp các xí nghiệp đảm bảo được lượng nguyên liệu đầu vào đáp ứng được nhu cầu sản xuất chế biến của 3 xí nghiệp chế biến của công ty, người làm chè không phải lao đao theo những biến động của mô hình thị trường hiện nay.Với chính sách hỗ trợ các hộ nông dân trồng chè về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật … đã phần nào giải quyết được những lo ngại ban đầu của người dân về vấn đề tài chính đầu tư cho các yếu tố đầu vào
Qua giao khoán sản phẩm chè búp tươi của các đội sản xuất trong công
ty trong những năm qua có những bất cập kể từ khi các hộ làm chè đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: máy hái chè, máy phun thuốc, máy sới cỏ…Do đó năng suất và sản lượng chè búp tươi có nhiều thay đổi, dẫn tới một số vườn chè năng suất tăng lên và có những vườn chè do nhiều tuổi đang
có chiều hướng tụt sản lượng dẫn tới việc hoàn thành kế hoạch được giao là khó khăn Nhưng lại có một số diện tích chè đạt năng suất cao nhưng kế
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
hoạch giao khoán là chưa sát dẫn tới tình trạng các hộ làm chè bán chè ra ngoài làm thất thoát sản lượng chè của công ty
Do có những bất cập trong công tác lập kế hoạch sản phẩm chè búp tươi đã dẫn tới một số vườn chè trong công ty bị xuống cấp, dẫn tới nhiều lô chè bị chết loang do hộ làm chè cắt chè búp tươi quá sâu Nguyên nhân của việc cắt quá sâu một phần là do các hộ làm chè nhận mức khoán sản phẩm quá cao, buộc họ phải cắt sâu để đủ sản phẩm giao nộp hàng năm, làm cho chất lượng, phẩm cấp chè bị giảm ảnh hưởng tới đời sống của nguời lao động…một số vườn chè lại có mức khoán sản phẩm quá thấp so với thực tế vườn chè, dẫn tới là nhiều hộ bán chè của công ty ra ngoài làm thất thoát sản
phẩm của công ty Do vậy, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
hoàn thiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi tại công ty chè Phú Đa”
Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng tới sự phát triển của công ty Thứ nhất, qua nghiên cứu thực trạng công tác khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty tôi hiểu biết thêm thực tế, đồng thời tôi có thể ứng dụng ngành mình học vào thực tế Thứ hai, nghiên cứu công tác lập khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty để thấy được điểm mạnh điểm yếu, những hạn chế của công tác lập khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty làmbài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để khắc phục
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty chè Phú Đa từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác khoán
sản phẩm chè búp tươi
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Phân tích thực trạng công tác khoán sản phẩm chè búp tươi của công
ty chè Phú Đa
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty chè Phú Đa trong những năm tới
1.3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Công tác khoán sản phẩm chè búp tươi của công ty chè Phú Đa
- Đối tượng điều tra khảo sát
Các xí nghiệp, đội sản xuất chè của công ty chè Phú Đa, các hộ nhận khoán trong Công ty
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KHOÁN
SẢN PHẨM CHÈ BÚP TƯƠI
2.1 Cơ sở lý luận về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
a, Khái niệm khoán trong doanh nghiệp nông nghiệp
Nguyễn Minh Hiền (2001) nêu rõ: “Khoán trong sản xuất chè búp tươi trong các doanh nghiệp nông nghiệp là tổng thể những quy định, cách thức tổ chức, triển khai và thực hiện những quy định nhằm duy trì mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với các đối tượng nhận khoán trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất chè búp tươi”
Khoán là một hình thức quản trị sản xuất trong doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp sẽ thực hiện việc phân công, phân quyền, phân chia lợi ích cho cá nhân, hộ gia đình (gọi là bên nhận khoán) ở những mức độ khác nhau với từng hình thức cụ thể Bên nhận khoán có thể trực tiếp sản xuất và chủ động quản lý, điều hành các khâu sản xuất mang tính sinh học trên những mảnh ruộng, vườn cây, đàn gia súc… của doanh nghiệp giao cho (Đào Văn Ngừng, 2011)
Xét về mặt sở hữu, khoán chính là hình thức đa dạng hoá chủ sở hữu trên vườn cây của doanh nghiệp, là phương pháp tổ chức quản lý có sự phân công phân quyền rõ ràng, trao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho bên nhận khoán ở những khâu mang tính sinh học Là hình thức giao kế hoạch cho bên nhận khoán cá nhân, hộ gia đình, tổ chức thực hiện trên vườn chè, nhằm đem lại hiệu quả tối ưu cho doanh nghiệp và người nhận khoán cũng như làm tốt nghĩa vụ đối với nhà nước Giao khoán là biện pháp thu hút mọi nguồn lực cá nhân và của hộ gia đình để phát triển sản xuất cho doanh nghiệp và nâng cao thu nhập cho người nhận khoán, gắn trách nhiệm với lợi ích trên cơ sở kết quả kinh doanh trên vườn cây của doanh nghiệp
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
b, Khái niệm khoán sản phẩm chè búp tươi
Khoán sản phẩm chè búp tươi là cách khoán trực tiếp đến mỗi đơn vị hoặc cá nhân người lao động, giao đất cho đơn vị hoặc cá nhân người lao động Bên giao khoán chỉ cung cấp giống, kỹ thuật, phân bón, thuốc trừ sâu
và đến vụ thu hoạch thì người lao động bán sản phẩm cho bên giao khoán tại điểm tập kết Giao kế hoạch khoán đến từng đơn vị hoặc cá nhân giúp cho các đơn vị hoặc cá nhân chủ động hơn trong việc chăm sóc, thu hái và đem lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định nguồn nguyên liệu cho bên giao khoán sản phẩm (Nguyễn Châu Long, 1999)
2.1.2 Hình thức, nguyên tắc, điều kiện của khoán sản phẩm chè búp tươi
2.1.2.1 Hình thức khoán
Có hai loại hình thức khoán chủ yếu đó là:
- Khoán dựa trên thỏa thuận miệng: là hình thức mà hai bên giao khoán
và nhận khoán không dựa trên văn bản, giấy tờ hay hợp đồng cụ thể mà chỉ thỏa thuận với nhau bằng lời nói, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau và thời gian khoán ngắn Hình thức này đơn giản, không phức tạp Tuy nhiên không phổ biến do với những công việc có khối lượng lớn, thời gian thực hiện lâu dài thì
để đảm bảo cho lợi ích của cả hai bên thì hình thức này không đáp ứng được
- Khoán theo hợp đồng: Là hình thức mà bên giao khoán và bên nhận khoán khi thực hiện khoán sẽ ký kết văn bản, hợp đồng cụ thể quy định rõ khối lượng công việc, nghĩa vụ, quyền hạn của hai bên gia và nhận khoán Hình thức này tuy phức tạp hơn thỏa thuận miệng nhưng sẽ đảm bảo cho quyền lợi của hai bên trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng
2.1.2.2 Nguyên tắc giao nhận khoán
