1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên

104 371 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 15,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc phát triển các làng nghề một cách tự phát như hiện nay đã dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực, trong đó ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn từ hoạt động sản xuất,

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iv

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu đồ ix

Danh mục sơ đồ x

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Khái niệm làng nghề 3

1.1.2 Phân loại làng nghề 4

1.1.3 Thực trạng về việc áp dụng các công cụ quản lý môi trường (QLMT) 7

1.2 Tổng quan về làng nghề tại Việt Nam 9

1.2.1 Tổng quan về các làng nghề 9

1.2.2 Tổng quan về làng nghề chế biến lương thực thực phẩm tại Việt Nam 15

1.2.3 Tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề tới kinh tế và sức khoẻ cộng đồng 21

1.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải tại các làng nghề ở Việt Nam 24

1.4 Tổng quan về giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

Trang 2

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 28

2.4.2 Phương pháp khảo sát 29

2.4.3 Phương pháp điều tra 29

2.4.4 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 29

2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 31

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 33

2.4.7.Phương pháp kế thừa 33

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương, xã Tân Quang 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội làng nghề Bình Lương xã Tân Quang 37

3.2 Đánh giá tình hình sản xuất tại làng nghề bóng bì Bình Lương 41

3.2.1 Các loại hình sản xuất 41

3.2.2 Quy mô sản xuất 41

3.2.3 Nguyên, nhiên liệu, hóa chất sử dụng trong sản xuất bóng bì của làng nghề Bình Lương 41

3.2.4 Quy trình sản xuất 42

3.3 Đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương 45

3.3.1 Hiện trạng môi trường nước 45

3.3.2 Hiện trạng môi trường chất thải rắn 55

3.4 Đánh giá các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương 57

3.4.1.Nguồn gây ô nhiễm nước thải 58

3.4.2 Dây chuyền công nghệ sản xuất và nhà xưởng 59

3.4.3 Một số nguyên nhân khác 60

3.5 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường làng nghề Bình Lương 61 3.5.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý môi trường làng nghề 61

Trang 3

3.5.2 Công tác tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường 61

3.5.3 Công tác quản lý chất thải 63

3.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường làng nghề 66

3.6.1 Tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khoẻ người dân 66

3.6.2 Tác động của ô nhiễm môi trường đến mĩ quan địa phương 69

3.7 Những tồn tại cần giải quyết 69

3.8 Đề xuất giải pháp khắc phục nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề Bình Lương 71

3.8.1 Giải pháp về quản lý môi trường 71

3.8.2 Giải pháp kỹ thuật công nghệ 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

1.1 Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 11

1.2 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 13

1.3: Số lượng làng nghề của ngành chế biến lương thực thực phẩm 15

1.4: Các sản phẩm và sản lượng của một số làng nghề CBNSTP 16

1.5: Định mức tiêu thụ nguyên liệu, điện năng cho sản xuất tinh bột 17

1.6: Định mức sử dụng nước trong sản xuất tinh bột tại làng nghề 17

1.7 Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản 20

1.8: thiệt hại kinh tế về thay đổi sản lượng nông nghiệp tại một số làng nghề CBNS 22

1.9: Thiệt hại kinh tế về y tế do tác động phát sinh chất thải tại một số làng nghề chế biến nông sản 23

2.1: Phương pháp phân tích các thông số nước mặt trong phòng thí nghiệm 31

2.2: Phương pháp phân tích các thông số quan trắc nước thải trong phòng thí nghiệm 32

2.3: Phương pháp phân tích các thông số nước ngầm trong phòng thí nghiệm 33

3.1 Dân số và cơ cấu ngành nghề làng nghề Bình Lương 40

3.2: Lượng chất thải phát sinh cho 1 tấn nguyên liệu sản xuất 45

3.3 Kết quả khảo sát môi trường nước thải tại một số điểm làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương 46

3.4: Nồng độ trung bình nước thải tại một số vị trí quan trắc 48

3.5 Kết quả khảo sát môi trường nước mặt tại một số điểm làng nghề Bình Lương 50

3.6: Nồng độ trung bình nước mặt tại làng nghề Bình Lương 51

3.7 Kết quả khảo sát môi trường nước ngầm tại một số điểm làng nghề bóng bì Bình Lương 53

3.8: Nồng độ trung bình nước ngầm tại làng nghề Bình Lương 54

3.9 Tải lượng rác thải trung bình mỗi ngày tại làng nghề Bình Lương 55

Trang 5

3.10: Thành phần chất thải sinh hoạt 56

3.11: Khối lượng chất thải rắn sản xuất phát sinh trong 1 ngày tại 57

làng nghề Bình Lương 57

3.12 Đánh giá mức độ phát thải nước thải ở làng nghề Bình Lương 58

3.13: Diện tích nhà xưởng sản xuất 60

3.14: Công tác tuân thủ BVMT của các hộ sản xuất 62

3.15: Tình hình xử lý nước thải tại làng nghề Bình Lương 64

3.16 Hiện trạng cơ sở vật chất, nhân lực cho quản lý môi trường của làng nghề Bình Lương 65

3.17: Ý kiến người dân về công tác quản lý CTR làng nghề Bình Lương 66

3.18: Thống kê tuổi thọ trung bình một số làng nghề thực phẩm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 67

3.19: Tình hình bệnh tật trong làng nghề Bình Lương 68

3.20: Thống kê các triệu chứng, bệnh thường gặp ở người lao động năm 2014 68

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Tên biểu đồ Trang

1.1 Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 6

1.2 Sự phân bố làng nghề Việt Nam theo khu vực 10

1.3 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải làng nghề khu vực ĐBSH 14

3.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình qua các năm 2009-2013 35

3.2 Diễn biến lượng mưa trung bình qua các năm 2009-2013 36

3.3 Diễn biến độ ẩm trung bình qua các năm 2009-2013 37

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

STT Tên sơ đồ Trang

3.1 Công nghệ sản xuất bóng bì (dùng làm keo) kèm dòng thải 43

3.2 Công nghệ sản xuất bóng bì thực phẩm kèm dòng thải 44

3.3 Hệ thống quản lý môi trường cấp xã 74

3.4 Mô hình xử lý nước thải cho làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương 81

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tuy nhiên, việc phát triển các làng nghề một cách tự phát như hiện nay đã dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực, trong đó ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn từ hoạt động sản xuất, chế biến tại các làng nghề thực sự đã đến mức báo động, nó đã và đang đe dọa trực tiếp đến sức khoẻ của người dân trong khu vực Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2008, ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dây chuyền sản xuất; ô nhiễm nước diễn ra đặc biệt nghiêm trọng do khối lượng nước thải của các làng nghề là rất lớn, hầu hết lại chưa qua xử lý mà được

xả thẳng ra hệ thống sông ngòi, kênh rạch; chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để gây tác động xấu tới cảnh quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất

Hưng Yên là một tỉnh có số lượng làng nghề lớn, gồm 66 làng nghề bao gồm làng nghề truyền thống và làng có nghề Trong đó có 32 làng nghề được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề, còn lại 34 làng có nghề Các ngành nghề sản xuất tập trung theo các nhóm như sau: Sản xuất hàng thủ công

mỹ nghệ mây tre đan, gốm sứ; chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; chế biến thực phẩm; nội thất gỗ; tái chế các chất thải và các loại hình sản xuất khác… Sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho lượng lớn lao động nhàn rỗi ở nông thôn Tuy nhiên, đồng hành với sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh thì tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nghề đáng báo động, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của người dân.Trong các nghiên cứu gần đây cho thấy ô nhiễm môi trường diễn ra trên nhiều làng nghề, trong đó đối với các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn

đề nổi cộm

Trang 9

Làng nghề Bình Lương là một trong những làng có nghề chế biến lương thực thực phẩm nằm trên địa phận xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, ra đời cách đây 50 năm Quá trình sản xuất tại làng nghề đã thải ra một lượng lớn nước thải, chất thải rắn gây ô nhiễm môi trường đã được phản ánh nhiều trên các phương tiện truyền thông: ti vi, báo, đài… đã và đang là vấn đề bức xúc của người dân trong khu vực cần được các cấp các ngành và chính quyền địa phương quan tâm và giải quyết Tuy nhiên từ năm 2012 đến nay do tình trạng

ô nhiễm môi trường diễn ra phức tạp, gây nhức nhối trong khu dân cư, trước mắt chính quyền địa phương đã thành lập tổ thu gom rác thải trong thôn để thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và rác thải sản xuất ra khỏi khu dân cư Về lâu dài vẫn chưa có một giải pháp cụ thể nào đưa ra để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng Bình Lương

Xuất phát từ thực trạng trên nhằm mục tiêu phát triển bền vững tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề bóng

bì Bình Lương, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu phải đưa ra được các số liệu phản ánh hiện trạng môi

trường và công tác công tác quản lý môi trường tại làng nghề sản xuất bóng bì Bình Lương

- Các giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương, có tính thực tiễn và khả năng áp dụng thực tế

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn

để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: Các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện

Có thể hiểu làng nghề “ là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”

Ngoài ra còn một số khái niệm về làng nghề khác nhau:

Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,

phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Làng một nghề là những làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề

chiếm ưu thế tuyệt đối

Làng nhiều nghề là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề

tiểu thủ công nghiệp khác cùng tồn tại

Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình

thành từ lâu đời

Làng nghề mới là làng nghề được hình thành cùng sự phát triển của nền

kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển

Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:

Trang 11

- Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50%

so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng

- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động

- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng

và do người trong làng tham gia

Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước

1.1.2 Phân loại làng nghề

Tùy theo mục đích nghiên cứu ta có thể phân loại làng nghề theo một số kiểu dạng khác nhau Có hai cách phân loại làng nghề được biết đến rộng rãi nhất

Phân loại làng nghề truyền thống và làng nghề mới

Cách phân loại này cho thấy đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng

nghề, đặc trưng cho các vùng văn hóa lãnh thổ

Làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm đặc điểm đặc thù riêng biệt, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề- cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng họ

Cụ thể theo nghị định 66/NĐ-CP của chính phủ tiêu chí công nhận nghề truyền thống gồm:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc

- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của nghề

Trang 12

Các làng nghề truyền thống không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước, nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với thế hệ đi trước và thế hệ trẻ sau Bởi vậy, chúng ta gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam

Các làng nghề mới chiếm phần lớn trong tổng số làng nghề ở nước ta Chủ yếu các làng nghề mới được hình thành do nhu cầu mới của thị trường, do sự lan tỏa

từ các làng nghề khác lân cận hay hình thành từ việc tổ chức các quan hệ gia công cho các xí nghiệp lớn, cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu

Bên cạnh các làng nghề truyền thống, làng nghề mới thì có cả làng nghề khác “ Khác” ở đây chính là những làng nghề truyền thống sản xuất những làng nghề thủ công đậm đà bản sắc dân tộc nhưng sau này làng nghề đã chuyển đổi sản xuất những sản phẩm và công nghệ truyền thống, với kiểu làng nghề này thì điển hình nhất là làng nghề Đồng Kỵ, trước đây làng nghề sản xuất pháo sau khi Nhà nước cấm sản xuất, đốt pháo, làng nghề đã chuyển sang nghề mới làng nghề

đã gây được tiếng vang và trở thành làng nghề có thương hiệu lớn

Trang 13

Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm

Theo tổng hợp của Tổng cục môi trường (2008), Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu trí khác nhau có thể phân loại theo một số dạng như sau:

• Ươm tơ, dệt vải và may đồ da

• Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu

• Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…)

• Thủ công mỹ nghệ, thêu ren

• Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá

• Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới ) Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm chính, mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ Mỗi nhóm ngành, làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới môi trường

Biểu đồ 1.1: Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất

(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2008)

A: Vật liệu xây dựng và khai thác đá

B: Thủ công mĩ nghệ

C: Tái chế phế liệu

D: Công nghệ thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ

E: Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

F: Các nghề khác

Trang 14

Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Làng nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo

đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam

1.1.3 Thực trạng về việc áp dụng các công cụ quản lý môi trường (QLMT)

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp, các phương tiện, các phương thức sử dụng nhằm giúp cho việc thực hiện những nội dung của QLMT một cách tốt hơn

Công cụ QLMT có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh

vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách; công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội như các quy định hành chính, công cụ xử phạt … và công cụ kinh tế; công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường Công cụ hỗ trợ gồm có các công

cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, kiểm toán môi trường…

* Việc triển khai các công cụ pháp lý liên quan:

+ Điều 70, luật BVMT năm 2014 đã quy định về BVMT làng nghề như sau: “Việc quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn với BVMT; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thống kê, đánh giá mức

độ ô nhiễm của các làng nghề trên địa bàn và có kế hoạch di dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu về BVMT: Thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường; thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật”

Chính phủ đã ban hành nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngảy 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường

+ Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư số BTNMT ngày 26/12/2011quy định về bảo vệ môi trường làng nghề hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006

Trang 15

46/2011/TT-của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn

+ Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn

Nhiều văn bản pháp luật tuy không quy định cụ thể đối với làng nghề nhưng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả đối tượng làng nghề, trong đó quan trọng phải kể đến:

+ Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ trong đó có quy định một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ bao gồm “đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”, với các quy định cụ thể về định mức hỗ trợ, nguồn tài chính hỗ trợ để triển khai thực hiện

+ Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải

+ Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn; Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn

+ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất thải và phế liệu

Trang 16

1.2 Tổng quan về làng nghề tại Việt Nam

1.2.1 Tổng quan về các làng nghề

Tác giả Đặng Kim Chi (2005), thống kê được trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất nghề, thu hút hơn 29% lực lượng lao động ở nông thôn Các làng nghề hoạt động với các hình thức khá đa dạng: Trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề có 80,1% là các hộ cá thể, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng

sở hữu khác

* Số lượng, phân bố

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam (2011), cả nước hiện có hơn 1300 làng nghề được công nhận và 3200 làng có nghề Đa số các làng nghề hoạt động với quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình (chiếm 72%); quy trình sản xuất lạc hậu, vốn đầu tư hạn hẹp, chưa chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường

Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011 – chất thải rắn cho thấy các làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền trong cả nước và tính chất cũng không giống nhau Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định… ở miền Trung chiếm khoảng 30%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế… miền Nam chiếm khoảng 10%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ…

Trang 17

Biểu đồ 1.2: Sự phân bố làng nghề Việt Nam theo khu vực

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011)

Số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung có xu hướng tăng lên, chỉ có ngành khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng có xu thế giảm do chính sách của nhà nước cũng như hậu quả của ô nhiễm môi trường đến cộng đồng dân cư, và quan trọng hơn cả là chất lượng không cạnh tranh được với các sản phẩm sản xuất công nghiệp Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là nơi có số lượng làng nghề lớn nhất trên cả nước thì số lượng vẫn tiếp tục tăng so với các khu vực khác nên khu vực này được coi là đại diện nhất của bức tranh về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam Trong khi đó, tại các vùng Đông Bắc và Tây Bắc số lượng có chiều hướng giảm dần trong những năm gần đây

Theo báo cáo môi trường quốc gia 2010, dự báo cho xu thế phát triển làng nghề trong những năm tiếp theo được thể hiện trong Bảng 1.1:

Trang 18

Bảng 1.1 Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam đến năm 2015

Vùng kinh tế

Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ

Tái chế phế liệu

Thủ công

mỹ nghệ

Sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá

- Nhiên liệu, nguyên liệu

Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên

Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Ví dụ, theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; các làng nghề chế biến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất

Trang 19

lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ gia dụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác

Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các

hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu Do đó, chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên

- Công nghệ, thiết bị

Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề tại nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã

cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề

Kết quả khảo sát của Đặng Kim Chi và ctv (2005), cho thấy để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dùng

đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay ; làng

gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh hiện nay đã đầu tư 11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy vanh, 500 máy khoan bàn, 500 máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt

Trang 20

Bảng 1.2 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay

Trình độ kỹ

thuật

Chế biến nông- lâm- thủy sản

Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng

Các ngành dịch vụ

Các ngành khác Thủ công bán

Tự động hóa

( Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005)

Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh

* Ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay

Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xảy ra ở mấy loại phổ biến sau đây:

- Ô nhiễm môi trường nước: Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ sản xuất và nhiên liệu dùng trong sản xuất Chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ươm tơ, dệt nhuộm là những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao Ngược lại, một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng, nhôm nhu cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như các hóa

Trang 21

chất, axit, muối kim loại, xyanua và các kim loại nặng như Hg, Pb, Cr, Zn, Cu

Tại Báo Nhân dân ngày 23/6/2005, GS.TS Đặng Kim Chi đã cảnh báo

"100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất” Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề các năm gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm trí còn tăng cao hơn trước

Hà Nội là một trong những thành phố có nhiều làng nghề nhất cả nước với nhiều loại hình sản xuất khác nhau, từ chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da đến sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu; thủ công mỹ nghệ Hiện nay, phần lớn lượng nước thải

từ các làng nghề này được xả thẳng ra sông Nhuệ, sông Đáy mà chưa qua xử lý khiến các con sông này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng

- Ô nhiễm không khí: Các làng nghề tại Việt Nam rất đa dạng, trong đó một số loại hình sản xuất có đặc thù phát thải nhiều loại khí độc hại như làng nghề tái chế kim loại, giấy, nhựa, đúc đồng, làng nghề tái sản xuất vật liệu xây dựng, thực phẩm, chế tác đa Các khí thải điển hình như bụi, khí SO2, NO2, hơi axit và kiềm sản sinh từ các quá trình như xử lý bề mặt, nung, sấy, tẩy trắng, đục tạo hình các sản phẩm

(Nguồn:Trung tâm Quan trắc môi trường- CTMT, 2010) Ghi chú: tính toán dựa trên tổng số dân

Biểu đồ 1.3 Ước tính thải lượng các chất ô nhiễm trong khí thải làng nghề

khu vực ĐBSH

Ô nhiễm không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ đốt nhiên liệu và sử dụng các nguyên vật liệu, hóa chất trong dây truyền công nghệ sản

Trang 22

xuất Than là nhiên liệu chính được sử dụng phổ biến ở các làng nghề và thường

là than chất lượng thấp Đây là loại nhiên liệu gây phát sinh lượng lớn bụi và các khí ô nhiễm Do đó, khí thải ở các làng nghề thường chứa nhiều thành phần các chất ô nhiễm không khí như: bụi, CO2, SO2, NOx, chất hữu cơ bay hơi Tái chế kim loại, sản xuất vật liệu xây dựng( gạch, gói, nưng vôi), sản xuất gốm sứ là những loại hình sản xuất gây ô nhiễm môi trường không khí do có nhu cầu nhiên liệu cao và nhiên liệu chủ yếu là than

- Ô nhiễm chất thải rắn: Do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thường: Nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm

và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người

Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó, ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử lý chất thải Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề đem lại như hiện nay

1.2.2 Tổng quan về làng nghề chế biến lương thực thực phẩm tại Việt Nam

* Số lượng, phân bố

Theo Đặng Kim Chi và ctv (2005), trên cả nước có khoảng 197 làng nghề truyền thống chế biến nông sản thực phẩm, các làng nghề sử dụng nguyên liệu có sẵn tại chỗ hoặc lân cận để tạo ra các sản phẩm cung cấp cho nhu cầu cơ bản sinh hoạt và sản xuất tại địa phương nên rất dễ có điều kiện phát triển

Bảng 1.3: Số lượng làng nghề của ngành chế biến lương thực thực phẩm

STT Phân ngành chế biến lương thực, thực phẩm dược liệu Số lượng

Trang 23

Các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu được phân bố đều ở các khu vực trên cả nước nhưng nhiều nhất vẫn là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Từ nguyên liệu chính là gạo, khoai, ngô, sắn, dong … sau khi qua các công đoạn sản xuất đã tạo ra sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận hiện nay tại các làng nghề còn sản xuất các mặt hàng khau nhau như:

+ Miến dong, bún khô, bánh đa nem, tương, rượu

+ Sản xuất bánh kẹo, bánh đậu xanh, mạch nha, tinh bột

130

6 Bún bánh Ninh Hồng Yên Khánh – Ninh Bình Bún, bánh Tấn/năm 4.380

7 Nước mắm Nam Ô – Hoà Hiệp – Đà Nẵng Nước mắm Lít/năm 37.000

8 Bún Phương Hoà – Tân

Trang 24

* Thực trạng áp dụng công nghệ

- Nguyên liệu, nhiên liệu và nước cho sản xuất:

Nguyên vật liệu cho các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Ví dụ, nguồn nguyên liệu phục vụ cho làng nghề chế biến tinh bột, chủ yếu là sắn, dong riềng; nguyên liệu cho làng nghề đậu phụ, làng nghề làm tương, bánh đậu xanh là đậu tương, đậu xanh; nguyên liệu cho làng nghề bún, bánh đa là gạo…

Đối với làng nghề chế biến thực phẩm nhu cầu sử dụng than, điện là không lớn, tuy nhiên nhu cầu sử dụng nước là tương đối lớn Nghiên cứu của Đặng Kim Chi (2005) đã chỉ ra rằng: Đối với làng nghề chế biến tinh bột sắn nhu cầu sử dụng điện năng khoảng 13,4 KWh/tấn sản phẩm, khoảng 30 KWh/tấn đối với làng nghề sản xuất tinh bột dong; bên cạnh đó nhu cầu về nước là rất lớn: Khoảng 12 m3/tấn đối với sản xuất bột sắn và khoảng 52 m3/tấn đối với sản xuất bột dong Kết quả cụ thể trong bảng 1.5 và bảng 1.6

Bảng 1.5: Định mức tiêu thụ nguyên liệu, điện năng cho sản xuất tinh bột

Trang 25

- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất

Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề tại nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã

cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề

Khác với các ngành công nghiệp khác, ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm từ lâu đã mang đặc trưng là làng nghề truyền thống với quy mô sản xuất theo hộ gia đình, phân tán và sản xuất ra nhiều mặt hàng khác nhau Về mặt

tổ chức sản xuất, một số hộ có vốn đầu tư mua nguyên liệu sau đó giao cho các

hộ khác làm ra sản phẩm hoặc hoàn thành 1 khâu trong quá trình sản xuất; có một số hộ chỉ lo nguyên liệu hoặc chỉ lo tiêu thụ sản phẩm Quy trình sản xuất đơn giản với hầu hết các công đoạn thủ công nên không đòi hỏi lao động có kỹ thuật cao và đa phần người sản xuất là người trong gia đình

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng nghề chế biến tinh bột Dương Liễu – Hoài Đức – Hà Nội đã tiến hành áp dụng cơ giới hoá trong việc sản xuất: Thay vì bóc vỏ sắn, vỏ dong giềng thủ công bằng tay người dân đã sử dụng máy quay ly tâm và máy cánh guồng để rửa và bóc vỏ nguyên liệu Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh

Hơn nữa, các làng nghề hiện nay nhìn chung đều gặp khó khăn về mặt bằng cho sản xuất Tình trạng phổ biến nhất hiện nay là việc sử dụng luôn nhà ở làm nơi sản xuất Các cơ sở sản xuất lớn thì thường chỉ có lán che lợp fibrô xi măng, rơm rạ, lá mía, căng bạt… mang tính chất tạm bợ Các bãi tập kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gần khu dân cư, tạm bợ

Trang 26

Theo thống kê của tác giả Đặng Kim Chi và ctv (2005), về nhà xưởng, các làng nghề chỉ có số ít (10 – 30%) các nhà xưởng kiên cố, còn lại là bán kiên cố

và tạm bợ Tỷ lệ đường giao thông tốt trong các làng nghề đa số chỉ chiếm trên dưới 20% Hệ thống cấp nước sạch chưa đáp ứng được cả cho sinh hoạt và cho sản xuất Chỉ có 60% số hộ nông dân dùng nước sạch theo các hình thức nước giếng khoan, nước mưa, nước giếng khơi, còn lại là dùng nước mặt ao hồ, sông,

suối Do khai thác bừa bãi nên nguồn nước bị cạn kiệt Nước thải hầu như ít được

xử lý nên gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm ngày càng nghiêm trọng Đặc biệt

là trong những năm gần đây, quy mô sản xuất của nhiều làng nghề tăng lên, áp dụng nhiều biện pháp công nghệ có sử dụng hóa chất, thiết bị và nhiêu liệu… đã gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường sống

* Ô nhiễm môi trường tại các nghề lương thực thực phẩm

- Ô nhiễm nước: Chế biến lương thực thực phẩm là một những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm như Dương Liễu, La Phù (huyện Hoài Đức), nước mặt nhiều nơi có hàm lượng COD, BOD5, NH4+, Coliform vượt hàng chục lần đến hàng trăm lần cho phép Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ động vật làm cho nước nhanh bị hôi thối, gây ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề

Tại thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội, hàm lượng BOD5 trong nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3-4 lần, cặn lơ lửng, chất hữu

cơ, nitơ và phốt pho trong nước thải rất cao Theo ước tính, thôn Phú Đô có khoảng gần 600 hộ gia đình làm bún, mỗi gia đình sản xuất từ 50-70 kg bún một ngày Để làm bún người ta phải ngâm gạo đến khi có mùi chua thì vớt ra Nước gạo chua đổ ra cống, rồi chảy vào mương của thôn, xã bốc mùi hôi nồng nặc Phân tích nước thải của một số làng nghề cho thấy chất lượng môi trường nước ở đây rất đáng lo ngại Chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm phần lớn đều có dấu hiệu bị ô nhiễm với hàm lượng COD, SS, NH4+trong nước giếng cao Nước giếng của làng Tân Độ và Ninh Vân nhiễm vi khuẩn

Trang 27

coliform Nước giếng của làng nghề sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hóa) hàm lượng COD lên tới 186 mg/l Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường

bị phân hủy yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trường đất và suy giảm chất lượng nước ngầm Người dân ở những nơi này phải mua nước ngọt từ nơi khác để sử dụng Đặc trưng của nước thải làng nghề chế biến nông sản thực phẩm được thể hiện cụ thể trong bảng

Bảng 1.7 Đặc trưng nước thải của một số làng nghề chế biến nông sản

Chỉ tiêu TCVN

5945:1995

Tinh bột Bình Minh

Bún Phú

Đô

Nước mắm Hải Thanh

Nấu rượu Tân Đô

Đậu phụ Quang Bình

(Nguồn: Báo cáo đề tài KC 08-09, 2005)