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Căn cứ theo Nghị định 135/2005/NĐ- CP về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh bao gồm:
- Thực hiện quyền, nghĩa vụ về quản lý sử dụng đất của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản
- Nâng cao trách nhiệm quản lý sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm của bên giao khoán
- Thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động theo quy định hiện hành của pháp luật về lao động
- Tự nguyện, công khai, dân chủ và bình đẳng giữa bên giao khoán và bên nhận khoán
- Việc giao khoán đất phải thông qua hợp đồng, khi có tranh chấp hợp đồng được giải quyết theo quy định pháp luật về dân sự
- Hợp đồng giao khoán bị huỷ bỏ khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi theo pháp luật hoặc điều chỉnh bổ sung theo thỏa thuận giữa bên giao khoán và bên nhận khoán
2.1.2.3 Điều kiện nhận khoán
Việc giao khoán đất trồng cây lâu năm được gắn với việc điều hành sản xuất của bên giao khoán và được thực hiện như sau:
• Giao khoán đất đã có cây lâu năm: bên giao khoán căn cứ vào định mức kinh tế, kỹ thuật và thực trạng của vườn cây để tiến hành hợp đồng giao khoán đất gắn với giao khoán vườn cây ổn định theo chu kỳ cây trồng, với nội dung chính sau:
- Diện tích đất giao khoán gắn với vườn cây
- Nhiệm vụ sản xuất, giá trị còn lại của vườn cây và thời gian sản xuất còn lại của vườn cây trên diện tích khoán
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Tổng chi phí sản xuất trên một ha cho cả chu kỳ kinh doanh
- Khối lượng sản phẩm sản xuất tính trên một ha cho cả chu kỳ kinh doanh
- Chi phí sản xuất hàng năm trên một ha
- Sản phẩm thanh toán hàng năm trên một ha cho bên giao khoán
- Khoản chi phí đầu tư do bên giao khoán đảm nhận
- Khoản chi phí đầu tư do bên nhận khoán đảm nhận
• Giao khoán đất để trồng cây lâu năm bao gồm thời kỳ kiến thiết cơ bản
và thời kỳ kinh doanh Tuỳ theo yêu cầu kỹ thuật của từng loại cây trồng, trên cơ
sở định mức kinh tế, kỹ thuật và suất đầu tư mà bên giao khoán áp dụng
- Giao khoán đất cả thời kỳ kiến thiết cơ bản vườn cây và thời kỳ kinh doanh cho bên nhận khoán
- Tách giao khoán đất theo thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ sản xuất kinh doanh vườn cây
- Tuỳ theo tình hình cụ thể của bên giao khoán và bên nhận khoán để lựa chọn các hình thức khoán sau đây:
+ Bên giao khoán đầu tư 100% vốn (bao gồm chi phí làm đất, giống, vật tư, phân bón, tiền công lao động…), thiết kế, chỉ đạo kỹ thuật, quản lý quy trình sản xuất… Bên nhận khoán nhận thực hiện toàn bộ công việc từ khâu trồng, chăm sóc cây trồng đến hết thời kỳ kiến thiết cơ bản và được thanh toán tiền công lao động theo khối lượng công việc đã thực hiện
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Sau khi hoàn thành thời kỳ kiến thiết cơ bản vườn cây, bên giao khoán và bên nhận khoán nghiệm thu, đánh giá, xác định giá trị vườn cây để chuyển sang thời kỳ kinh doanh
Bên giao khoán thực hiện giao khoán vườn cây thời kỳ kinh doanh cho bên đã nhận khoán giai đoạn kiến thiết cơ bản hoặc đối tượng khác Nội dung giao khoán đất gắn với vườn cây kinh doanh thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều này
+ Bên giao khoán và bên nhận khoán cùng đầu tư vốn Bên giao khoán thực hiện thiết kế, cung cấp giống, chỉ đạo kỹ thuật Bên nhận khoán thực hiện trồng, chăm sóc, bảo vệ vườn cây
Sau khi hoàn thành thời kỳ kiến thiết vườn cây bên giao khoán và bên nhận khoán nghiệm thu, đánh giá, xác định giá trị vườn cây để chuyển sang giai đoạn sản xuất, kinh doanh Tỷ lệ giá trị vườn cây đưa vào sản xuất, kinh doanh của mỗi bên đóng góp theo thỏa thuận trong hợp đồng và thực tế đóng góp Bên giao khoán thực hiện khoán vườn cây kinh doanh cho bên nhận khoán theo nội dung quy định tại khoản 1 Điều này
Thời gian giao khoán đối với nông nghiệp trồng cây lâu năm theo sự thỏa thuận giữa bên giao khoán và bên nhận khoán theo chu kỳ cây trồng, nhưng tối đa không quá 30 năm Hết thời gian giao khoán nếu không vi phạm hợp đồng, bên nhận khoán có nhu cầu thì bên giao khoán tiếp tục ký kết hợp đồng giao khoán (Chính phủ, 2005)
2.1.2.4 Nghĩa vụ và quyền hạn của bên giao khoán và nhận khoán
* Nghĩa vụ của bên nhận khoán
a) Sử dụng đất, rừng nhận khoán đúng mục đích, đúng quy hoạch, chịu
sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của bên giao khoán về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật và chất lượng sản phẩm trong quá trình nhận khoán
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
b) Thanh toán các khoản chi phí sản xuất, dịch vụ cho bên giao khoán theo hợp đồng đã ký
c) Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên giao khoán thì bị huỷ hợp đồng khoán và phải bồi thường theo mức độ thiệt hại
d) Trả lại đất và rừng nhận khoán khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật về đất đai
đ) Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với chủ sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động (Chính phủ, 2005)
* Quyền của bên nhận khoán
a) Nhận đủ hồ sơ hợp đồng giao khoán, tiếp nhận các hoạt động dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vật tư, tiền vốn theo hợp đồng giao khoán đã ký;
b) Nhận giá trị sản phẩm khi thu hoạch hoặc khai thác tương ứng với vốn, lao động đã đầu tư và 100% giá trị sản phẩm vượt khoán theo hợp đồng
đã ký
c) Được nuôi, trồng xen cây phụ trợ dưới các loại cây trồng chính, dưới tán rừng theo hướng dẫn của bên giao khoán và được hưởng 100% sản phẩm nuôi, xen trong đó
d) Được làm lán trại tạm thời để bảo vệ sản xuất, cất giữ dụng cụ, vật
tư sản xuất, được làm sân phơi, đào giếng nước, xây bể chứa nước, kênh dẫn nước, cống cấp thoát nước, hố ủ phân, chuồng nuôi gia súc, gia cầm theo quy định của bên giao khoán
đ) Khi chuyển đi khỏi nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh, chuyển sang làm nghề khác hoặc chỉ đủ khả năng thực hiện một phần diện tích hợp đồng thì trả lại toàn bộ hoặc một phần đất, rừng cho bên giao khoán và được hoàn trả hoặc đền bù tài sản đã đầu tư trên đất theo phương án khoán
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
e) Được bồi thường thiệt hại, nếu bên giao khoán vi phạm hợp đồng f) Trong trường hợp bị thiên tai, rủi ro được xem xét miễn, giảm các khoản phải nộp cho bên giao khoán theo quy định của pháp luật (Chính phủ, 2005)
* Nghĩa vụ của bên giao khoán
a) Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý
và sử dụng đất, rừng đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch
b) Xác định đúng diện tích, vị trí ranh giới đất, rừng giao khoán trên bản đồ và thực địa, xác định đúng hiện trạng giá trị cây trồng, vật nuôi, cây rừng, các công trình trên đất, trên mặt nước;
c) Xây dựng dự án đầu tư, suất đầu tư của các công trình và đơn giá khoán cho từng hạng mục công trình
d) Tiêu thụ sản phẩm cho bên nhận khoán theo hợp đồng đã ký
đ) Quản lý, chỉ đạo quá trình sản xuất, kinh doanh, thực hiện các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; dịch vụ kịp thời vật tư, tiền vốn phục vụ cho quá trình sản xuất theo các định mức kinh tế, kỹ thuật và hợp đồng đã ký
e) Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên nhận khoán thì phải bồi thường
f) Thực hiện trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động là cán bộ, công nhân viên về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động
g) Xem xét miễn giảm các khoản phải nộp cho bên nhận khoán theo quy định tại điểm f khoản 2 Điều 10 (Chính phủ, 2005)
* Quyền của bên giao khoán
a) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng khoán, đảm bảo thực hiện đúng pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
b) Huỷ bỏ hợp đồng giao khoán, khi bên nhận khoán vi phạm hợp đồng khoán và bên nhận khoán phải bồi thường thiệt hại (Chính phủ, 2005)
2.1.2.5 Triển khai thực hiện mô hình khoán
Tổ chức hỗ trợ đầu vào
- Bên giao khoán đầu tư 100% vốn (bao gồm thiết kế, cây giống, phân bón, vật tư, tiền công khoán), chỉ đạo kỹ thuật, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng.Bên nhận khoán nhận thực hiện công việc từ trồng, chăm sóc, bảo vệ từ khi trồng đến hết chu kỳ kinh doanh Khi khai thác, bên nhận khoán thanh toán bằng sản phẩm thu hoạch cho bên giao khoán tương ứng giá trị đã nhận đầu tư (tính cả vốn + lãi suất) theo thỏa thuận ghi trong hợp đồng khoán
- Bên giao khoán đầu tư vốn, thiết kế, cung cấp cây giống, phân bón, chỉ đạo kỹ thuật, hỗ trợ cho bên nhận khoán trồng, chăm sóc trong một số năm đầu Sau đó chuyển sang giai đoạn chăm sóc, bảo vệ Bên nhận khoán tựbỏ vốn để tiếp tục chăm sóc, bảo vệ đến hết chu kỳ kinh doanh Khi thai thác gỗ bên nhận khoán được hưởng tỉ lệ sản phẩm tương ứng với vốn và công sức bỏ ra theo thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng
- Bên nhận khoán tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ Bên giao khoán chịu trách nhiệm thiết kế, cung cấp cây giống, tư vấn kỹ thuật, dịch vụ phân bón; chỉ đạo thi công, kiểm tra, giám sát
- Sản phẩm thu được được bên nhận khoán thanh toán bên giao khoán bằng sản phẩm tương ứng với giá trị cây giống, dịch vụ và công lao động đã đầu tư Phần còn lại bên nhận khoán được hưởng, nhưng phải bán cho bên giao khoán theo giá thỏa thuận giữa hai bên tại thời điểm khai thác Trường hợp bên giao khoán không mua thì bên nhận khoán được tự do tiêu thụ (Chính phủ, 2005)
Tập huấn, chuyển giao kỹ thuật
Bên giao khoán thực hiện tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho bên nhận khoán bằng hình thức mở các lớp tập huấn hàng năm Bên cạnh đó, bên giao
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
khoán sẽ cử cán bộ đến tận nơi trợ giúp cho bên nhận khoán, giúp giải quyết các vấn đề tồn đọng
Giải quyết tranh chấp
Các vấn đề tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết dựa trên những điều khoản đã ghi trên hợp đồng
2.1.3 Vai trò của khoán sản phẩm chè búp tươi
• Đối với bên nhận khoán sản phẩm:
- Nâng cao thu nhập cho người làm chè
- Giải quyết vấn đề việc làm cho các hộ công nhân và hợp đồng làm chè
- Giúp cho người lao động chủ động trong chăm sóc, thu hoạch để đảm bảo khối lượng, chất lượng sản phẩm
- Tiết kiệm chi phí đầu vào như: giống, thuốc BVTV…
- Mở rộng quy mô sản xuất với tốc độ nhanh
- Sử dụng có hiệu quả quỹ đất, đầu tư thâm canh tăng năng xuất vườn chè
• Đối với bên giao khoán sản phẩm:
- Nâng cao trách nhiệm, năng lực quản lý trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đến bên giao khoán
- Đảm bảo lợi ích hài hòa lợi ích giữa bên giao khoán và bên nhận khoán
- Chuyển giao được các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
• Đối với ngành chè Việt Nam
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Giúp phát triển ngành chè
- Giúp đảm bảo khối lượng chè xuất khẩu
• Đối với địa phương
- Tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Góp phần xóa đói giảm nghèo
- GDP tăng
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về khoán sản phẩm chè búp tươi
a, Căn cứ khoán sản phẩm chè búp tươi
- Thực hiện kế hoạch năm cũ: Căn cứ vào việc thực hiện kế hoạch sản lượng năm cũ hoàn thành kế hoạch hay không hoàn thành kế hoạch mà có định hướng dự báo giao kế hoạch cho những năm tiếp theo
- Giống chè: Tùy từng giống chè mà có kế hoạch giao khoán sao cho phù hợp, giống chè khác nhau cho năng suất và sản lượng khác nhau do vậy
kế hoạch giao khoán khác nhau
- Mật độ diện tích chè đông đặc: Diện tích chè có độ đông đặc càng lớn thì cho sản lượng càng cao, do vậy kế hoạch giao khoán sản lượng là khác nhau
- Tuổi chè: tuổi cây chè khác nhau cho năng suất, sản lượng là khác nhau do đó mà tùy thuộc vào từng tuổi chè mà có kế hoạch sản lượng sao cho phù hợp
- Chiến lược sản suất của công ty: chiến lược sản xuất chè của công ty cũng dẫn tới việc tăng, giảm kế hoạch sản lượng chè của công ty
b, Phương pháp khoán sản phẩm chè búp tươi
- Khoán sản phẩm chè búp tươi dựa vào sản lượng chè búp tươi, do vậy phương pháp khoán sản phẩm là:
Kế hoạch sản lượng khoán năm = Thực hiện kế hoạch năm cũ x % tăng hoặc giảm kế hoạch khoán mới
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Khoán sản phẩm chè búp tươi dựa vào sản lượng sản phẩm chè búp tươi, dovậy phương pháp khoán sản phẩm là:
Sản lượng giao khoán = Diện tích chuẩn x Năng suất bình quân
Trong đó:
- Diện tích chuẩn được tính theo mật độ diện tích chè đông đặc theo quy trình kỹ thuật
- Năng suất bình quân được tính theo: giống chè, tuổi chè bình quân
c, Tổ chức thực hiện khoán sản phẩm chè búp tươi
- Công ty giao khoán sản lượng chè búp tươi cho xí nghiệp: Công ty giao khoán sản lượng chè búp tươi cho các xí nghiệp vào đầu tháng 3 hàng năm, cách giao là khoán thực hiện sản lượng trong 1 năm
- Xí nghiệp giao khoán sản lượng chè búp tươi cho các đội sản xuất theo kế hoạch từng năm và kế hoạch thu hái từng lứa chè
- Đội giao khoán sản lượng chè búp tươi cho các hộ nhận khoán theo
kế hoạch năm và kế hoạch thu hái từng lứa đến các hộ làm chè
d, Giám sát, kiểm tra việc thực hiện khoán sản phẩm chè búp tươi
Đối với xí nghiệp: Phòng kế toán và phòng kế hoạch của công ty kiểm tra giám sát việc thực hiện khoán sản lượng chè búp tươi của các xí nghiệp, sau khi kết thúc năm sản xuất