- Ô nhiễm không khí: Do đặc thù làng nghề chế biến lương thực thực phẩm là sử dụng ít nhiên liệu đốt hơn so với các làng nghề tái chế kim loại, sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, nung vôi nên vấn đề ô nhiễm không khí

do bụi, SO2, CO2, NOx là không đáng ngại, tuy nhiên ô nhiễm không khí do mùi gây ra là rất lớn Ví dụ, đối với các làng nghề sản xuất đậu phụ, chất thải từ quá trình sản xuất được tái sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi, do đó mùi phát sinh

từ hoạt động chăn nuôi ảnh hưởng rất lớn tới người dân sống trong làng nghề và khu vực xung quanh; đối với các làng nghề sản xuất bún, sản xuất tinh bột, nước thải từ quá trình ngâm, rửa có chứa tinh bột thải ra môi trường gây mùi chua, thối khó chịu, ảnh hưởng tới người dân trong làng và khu vực xung quanh

- Ô nhiễm chất thải rắn: Một số làng nghề chế biến lương thực thực phẩm tái sử dụng chất thải sản xuất phục vụ cho chăn nuôi, ví dụ như làng nghề sản

Trang 28

xuất đậu phụ Đo đó chất thải rắn phát sinh từ làng nghề chính là chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi Bên cạnh đó đối với các làng nghề chế biến tinh bột bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong) cũng được thải ra ngoài môi trường gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sản xuất vứt bừa bãi trên đường làng ngõ xóm Ngoài ra xỉ than từ quá trình sản xuất thải ra ngoài môi trường gây ảnh hưởng đến cảnh quan khu dân cư Các loại rác thải thông thường: Nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất

kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người

1.2.3 Tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề tới kinh tế và sức khoẻ cộng đồng

* Thiệt hại kinh tế về thay đổi sản lượng nông nghiệp do phát sinh chất thải làng nghề

Trần Văn Thể và cộng sự (2011), cho thấy: Qua quá trình điều tra 360 hộ nông dân trong làng chịu tác động bởi làng nghề chế biến nông sản (CBNS) cho thấy trên 75,1% nông dân bị tác động bởi hoạt động làng nghề cho rằng hoạt động sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do phát sinh nước thải và chất thải rắn từ hoạt động sản xuất làng nghề CBNS Dựa trên diện tích và năng suất cây trồng, thuỷ sản suy giảm từ kết quả điều tra, thiệt hại về kinh tế do thay đổi sản lượng nông nghiệp tính toán được là 1,39 tỷ đồng/năm ở làng nghề chế biến tinh bột sắn Quế Dương; 1,19 tỷ đồng/năm ở làng nghề bún khô Minh Hoà Các làng nghề CBNS thải ra nước thải chứa hàm lượng hữu cơ cao, bên cạnh đó hầu hết các làng nghề đều thiếu kinh phí xây dựng các công trình thuỷ lợi riêng biệt, làm nước thải sản xuất xả thẳng trực tiếp vào nguồn nước mặt, đây là nguồn nước tưới phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Nước thải làng nghề làm giảm năng suất lúa, ảnh hưởng tới hoạt động nuôi trồng thuỷ sản

Trang 29

Bảng 1.8: thiệt hại kinh tế về thay đổi sản lượng nông nghiệp tại một số

Nấu rượu Đại Lâm

Chế biến TBS Quế Dương

Bún khô Minh Hoà

Miến dong Kim Phượng

Bún ướt thôn Thượng

(Nguồn: Trần Văn Thể và cộng sự ,2011)

* Tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề tới sức khoẻ cộng đồng

Tình trạng ô nhiễm môi trường như trên đã ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng đồng, nhất là những người tham gia sản xuất, sinh sống tại các làng nghề và các vùng lân cận Báo cáo môi trường Quốc gia năm

2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề, tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề Làng nghề chế biến lương thực , mây che đan, chế bến gỗ thì tỷ lệ bệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh phụ khoa tăng Làng nghề gây tiếng ồn thì tỷ lệ người mắc bệnh thần kinh, bệnh não cao, tuổi thọ giảm Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, thực phẩm Dương Liễu ( Hà Tây) hàng năm tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da, đau mắt hột hơn 70% dân số Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề, tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn nhiều so với làng không làm nghề Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, bệnh phụ khoa chiếm

Trang 30

chủ yếu (13 – 38%), bệnh về đường tiêu hóa (8 – 30%), bệnh viêm da (4,5 - 23%), bệnh đường hô hấp (6 - 18%), bệnh đau mắt (9 – 15%) Tỷ lệ mắc bệnh

nghề nghiệp ở làng nghề Dương Liễu 70%, làng bún Phú Đô là 50% (Nguyễn Thị Liên Hương, 2006; Sylvie Fanchette et al, 2009)

Theo kết quả điều tra của Trần Văn Thể và cộng sự (2011) trung bình mỗi

hộ làm nghề chế biến lương thực thực phẩm đi khám và điều trị bệnh 1,8-2,2 lần/năm, hộ nông dân ở khu vực bị tác động bởi hoạt động làng nghề là 1,4-1,9 lần/năm cao hơn so với các hộ nông dân ở khu vực thuần nông nghiệp (chỉ từ 0,9-1,3 lần/năm) Kết quả tính toán dựa trên số họ làm nghề và số hộ bị tác động bởi hoạt động sản xuất ở làng nghề cho thấy thiệt hại kinh tế về y tế đối với làng nghề chế biến tinh bột sắn Quế Dương là 2,9 tỷ đồng/năm; làng nghề chế biến miến dong Kim Phượng là 2,7 tỷ đồng/năm trong khi các làng nghề còn lại có mức thiệt hại thấp hơn (1,08-2,2 tỷ đồng/năm)

Bảng 1.9: Thiệt hại kinh tế về y tế do tác động phát sinh chất thải tại một số

Bánh

đa thôn Đoài

Nấu rượu Đại Lâm

Chế biến TBS Quế Dương

Bún khô Minh Hoà

Miến dong Kim Phượng

Bún ướt thôn Thượng

Trang 31

Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ

sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó,

ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử

lý chất thải Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề đem lại như hiện nay

1.3 Thực trạng công tác quản lý chất thải tại các làng nghề ở Việt Nam

* Tình hình thực hiện các chính sách, pháp luật về BVMT đối với các làng nghề

+ Theo báo cáo thực hiện nghị quyết số 1014/NQ/UBTVQH 12 về việc thực hiện chính sách pháp luật bảo vệ môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề thì hầu hết các địa phương còn chậm trong việc quán triệt và triển khai các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về BVMT tới chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã và đặc biệt là các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề Nhiều hộ, cơ sở sản xuất cũng như chính quyền địa phương cấp xã, huyện không hiểu hoặc hiểu chưa đúng về quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mình trong công tác BVMT; trách nhiệm xử lý chất thải sản xuất phát sinh từ hoạt động của cơ sở

và trách nhiệm đóng góp các khoản kinh phí cho công tác BVMT

+ Việc triển khai những công cụ quản lý môi trường như công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật… rất khó khăn Kết quả kiểm tra, điều tra cho thấy, hầu như không có hộ sản xuất trong làng nghề có đầy đủ thủ tục về môi trường (như Đánh giá tác động môi trường; Cam kết BVMT; Đề án BVMT); không có các hạng mục công trình xử lý nước thải, khí thải đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; không nộp các khoản phí, lệ phí về BVMT và khai thác tài nguyên (trừ phí thu gom chất thải rắn); không đủ năng lực tài chính để nộp phạt vi phạm hành chính cũng như chây ỳ trong thi hành quyết định xử lý vi phạm; một số trường hợp cá biệt sẵn sàng dựa vào số đông để chống đối, thậm chí hành hung các đoàn kiểm tra, thanh tra, báo chí đến làm việc; nhiều hộ sản xuất không tiếp nhận hoặc tiếp nhận nhưng không vận hành các hạng mục công trình xử lý ô nhiễm môi trường khi được nhà nước đầu tư, do không chịu chi trả

Trang 32

các khoản chi phí vận hành, bảo dưỡng

+ Nhà nước đã ban hành các quy định, chính sách di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, đã chỉ đạo tăng cường quy hoạch, xây dựng CCN làng nghề hoặc khu sản xuất tập trung Trên thực tế, nhiều địa phương

đã tổ chức thực hiện, nhưng không triệt để Một ví dụ tại phường Đình Bảng, thị

xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có đến 02 CCN để di dời các cơ sở sản xuất nhưng không cụm nào có hệ thống xử lý nước thải Tại hầu hết các nơi, UBND cấp huyện hoặc cấp xã làm chủ đầu tư CCN làng nghề, nhưng cơ sở hạ tầng mới chỉ dừng lại ở việc cấp điện, hệ thống đường giao thông nội bộ đơn giản và không

có các hạng mục, công trình về BVMT Tại nhiều khu quy hoạch sản xuất tập trung, các hộ sản xuất không chỉ di chuyển bộ phận sản xuất mà lại di chuyển cả gia đình đến sinh hoạt như CCN Đồng Kỵ - Bắc Ninh, hình thành cả một khu phố mới có cả nơi ở, nơi sản xuất, nơi trưng bày sản phẩm Do vậy, các KCN, CCN này giống với khu vực giãn dân và là một hình thức mở rộng ô nhiễm

Tại hầu hết các làng nghề các hộ sản xuất trong làng đều không thực hiện cam kết môi trường hoặc lập kế hoạch bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất tại các làng nghề không nộp phí bảo vệ môi trường, thậm chí nhiều cơ sở bị xử lý vi phạm nhưng không chấp hành nghiêm túc Riêng năm 2006, có 138 cơ sở tại 3 làng nghề Vạn An, Phong Khê và Phú Lâm không chấp hành nghiêm túc các quyết định xử

lý về môi trường Một trong nững nguyên nhân gây khó cho hoạt động xử lý ô nhiễm làng nghề chính là sự đa dạng hóa nhưng lại lẻ tẻ, không tập trung Với nhiều ngành nghề khác nhau, chất thải hữu cơ, vô cơ trộn lẫn với nhau khiến các nhà môi trường rất khó xử lý Một nguyên nhân nữa là do sản xuất ở làng nghề đa phần là người nghèo, vốn đầu tư chủ yếu là vốn vay nên việc xây dựng hệ thống

xử lý chất thải là việc không đơn giản

1.4 Tổng quan về giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm

Theo tác giả Đặng Kim Chi (2005), hầu hết các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm của nước ta hiện nay đều thải trực tiếp các chất thải ra môi trường

mà chưa qua xử lý các chất thải bao gồm nước thải, khí thải và chất thải rắn Vấn

Trang 33

đề này trước hết là do ý thức của người dân, do tập quán đã ăn sâu vào trong tiềm thức của họ Vì vậy, cần nâng cao nhận thức cho người dân về sự nguy hại của ô nhiễm môi trường, chủ động và tự giác thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường ngay trong quá trình sản xuất, kinh doanh

- Giải pháp quy hoạch: Một số tỉnh như Nam Định, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên đã thực hiện quy hoạch các cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp để

di dời các cơ sở làng nghề gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực dân cư là một biện pháp tích cực để có thể thực hiện các giải pháp đồng bộ, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong làng nghề hiện nay

- Giải pháp xử lý chất thải rắn: Chất thải rắn ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm chủ yếu là bã sắn, bã dong từ sản xuất tinh bột và bã đậu từ sản xuất đậu phụ… Thông thường các chất thải từ sản xuất này đều được tận dụng làm thức

ăn gia súc, làm giá thể nuôi nấm, làm chất đốt, làm phân bón…

- Giải pháp kỹ thuật: Hiện tại công nghệ sản xuất ở hầu hết các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm đều tương đối lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ do

đó các giải pháp kỹ thuật được các hộ sản xuất quy mô lớn mạnh dạn đầu tư là cơ khí hoá các công đoạn sản xuất, cải tiến công nghệ và thiết bị: Thay thế dụng cụ sản xuất thô sơ bằng các máy rửa, máy quay ly tâm, máy lọc tách, máy nghiền… hoặc máy liên hoàn nhằm mục đích tăng năng suất và giảm sức lao động

- Giải pháp xử lý nước thải: Hầu hết các làng nghề ở nước ta hiện nay đều không có hệ thống xử lý nước thải và thu gom rác thải, tất cả đều do người dân tự

xử lý Các công trình xử lý nước thải chủ yếu được áp dụng tại các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm là xây dựng hầm biogas Vài năm gần đây, đã có một

số đề tài tập trung nghiên cứu nhằm cải thiện môi trường làng nghề và đã đem lại những hiệu quả bước đầu: Thông tin của Viện khoa học thuỷ lợi Việt Nam, Hà Nội cũng đang chỉ đạo triển khai Dự án thí điểm xử lý nước thải làng nghề chế biến tinh bột sắn tại xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, trên cơ sở đó nhân rộng áp dụng cho các làng nghề khác Bắc Ninh là một tỉnh có số lượng làng nghề truyền thống lớn trên cả nước nhằm mục tiêu từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề, ngày 29/10/2014 UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra

Trang 34

quyết định phê duyệt dự án xử lý nước thải tập trung tại làng nghề bán bún Khắc Niệm (thành phố Bắc Ninh) công suất 400m3/ngày đêm theo Quyết định số 1139/QĐ-UBND.