Đối với các đội sản suất của xí nghiệp: phụ trách nông nghiệp các xí nghiệp, sau mỗi lứa thu hái chè tổng hợp kết quả sản xuất của từng đội kiểm tra tiến độ hoàn thành kế hoạch giao khoán của từng đội
Đối với các hộ công nhân nhận khoán: Đội trưởng là người trực tiếp kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch khoán sản phẩm của từng hộ, trong từng lứa chè thu hái
e, Đánh giá kết quả thực hiện khoán sản phẩm chè búp tươi
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Tỷ lệ phần trăm đội hoàn thành kế hoạch so với tổng số đội trong toàn công ty
+ Năng lực quản lý của đội trưởng tốt, không để sản phẩm thất thoát ra ngoài thu hút được sản phẩm chè công nhân và hợp đồng giao khoán giao nộp + Hộ làm chè đầu tư thâm canh đầy đủ theo quy trình kỹ thuật công ty
đã đề ra
+ Kế hoạch giao khoán sát với thực tế
Tỷ lệ số hộ hoàn thành kế hoạch so với tổng số hộ trong toàn xí nghiệp + Hộ nhận khoán đầu tư chăm sóc vườn chè đúng và đầy đủ kỹ thuật như: bón phân, phun thuốc, xới cỏ…
+ Năng lực quản lý cán bộ tốt, bán sát với lô đồi không để vườn chè bị sâu bệnh
- Tỷ lệ không hoàn thành kế hoạch:
Tỷ lệ số đội không hoàn thành kế hoạch so với tổng số đội trong toàn công ty
+ Năng lực quản lý của cán bộ đội trưởng còn non yếu, dẫn tới các hộ công nhân bán chè ra ngoài và để vườn chè bị sâu bệnh dẫn tới năng suất và sản lượng của đội giảm dẫn tới không hoàn thành kế hoạch
+ Số hộ trong đội không hoàn thành kế hoạch nhiều dẫn tới đội không hoàn thành kế hoạch
+ Kế hoạch giao cho đội cao hơn so với thực tế:
Tỷ lệ số hộ không hoàn thành kế hoạch so với tổng số hộ trong toàn xí nghiệp của đội
Trình độ canh tác cũng như kinh nghiệm sản xuất của hộ còn yếu kém, tập trung vào một số hộ mà bố mẹ làm công nhân khi nghỉ hưu để lại vườn chè cho con cái làm
Hộ làm chè không mặn mà với vườn chè, để vườn chè sâu bệnh không chăm sóc vườn chè theo đúng quy trình kỹ thuật
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Tỷ lệ đông đặc của vườn chè bị chết loang do cắt máy, kế hoạch sản lượng chưa được giảm dẫn tới không hoàn thành kế hoạch
Yếu tố khách quan như thời tiết, khí hậu…
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác khoán sản phẩm chè búp tươi
2.1.5.1 Hợp đồng giao khoán
Việc thực hiện các hợp đồng cam kết dựa trên cơ sở tự nguyện giữa các tác nhân tham gia thông qua sự ràng buộc về pháp lý bởi các điều khoản được quy định trong các bản hợp đồng Các chủ thể tham gia trong hợp đồng phải chấp hành các điều khoản trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm hợp đồng (Hợp đồng giao khoán công ty chè Phú Đa, 2013) Tuy nhiên, việc hình thành khung pháp lý, chế tài chưa đủ mạnh để buộc hai bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng với các điều khoản đã
ký Thực tế khi người dân vi phạm hợp đồng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình nhưng chỉ xử lý dưới hình thức phạt tiền hoặc cảnh cáo ở mức độ chưa cao, chưa đủ sức răn đe
Các bản hợp đồng chủ yếu là do bên công ty đứng ra soạn thảo, ý kiến
và nguyện vọng của người dân chưa được đề cao mà chủ yếu bị áp đặt từ phía công ty nên tính khách quan chưa cao Phương thức thanh toán, thu mua và điều chỉnh giá cả khi giá thị trường có biến động chưa nhanh nhạy và hợp lý nên chưa khuyến khích được người dân thực hiện hợp đồng mà họ muốn bán cho tư nhân vì lợi ích mang lại nhiều hơn Nếu gặp thời tiết thuận lợi được mùa sản lượng của người dân lớn thì công ty chỉ mua nhưng sản phẩm có chất lượng tốt, một số còn có hiện tượng ép cấp, ép giá sản phẩm khiến người dân không hài lòng
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
thu hái hay chưa, khi nào cần bổ sung phân bón, thuốc BVTV Đối với hoạt động thu mua, đội trưởng sẽ giám sát quá trình thu nhận chè của công nhân thu mua Bên cạnh đó, đội trưởng là người trực tiếp tiếp nhận ý kiến của người dân
và phản ánh lại với nhà máy Do đó, có thể thấy vai trò của người đội trưởng là rất quan trọng tại địa bàn sản xuất nguyên liệu
2.1.5.3 Những nhân tố thuộc về cá nhân từng hộ nhận khoán
• Trình độ học vấn của chủ hộ
Người nông dân do hạn chế về trình độ học vấn, thường chỉ học hết cấp
I, II, III, ít được bồi dưỡng chuyên sâu về chuyên môn cũng như được chia sẻ kiến thức về pháp luật nên vẫn còn một số ít hộ không chấp hành đúng theo hợp đồng mà phá vỡ bằng nhiều cách khác nhau như bán chè ra ngoài, chăm sóc vườn chè chưa đúng kỹ thuật…
• Nhận thức của người nhận khoán
Người nhận khoán chưa nhận thức được hết nghĩa vụ và quyền lợi của mình.Vì vậy, trường hợp vi phạm hợp đồng vẫn diễn ra nhưng với mức độ nhẹ như bán trộm một vài bao chè ra ngoài
2.1.5.4 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
• Điều kiện tự nhiên
- Đất đai, địa hình:
Địa hình Thanh Sơn và Tân Sơn là địa hình đất đồi núi, cây chè được trồng tập trung, thuận lợi cho việc quản lý của nhà máy với các hộ nông dân, khoảng cách từ các lô chè tới đội là gần thuận tiện cho bà con công nhân vận chuyển nguyên liệu tới đội
- Khí hậu:
Công ty chè Phú Đa đóng trên địa bàn hai huyện là Thanh Sơn và Tân Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc điểm chung của khí hậu vùngĐồng bằng trung du Bắc Bộ, tạo điều kiện cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây lâu năm, đặc biệt là cây chè – một giống cây ưa ẩm ướt
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
và thích hợp đối với hoạt động canh tác trên đất dốc.Do đó, đảm bảo mức sản lượng khoán
• Giao thông:
Giao thông từ đồi chè ra các đội vẫn còn một số khó khăn như đồi dốc, đường đất mưa xuống lầy lội ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển chè từ ngoài
lô về đội
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi
2.2.1 Kinh nghiệm khoán sản phẩm chè búp tươi của các nước trên thế giới
a, Kinh nghiệm về công tác giao khoán sản phẩm chè búp tươi của Ấn Độ Hầu hết các vườn chè của Ấn Độ gắn liền với nhà máy chế biến chè và
sở hữu bởi các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tập thể (Công ty cổ phần) Các doanh nghiệp được tổ chức và hoạt động dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, hoặc Công ty cổ phần (nhưng không
có vốn của Nhà nước) Các vườn chè của hộ gia đình sản xuất nhỏ chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng vài phần trăm và cũng liền vùng với vùng chè của các doanh nghiệp Như vậy, các doanh nghiệp chè của Ấn Độ có hình thức tổ chức sản xuất tương tự các Xí nghiệp Nông – công nghiệp chè của Việt Nam trong những năm 90 của thế kỷ XX (Mai Trang, 2015)