Bắc Ninh cũng là tỉnh sớm thành lập Trung tâm quan trắc TN&MT, hàng năm tiến hành quan trắc đối với 39 điểm không khí, 53 điểm nước thải, 20 điểm nước dưới đất; triển khai mạng lưới quan trắc môi trường tỉnh giai đoạn 2010-

2015 Từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề

- Giải pháp tuyên truyền: Nhiều làng nghề ở Hà Tây (cũ) đã có kinh nghiệm

xã hội hóa việc bảo vệ môi trường tại địa phương như: Huy động các cơ sở sản xuất và các cộng đồng dân cư trong làng nghề tham gia, tức là những người được hưởng thụ lợi ích môi trường cần đóng góp vào công tác bảo vệ môi trường bằng các hình thức đóng góp sức lao động của các hộ gia đình, các cơ quan trường học, vào các hoạt động như: Giữ gìn vệ sinh nơi sản xuất, nơi sinh hoạt, giữ sạch

sẽ đường làng ngõ xóm; tổ chức, khai thông và định kỳ nạo vét cống nước thải; tham gia chương trình nước sạch; thu gom rác đúng nơi quy định của làng xã, không đổ bừa bãi rác thải ra nơi công cộng; tận thu chất thải sản xuất như xây dựng hầm biogas, tận dụng xơ sắn, dong riềng làm thức ăn gia súc, v.v

Một trong những nguyên nhân gây khó cho hoạt động xử lý ô nhiễm làng nghề chính là sự đa dạng hóa nhưng lại lẻ tẻ, không tập trung Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đã được các làng nghề áp dụng nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường trong khu vực làng nghề Muốn đưa làng nghề của nước ta từng bước hội nhập được với quá trình phát triển bền vững thì phải đảm bảo thực hiện phát triển làng nghề và đi đôi với bảo vệ môi trường, kết hợp đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm Đó là vấn đề cần quan tâm hiện nay của các cấp, các ngành và

các địa phương trong công cuộc đổi mới hiện nay

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý môi trường và các giải pháp quản lý chất thải làng nghề

- Thời gian: Tháng 10/2014 – tháng 10/2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại làng nghề bóng bì Bình Lương

- Đánh giá tình hình sản xuất tại làng nghề Bình Lương

- Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề Bình Lương

- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải làng nghề tại làng nghề Bình Lương

- Đề xuất giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề Bình Lương

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp được dùng để thu thập các số liệu sau:

- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tình hình phát triển làng nghề của xã Tân Quang năm 2012, 2014

- Thu thập các số liệu về hiện trạng môi trường làng nghề Bình Lương từ báo cáo kinh tế xã hội của xã Tân Quang năm 2012, 2014

- Thu thập các số liệu đã được công bố từ các báo cáo khoa học, internet,

Trang 36

2.4.2 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp khảo sát tình hình hoạt động làng nghề, cơ sở vật chất (máy móc, công nghệ, ), quan sát thực tế sản xuất, hiện trạng xử lý chất thải làng nghề trên địa bàn

2.4.3 Phương pháp điều tra

+ Phiếu điều tra hộ dân: thu thập thông tin về quy mô, phương thức, quy trình sản xuất, nhu cầu nguyên, nhiên liệu, định mức tiêu thụ, tình hình phát sinh, quản lý chất thải tại các đơn vị, hộ sản xuất

-Sử dụng công thức Linus Yamane để tính số lượng phiếu cần điều tra:

n= N/ (1+ N*e 2 )

n: số lượng hộ cần điều tra

N: số lượng hộ

e: độ sai số mong muốn (0,05)

-Tiến hành xây dựng phiếu điều tra với 2 đối tượng khác nhau với tổng số

hộ sản xuất nghề là 200 hộ, số hộ sản xuất nông nghiệp là 67 hộ bao gồm số lượng phiếu như sau:

+ Phiếu điều tra hộ trực tiếp sản xuất: Tiến hành phỏng vấn 110 hộ sản xuất bóng keo và 50 hộ sản xuất bóng thực phẩm Do điều kiện thời gian tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp 50 hộ sản xuất bóng thực phẩm, 50 hộ sản xuất bóng keo, còn 60 hộ sản xuất bóng keo nhờ bác trưởng thôn phát phiếu để người dân

tự điền

+ Phiếu điều tra hộ dân sản xuất nông nghiệp: Do chỉ có 67 hộ sản xuất nông nghiệp nên tôi tiến hành phát phiếu cả 67 hộ, điều tra trực tiếp 30 hộ, nhờ bác trưởng thôn phát phiếu 37 hộ để người dân tự điền

2.4.4 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

* Phương pháp lấy mẫu

- Đối với nước mặt: Để tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt

tại thôn Bình Lương tôi tiến hành lấy mẫu nước mặt theo TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4: 1987) – Chất lượng nước – lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo; TCVN 5996:1995 (ISO 5667-6:1990) – Chất lượng nước –

Trang 37

lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối

+ Số lượng mẫu: 3 mẫu

+ Vị trí lấy mẫu:

NM1: Nước ao làng Bình Lương (Toạ độ: 20°58'31.87"N; 105°58'33.71"E) NM2: Nước sông Đình Dù điểm đầu vào làng Bình Lương (Toạ độ: 20°58'47.63"N; 105°58'34.29"E)

NM3: Nước sông Đình Dù điểm cuối làng Bình Lương (Toạ độ: 20°58'28.50"N; 105°58'26.49"E)

+ Tần suất lấy mẫu: 3 đợt

+ Thời gian lấy mẫu: 9/5/2015, 5/6/2015, 9/7/2015

- Đối với nước thải: Để đánh giá hiện trạng môi trường nước thải làng

nghề tôi tiến hành lấy mẫu nước thải theo TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992) – Chất lượng nước – lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước thải

+ Số lượng mẫu: 3 mẫu

+ Tần suất lấy mẫu: 3 đợt

+ Thời gian lấy mẫu: 9/5/2015, 5/6/2015, 9/7/2015

-Đối với nước ngầm: Để đánh giá hiện trạng nước ngầm tôi tiến hành lấy

mẫu nước ngầm theo TCVN 6000:1995 (ISO 5667-11: 1992) Chất lượng nước- Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm

+ Số lượng mẫu: 3 mẫu

Trang 38

+ Tần suất lấy mẫu: 3 đợt

+ Thời gian lấy mẫu: 9/5/2015, 9/6/2015, 9/7/2015

* Phương pháp bảo quản mẫu

Mẫu sau khi lấy xong được đựng trong chai nhựa có thể tích 500 ml, bảo quản lạnh ở nhiệt độ 40C sau đó được vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm và tiến hành phân tích ngay

2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

- Để tiến hành phân tích các thông số nước mặt, nước thải và nước ngầm tôi tiến hành sử dụng các phương pháp phân tích theo tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành được cụ thể trong các bảng:

Bảng 2.1: Phương pháp phân tích các thông số nước mặt

trong phòng thí nghiệm Chỉ tiêu

pH TCVN 6492-1999 (ISO 10523-1994) - Chất lượng nước –

Xác định pH

DO TCVN 5499-1995 Chất lượng nước – Xác định oxy hoà

tan - Phương pháp Winkler

TSS

TCVN 6625-2000 (ISO 11923-1997) - Chất lượng nước- Xác định chất rắn lơ lửng bằng cách lọc qua cái lọc sợi thuỷ tinh

COD TCVN 6491-1999 (ISO 6060-1989) - Chất lượng nước -

Xác định nhu cầu oxy hoá học

BOD5

TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng

PO43- TCVN 6202:2008 Chất lượng nước – xác đinh photpho –

phương pháp đo phổ dung amoni molipdat

NH4+ TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước -

Xác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ Tổng dầu

mỡ khoáng

TCVN 7875:2008 nước – Xác định dầu mỡ - phương pháp chiếu hồng ngoại

Trang 39

Bảng 2.2: Phương pháp phân tích các thông số quan trắc nước thải

trong phòng thì nghiệm Chỉ tiêu

pH TCVN 6492 - 2011 (ISO 10523-2008) - Chất lượng nước –

Xác định pH

TSS

TCVN 6625-2000 (ISO 11923-1997) - Chất lượng nước- Xác định chất rắn lơ lửng bằng cách lọc qua cái lọc sợi thuỷ tinh

COD TCVN 6491-1999 (ISO 6060-1989) - Chất lượng nước -

Xác định nhu cầu oxy hoá học

BOD5

TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng

NH4+ TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước -

Xác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ

Tổng N TCVN 6620:2000 chất lượng nước – Xác định Nito – vô cơ hoá

xúc tác sau khi khử bằng hợp kim Devarda

Tổng P TCVN 8062:2009 Xác định hợp chất phospho hữu cơ bằng sắc ký

khí – kỹ thuật cột mao quản Tổng dầu mỡ

khoáng

TCVN 7875:2008 nước – Xác định dầu mỡ - phương pháp chiếu hồng ngoại

Coliform TCVN 6187-2:1996 (ISO 9308-2:1990 (E)) Chất lượng nước –

phát hiện và đếm vi khuẩn colifrom Phần 2: phương pháp nhiều ống

Trang 40

Bảng 2.3: Phương pháp phân tích các thông số nước ngầm

trong phòng thí nghiệm Chỉ tiêu

PH TCVN 6492-1999 (ISO 10523-1994) - Chất lượng nước – Xác

COD TCVN 6491-1999 (ISO 6060-1989) - Chất lượng nước -

Xác định nhu cầu oxy hoá học

NH4+ TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định

amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ

NO3- TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988) - Chất lượng nước – Xác

định nitrat Phương pháp trắc phổ dùng axit sunfosalixylic

Colifrom TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) - Chất lượng nước - Phát

hiện và đếm vi khuẩn coliform, vi khuẩn coliform chịu nhiệt và Escherichia coli giả định - Phần 1: Phương pháp màng lọc;

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu sau khi thu thập, điều tra sẽ được xử lý bằng phương pháp thống

kê dựa trên phần mềm excel

- Phương pháp so sánh các chỉ tiêu phân tích nước với QCVN:

+ QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp

+ QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt cột B1 (cột B1 áp dụng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2)

+ QCVN 09:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm

2.4.7 Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả đã đạt được từ các nghiên cứu, công trình khoa học trước đó

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Bộ Nông nghiệp và Phát triể n nông thôn (2004). Báo cáo “Nghiên cứu về Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” do Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về Quy hoạch phát triển "ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triể n nông thôn
Năm: 2004
5- Đặng Kim Chi (2005). Đề tài khoa học 08- 09 “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường tại các làng nghề Việt Nam”, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực "tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường "tại các làng nghề Việt Nam”
Tác giả: Đặng Kim Chi
Năm: 2005
2- Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2008). Báo cáo môi trường quốc gia 2008, Môi trường làng nghề Việt Nam Khác
3- Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2010). Báo cáo môi trường quốc gia 2010, Tổng quan môi trường Việt Nam Khác
4- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Báo cáo môi trường quốc gia 2011 – Chất thải rắn – chương 3 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 1.2. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay (Trang 20)
Bảng 1.4: Các sản phẩm và sản lượng của một số làng nghề CBNSTP - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 1.4 Các sản phẩm và sản lượng của một số làng nghề CBNSTP (Trang 23)
Bảng 1.8: thiệt hại kinh tế về thay đổi sản lượng nông nghiệp tại một số - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 1.8 thiệt hại kinh tế về thay đổi sản lượng nông nghiệp tại một số (Trang 29)
Bảng 1.9: Thiệt hại kinh tế về y tế do tác động phát sinh chất thải tại một số - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 1.9 Thiệt hại kinh tế về y tế do tác động phát sinh chất thải tại một số (Trang 30)
Hình 3.1. Vị trí làng nghề Bình Lương - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Hình 3.1. Vị trí làng nghề Bình Lương (Trang 41)
Bảng 3.1. Dân số và cơ cấu ngành nghề làng nghề Bình Lương - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 3.1. Dân số và cơ cấu ngành nghề làng nghề Bình Lương (Trang 47)
Sơ đồ 3.1: Công nghệ sản xuất bóng bì (dùng làm keo) kèm dòng thải - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Sơ đồ 3.1 Công nghệ sản xuất bóng bì (dùng làm keo) kèm dòng thải (Trang 50)
Sơ đồ 3.2: Công nghệ sản xuất bóng bì thực phẩm kèm dòng thải - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Sơ đồ 3.2 Công nghệ sản xuất bóng bì thực phẩm kèm dòng thải (Trang 51)
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát môi trường nước ngầm tại một số điểm làng - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát môi trường nước ngầm tại một số điểm làng (Trang 60)
Bảng 3.10: Thành phần chất thải sinh hoạt - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Bảng 3.10 Thành phần chất thải sinh hoạt (Trang 63)
Sơ đồ 3.3: Hệ thống quản lý môi trường cấp xã - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Sơ đồ 3.3 Hệ thống quản lý môi trường cấp xã (Trang 81)
Sơ đồ 3.4. Mô hình xử lý nước thải cho làng nghề sản xuất bóng bì - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
Sơ đồ 3.4. Mô hình xử lý nước thải cho làng nghề sản xuất bóng bì (Trang 88)
Hình ảnh công đoạn sơ chế bì lợn - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
nh ảnh công đoạn sơ chế bì lợn (Trang 95)
Hình ảnh sản phẩm bóng bì - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
nh ảnh sản phẩm bóng bì (Trang 96)
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CÁC VỊ TRÍ LẤY MẪU - Nghiên cứu giải pháp quản lý chất thải làng nghề sản xuất bóng bì bình lương – tân quang – văn lâm – hưng yên
SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CÁC VỊ TRÍ LẤY MẪU (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w