Mỗi doanh nghiệp chè thường có 300 – 500 ha chè cùng với nhà máy chế biến Diện tích chè của từng doanh nghiệp rất tập trung, liền thửa, liền vùng và có hàng rào bằng dây thép gai để bảo vệ Vườn chè của từng doanh nghiệp được chia ra thành từng khu vực thường khoảng 50 – 100 ha, tuỳ điều kiện địa hình theo lãnh thổ và được quản lý bởi 1 tổ chức như là các đội sản xuất của Việt Nam Đội trưởng làm việc với tư cách như là đốc công, theo sự quản lý và điều hành trực tiệp của quản đốc nông nghiệp của Công ty – Tương ứng như là Trưởng phòng nông nghiệp của các doanh nghiệp chè của Việt Nam Do vườn chè tập trung trong một khu vực nhất định, có ranh giới địa lý rõ ràng Hơn thế nó chỉ có 1 người làm đại diện của các chủ sở hữu, không bị chia manh mún cho các hộ gia đình nông dân với quy mô nhỏ,
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
hoặc sở hữu quá chung chung như ở Việt Nam nên rất thuận lợi trong việc quản lý, điều hành quá trình sản xuất Đặc biệt áp dụng khoa học – công nghệ tiên tiến, nhất là khâu thay đổi giống chè, thực hiện quy trình canh tác, thu hái, vận chuyển chè búp tươi về nhà máy
Người ta không thực hiện giao đất hoặc khoán đến sản phẩm cuối cùng cho người lao động như ở nước ta mà chỉ áp dụng việc khoán hoặc làm công nhật từng công đoạn của quá trình sản xuất dưới sự đôn đốc giám sát, kiểm tra, nghiệm thu của đốc công Do áp dụng kiểu quản lý này nên quy trình kỹ thuật được thực hiện nghiêm túc Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khâu phòng trừ sâu bệnh, bón phân và thu hái - Đây là những khâu ảnh hưởng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nguyên liệu để đưa vào chế biến và có ý nghĩa tiên quyết đối với chất lượng của sản phẩm cuối cùng (Minh Huệ, 2015)
Các nhà máy chế biến được xâydựng ngay giữa trung tâm vùng chè của doanh nghiệp Khoảng cách từ địa điểm xa nhất của vườn chè đến nhà máy thường không quá 0,5 km, giao thông thuận lợi, cho nên rất thuận tiện trong việc vận chuyển chè nguyên liệu về nhà máy chế biến
Công suất nhà máy thường chỉ tính cho 2 ca chế biến và cân bằng với sản lượng vườn chè có thể cung ứng cao nhất trong thời điểm cây chè cho năng suất cao nhất của vụ sản xuất trong năm Trường hợp vườn chè cho năng suất cao hơn dự kiến thì nhà máy sẽ kéo dài thìư gian hoạt động trong ngày sang ca 3 Ngoại trừ một số nhà máy xây dựng trước đây được lắp đặt thiết bị lưỡng hệ (OTD và CTC) và sử dụng nhiên liệu than cám có trộn thêm dầu
FO, còn phần lớn các nhà máy xây mới được lắp thiết bị CTC hoặc thiết
bị song đôi CTC và OTD riêng biệt, được sử dụng nhiên liệu bằng ga
Chính phủ Ấn Độ có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chè sử dụng ga để tạo nhiệt phù hợp nhất trong quá trình chế biến chè thay cho than
đá Ấn Độ cho cho rằng: Ga là sản phẩm cuối cùng, còn than đá là nguyên liệu có thể chế biến thành các sản phẩm khác có giá trị gia tăng cao hơn là để
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
đốt lò Hơn thế, than còn là dự trữ được lâu dài cho quốc gia, còn ga không dự trữ được lâu dài Do đó giá ga thấp, giá than cao Các doanh nghiệp sử dụng
ga giá rẻ, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh thực phẩm, cũng như đảm bảo môi trường sinh thái hơn sử dụng than Đây là ưu thế cạnh tranh vượt trội của các doanh nghiệp chè Ấn Độ mà các doanh nghiệp chè Việt nam khó có hy vọng giành được
Các hộ gia đình trồng chè quy mô nhỏ thường có vườn chè gần nhà ở
và liền với vùng chè của các doanh nghiệp chè, họ sản xuất và bán chè búp tươi cho các doanh nghiệp Giống chè, kỹ thuật canh tác, thu hái… cơ bản là như vườn chè của các doanh nghiệp Các vùng chè tập trung chuyên canh chè với quy mô lớn thường có nhiều doanh nghiệp chè Các vườn chè của các doanh nghiệp cũng như của hộ gia đình cũng có nơi liền khoảnh và được phân chia bởi các hàng rào Chè búp tươi của các hộ gia đình thường được các doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu Tuy nhiên, cũng có nơi không ký hợp đồng mà được tổ chức thành các chợ mua, bán chè búp tươi Các hộ gia đình chở chè đến bán, các doanh nghiệp đến mua theo cơ chế thị trường Chè búp tươi được phân ra 2 – 3 loại theo chất lượng Doanh nghiệp nào mua giá cao hơn thì mua được nguyên liệu chất lượng tốt hơn hơn và ngược lại Nhưng nguyên liệu chè búp tươi bao giờ cũng được tiêu thụ hết ngay trong vài giờ của phiên chợ vì tổng công suất chế biến của các nhà máy chế biến chè (2 ca sản xuất) trong toàn vùng không bao giờ được vượt quá tổng khả năng cung ứng nguyên liệu của cả vùng
Công suất cuả các nhà máy chế biến của các doanh nghiệp trong một vùng nhất định không được vượt quá khả năng cung ứng của toàn vùng (cả của doanh nghiệp và của các hộ gia đình nông dân sản xuất nhỏ) Khi năng suất, sản lượng chè búp tươi toàn vùng tăng Dưới sự chỉ đạo của Hiệp hội chè địa phương, các doanh nghiệp phối hợp để phân chia việc mở rộng nhà máy Hoặc đầu tư xây dựng thêm nhà máy mới để tăng công suất chế biến
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
tương ứng Việc mở rộng quy mô chế biến được coi như “ hạn ngạch”, “ Chỉ tiêu” bắt buộc đối với các doanh nghiệp chè Do đó, các doanh nghiệp không bao giờ thiếu nguyên liệu chế biến, ngược lại các hộ gia đình nông dân có đầu
ra ổn định, yên tâm sản xuất và bán được giá hợp lý Có thể nói đây là điều đáng học tập nhất của Việt Nam trong giai đoạn này
b, Kinh nghiệm về công tác giao khoán sản phẩm chè búp tươi của Trung Quốc
Ở Trung Quốc giao khoán được thực hiện phương châm phát triển “một
ổn định, ba nâng cao”, tức là ổn định diện tích nâng cao chất lượng, hiệu quả
và sản lượng trên một đơn vị canh tác Tăng cường giám sát chất lượng, định
kỳ kiểm tra đối với vườn chè giao khoán
Sản lượng chè của Trung Quốc chiếm 25% sản lượng chè thế giới Hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển nhanh khoảng 10 năm trở lại đây Hầu hết nông dân ở đây đều đồng tình với hình thức sản xuất theo hợp đồng và hưởng ứng Trong đó, nông dân xác định được giá cả ổn định và tiếp cận được thị trường Tuy nhiên, sản xuất theo hợp đồng có xu hướng bỏ qua những người sản xuất nhỏ Kết quả là sản xuất theo phương thức này chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phí sản xuất và tiếp thị thấp hơn Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn đề ra chủ trương hỗ trợ và thúc đẩy phương thức hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Kinh nghiệm về công tác khoán sản phẩm của các công ty chè trong nước
a, Kinh nghiệm về công tác khoán sản phẩm của xí nghiệp chè Đoan Hùng, công ty chè Phú Bền
Xí nghiệp chè Đoan Hùng tiền thân là Công ty chè Đoan Hùng, một đơn
vị thành viên thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam được sáp nhập vào Công ty chè Phú Bền tháng 11-2001 thuộc Tập đoàn Sipep Vương quốc Bỉ Năm 2009 Tập đoàn Sipep Bỉ chuyển giao cho Tập đoàn Macneo của Ấn Độ là tập đoàn sản xuất và tiêu thụ chè lớn nhất thế giới (Nguyễn Lương Duyên, 2014)
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Tổng diện tích của xí nghiệp có hơn 619 ha, trong đó có hơn 527 ha trồng chè nằm trên địa bàn các xã huyện Đoan Hùng gồm: Tây Cốc, Phúc Lai, Quế Lâm, Ngọc Quan, Phong Phú, Ca Đình… Hiện nay xí nghiệp có 13 đội sản xuất và một nhà máy chế biến chè công suất 40 tấn/ngày thu hút trên 1,000 lao động Xí nghiệp thực hiện nhiệm vụ tổ chức khép kín từ sản xuất nguyên liệu chè búp tươi chế biến thành chè đen xuất khẩu 100% trên thị trường quốc
tế Vì vậy, yêu cầu chất lượng sản phẩm của xí nghiệp đặt ra rất cao
Xí nghiệp xác định muốn có chè thành phẩm tốt thì nguyên liệu cũng phải tốt Do vậy, giao khoán sản phẩm hàng năm cho công nhân và hợp đồng khoán là hết sức quan trọng tới sản lượng cũng như năng xuất của vườn chè trong toàn xí nghiệp Do đó, xí nghiệp đặc biệt chú trọng đến kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (Trịnh Hà, 2013)
Từ năm 2001 đến nay xí nghiệp đã trồng lại những diện tích chè có năng suất dưới 10 tấn/ha (hơn 98 ha) bằng giống mới của Công ty Phú Bền và
áp dụng quy trình kỹ thuật mới của Ấn Độ, vườn chè đã được trẻ lại, năng suất, chất lượng tăng lên Việc đầu tư thâm canh chè được Công ty TNHH Nhà nước MTV chè Phú Bền quan tâm về chiều sâu như: Hàng năm phân tích lại chất đất và quyết định bón các loại phân theo tỷ lệ thích hợp Việc trồng cây bóng mát trong vườn chè được công ty chú trọng chỉ đạo đa dạng hoá các loại cây tạo môi sinh, môi trường tốt cho cây chè phát triển Sản phẩm của xí nghiệp đặt ra yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao Xí nghiệp đã thực hiện đúng quy định cụ thể của công ty đến những người làm chè Tuy nhiên, còn số ít trường hợp tự ý phun thuốc trừ sâu không theo chỉ dẫn là trở ngại lớn nhất của xí nghiệp hiện nay
Việc lập kế hoạch giao khoán sản lượng hàng năm, xí nghiệp căn cứ tình hình từng đội mà lập kế hoạch cho phù hợp
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Việc thu mua nguyên liệu được xí nghiệp bố trí mỗi đội sản xuất có một trạm thu mua và một công nhân của xí nghiệp đứng ra cân nhận chè của công nhân và các hộ dân trong vùng sau đó vận chuyển về nhà máy Tiêu chuẩn, phẩm cấp phân loại chè, giá thu mua của công ty được công ty quy định, niêm yết tại các trạm thu mua, thiết bị cân nhận được trang bị bằng cân điện tử và nối mạng trong công ty Do vậy, các mã cân đều được lưu lại và hiển thị trong mạng lưới kiểm tra của lãnh đạo hàng ngày nên việc cân nhận nguyên liệu được công bằng, chính xác
b, Kinh nghiệm về công tác khoán của công ty chè Mộc Châu
Công ty chè Mộc Châu là doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh theo mô hình nông - công nghiệp trực thuộc Tổng công ty chè Việt Nam Công ty có 4.350 lao động, lao động nữ chiếm trên 70%, trong đó có 2,000 lao động là đồng bào các dân tộc Thái, H' Mông, Mường, Dao Công ty được Nhà nước giao quản lý 1.287 ha đất trong đó chỉ có 506,11 ha chè Công ty có
10 đội sản xuất nông nghiệp, có 5 Nhà máy chế biến chè với 5 dây chuyền sản xuất từ nửa cơ giới đến tự động hoá đồng bộ của Đài Loan, Nhật Bản
Do nhận thức rõ vai trò vị trí nòng cốt của doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, đồng thời trước sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, mục tiêu phấn đấu của công ty là: Đa dạng sản phẩm với năng suất, chất lượng cao, giá thành hạ, nâng cao sức cạnh tranh và ổn định nâng cao đời sống người lao động Để đạt mục tiêu đó, Công ty đã tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 35/CT -
TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng để tạo ra động lực phát triển là nhân tố con người và sức mạnh đoàn kết các dân tộc Trong công nghiệp chế biến, liên tục cải tạo, nâng cấp đổi mới thiết bị, nâng công suất các Nhà máy từ 60 tấn lên 170 tấn ngày, thị trường cần sản phẩm nào
Từ năm 1998 đến nay, sản xuất kinh doanh liên tục tăng trưởng cao, Công ty ổn định phát triển đi lên Năng suất đồi chè tăng 1,55 lần (từ 109 tạ
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
lên 170 tạ/ha) Sản lượng chè búp tươi tăng 1,8 lần (từ 5.550 tấn lên 10.000 tấn) Sản phẩm chè tiêu thụ tăng 1,6 lần (từ 1.370 lên 2.200 tấn).Doanh thu thuần tăng 1,53 lần (từ 28 tỷ lên 43 tỷ) Nộp thuế tăng 5,22 lần (từ 714 triệu lên 3,7 tỷ đồng) Lợi nhuận tăng 2,08 lần (từ 576 triệu lên 1.200 triệu đồng) Đời sống ngày càng cao, 100% hộ ở nhà xây, 98% hộ có Tivi, 60% hộ có xe máy Hàng năm 90% hộ làm chè đạt lao động giỏi, thực hiện bán 100% sản phẩm cho Công ty (Minh Xuân, 2005)
Trên địa bàn các xã khu vực Công ty đầu tư trồng chè là đồng bào dân tộc thiểu số, lao động đất đai nhiều nhưng đất cằn cỗi, không có vốn, không
có kỹ thuật, đời sống rất khó khăn, Công ty đã làm tốt vai trò vị trí là bà đỡ cho nông dân, chuyển cơ cấu cây trồng là cây chè Công ty cử cán bộ đoàn thể, chính quyền, kỹ thuật xuống các xã do Công ty trả lương, cùng các bản,
xã quy hoạch đất trồng chè, tổ chức thực hiện 4 biện pháp chính: Tuyên truyền về chính sách của Đảng về xoá đói giảm nghèo, về cơ chế thị trường
Tổ chức tập huấn làm chè cho cán bộ bản xã; xây dựng mô hình tiên tiến ở từng bản, quy hoạch lô, thửa, san ủi đường giao thông, cày đất hướng dẫn trồng chè cho nông dân Cung ứng vốn cho nông dân bằng giống chè, phân bón, thuốc trừ sâu Người nông dân phải ký hợp đồng bán toàn bộ sản phẩm cho Công ty Giá thu mua chè búp tươi được công bố từ đầu năm ổn định trong năm, tổ chức thu mua 24/24 giờ trong ngày, thanh toán tiền mặt ngay tại chỗ Các chế độ đầu tư hỗ trợ như thưởng hàng quý, tết đều áp dụng như người nhận khoán chè Đầu tư xây dựng 04 nhà máy chế biến chè tại xã, tổ chức nghiệm thu chè trồng mới tại xã trả tiền công chăm sóc hàng quý Tổng
số tiền vốn 5 năm qua Công ty đầu tư không lãi để trồng chè tại các xã là trên
2 tỷ đồng Công ty ký hợp đồng với 3.829 hộ với tổng diện tích là 1,182 ha, đầu tư dây chuyền chế biến, bao tiêu sản phẩm cho xã Tân Lập vùng tái định
cư thuỷ điện Sơn La Công ty tổ chức cho cán bộ bản xã đi tham quan, đầu tư làm đường, 2 trạm thu phát truyền hình, truyền thanh tại 2 xã trên 200 triệu
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
đồng, tổ chức nhiều đêm giao lưu văn nghệ giữa các dân tộc trong xã Tổ chức trao quỹ khuyến học cho 958 học sinh với số tiền 87 triệu đồng Với cách làm: người nông dân có đất, có lao động, Công ty có vốn, có khoa học
kỹ thuật, bao tiêu toàn bộ sản phẩm lâu dài cho nông dân, nên năm 2004 đã mua chè búp tươi tăng 7,9 lần (từ 188 tấn năm 1998 lên 1.500 tấn) Kết qủa
to lớn trong phong trào liên kết “4 nhà” tại các xã do Công ty đầu tư trồng chè
đã góp phần nâng cao đời sống người lao động, xoá đói giảm nghèo cho nông dân, phủ xanh đồi núi trọc, không còn tranh chấp đất đai giữa các bản, các dân tộc, an ninh chính trị ổn định đồng bào H'Mông không tái trồng cây thuốc phiện, không du canh du cư
Có được những kết quả đó chính vì Công ty có quy chế giao khoán chè theo Nghị định 01/CP của Chính phủ đảm bảo tính pháp luật, có quy định trách nhiệm, quyền hạn và cam kết của người giao khoán là Công ty và người nhận khoán chè, bên nào vi phạm đều phải xử lý theo quy chế Cụ thể, Công
ty chịu trách nhiệm quản lý toàn diện, hỗ trợ vốn vay không lãi, đầu tư thêm nếu sản xuất kinh doanh có lãi, bao tiêu toàn bộ sản phẩm lâu dài Người nhận khoán có quyền thừa kế, thế chấp, chuyển đổi khi cho phép, phải thực hiện quy trình thâm canh bắt buộc, không được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, không được bán sản phẩm ra ngoài Công ty Hàng quý tổ chức nghiệm thu đồi chè, hộ nào tốt sẽ được khen thưởng, các hỗ trợ đầu tư được tính trên sản phẩm, được tham gia sinh hoạt đoàn thể, công nhận lao động giỏi, đi tham quan, khám sức khoẻ định kỳ Xây dựng được quỹ bình ổn giá chè, được hỗ trợ xây dựng trường học, có quỹ khuyến dạy, khuyến học, quỹ hiếu hỷ cho người làm chè Với nông dân các xã được Công ty đầu tư trồng chè, trước hết làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền chính sách pháp luật cho nông dân thông suốt, tập huấn, tổ chức cho cán bộ bản xã được tham quan học tập, xây dựng được các điển hình tiên tiến từng bản để xây dựng nòng cốt Có hợp đồng trồng chè với từng hộ gia đình ở
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
các bản, nội dung hợp đồng đảm bảo cam kết các điều giữa bên đầu tư và
hộ trồng chè, có xác nhận của bản xã Cơ chế thu mua các loại chè giá cả rõ ràng từ đầu năm, không ép loại, có chè là phải mua không để nông dân mang về, thanh toán tiền ngay không gây phiền hà cho nông dân Xây dựng
4 cơ sở chế biến tại các xã, có trạm thu mua bảo quản tại bản để nông dân bán hết sản phẩm thuận lợi, không gây tư tưởng lo lắng về tiêu thụ sản phẩm Công ty ký hợp đồng quản lý sản phẩm với từng bản xã để cộng đồng trách nhiệm không cho tư nhân mở cơ sở chế biến Nâng cao đời sống người lao động, tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ giữa người làm chè trong toàn Công ty Ở vùng chè do Công ty chè Mộc Châu quản lý và đầu tư thì diện tích chè tại các xã trên có 651,21 ha Hiện nay nông dân vẫn
có nguyện vọng hợp đồng trồng chè tiếp Hình thức hợp đồng hiện nay là: Nông dân có đất và lao động, Công ty đầu tư tiền vốn, bao tiêu toàn bộ sản phẩm ổn định lâu dài Công ty cũng như bà con nông dân ở đây mong muốn Nhà nước cho một cơ chế quản lý đất đai, thị trường phù hợp với Quyết định 80/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ Cây chè chủ yếu phát triển ở miền núi, vùng sâu, núi cao đòi hỏi phải đầu tư thâm canh chăm sóc cao mới có năng suất và chất lượng tốt
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về công tác khoán sản phẩm chè búp tươi cho công ty chè Phú Đa
- Tổ chức sản xuất khép kín, hàng năm phân tích mẫu đất bón phân thích hợp đảm bảo sản lượng cũng như nguyên liệu cho nhà máy chế biến
- Công tác thu mua nguyên liệu cần đảm bảo công bằng, chính xác tạo được niềm tin trong người lao động Điều này sẽ khích lệ được người lao động giao nộp sản phẩm cho đội sản xuất, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho nhà máy
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Cải tạo diện tích chè kém chất lượng cũng như năng suất thấp để nâng cao được thu nhập cho người lao động cũng như nguồn nguyên liệu cho nhà máy
- Xử lý mọi vi phạm theo quy chế, tạo lòng tin cho người làm chè yên tâm sản xuất Cụ thể, Công ty chịu trách nhiệm quản lý toàn diện, hỗ trợ vốn vay không lãi, đầu tư thêm nếu sản xuất kinh doanh có lãi, bao tiêu toàn bộ sản phẩm lâu dài cho người lao động
- Người nhận khoán có quyền thừa kế, thế chấp, chuyển đổi khi cho phép, phải thực hiện quy trình thâm canh bắt buộc, không được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, không được bán sản phẩm ra ngoài công ty
- Hàng quý tổ chức nghiệm thu đồi chè, hộ nào tốt sẽ được khen thưởng, các hỗ trợ đầu tư được tính trên sản phẩm, được tham gia sinh hoạt đoàn thể, công nhận lao động giỏi, đi tham quan, khám sức khoẻ định kỳ
- Công ty ký hợp đồng quản lý sản phẩm với từng bản xã để cộng đồng trách nhiệm không cho tư nhân mở cơ sở chế biến Nâng cao đời sống
người lao động
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu chung về Công ty chè Phú Đa
3.1.1 Thông tin chung
Công ty chè Phú Đa là doanh nghiệp liên doanh giữa Tổng công ty chè Việt Nam Vinatea và tập đoàn Foodtuff Trading Baghdad của I Rắc Vốn pháp định của Công ty là: 15.100.000 USD, trong đó phía Việt Nam góp 45%, phía nước ngoài góp 55% Công ty bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1999 theo giấy phép số 2106/GP của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với thời gian hoạt động là
- Công ty chè Phú Sơn: được thành lập tháng 5 năm 1958
- Khu kinh tế Thanh Niên: được thành lập ngày 23/2/1971
- Xí nghiệp nông công nghiệp chè Tân Phú (Nông trường Thanh Niên II): được thành lập ngày 5/7/1988
Đến ngày 07/01/1999, Công ty chè Phú Đa đã chính thức được thành lập sáp nhập 3 khu kinh tế trên với mục tiêu phát triển cây chè trên vùng quê mới của tỉnh Phú Thọ Có lẽ chính vì vậy mà tình nghĩa giữa Công ty với
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
nhân dân và với cây chè ngày càng thêm sâu đậm, cũng là tiền đề để Công ty ngày càng phát triển và lớn mạnh hơn Sau khi thành lập, các khu kinh tế trước kia trở thành các xí nghiệp của Công ty chè Phú Đa Tới tháng 1 năm
2000, công ty xây dựng thêm một xí nghiệp nữa để mở rộng quy mô sản xuất,
đó là xí nghiệp chè Phú Long
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, có tới 9/12 huyện, thành thị có trồng chè xanh nguyên liệu Hiện nay, Phú Thọ đứng thứ 3 cả về diện tích và về sản lượng chè cả nước với khoảng 15,6 nghìn ha chè cùng với 113.000 tấn chè/năm Trong đó, Công ty chè Phú Đa có các đồi chè nguyên liệu nằm trên địa bàn 4 huyện là Thanh Sơn, Tân Sơn, Tam Nông và Yên Lập của tỉnh Phú Thọ Với điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi đối với cây chè, chè Phú Thọ được biết đến là một trong những loại chè ngon và nổi tiếng khắp cả nước Hiện tại, cơ sở hạ tầng của công ty đã gần như hoàn thiện, Công ty có
4 xí nghiệp là xí nghiệp chè Thanh Niên, xí nghiệp chè Tân Phú (ở huyện Tân Sơn), xí nghiệp chè Phú Sơn, xí nghiệp chè Phú Long (ở huyện Thanh Sơn),
và 1 trung tâm đấu trộn sản phẩm Trong đó có 3 nhà máy chế biến chè ở các
xí nghiệp chè: Thanh Niên, Tân Phú và Phú Sơn (xí nghiệp chè Phú Long đang trong giai đoạn xây dựng và củng cố kỹ thuật) cùng với 43 đội chuyên sản xuất chè Các nhà máy này đều được trang bị những hệ thống dây truyền sản xuất hiện đại và tiên tiến về chế biến chè, nhằm đảm bảo cho năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm sản phẩm của Công ty là tốt nhất Công suất sản xuất định mức của các nhà máy chế biến của Công ty chè Phú
Đa cũng rất cao, xí nghiệp chè Phú Sơn: khoảng 70 tấn/ngày, xí nghiệp chè Thanh Niên: 70 tấn/ngày, xí nghiệp chè Tân Phú: 60 tấn/ngày Trong thời điểm này, Công ty chè Phú Đa được biết đến với 2 kỷ lục của ngành chè Việt Nam đó là doanh nghiệp có năng suất chè bình quân cao nhất và có công nghệ, thiết bị chế biến chè hiện đại nhất cả nước Cùng với đó, trong những năm
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
gần đây, Công ty cũng đã tăng cường đầu tư mạnh mẽ để tăng cường cũng như nâng cao trình độ cán bộ của mình, mở rộng liên kết với nhiều trung tâm nghiên cứu, các trường đại học để ngày càng hoàn thiện chất lượng lao động
Trong những năm gần đây, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty chè Phú Đa có khá nhiều biến động Nhưng nói chung, Công ty đã thực hiện được tốt các hợp đồng tiêu thụ của mình trong kỳ kinh doanh Về vấn đề tổ chức sản xuất, Công ty sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể đối với từng xí nghiệp của mình cả về sản xuất chè nguyên liệu và sản xuất sản phẩm Qua đó, mỗi
xí nghiệp sẽ hoàn thành kế hoạch sản xuất của mình dựa trên các chính sách
về tiêu thụ sản phẩm của Công ty
Các sản phẩm của Công ty chè Phú Đa là các loại chè đen được sản xuất theo công nghệ Orthodox như OP, FBOP, Pekoe, P, PS, BPS,… Sau khi thành phẩm được đưa vào chế biến tại các nhà máy, thành phẩm sẽ được tập trung đưa tới trung tâm đấu trộn của Công ty Tại đây sẽ tổ chức công tác phân loại và đóng gói bao bì sản phẩm để chuẩn bị cho đi tiêu thụ Hiện tại, Công ty sử dụng hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 2200:2005, HACCP và một số tiêu chuẩn khác để đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình
Việc kế hoạch hóa công tác tiêu thụ sản phẩm đã mang lại những thành công lớn cho Công ty chè Phú Đa Đó cũng là cơ sở để công ty có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đối với tất cả các khách hàng của mình, đặc biệt là đối với thị trường xuất khẩu
Qua hơn 10 năm thành lập và phát triển, Công ty chè Phú Đa đã trải qua nhiều thăng trầm Tuy nhiên, điều quan trọng là tại thời điểm hiện tại, Công ty đã thực sự lớn mạnh, đã xây dựng được vị thế của mình trên thị trường Từ những ngày đầu với cơ sở hạ tầng còn thấp kém, kỹ thuật và công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ của các cán bộ cũng như công nhân còn chưa
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
cao, thị trường tiêu thụ còn bó hẹp đã gây ra rất nhiều những khó khăn trở ngại cho Công ty Nhưng với sự quyết tâm, nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty, cùng với sự ủng hộ giúp đỡ tận tình của chính quyền địa phương và nhân dân lao động, cho đến hôm nay, công ty chè Phú Đa đã vượt qua được những khó khăn đó và đang tiếp tục vững bước trên con đường khẳng định thương hiệu chè của mình Tinh thần đó càng phải được thể hiện rõ ràng
và phát huy mạnh mẽ trong thời điểm hiện nay, vì với tác động của khủng hoảng kinh tế nói chung và khó khăn của ngành chè nói riêng, đặc biệt là vấn
đề tiêu thụ sản phẩm sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
3.1.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
3.1.3.1 Tổ chức bộ máy hoạt động
Trồng, chế biến, kinh doanh sản phẩm chè đen OTD
- Phòng hành chính - nhân sự
Thực hiện công tác tuyển dụng, hợp đồng đào tạo, bố trí lao động, quản
lý hồ sơ và đảm bảo chính sách cho người lao động theo đúng pháp luật của nhà nước
Thực hiện các công việc liên quan tới giấy tờ, hồ sơ ngoài ra, phòng hành chính – nhân sự còn thực hiện đảm bảo công tác an ninh, quốc phòng và công việc liên quan tới khuân viên của công ty
- Phòng tài chính kế toán
Tham mưu cho mban giám đốc, đồng thời chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và ban giám đốc về về các vấn đề tài chính kế toán, quản lý tài sản nguồn vốn của công ty và các chúng từ liên quan tới hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Nguồn: Phòng hành chính nhân sự công ty chè Phú Đa
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy công ty chè Phú Đa
Giám đốc thị trường
P Kế hoạch tổng hợp
Xí nghiệp chè Tân Phú
Xí nghiệp chè Thanh niên
Xí nghiệp chè Phú Long
Tổng giám đốc
Hội đồng quản trị
Các đồi trồng chè
Nhà máy chế biến
Phó tổng giám đốc
Các đồi trồng chè
Nhà máy chế biến
Các đồi trồng chè
Xí nghiệp chè
Phú Sơn
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Phòng kế hoạch tổng hợp
Tham mưu giúp việc cho ban giám đốc, có tổ chức quản lý và thực hiện các nhiệm vụ sau:
Xây dựng và quản lý kế hoạch sản xuất
Xây dụng chiến lược và tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Quản lý đất đai và tài sản thuộc quền quản lý của công ty
Chuyển tải mọi giao dịch cho ban giám đốc
- Trung tâm đấu trộn
Bảo quản tốt chất lượng chè tại kho, xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm chè từ các nhà máy, mua ngoài
về kho trung tâm đấu trộn
Tổ chức thực hiện việc chỉ đạo việc kiểm tra chất lượng (KCS), đóng gói chè xuất khẩu khi công ty yêu cầu Đảm bảo tốt theo yêu cầu của khác hàng
và theo quy quản lý của công ty
3.1.3.2 Đặc điểm nguồn nhân lực của Công ty
* Về số lượng
Ngày nay, với sự phát triển tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ đã làm thay đổi quá trình lao động của con người, các máy móc thiết bị hiện đại được đưa vào quá trình sản xuất, dần dần thay thế cho lao động chân tay, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Thực tế tại Công ty cũng thể hiện điều này, Từ khi thành lập tới nay, Công ty đã không ngừng đổi mới công nghệ, cắt giảm nhân lực hoặc thuyên chuyển công tác nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản