1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội

118 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.3 Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân Căn cứ vào mối quan hệ giữa các hộ sản xuất cây giống ăn quả với người mua cuối cùng, có 2 hình thức tiêu thụ trực tiếp và g

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Một số khái niệm liên quan 5

2.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các hình thức tiêu thụ sản phẩm 14

2.1.3 Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân 16

2.1.4 Nội dung nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả 18

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân 19

2.2 Cơ sở thực tiễn 22

2.2.1 Tình hình sản xuất và các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả trên thế giới 22

2.2.2 Thực trạng sản xuất và các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của Việt Nam 26 PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 49

Trang 2

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 49

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 51

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53

4.1 Tình hình sản xuất các giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 53

4.1.1 Khái quát tình hình sản xuất giống cây ăn quả trên địa bàn huyện 53

4.1.2 Thông tin cơ bản về các hộ điều tra 54

4.1.3 Các phương pháp nhân giống cây ăn quả 55

4.1.4 Diện tích, số lượng giống cây ăn quả của hộ nông dân 56

4.2 Đánh giá các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội 57

4.2.1 Cơ cấu các giống cây ăn quả sản xuất của các hộ 57

4.2.2 Số lượng các giống cây ăn quả sản xuất của các hộ 58

4.2.3 Kết quả và hiệu quả các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân 60

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm 87

4.3.1 Thị trường tiêu thụ 88

4.3.2 Lượng sản phẩm tiêu thụ 90

4.3.3Giá cả tiêu thụ sản phẩm 91

4.3.4 Chất lượng giống 92

4.3.5 Yếu tố mùa vụ 92

4.3.6 Yếu tố thuộc về bản thân người nông dân 92

4.3.7 Vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế 93

4.4 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc tiêu thụ giống cây ăn quả tại của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm 94

4.4.1 Định hướng phát triển các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả 94

4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân cho những năm 2016 – 2020 95

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

5.1 Kết luận 99

5.2 Kiến nghị 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 106

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Diễn giải

UPOV Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới

Trang 4

3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm qua 3 năm 45

4.2 Phương pháp nhân giống cây ăn quả của các hộ điều tra 56 4.3 Diện tích, số lượng giống cây ăn quả của các hộ theo quy mô sản xuất 57 4.4 Cơ cấu một số giống cây ăn quả của các hộ điều tra 58 4.5 Số lượng giống cây ăn quả sản xuất ra của các hộ được điều tra 59 4.6 Tình hình đầu tư cho sản xuất giống của các hộ năm 2014 61 4.7 Số lượng và tỷ lệ cây giống bán ra theo các hình thức tiêu thụ 63 4.8 Số lượng và tỷ lệ loại cây giống bán ra theo các hình thức tiêu thụ 65

4.10 Doanh thu cây giống năm 2014 của các hộ được điều tra theo từng

giống cây và hình thức tiêu thụ

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

2.3 Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân 16

4.1 Tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuất giống cây ăn quả 62 4.2 Tỷ lệ cây giống bán ra theo các hình thức tiêu thụ 64 4.3 Tỷ lệ sản phẩm giống cây ăn quả tiêu thụ qua các hình thức 91

Trang 7

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở bất kỳ nước nào, dù nước giàu hay nước nghèo, nông nghiệp đều có vị trí quan trọng Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại (Đỗ Kim Chung, 2009) Ở Việt Nam, nông nghiệp là nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu và chưa thực sự phát triển Thách thức lớn của ngành Nông nghiệp đó là việc áp dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, sản xuất chưa tập trung

Với khí hậu nhiệt đới gió mùa hiện nay, cây ăn quả đã trở thành một thế mạnh trong phát triển kinh tế của Việt Nam Sản phẩm cây ăn quả ngoài cung cấp thị trường trong nước còn cung cấp ra thị trường thế giới Phần lớn mặt hàng rau quả nước ta được xuất khẩu chủ yếu vào các nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… (Agroviet, 2008) Vì vậy việc phát triển sản xuất cây ăn quả là rất cần thiết đặc biệt nước ta lại là nước có lợi thế về nông nghiệp Tuy nhiên, để có được những loại hoa quả tươi ngon thì việc đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng cao là rất cần thiết Giống cây ăn quả là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm cây ăn quả Việc chọn tạo các loại giống cây ăn quả góp phần nâng cao năng suất cây trồng, thu nhập và hiệu quả kinh tế cho người nông dân

Hiện nay, hình thức sản xuất cây giống quy mô hộ gia đình rất phổ biến, nhất là ở các vùng truyền thống như Bến Tre, Vĩnh Long ở miền Nam và Hà Nội, Hưng Yên ở miền Bắc; hoặc xung quanh các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm cây ăn quả Trung ương và địa phương Việc tiêu thụ giống cây ăn quả

có các hình thức tiêu thụ trực tiếp cho hộ nông dân trồng cây ăn quả và các hình thức tiêu thụ gián tiếp qua thương lái, qua doanh nghiệp và các cơ quan/tổ chức/dự án theo quy hoạch của các địa phương

Trang 8

Gia Lâm là huyện nằm ở phía đông của thủ đô Hà Nội Sản xuất nông nghiệp tạo ra nguồn sinh kế quan trọng một bộ phận người dân nơi đây Đây không chỉ là địa bàn sản xuất nguồn rau quả lớn cho thành phố Hà Nội mà còn cung cấp nguồn giống cây ăn quả đi khắp các tỉnh thành khu vực miền Bắc và miền Trung của đất nước Người nông dân ở huyện Gia Lâm có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất cây giống chất lượng cao Hàng năm, người dân trồng giống cây ăn quả ở Gia Lâm tiêu thụ ra thị trường hàng triệu cây giống các loại

từ cây ăn quả đặc sản đến các loại cây bình dân cho năng suất cao như ổi, đu đủ, bưởi, khế, cam Để phát triển giống cây ăn quả huyện Gia Lâm đã tranh thủ phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học

kỹ thuật, các nhà khoa học tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới cho bà con nông dân

Sản xuất giống cây ăn quả dần trở thành một nguồn sinh kế cho một bộ phận nông dân tại huyện Gia Lâm, mặc dù vậy việc tiêu thụ giống cây ăn quả vẫn gặp nhiều khó khăn còn mang tính chất thụ động Người sản xuất giống cây ăn quả thường quen với việc đợi người mua tới tận nơi trả giá, thu mua chứ chưa có biện pháp tiêu thụ ổn định chưa tạo thị trường bền vững cho sản phẩm của mình Bởi thế hiệu quả trong việc sản xuất cũng như tiêu thụ giống cây ăn quả còn chưa cao, các hình thức tiêu thụ từ hộ trồng tới các đối tượng thu mua còn mang tính chất rời rạc, khó kiểm soát và chưa có định hướng Vấn đề này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho người dân sản xuất giống cây

ăn quả nói chung và người sản xuất giống cây ăn quả tại huyện Gia Lâm nói riêng Xuất phát từ các vấn đề thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng hiệu quả việc tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân tại địa phương

Trang 9

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tiêu thụ giống cây

ăn quả của các hộ nông dân tại địa phương

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Có những hình thức tiêu thụ nào về giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm?

(2) Thực trạng các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân ở huyện như thế nào?

(3) Kết quả và hiệu quả các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân như thế nào?

(4) Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến các hình thức tiêu thụ giống cây

ăn quả của các hộ nông dân?

(5) Cần những giải pháp cụ thể nào nhằm nâng cao hiệu quả việc tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân tại huyện Gia Lâm?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Chủ thể nghiên cứu là các hộ nông dân trên địa bàn huyện cung cấp giống cây ăn quả tiêu thụ trên thị trường

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng các hình thức

tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 10

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Gia

Trang 11

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng (Trần Minh Đạo, 2006)

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp

vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình Các vấn đề của sản xuất như: Sản xuất cái

gì, Sản xuất như thế nào, Sản xuất cho ai đều do nhà nước quy định thì tiêu thụ sản phẩm chỉ là việc tổ chức bán hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch và giá cả được ấn định từ trước

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất (Đặng Đình Đào, 2001)

Như vậy, theo nghĩa hẹp, tiêu thụ hàng hoá, lao vụ, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền hàng hoá hoặc được quyền thu tiền bán hàng

Trang 12

2.1.1.2 Khái niệm về hình thức tiêu thụ sản phẩm

Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó

Như khái niệm đã nêu ở phần trên, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối

và một bên là tiêu dùng (Trần Minh Đạo, 2006)

Từ các khái niệm về hình thức và tiêu thụ sản phẩm, chúng tôi đưa ra khái niệm hình thức tiêu thụ sản phẩm là các cách thức cụ thể thực hiện việc đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng Thích ứng với mỗi hoàn cảnh đặc thù, công tác tiêu thụ sản phẩm được diễn ra theo các hình thức khác nhau

Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được thực hiện theo các hình thức khác nhau, từ đó hàng hóa được vận động từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng Việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các hình thức tiêu thụ sản phẩm đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ của nhà sản xuất

Căn cứ vào mối quan hệ giữa đơn vị sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng, có 2 hình thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp

a, Hình thức tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán

thẳng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các khâu trung gian Với hình thức này có thể giảm được chi phí lưu thông, thời gian sản phẩm tới tay người tiêu dùng nhanh hơn, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, hiểu biết rõ nhu cầu của khách hàng và tình hình giá cả từ đó tạo điều kiện thuận lợi để gây uy tín và thanh thế cho doanh nghiệp Nhưng nó cũng gặp phải nhược điểm là doanh nghiệp phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều bạn hàng, phải dành nhiều công sức, thời gian vào quá trình tiêu thụ, nhiều khi làm tốc độ chu chuyển của vốn lưu động chậm hơn…

Trang 13

Sơ đồ 2.1: Hình thức tiêu thụ trực tiếp

(Nguồn: Trần Minh Đạo, 2006)

b, Hình thức tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán

sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian bao gồm: người bán buôn, bán lẻ, đại lý… sự tham gia nhiều hay ít của người trung gian trong quá trình tiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu thụ dài hay ngắn khác nhau Với hình thức tiêu thụ này các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được một khối lượng lớn hàng hoá trong thời gian ngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí bảo quản hao hụt… Tuy nhiên hình thức này làm cho thời gian lưu thông hàng hoá dài hơn, tăng chi phí tiêu thụ và doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được các khâu trung gian…

Sơ đồ 2.2: Hình thức tiêu thụ gián tiếp

(Nguồn: Trần Minh Đạo, 2006)

Trang 14

Việc áp dụng hình thức tiêu thụ này hay hình thức tiêu thụ khác phần lớn

do đặc điểm của sản phẩm quyết định Mỗi hình thức tiêu thụ sản phẩm có ưu nhược điểm nhất định, nhiệm vụ của phòng kinh doanh là phải lựa chọn hợp lý các hình thức tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp

Xét dưới góc độ phân phối sản phẩm, theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Trang (2013), hiện nay, các doanh nghiệp thường sử dụng một số hình thức tiêu thụ sản phẩm sau:

Thứ nhất, hình thức bán buôn

Theo Thống kê của Liên hợp quốc, bán buôn là việc bán lại (bán mà không có chế biến) hàng mới và hàng đã qua sử dụng cho các nhà bán lẻ, các nhà công nghiệp, thương mại và các đối tượng sử dụng chuyên nghiệp hay các tổ chức, hay cho các nhà bán buôn khác bao gồm cả các đại lí và môi giới mua hoặc bán hàng cho các đối tượng trên Bán buôn thường thực hiện với số lượng lớn và giá cả thấp hơn giá bán lẻ, tức là giá trị đầy đủ của hàng hoá Người bán buôn không phải là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hay sở hữu sản phẩm Người bán buôn đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người bán lẻ (dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, 2012)

Theo đó, bán buôn là hoạt động bán hàng cho các nhà bán lẻ, các nhà sử dụng công nghiệp, thương mại, các cơ quan, tổ chức và các đối tượng sử dụng chuyên nghiệp khác hoặc bán hàng cho các nhà bán buôn khác và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ liên quan

Theo từ điển American Heritage, bán buôn là việc bán hàng cho các nhà bán buôn, thường là với khối lượng lớn để bán lại cho người tiêu dùng

Theo hệ thống phân loại Bắc Mĩ (NAICS – North American Industry Classification System), ngành thương mại bán buôn bao gồm các cơ sở kinh doanh chủ yếu thực hiện việc bán buôn hàng hóa và cung cấp các dịch vụ logistics liên quan, các dịch vụ hỗ trợ bán hàng và marketing Quá trình bán buôn thường là bước trung gian trong phân phối hàng hóa; theo đó các nhà bán buôn thường tổ chức việc bán hàng với khối lượng lớn cho các nhà bán lẻ, các nhà sử

Trang 15

dụng công nghiệp, các khách hàng là các nhà kinh doanh khác hoặc các tổ chức Tuy nhiên, một số nhà bán buôn, đặc biệt là các nhà cung cấp hàng tư liệu sản xuất, thường bán một loại hàng duy nhất cho các đối tượng sử dụng cuối cùng (dẫn theo Nguyễn Thị Nhiễu, 2007)

Lĩnh vực bán buôn thừa nhận hai loại hình bán buôn chình là các nhà bán buôn sở hữu hàng hóa thực sự (wholesale merchant) và các đại lí/môi giới bán buôn (wholesale Agents/Brokers)

Nhà bán buôn sở hữu hàng hóa thực sự hoặc mua hàng hóa dùng tài khoản của chính họ và đứng tên họ trong hợp đồng mua bán hàng hóa Các nhà bán buôn này thường thực hiện việc bán hàng tại kho hàng hoặc trụ sở nhà bán buôn

và họ có thể đảm nhận việc chuyên chở hàng hóa trực tiếp từ kho hàng hay thu xếp chuyên chở hàng hóa trực tiếp từ nhà cung cấp đến nơi nhận hàng của người mua Ngoài việc bán hàng, các thương nhân bán buôn còn cung cấp các dịch vụ logistics, marketing, và các dịch vụ hỗ trợ khác như bao bì, mã hiệu, quản lí dự trữ, vận chuyển, bốc dỡ và các dịch vụ bảo hành, hỗ trợ xúc tiến tại cửa hàng hoặc hợp tác xúc tiến và đào tạo về sản phẩm Các nhà bán buôn máy móc thiết

bị như máy móc thiết bị nông nghiệp và các xe tải lớn thường cung cấp các dịch

vụ này Các nhà bán buôn chủ sở hữu thường được xác định theo loại hình dịch

vụ mà họ thực hiện tùy thuộc vào quan hệ với nhà cung cấp và các khách hàng của họ Có thể họ là các nhà bán buôn, nhà phân phối, nhà vận tải, giao nhận, nhà xuất – nhập khẩu, hợp tác xã bán buôn và bán buôn banner (Philip Kotler và Kevin Keller, 2013)

Đại lí/môi giới bán buôn: đại lí/môi giới bán buôn hàng hóa trên tài khoản của người khác và hưởng hoa hồng đại lí/môi giới Họ không đứng tên là bên mua hay bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và thường thực hiện công việc tại văn phòng đại lí hay môi giới

Đại lí và môi giới bán buôn, thường gồm các hình thức thương mại như đại lí xuất- nhập khẩu, đại lí hoa hồng bán buôn, môi giới bán buôn, đại lí hay đại diện phân phối của nhà sản xuất

Trang 16

Theo The U.S.Bureau of the Census, Economic Census, 1997, siêu lĩnh vực thương mại bán buôn, bán lẻ được phân theo hai ngành: ngành thương mại bán buôn và ngành thương mại bản lẻ (dẫn theo Nguyễn Trung Hiếu, 2014)

Lĩnh vực thương mại bán buôn gồm các cơ sở kinh doanh tham gia hoạt động bán buôn, thường là không có chế biến và các dịch vụ phụ liên quan Quá trình bán buôn là bước trung gian trong phân phối hàng hóa Các nhà bán buôn được tổ chức để thực hiện việc bán hàng hoặc tiến hành mua hàng để bán lại (a) hàng tiêu dùng, (b) hàng tư liệu sản xuất hoặc hàng lâu bền dùng cho sản xuất, (c) hàng thô và vật tư trung gian phục vụ sản xuất Các nhà bán buôn bán hàng hóa cho các đối tượng là các nhà kinh doanh khác và thường tiến hành bán hàng tại tổng kho hoặc văn phòng nhà bán buôn

Theo NAICS, US năm 2002, định nghĩa về thương mại bán buôn của Hoa

Kì, về cơ bản cũng giống định nghĩa năm 1997, nhưng có một số thay đổi trong định nghĩa 2002, theo đó các thương nhân bán buôn chỉ bao gồm các cơ sở kinh doanh bán buôn mua bán hàng hóa trên tài khoản của chính bản thân họ Đặc điểm của các cơ sở kinh doanh vẫn đứng tên đối với hàng hóa mình bán ra Các đại lí, môi giới bán buôn không đứng tên họ bán hàng, do đó các đại lí và môi giới này được tách riêng ra trong một phân ngành khác (dẫn theo Nguyễn Thị Nhiễu, 2007)

Tóm lại, bán buôn không giới hạn ở mức độ bán đến người bán lại mà bao gồm cả việc bán hàng đến tất cả các loại hình kinh doanh bất kể họ có bán lại, có chế biến hay chỉ sử dụng cho mục đích chuyên môn nào đó

Thứ hai, hình thức bán lẻ

Từ điển American Heritage định nghĩa ‘Bán lẻ là bán hàng hóa cho người tiêu dùng, thường là với khổi lượng nhỏ và không bán lại’

Theo NAICS, US năm 2002, lĩnh vực thương mại bán lẻ bao gồm những

cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hóa (thường là không có chế biến) và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá trình bán lẻ là bước cuối cùng trong phân phối hàng hóa, theo đó, các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng Lĩnh vực bán lẻ bao gồm hai loại nhà bán lẻ chính là các nhà

Trang 17

bán lẻ qua cửa hàng và các nhà bán lẻ không qua cửa hàng (store and non-store Retailers)

Tóm lại, bán lẻ là bán hàng hóa hay dịch vụ cho khách hàng riêng lẻ Nói cách khác, bán lẻ là cung cấp hàng hóa dịch vụ trực tiếp đến tay người tiêu dùng (dẫn theo Nguyễn Thị Nhiễu, 2007)

Thứ ba, hình thức bán hàng qua đại lý

Bán hàng qua đại lý là hình thức bán hàng mà các doanh nghiệp giao cho các đơn vị hoặc cá nhân bán hộ phải trả hoa hồng cho họ, số hàng giao vẫn thuộc quyến sở hữu của doanh nghiệp Hoa hồng đại lí được tính theo tỉ lệ phần trăm trên giá chưa có thuế giá trị gia tăng hoặc thanh toán bao gốm cả thuế giá trị gia tăng và được hạch toán vào chi phí bán hàng

Hình thức bán hàng qua đại lý gồm có 2 hình thức: bán hàng trả góp và tiêu thụ nội bộ

Hình thức bán hàng trả góp: là hình thức người mua trả ngay một phần tiền hàng và trả góp số tiền còn lại trong nhiều kì Trong trường hợp này doanh thu bán hàng vẫn tính theo doanh thu bán lẻ bình thường, phần tiền người mua trả góp thì phải trả lãi cho số tiền góp đó

Hình thức tiêu thụ nội bộ: là hình thức bán hàng các đơn vị thành viên trong cùng doanh nghiệp với nhau giữa đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho mục đích biếu tặng, quảng cáo hay để trả công cho người lao động thay tiền lương (dẫn theo Nguyễn Trung Hiếu, 2014)

2.1.1.3 Khái niệm về giống cây ăn quả

Thuật ngữ giống (tiếng Latin: varietas; tiếng Anh: variety) dùng để chỉ

một quần thể các sinh vật cùng loài do con người chọn tạo ra và có các đặc điểm

di truyền xác định Tất cả các cá thể cùng một giống đều có các tính trạng hay thường được gọi là các đặc tính về hình thái-giải phẫu, sinh lí-sinh hóa, năng suất v.v hầu như giống nhau và ổn định trong những điều kiện sinh thái và kĩ thuật sản xuất phù hợp (Hoàng Trọng Phán và Trương Thị Bích Phượng, 2008)

Từ khái niệm về giống như vậy, ta có thể hình dung giống cây trồng (crop variety; cultivar) là một nhóm các thực vật có các đặc trưng sau:

Trang 18

(i) Có nguồn gốc chung với các tính trạng hay đặc điểm giống nhau (ii) Mang tính di truyền đồng nhất (nghĩa là có tính ổn định, ít phân li) về các tính trạng hình thái và một số đặc tính sinh học khác nhau như: chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh v.v

(iii) Mang tính khu vực hóa, nghĩa là tất cả các đặc điểm hay tính trạng của giống được biểu hiện trong các điều kiện ngoại cảnh (như đất đai, khí hậu, các biện pháp kĩ thuật sản xuất) nhất định Từ đây xuất hiện các giống cây chịu hạn, chịu mặn, chịu úng v.v

(iv) Do con người tạo ra nhằm thỏa mãn một hoặc một vài nhu cầu và thị hiếu nhất định như: năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị thương phẩm cao Các giống cây trồng, vật nuôi vì vậy được xem là phương tiện sống của một nền sản xuất nông nghiệp cụ thể

Bên cạnh đó, khi đề cập đến khái niệm “giống”, thông thường người ta thường đề cập tới tính trạng và đặc tính của giống

Tính trạng: Đó là những đặc điểm về hình thái và cấu tạo quan sát được của cây trong cùng một giống giúp ta phân biệt các giống khác trong cùng một loài

Để nhận biết các tính trạng như vậy, người ta thường chia ra các nhóm sau đây: + Các đặc điểm về hình thái như: chiều cao cây, chiều dài bông, số hạt trên bông, số bông trên khóm, kích thước lá v.v Nói chung đây là những tính trạng

số lượng; nghĩa là có thể “cân-đong-đo-đếm” được; chúng thường do nhiều gene kiểm soát và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi trường

+ Các đặc điểm về cấu tạo như: độ dày của bông, màu sắc và hình dạng của thân, lá, hoa và quả Đây là những tính trạng chất lượng thường do một gene kiểm soát, ít chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh và có thể quan sát được bằng mắt thường

+ Diễn biến của một quá trình sinh học như: hô hấp, quang hợp, hoặc phản ứng quang chu kì v.v thường tỏ ra rất mẫn cảm với các điều kiện sinh thái của môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, độ dài ngày Tất cả các yếu tố này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự hoạt động của các enzyme kiểm soát một quá trình sinh học cụ thể và qua đó có thể ảnh hưởng đến các tính trạng chất lượng

Trang 19

Đặc tính: Đó là những tính chất hay đặc điểm sinh lí, sinh hóa đặc trưng có liên quan đến các đặc tính chống chịu của thực vật (như chịu mặn, chịu hạn, chịu rét, chịu úng v.v ) và các đặc điểm kĩ thuật canh tác khác

2.1.1.4 Khái niệm về hộ nông dân

Theo Mai Văn Xuân (2008), có nhiều quan điểm về hộ nông dân như sau: Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ

Giáo sư Mc Gê - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm

Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”

Nhóm “hệ thống thế giới” các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981,1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”

Frank Ellis (1993) đã đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:

+ Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố

hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai

+ Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một

đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản

Trang 20

+ Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân

làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy”,

nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận

Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một

cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một

hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao

Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh:

Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích

kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997)

Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng,

có cùng chung huyết tộc Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế

2.1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các hình thức tiêu thụ sản phẩm

Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ sản phẩm để phân tích được các ưu nhược điểm và kinh nghiệm của người bán trong từng hình thức, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả việc tiêu thụ sản phẩm Theo tài liệu nghiên cứu của Phạm Ngọc Quý (2005), đối với mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ sản phẩm

là một quá trình hết sức quan trọng

+ Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất, phân phối, tiêu thụ Trong đó mỏi khâu giữ một chức năng nhất định và có quan hệ

Trang 21

chặt chẽ với nhau Để tái sản xuất các khâu của quá trình tái sản xuất phải hoạt động đều đặn, nhất là khâu tiêu thụ

+ Thông qua tiêu thụ, tính hữu ích của sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp mới được thị trường chấp nhận

+ Tiêu thụ sản phẩm là quá trình gặp gỡ trực tiếp giữa khách hàng và doanh nghiệp, do vậy nó có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển và

mở rộng thị trường, trong việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với các khách hàng

Một khi khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên, không chỉ cố ý nghĩa là sản phẩm sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận mà thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được mở rộng cùng với sự tăng lên của uy tín sản phẩm

và lượng khách hàng mới

+ Tiêu thụ sản phẩm góp phần quan trọng nhằm nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả công tác nghiên cứu thị trường

+ Tiêu thụ sản phẩm không những thu hồi được tổng chi phí có liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện được giá trị lao động thặng dư Đây là nguồn quan trọng nhằm tích luỹ vào ngân sách, quỹ của doanh nghiệp, nhằm

mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên

+ Tiêu thụ sản phẩm giữ một vị trí quan trọng trong việc phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (doanh thu tiêu thụ, lợi nhuận )

Vậy tiêu thụ sản phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay Nói cách khác tiêu thụ hay không tiêu thụ được sản phẩm, quyết định

sự tồn tại hay không tồn tại, sự phát triển hay không phát triển của các doanh nghiệp sản xuất Để thấy được điều này cần tìm hiểu rõ hơn tầm quan trọng và ý nghĩa tiêu thụ sản phẩm của từng đơn vị, từng mặt hàng cụ thể Qua đó ta sẽ hiểu tại sao mỗi doanh nghiệp đều không ngừng tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và tăng doanh thu (Trần Minh Đạo, 2006)

Trang 22

2.1.3 Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân

Căn cứ vào mối quan hệ giữa các hộ sản xuất cây giống ăn quả với người mua cuối cùng, có 2 hình thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp

2.1.3.1 Hình thức tiêu thụ trực tiếp

Hình thức tiêu thụ trực tiếp là hình thức người nông dân sản xuất cây giống ăn quả bán thẳng sản phẩm của mình cho hộ nông dân trồng cây ăn quả không qua các khâu trung gian

Hộ nông dân trồng giống cây ăn quả thực hiện hình thức bán lẻ cho những người khách vãng lai Họ là khách hàng mua cây giống với một số lượng rất nhỏ, thập chí chỉ một cây Với loại hình bán lẻ này, khách hàng sẽ không được nhận

ưu đãi về giá cả mà giá cả chính là giá bán trên thị trường Chính vì vậy, ưu điểm của hình thức này là giá bán sản phẩm cao, nhưng tiêu thụ được một lượng sản phẩm rất ít và người sản xuất phải bỏ ra chi phí đóng gói và chi phí lao động bình quân nhiều hơn so với các hình thức khác

2.1.3.2 Hình thức tiêu thụ gián tiếp

Hình thức tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà hộ nông dân sản xuất cây giống ăn quả bán sản phẩm của mình cho người trồng cây ăn quả cuối cùng có qua khâu trung gian bao gồm: người bán buôn, bán lẻ, đại lý… sự tham gia nhiều hay ít của người trung gian trong quá trình tiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu thụ dài hay ngắn khác nhau

Xét trên đối tượng tiếp cận với hộ nông dân sản xuất cây giống ăn quả chúng tôi chia ra các hình thức sau:

Thương lái

Doanh nghiệp

Tổ chức, dự án Người trồng cây ăn quả

Hộ nông dân trồng

giống cây ăn quả

Sơ đồ 2.3 Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân

Trang 23

a, Hình thức bán buôn cho thương lái

Hộ nông dân kinh doanh cây giống thực hiện hình thức bán buôn khi khách hàng của họ cần một số lượng cây giống lớn Khách hàng có thể là cá nhân, nhóm người hay chỉ là người đại diện hoặc được ủy quyền Họ sẽ mua một lượng lớn cây giống và sau đó có thể họ sẽ tiếp tục tiêu thụ số cây giống đó cho những khách hàng khác Khi thực hiện hình thức bán buôn này, doanh nghiệp hay hộ gia đình đầu mối sẽ giảm giá cho người mua, và khi người mua tiếp tục tiêu thụ sản phẩm thì họ sẽ nhận được tiền lãi khi bán với giá chênh lệch khi nhập cây giống về

Hình thức này có ưu điểm là ổn định, lâu dài, lượng sản phẩm tiêu thụ được nhiều Tuy nhiên người sản xuất sẽ phụ thuộc nhiều vào người thu gom dẫn tới tình trạng bị ép giá, sản phẩm bán với thấp hơn nhiều so với các hình thức khác

b, Hình thức bán cho doanh nghiệp

Với khách hàng là doanh nghiệp cũng giống như tiêu thụ cây giống dưới hình thức bán buôn Doanh nghiệp thường là những khách hàng chuyên kinh doanh về sản phẩm cây ăn quả hay là nguồn cung chính cho ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông sản doanh nghiệp cũng mua với số lượng lớn và đa dạng các loại giống cây tùy thuộc và đặc điểm địa lí của nơi sản xuất

Hình thức này có ưu điểm là lượng sản phẩm tiêu thụ được nhiều, nhưng nhược điểm của hình thức này là không ổn định, lâu dài vì số lượng doanh nghiệp đến mua không nhiều, chủ yếu là những doanh nghiệp không tự sản xuất được cây giống hoặc có vườn cây với diện tích nhỏ, khi có hợp đồng lớn thì sẽ huy động cây giống từ các hộ nông dân sản xuất giống cây

c, Hình thức bán cho các tổ chức dự án

Khi bán giống cây ăn quả cho những chương trình hay dự án, các cơ quan chính quyền hoặc tổ chức có dự án quy hoạch trồng cây ăn quả cho địa phương Nhà sản xuất sẽ nhận được thông báo đặt hàng trước nhằm đảm bảo cung cấp đủ

số lượng cây giống cần thiết, cũng như tiến độ giao hàng Số lượng cây giống bán cho các chương trình, tổ chức hay dự án có thể lớn hơn rất nhiều so với hình

Trang 24

thức bán buôn Tuy nhiên, số lượng đơn hàng cho nhóm khách hàng này lại không đều đặn như với khách hàng bán buôn Như vậy, ưu điểm của hình thức này là giá cả sát với giá thị trường người sản xuất được lợi hơn, tiết kiệm chi phí vận chuyển; nhưng số lượng người mua này không nhiều nên đầu ra này cũng không mang tính lâu dài và ổn định

2.1.4 Nội dung nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả

Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân bao gồm 4 hình thức cơ bản sau: (i) Hộ nông dân trồng giống cây ăn quả bán cây giống cho thương lái; (ii) Hộ nông dân trồng giống cây ăn quả bán cây giống cho doanh nghiệp; (iii) Hộ nông dân trồng giống cây ăn quả bán trực tiếp cây giống cho tổ chức/dự án; và (iv) Hộ nông dân trồng giống cây ăn quả bán trực tiếp cây giống cho người trồng cây ăn quả

Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân là tìm hiểu số lượng và giá bán từng loại cây giống tiêu thụ ở từng hình thức của các hộ, phân tích chi phí và doanh thu của từng loại giống cây, từ đó so sánh kết quả và hiệu quả các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu

Có thể thấy rằng, cần phải phân tích, đánh giá hoạt động tiêu thụ và các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả để nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp thị trường tiêu thụ sản phẩm theo từng hình thức, hiệu quả hoạt động kinh doanh của hộ, các nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả các hình thức tiêu thụ nhằm kịp thời có các biện pháp thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể xem xét trên các khía cạnh như: tình hình tiêu thụ sản phẩm theo khối lượng, mặt hàng, trị giá, thị trường và giá cả các mặt hàng tiêu thụ

Như vậy, cần lựa chọn hình thức tiêu thụ phù hợp, theo đó cây giống được đưa từ tay người trồng giống cây đến tay người tiêu dùng cuối cùng là người trồng cây ăn quả Căn cứ vào đặc điểm tính chất từng loại cây giống và từng hình thức tiêu thụ, mối quan hệ giữa hộ nông dân trồng cây giống với các đối tượng mua cây, có thể chọn kênh tiêu thụ trực tiếp (bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Trang 25

cuối cùng) hay kênh tiêu thụ gián tiếp (bán cho người tiêu dùng cuối cùng có qua trung gian)

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tiêu thụ giống cây

ăn quả của hộ nông dân

2.1.5.1 Thị trường tiêu thụ

Thị trường tiêu thụ là yếu tố không thể tách rời đối với mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ Mục tiêu cuối cùng của các hộ nông dân sản xuất giống cây ăn quả chính là tối đa hóa lợi nhuận, đồng nghĩa với việc họ phải tiêu thụ được nhiều sản phẩm cây giống và lợi nhuận trên từng cây giống cao Đối với tiêu thụ giống cây ăn quả, muốn tiêu thụ được nhiều cây giống, các

hộ nông dân cần phải xác định được thị trường tiêu thụ mục tiêu để sản xuất số lượng và chủng loại các loại cây giống phù hợp Tất cả các yếu tố về giá bán, chất lượng, sự cạnh tranh, hình thức tiêu thụ, chính sách của Nhà nước,… đều

có vai trò quan trọng trong quá trình phân phối chỉ cần một trong các yếu tố trên không tốt thì cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ của sản phẩm cây giống của hộ nông dân

2.1.5.2 Lượng sản phẩm tiêu thụ

Đây là nhân tố quyết định hàng đầu trong việc lựa chọn hình thức tiêu thụ của các hộ nông dân Trong các hình thức tiêu thụ thì hình thức bán buôn – thương lái (người thu gom) thu mua một số lượng sản phẩm lớn ở nhiều vườn và bán cho nhiều điểm thường sẽ có hợp đồng chính thức Do đó họ có đầu vào và đầu ra ổn định thường xuyên Hình thức này có thế mạnh là người bán buôn kiểm soát được toàn bộ vấn đề giá cả trên thị trường và như vậy vấn đề thị trường tiêu thụ và giá cả bị người bán buôn khống chế Như vậy có thể thấy ưu điểm của việc tiêu thụ giống cây ăn quả qua hình thức là có sự ổn định, lâu dài, số lượng lớn tuy nhiên hạn chế của nó lại là vấn đề giá cả thấp Hiện nay, lượng sản phẩm tiêu thụ đa phần được thông qua hình thức bán buôn

2.1.5.3 Giá cả tiêu thụ sản phẩm

Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tiêu thụ cây giống ăn quả Giá cả tác động đến sức mua và niềm tin vào sản

Trang 26

phẩm đó của người mua Giá cả cao làm người mua tin rằng sản phẩm tốt và ngược lại, nếu giá cả quá thấp sẽ làm người mua nghi ngờ về chất lượng của sản phẩm Tuy nhiên nếu giá cả quá cao so với mặt bằng chung của thị trường sẽ làm người mua đi tìm các nơi có giá cả hợp lý hơn Bên cạnh đó, các hình thức tiêu thụ khác nhau cũng gắn với các mức giá cả khác nhau Đối với hình thức tiêu thụ cho người trồng cây ăn quả và cho tổ chức/dự án thì giá bán cao hơn, hình thức tiêu thụ cho doanh nghiệp và thương lái sẽ có giá bán thấp hơn

2.1.5.4 Chất lượng giống

Chất lượng giống cũng là tiêu chuẩn hàng đầu quyết định mức độ tiêu thụ cây giống Đối với người tiêu thụ cây giống, đặc biệt là người trồng cây ăn quả thì chất lượng giống là nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh tế cây ăn quả Người trồng cây có nhu cầu cao về giống cây ăn quả cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Vì vậy, để phát triển tốt việc tiêu thụ giống cây ăn quả thì chất lượng giống cần được hộ sản xuất quan tâm sát sao Chất lượng giống ở đây bao gồm chất lượng quả mà cây giống sản xuất ra và chất lượng của bản thân cây giống như phải đạt tiêu chuẩn cành ghép khoẻ, không sâu bệnh, duy trì đặc tính cây mẹ, bầu cây đảm bảo trồng sống và phát triển mạnh chất lượng giống đảm bảo sẽ tạo được nhu cầu lớn đối với sản phẩm

2.1.5.5 Yếu tố mùa vụ

Trong sản xuất nông nghiệp yếu tố mùa vụ tác động mạnh mẽ đến cung cầu của thị trường và giá cả các loại sản phẩm giống cây trống nói chung Đối với giống cây ăn quả yếu tố mùa vụ tác động lớn đến lượng tiêu thụ và giá cả không lớn nhưng cũng có ảnh huởng Như đối với cây hồng mùa đông cây rụng

lá nên thường không được trồng nhiều, hay đối với nhiều vùng điều kiện tưới tiêu khó khăn nên cũng chỉ được tập trung vào mùa mưa để đảm bảo cho cây sống và phát triển Vì vậy cần phải xác định và dự tính cho từng thời điểm để có kế hoạch sản xuất cũng như tiêu thụ đạt kết quả cao nhất

2.1.5.6 Yếu tố thuộc về bản thân người nông dân

- Năng lực, tổ chức sản xuất của nông hộ: đây là một trong những yếu tố

quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của nông hộ Hộ

Trang 27

trồng giống cây ăn quả cũng cần nắm bắt các thông tin về thị trường, những mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao ở các địa phương khác, thăm quan học tập trao đổi kinh nghiệm ở ngoài địa phương Ngoài ra, năng lực tổ chức sản xuất của nông hộ sẽ giúp cho việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng tiến

bộ khoa học công nghệ và thâm canh phát triển giống cây ăn quả

- Trình độ nhận thức về thị trường tiêu thụ cây giống: Hiện nay, phương

thức tổ chức quản lý sản xuất chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ Như vậy, đương nhiên tồn tại việc "mạnh ai người ấy làm" Đây là một nguyên nhân chính dẫn đến việc không điều tiết và kiểm soát được sản lượng và chất lượng sản phẩm theo cầu của thị trường; đồng thời với mô hình kinh tế hộ, các chủ hộ không đủ điều kiện đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Vốn: Đa số các hộ sản xuất giống cây ăn quả trong giai đoạn đầu kiến

thiết vườn cây giống là có nhu cầu vay vốn cao để đầu tư vào xây dựng cơ bản, nhu cầu chọn tạo giống và áp dụng khoa học, kỹ thuật tạo nền tảng cho chất lượng sản phẩm tốt sau này của cây trồng Hộ nông dân cần hiểu biết về thông tin, được tư vấn khi tiếp cận vay vốn của các tổ chức Tín dụng, Ngân hàng để vay được đủ số vốn cần thiết cho phát triển sản xuất kinh doanh

- Các điều kiện khác của nông hộ như đất đai, mối quan hệ liên kết,…

cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ nông dân

2.1.5.7 Vai trò của các tổ chức kinh tế

Tại các vùng chuyên trồng giống cây ăn quả ở Việt Nam hiện nay thì đa

số vẫn tổ chức quản lý và sản xuất theo mô hình kinh tế hộ Sự tham gia của các

tổ chức, hiệp hội như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Hợp tác xã kiểu mới, Hiệp hội giống cây ăn quả, Hiệp hội sản xuất cây ăn quả, … còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, hiện nay các Hợp tác xã được chuyển đổi hình thức theo Luật HTX mới, tập trung chủ yếu vào vai trò cung ứng dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Việc thành lập và phát huy hoạt động của các tổ chức kinh tế này nhằm tiến hành phối hợp cơ quan khuyến nông, hội làm vườn hướng dẫn các hộ

Trang 28

nông dân chọn giống, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chăm sóc, cung cấp các thông tin về thị trường, dự án, doanh nghiệp

2.1.5.8 Vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương

Các chính sách của Đảng và Nhà nước đã đóng góp một phần quan trọng vào thành tựu của đất nước nói chung, lĩnh vực nông nghiệp nói riêng Nhìn chung, những chính sách khuyến khích phát triển sản xuất đã tác động tích cực đến ngành nông nghiệp, trong đó có ngành hàng rau quả và tạo nên những bước biến đổi lớn Các chính sách của Nhà nước liên quan tới hỗ trợ hộ nông dân sản xuất giống cây ăn quả bao gồm: chính sách đất đai, hỗ trợ vay vốn từ dịch vụ tín dụng- ngân hàng, hỗ trợ dịch vụ đầu vào, chính sách về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, Công tác quản lý Nhà nước và điều hành của các Cấp chính quyền điạ phương đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển vùng sản xuất giống cây ăn quả; quản lý chất lượng sản phẩm giống tạo ra Điều này giúp hạn chế sản xuất mang tính tự phát theo ý muốn chủ quan của nhân dân, từ đó tạo sự hợp lý về cơ cấu diện tích, cơ cấu chủng loại giống cây ăn quả và đảm bảo chất lượng cây giống bán ra thị trường

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình sản xuất và các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả trên thế giới

Những loại cây ăn quả chính yếu, truyền thống tại các nước châu

Á và Việt Nam là: xoài, chuối, cam quýt bưởi, dứa, điều, dừa (Nguyễn Văn Kế, 2005) Một số loài cây ăn quả hiếm được trồng rải rác quanh vườn hộ, hay còn ở trạng thái hoang dã hay bán hoang dã tuy cũng quan trọng tại một số khu vực nhưng sản lượng nhỏ, được gộp chung vào mục cây ăn quả khác trong thống kê của FAO, như: trứng gà (lêkima), cóc, bòn bon, nhót, dâu gia, chanh dây, lựu, … Đông Nam Á là một trung tâm quan trọng hàng đầu về sự đa dạng cây ăn quả Trong số hơn 12.000 loài thực vật của vùng này thì có nhiều loài cho quả ăn được (Phạm Hoàng Hộ, 1993) Theo ước lượng của Roberto E Coronel (1994) thì có trên 400 loài cây ăn quả đang được trồng tại vùng này, trong đó 90% là cây thân gỗ, 10% là cây thân thảo Cây ăn quả thân gỗ bản địa khoảng trên 227 loài, còn lại là được di thực từ nơi khác đến và trồng thành công như đu đủ, dứa, ổi,

Trang 29

sapôchê, mãng cầu, Ngoài ra, các nước Đông Nam Á còn nhiều loài thực vật

có quả ăn được, ở tình trạng hoang dã, trồng lẻ tẻ hay trồng với các mục đích khác Điều này chứng tỏ sự phong phú về chủng loại quả trong khu vực

Cách phân nhóm cây ăn quả (chính, đặc sản, hiếm) chỉ mang tính tương đối vì nó tùy thuộc từng nước Chẳng hạn sầu riêng là một loại quả nhỏ, nhưng thực ra sản lượng không nhỏ đối với Thái Lan với sản lượng có lúc gần 1 triệu tấn, tương tự như mít đối với Indonesia, vậy ở các nước ấy chúng trở thành cây

ăn quả chính Những loại quả này do tiêu thụ hẹp tại địa phương, ít khi vào thị trường quốc tế nên nhiều người châu Âu chưa hề biết đến thì nó là loại quả hiếm đối với họ Trong chiến lược phát triển cây ăn quả thường dựa vào quả truyền thống và quả đặc sản Phát triển quả đặc sản ít bị cạnh tranh hơn Đó cũng là chiến lược của Thái Lan khi trở thành nước hàng đầu về cây dứa (quả truyền thống), hay Philippines (hàng đầu về cây chuối), đồng thời Thái Lan lại nổi tiếng với các quả đặc sản như bòn bon, nhãn, sầu riêng…

Bảng 2.1 Sản lượng một số loại quả trên thế giới năm 2005

Trang 30

Bốn nước có diện tích cây ăn quả lớn của vùng Đông Nam Á là: Indonesia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam

Indonesia: Năm loại quả chính của Indonesia là chuối, cam, xoài, sầu

riêng, măng cụt Năm 2004, sản lượng các loại quả chính của nước này đạt 14,34 triệu tấn Năm 2005, Indonesia đã đạt 5,17 triệu tấn chuối (8% sản lượng chuối toàn cầu), 2,20 triệu tấn cam, 1,41 triệu tấn xoài và 0,56 triệu tấn sầu riêng

Thái Lan: Bảy loại quả chính của Thái Lan là chuối, dứa, xoài, nhãn, sầu

riêng, chôm chôm, măng cụt Năm 2005, sản lượng các loại quả chính của Thái đạt 6,70 triệu tấn, xuất khẩu trên 1 triệu tấn thu về trên 800 triệu đô la Trong đó, chuối có 139 nghìn ha sản lượng 1,80 triệu tấn (đứng thứ ba ở Đông Nam Á sau Philippines và Indonesia); dứa có 96 nghìn ha sản lượng 2,2 triệu tấn (đứng đầu thế giới); xoài có 316 nghìn ha, sản lượng trên 2,0 triệu tấn (đứng thứ tư trên thế giới sau Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc); nhãn có 153 nghìn ha, sản lượng 706 nghìn tấn và xuất khẩu 242 nghìn tấn; sầu riêng có 132 nghìn, sản lượng 640 nghìn tấn (đứng đầu thế giới); chôm chôm có 84 nghìn ha, sản lượng 517 nghìn tấn, xuất khẩu được 67 nghìn tấn; măng cụt có 67 nghìn ha, sản lượng 207 nghìn tấn (đứng đầu thế giới); bưởi có 31 nghìn ha, sản lượng 277 nghìn tấn (Narong Chomchalow, Songpol Somsri và Prempree Na Songkhla, 2007)

Philippines: Ba loại quả chính của Philippines là chuối, dứa, xoài Năm

2005, diện tích chuối thu hoạch của nước này là 400 nghìn ha, sản lượng 5,50 triệu tấn (8% sản lượng chuối toàn cầu, đứng thứ tư sau Ấn Độ chiếm 24%, Ecuador chiếm 9% và Brasil 9%) Năm 2006, sản lượng chuối, dứa, xoài của Philippines đạt tương ứng là 6,80 triệu tấn chuối, 1,834 triệu tấn dứa, 918 nghìn tấn xoài Theo Arthur C Yap (2007), Philippines đã xuất khẩu quả năm 2006 lên tới 700 triệu đô la Mỹ và đang có dự án cải thiện chất lượng quả nhằm đáp ứng mục tiêu yêu cầu vệ sinh của trái cây xuất khẩu

Việt Nam: Những loại cây ăn quả có diện tích lớn ở Việt Nam là chuối,

cam quýt bưởi, xoài, dứa, sầu riêng, chôm chôm, vải, nhãn, thanh long Diện tích cây ăn quả của Việt Nam đã tăng từ 346 nghìn ha (1995) đến 767 nghìn ha (2006) đến 775 nghìn ha (2007), sản lượng khoảng 7 triệu tấn Năm 2007 xuất

Trang 31

khẩu rau quả của Việt Nam ước đạt 300 triệu đô la Chuối hiện có diện tích khoảng 100.000 ha với sản lượng 1,2 triệu tấn Cam quýt có diện tích cam gần 80 nghìn ha với sản lượng 523 nghìn tấn Xoài có diện tích khoảng 75 nghìn ha, sản lượng 337nghìn tấn Nhãn đạt được trên 70 nghìn ha với sản lượng 481 nghìn tấn (dẫn theo Nguyễn Thị Hòe, 2010) Dứa hiện có diện tích khoảng 40 nghìn ha với sản lượng ước 400 nghìn tấn Chôm chôm phát triển ở vùng Nam Bộ với diện tích gần 22 nghìn ha, sản lượng 358 nghìn tấn Sầu riêng được mở rộng ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với diện tích thu hoạch khoảng 17 nghìn ha, sản lượng

87 nghìn tấn Thanh long đã mở rộng và trồng khá tập trung tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang với diện tích trên 9 nghìn ha Ngoài các loại quả nhiệt đới, một số loại quả cận nhiệt đới cũng đã được phát triển ở các tỉnh phía Bắc như vải, hồng, mận, táo, lê

Những nước khác trong khối Asean như Malaysia, Căm pu chia, Lào, Brunei và Đông Timor có diện tích trồng cây ăn quả không nhiều Malaysia là nhà sản xuất cây cọ dầu lớn nhất thế giới Diện tích cây ăn quả giảm dần do giá nhân công cao và do sự công nghiệp hóa Ở Căm pu chia, các loại quả chính là chuối, xoài, cam, mít, sầu riêng với diện tích ước 36.700 ha, sản lượng khoảng

200 ngàn tấn Myanmar có nhiều diện tích cây ăn quả nhưng tình trạng cấm vận kéo dài đã đẩy lùi nền kinh tế nước này và số liệu thống kê rất hạn chế Lào, Brunei, Đông Timor do diện tích ít nên sản lượng trái cây không nhiều

Thực tế hiện nay, tại các nước phát triển đang tiêu thụ cây giống ăn quả thông qua các sàn giao dịch nông sản – đây là một hình thức tổ chức thị trường đặc biệt, ở đó diễn ra các hoạt động giao dịch và buôn bán nhiều loại nông sản hàng hóa và các sản phẩm phái sinh trong đó bao gồm các giống cây ăn quả theo một tổ chức cấu trúc thị trường chặt chẽ, có tính minh bạch, tính cạnh tranh và sự lành mạnh cao (Khánh Trung, 2015) Căn cứ vào phương thức giao dịch thương mại, có các loại sàn giao dịch nông sản: Phương thức giao ngay (Spot transaction institution); Phương thức giao dịch “sản xuất theo hợp đồng” (Contract farming institution); Phương thức giao sau (Forward, futures, option transaction institution)

Trang 32

Các hình thức giao dịch chủ yếu của phương thức giao sau là Hợp đồng kỳ hạn, Hợp đồng tương lai và Hợp đồng quyền chọn Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) hay hợp đồng đặt mua trước là một thoả thuận trong đó người mua và người bán chấp nhận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn định vào ngày hôm nay Điểm khác biệt giữa một hợp đồng kỳ hạn và giao dịch giao ngay là thời điểm thanh toán giao dịch Hợp đồng tương lai (Futures Contract): là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán các giống cây ăn quả tại một thời hạn xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước Hợp đồng quyền chọn (Option Contract): là hợp đồng lựa chọn nhằm mua hoặc bán một quyền chứ không bắt buộc để mua hoặc bán một khối lượng hàng nông sản trong tương lai với giá xác định cho đến một ngày đáo hạn (Lê Huy Khôi, 2012).

2.2.2 Thực trạng sản xuất và các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của Việt Nam

2.2.2.1 Các chương trình giống tại Việt Nam

Để phát triển sản xuất cây ăn quả của Việt Nam, nhà nước ta đã có một số chính sách khuyến khích phát triển khoa học công nghệ trong trồng trọt Điển hình là Chương trình về giống cây trồng của Việt Nam bao gồm 2 nhóm chương trình sau:

a, Chương trình giống quốc gia giai đoạn I (2000 - 2005)

Năm 1999, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chương trình giống cây trồng vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 – 2005 (quyết định 255/1999/ QĐ – TTg) Lần đầu tiên ở Việt Nam, Chính phủ quyết định đầu tư một chương trình giống với quy mô toàn quốc và nội dung khá đồng bộ từ nghiên cứu đến phát triển giống vào sản xuất Mục tiêu của chương trình là: (i) Đảm bảo

đủ giống chất lượng tốt để cung cấp cho sản xuất, trước hết là cây trồng quan trọng đối với an ninh lương thực và phục vụ xuất khẩu; (ii) Áp dụng khoa học công nghệ mới, công nghệ sinh học trong lai tạo giống; (iii) Hình thành hệ thống sản xuất và dịch vụ giống cây trồng phù hợp với cơ chế thị trường; (iv) Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, lai tạo giống tốt, cung ứng nhu cầu sản xuất (Tạ Kiều Anh, 2006)

Trang 33

b, Chương trình giống quốc gia giai đoạn II (2006 - 2010)

Ngày 20/1/2006, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 17 tiếp tục thực hiện quyết định 255/199/QĐ- TTg về Chương trình giống cây trồng vật nuôi

và giống cây Lâm nghiệp trong giai đoạn 2006 – 2010 (có thể gọi là giai đoạn 2); với mục tiêu chính như sau: (i) Nâng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ Thuật trong sản xuất trên 70%, (ii) Nâng cao năng lực tạo giống, áp dụng công nghệ sản xuất giống để tạo ra nhiều giống mới có đặc tính tốt, năng suất và chất lượng cao và (iii) Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất giống nhằm hoàn thiện hệ thống sản xuất và cung ứng giống phù hợp với kinh tế thị trường; hình thành ngành công nghiệp sản xuất giống theo hướng hiện đại (Tạ Kiều Anh, 2006)

Nhìn chung chương trình giống cây trồng vật nuôi và giống cây lâm nghiệp giai đoạn I (2000-2005) đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần làm tăng năng suất cây trồng, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tích cực và tổng giá trị sản phẩm Với mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kĩ thuật từ 30% năm 2005 lên 70 - 80% vào năm 2010, tiến tới thực hiện công nghiệp háo hiện đại hóa ngàng sản xuất giống cây trồng vật nuôi chủ lực; xây dựng một số mô hình nông nghiệp VAC ở các vùng sinh thái; đồng thời xây dựng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao giống tốt, giống tiến bộ kỹ thuật cung ứng cho sản xuất (Trần Đức Viên, 2008)

2.2.2.2 Thành tựu nổi bật của ngành giống cây trồng

Ngành nông nghiệp Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn có vai trò

to lớn của ngành giống cây trồng Theo Tạ Kiều Anh (2006), những thành tựu nổi bật của ngành giống cây trồng thời gian qua là:

i) Chọn lọc và lai tạo được bộ giống ngắn ngày, có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh khá, thích ứng rộng với các vùng sinh thái khác nhau, tạo điều kiện đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ và chuyển dịch cơ cấu sản xuất có hiệu quả

Trang 34

ii) Do tạo được bộ giống ngắn ngày, năng suất cao và thích ứng rộng nên nền nông nghiệp Việt Nam đã có “cuộc cách mạng” về mùa vụ Thay dần các giống dài ngày trước đây bằng các giống ngắn ngày, tăng vụ sản xuất trong năm cộng với thâm canh đã tăng được giá trị thu nhập

iii) Tạo ra cuộc cách mạng trong việc sử dụng ưu thế lai, thể hiện rõ nhất ở việc ứng dụng ưu thế lai đối với lúa, ngô, rau đậu, cây ăn quả tăng rất mạnh Công nghệ nhân giống vô tính cây công nghiệp, cây ăn quả chất lượng cao, sạch bệnh đang được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất, đặc biệt trên cây có múi, các giống vải, nhãn, cao su, điều, chè cà phê chất lượng cao

iv) Chất lượng giống trong sản xuất từng bước được cải thiện đáng kể Đối với lúa, trước năm 2000, hầu hết nông dân sử dụng giống chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thì đến nay tỷ lệ sử dụng giống lúa đạt tiêu chuẩn từ cấp xác nhận trở lên ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ hiện đã đạt khoảng trên 75%; vùng Đồng bằng sông Cửu long đạt trên 30%; các vùng khác đạt từ 40 – 60% Nhiều loại giống rau, màu, giống cây ăn quả, cây công nghiệp cũng được quản lý nguồn gốc xuất xứ và kiểm tra chất lượng trước khi đưa ra sản xuất

v) Cơ sở vật chất, kỹ thuật và năng lực của đội ngũ cán bộ của ngành giống từng bước được tăng cường Thông qua các chương trình quốc gia như: Chương trình cấp 1 hoá giống lúa, Chương trình lúa lai, Chương trình ngô lai, Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp giai đoạn

2000 – 2005 và giai đoạn 2006 – 2010, các dự án hợp tác quốc tế về giống… nhà nước đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật và đào tạo cán bộ cho các cơ sở nghiên cứu chọn tạo giống, cơ sở khảo kiểm nghiệm giống, cơ sở sản xuất và chế biến giống của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, hỗ trợ nông dân sử dụng giống mới, giống tốt vào sản xuất Đồng thời, nhiều doanh nghiệp giống thuộc các thành phần kinh tế cũng đầu tư vốn xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến và bảo quản giống của mình

vi) Hệ thống văn bản pháp luật về giống từng bước được xây dựng, ban hành và thực thi, tạo hành lang pháp lý, cơ chế chính sách cho các hoạt động nghiên cứu chọn tạo, khảo nghiệm, công nhận giống, bảo hộ bản quyền

Trang 35

giống, sản xuất, kinh doanh giống và quản lý chất lượng giống cây trồng Trong đó, Luật Sở hữu trí tuệ (phần IV - Quyền đối với giống cây trồng) và Pháp lệnh giống cây trồng là những văn bản pháp luật quan trọng nhất của ngành giống cây trồng

2.2.2.3 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ giống cây ăn quả tại Việt Nam

Do đặc điểm địa lý, sinh thái đa dạng, nền nông nghiệp Việt Nam cũng đa dạng và có sự khắc biệt rõ rệt giữa các vùng miền Cơ cấu giống cây trồng Việt Nam cũng rất phong phú với nhiều loại cây trồng, nhiều giống cây trồng khác nhau Nhóm cây giống gồm các cây nhân giống bằng phương pháp vô tính hoặc cây trồng từ hạt nhưng phải qua giai đoạn vườn ươm Đặc trưng trong nhóm cây

ăn quả này là xoài nhãn, vải, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng và các cây có múi (cấy giống nhân bằng các phương pháp chiết, ghép, riêng măng cụt bằng hạt)

Nếu phân loại theo hệ thống thì ngành giống Việt Nam có thể chia ra làm hai hệ thống: hệ thống giống chính quy và hệ thống giống nông hộ (không chính quy) Hệ thống giống chính quy bao gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các đơn vị sự nghiệp (các viện nghiên cứu, trường đại học, các trung tâm giống của Trung ương và địa phương) Giống của hệ thống này thường được đặc trưng bởi chế biến máy móc, các giống được tên rõ ràng (qua khảo sát, công nhận giống) và được bảo hành chất lượng Đối với giống phải sản xuất theo tiêu chuẩn của từng loại và ghi rõ nguồn gốc

Hệ thống giống nông hộ gồm các hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ và hàng trăm ngàn hộ nông dân tham gia sản xuất giống Họ sản xuất rồi tự để giống cho mình, trao đổi, mua bán giống với nhau trong cộng đồng dân cư nơi

họ sinh sống hàng ngày và còn hợp đồng sản xuất giống cho các đơn vị thuộc

hệ thống giống chính quy Vì vậy, giống trong hệ thống này có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể mua giống gốc, giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng hoặc giống đầu dòng từ các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp để sản xuất giống các đời tiếp theo, có thể do các nông dân hoặc các nhóm nông dân tự chọn lọc, lai tạo từ các giống địa phương

Trang 36

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây ăn quả của Việt

Nam năm 2005

TT Loại cây ăn quả Diện tích

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản phẩm (tấn)

Với điều kiện thuận lợi về khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có rất nhiều loại trái cây đa dạng, có chất lượng tốt phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Các vùng có thế mạnh trồng trái cây xuất khẩu chủ yếu tập trung tại khu vực phía Nam Các loại trái cây xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay là dứa đóng

hộp, bưởi, cam quýt, xoài, chuối…

Tính từ năm 1990 đến nay, diện tích trồng cây ăn quả của cả nước tăng đáng kể Nếu so với thời gian cách đây chưa gần 20 năm, diện tích dành cho sản phẩm này chỉ bằng 1/3 Theo tổng kết năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tổng diện tích cây ăn quả đạt 843.700 ha, trong đó cây ăn quả nhiệt đới ở các tỉnh phía Nam chiếm 466.700 ha (ĐBSCL 288.500 ha và ĐNB 178.200 ha), là vùng sản xuất tập trung cây ăn quả theo hướng hàng hóa lớn, trong đó dẫn đầu là Tiền Giang, kế đến là Đồng Nai, Vĩnh Long, Bến Tre và

Trang 37

nhiều tỉnh khác Đây là vùng có chủng loại cây ăn quả rất đa dạng, với nhiều giống nổi tiếng cả trong và ngoài nước như xoài Cát Hòa Lộc, Cát Chu; bưởi Da Xanh, Năm Roi; Thanh long; Sầu riêng Ri 6, Chín Hóa; nhãn tiêu Da Bò; Chôm chôm nhãn, Java; Vú sữa Lò Rèn, Vĩnh Kim… Dự kiến đến năm 2020, diện tích cây ăn quả cả nước sẽ tăng lên 1,1 triệu ha, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 tỷ USD Có thể nói, trái cây ở nước ta không chỉ đa dạng về chủng loại mà mùa nào cũng có sản phẩm (Agroviet, 2008)

Theo Nguyễn Văn Hòa (2015), trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả luôn tăng trưởng liên tục, lấy mốc từ năm 1996 Việt Nam chỉ xuất được 90,2 triệu USD/năm, nhưng đến 2008 đã vượt mốc 400 triệu USD, 2011 vượt 600 triệu USD, 2012 lên trên 800 triệu USD, rồi năm 2013 vượt mốc 1 tỷ USD và ước tính năm 2014 đạt 1,47 tỷ USD, tăng 34,9% so với năm 2013; trong

11 tháng đầu năm 2014 Việt Nam đã xuất siêu rau quả khoảng 882 triệu USD

Có 40 chủng loại quả được xuất đến thị trường 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó 10 nước nhập khẩu trái cây quan trọng trong năm 2014 của Việt Nam là Trung Quốc (26,79%), Nhật Bản (4,97%), Hàn Quốc (3,89%), Hoa

Kỳ (3,84%), Hà Lan (2,63%), Nga (2,5%), Đài Loan (2,21%), Thái Lan (2,07%), Malaysia (2,01%), Singapore (1,72%); số lượng xuất đạt hơn 1,6 triệu tấn trong

đó thanh long đạt hơn 997 ngàn tấn, dưa hấu gần 300 ngàn tấn, nhãn hơn 100 ngàn tấn, vải hơn 70 ngàn tấn, chôm chôm 600 tấn Điều đáng mừng là thị phần xuất khẩu sang các thị trường cao cấp có tăng lên, thị phần xuất sang Trung Quốc

dù có giảm nhưng vẫn chiếm tỉ lệ rất cao Với việc tăng trưởng mạnh mẽ liên tục cho thấy Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu quả trong những năm tới

Được biết, gần đây, Bộ Nông nghiệp và PTNT yêu cầu các tỉnh thành căn

cứ vào điều kiện và thế mạnh của mình nên xác định từ 1 - 3 loại cây chủ lực để tập trung đầu tư, trong đó ưu tiên chọn những loại cây có thể cạnh tranh như măng cụt, bưởi, xoài, thanh long, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, chuối khóm… Bên cạnh đó, Bộ còn chủ trương xây dựng vùng chuyên canh cây ăn quả đặc sản

Trang 38

tập trung tại 2 khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL với hình thức sản xuất theo hướng thâm canh, áp dụng quy trình GAP đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong khi

đó, đối với khu vực duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, việc cải tạo về giống, trồng thâm canh để tiêu thụ nội địa lại được chú trọng (Agroviet, 2008)

Bên cạnh đó chính phủ cũng đã và đang quan tâm tới bảo hộ giống cây trồng tại Việt Nam Việc xây dựng và bảo hộ một hệ thống giống cây trồng là hết sức cần thiết Đông Nam Á là một trong các khu vực rất đa dạng về nguồn tài nguyên cây trồng, việc nghiên cứu phát triển các giống cây trồng mới cũng như sản xuất kinh doanh giống cây trồng khu vực này rất sôi động Vì vậy việc xây dựng và phát triển một hệ thống bảo hộ giống cây trồng trong khu vực hoạt động

có hiệu quả sẽ thúc đẩy công tác sản xuất kinh doanh giống cây trồng khu vực, giảm rào cản thương mại giống giữa các quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hiện nay Một số các kinh nghiệm về bảo hộ giống cây trồng của mỗi quốc gia được các đại diện của mỗi quốc gia đã được trình bày qua “Hội nghị chuyên

đề về bảo hộ giống cây trồng các quốc gia khu vực Đông Á tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh" ngày 15 và 16 tháng 12 năm 2008; đó là những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng và bảo vệ giống cây trồng Tham gia hội nghị gồm khoảng 60 đại biểu trong đó một nửa là các đại biểu đại diện cho cơ quan bảo hộ giống cây trồng các quốc gia khu vực Đông Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Phillipines, Malaixia, Cămpuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam và Cơ quan bảo hộ giống cây trồng liên minh Châu Âu (CVPO) Hội nghị được tổ chức với sự hợp tác giữa Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam và Diễn đàn bảo hộ giống cây trồng Đông Á bằng nguồn tài trợ của Bộ Nông lâm ngư nghiệp Nhật Bản (Nguyễn Thanh Minh, 2008)

Tuy nhiên cho tới nay, mức độ phát triển hệ thống bảo hộ giữa các quốc gia trong khu vực còn chênh lệch nhiều do vậy hội nghị là cơ hội tốt để các quốc gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau đặc biệt giữa khu vực Đông Bắc Á và Đông

Trang 39

Nam Á Ngoài ra, kinh nghiệm của Cơ quan bảo hộ giống cây trồng Châu Âu (CVPO) là một điểm đáng để khu vực Châu Á xem xét

Việt Nam mới trở thành thành viên của Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) và đã có một số kết quả nhất định Song gia nhập UPOV mới chỉ là sự bắt đầu vận hành một hệ thống bảo hộ giống cây trồng Để hệ thống bảo hộ giống cây trồng quốc gia hoạt động thực sự có hiệu quả, trước mắt còn rất nhiều việc cần làm Để công tác bảo hộ giống cây trồng mới thực sự đem lại lợi ích cho cộng đồng, cần tiếp tục xây dưng và phát triển hệ thống bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở phạm vi quốc tế Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi công tác chọn tạo và phát triển giống cây trồng mới không còn bị giới hạn ở biên giới mỗi quốc gia Do vậy việc xây dựng và phát triển hệ thống bảo hộ giống cây trồng quốc gia hài hòa với khu vực và quốc tế là một trong những mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới Chính vì vậy, hội nghị chuyên đề về bảo hộ giống cây trồng trong khu vực nhằm tạo điều kiện cho các quốc gia hiểu hiết rõ hơn về thực trạng bảo hộ giống lẫn nhau là một hoạt động có ý nghĩa trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển hệ thống bảo hộ giống cây trồng hài hòa hóa

ở cấp khu vực (Nguyễn Thanh Minh, 2008)

Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng ở một nước nhiệt đới, các tỉnh tại Việt Nam đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục vụ cho chế biến công nghiệp và tiêu dùng Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long

có diện tích trồng cây ăn trái lớn nhất, chiếm khoảng 36,5% diện tích cả nước Tổng lượng giống cây ăn trái các tỉnh ĐBSCL sản xuất bình quân trong vài năm gần đây vào khoảng 26 đến 27 triệu cây/năm Số lượng giống cây ăn trái này được lưu thông khắp cả nước kể cả sang một số nước láng giềng (Agroviet, 2008)

Tuy nhiên, qua thực tế sản xuất và tiêu thụ giống cây ăn quả ở Việt Nam cũng bộc lộ nhiều yếu điểm, cụ thể:

- Ngành giống cây ăn quả Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu phát triển,

có rất nhiều công ty giống của nhà nước vẫn đang thiếu thiết bị đủ tiêu chuẩn

Trang 40

Thêm vào đó, công tác kiểm soát và bảo đảm chất lượng cũng chưa được quản lý

và thực hiện một cách chủ động từ phía các nhà sản xuất, vì vậy giống kém chất lượng vẫn còn được buôn bán khá phổ biến, nguồn gốc giống không đáng tin cậy Chất lượng giống cây trồng không được bảo đảm thường xuyên

- Mặc dù có một số lượng lớn giống của nhiều loại cây trồng đã được phát triển và công nhận ra sản xuất nhưng nhìn chung các giống có thời gian sử dụng ngắn do khả năng thích ứng thấp và có tốc độ thoái hoá khá cao

- Lực lượng cán bộ nghiên cứu chọn tạo giống cây ăn quả, đặc biệt là lực lượng chuyên gia giỏi và tâm huyết với ngành giống, đặc biệt là cán bộ trẻ còn rất thiếu

- Sự phát triển của các giống lai trên quy mô lớn và tập trung sẽ là áp lực làm giảm sự đa dạng sinh học hoặc có thể làm một số nguồn gen cây ăn quả bản địa/giống địa phương bị mất đi, cần phải có kế hoạch tích cực để bảo tồn tính đa dạng nguồn gen giống cây ăn quả

- Thiếu hệ thống thông tin thường xuyên và hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý, các cơ sở nghiên cứu và các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây ăn quả

từ trung ương đến địa phương, do đó khả năng liên kết, chia sẻ thông tin, điều phối hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị trong ngành rất hạn chế

- Các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả cho các đối tượng mua khác nhau thì đem lại hiệu quả khác nhau nhưng chưa được các hộ nông dân chủ động phát huy để đạt hiệu quả tiêu thụ cao nhất Tâm lý người nông dân vẫn thụ động, trông chờ vào người đến mua chứ chưa chủ động tìm mối bán giống cây trên thị trường

Ở Việt Nam, đi đôi với nền sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu vẫn luôn tồn tại và phát triển các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả mang tính truyền thống (chợ, thương lái, đại lý thu mua,…) Đến nay, các hình thức này vẫn còn phát huy tác dụng Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh của hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nước; đồng thời, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Agroviet (2008). "Phân tích dự báo - Triển vọng trái cây Việt Nam trên thị trường thế giới", trang tin Cúc tiến thương mại – Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày01/09/2008, ngày truy cập 25/08/2015 từhttp://xttm.mard.gov.vn/Site/vivn/73/81/199/19486/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dự báo - Triển vọng trái cây Việt Nam trên thị trường thế giới
Tác giả: Agroviet
Năm: 2008
2. Tạ Kiều Anh (2006). "Báo cáo hiện trạng giống cây trồng Việt nam" báo cáo, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng giống cây trồng Việt nam
Tác giả: Tạ Kiều Anh
Năm: 2006
21. Nguyễn Thanh Minh (2008). "Hội nghị chuyên đề về bảo hộ giống cây trồng các quốc gia khu vực Đông Á tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh", ngày31/12/2008, truy cập ngày 03/07/2015 từhttp://pvpo.mard.gov.vn/DetailInfomation.aspx?InfomationID=IN00000201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị chuyên đề về bảo hộ giống cây trồng các quốc gia khu vực Đông Á tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thanh Minh
Năm: 2008
25. Phạm Ngọc Quý (2005). "Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ giống cây ăn quả ở trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm rau quả viện nghiên cứu rau quả Gia Lâm Hà Nội", Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất và tiêu thụ giống cây ăn quả ở trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm rau quả viện nghiên cứu rau quả Gia Lâm Hà Nội
Tác giả: Phạm Ngọc Quý
Năm: 2005
33. Trần Đức Viên (2008). "Phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư và tác động ảnh hưởng của chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây nông nghiệp"Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư và tác động ảnh hưởng của chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây nông nghiệp
Tác giả: Trần Đức Viên
Năm: 2008
12. Nguyễn Văn Hòa (2015). Tổ chức lại sản xuất để khẳng định vị thế trái cây Việt Nam trên thương trường quốc tế, ngày 27/07/2015, truy cập ngày 31/07/2015 từ http://www.vaas.org.vn/to-chuc-lai-san-xuat-de-khang-dinh-vi-the-trai-cay-viet-nam-tren-thuong-truong-quoc-te-a14559.html Link
18. Minh Liễu (2013). Mô hình sản xuất cây giống mang lại hiệu quả kinh tế cao tại thị trấn Trâu Quỳ, truy cập ngày 31/07/2015 từ http://gialam.gov.vn/gialam/portal/News-details/140/1265/Mo-hinh-san-xuat-cay-giong-mang-lai-hieu-qua-kinh-te-cao-tai-thi-tran-Trau.html Link
20. Nhật Minh (2015). Huyện Gia Lâm: đi lên với thế và lực mới, ngày 23/07/2015, truy cập ngày 31/07/2015 từ http://hanoi.gov.vn/huong_toi_dai_hoi_dang/-/hn/FJNMlsYREDd4/111101/2751312/huyen-gia-lam-i-len-voi-the-va-luc-moi.html;jsessionid=CwK3sI5wjafJxGtjEEBqj52O.node1 Link
30. Khánh Trung (2015). Đồng bằng sông Cửu Long: liên kết để phát triển nông nghiệp, Bản tin của Báo Cần Thơ ngày 11/06/2015, truy cập ngày 02/07/2015 từ http://iasvn.org/homepage/DONG-BANG-SONG-CUU-LONG-Lien-ket-de-phat-trien-nong-nghiep-6884.html Link
31. Trung tâm Thông tin Thương mại (2006). Thực trạng và phương hướng phát triển sản xuất các loại cây ăn trái đến năm 2015, truy cập ngày 03/07/2015 từ http://agro.gov.vn/news/chitiet_nghiencuu.aspx?id=463 Link
32. Từ điển Bách Khoa toàn thư mở wikipedia, Cây ăn quả, truy cập ngày 25/08/2015 từhttps://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A2y_%C4%83n_qu%E1%BA%A3 Link
3. Nguyễn Thanh Bình (2012). Hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Khác
4. Phan Thị Hà Châm (2013). Nghiên cứu vai trò của Hợp tác xã đối với các xã viên - Tiếp cận từ phía xã viên hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Nguyễn Mậu Dũng (2012). Biến động giá sản phẩm vải quả và ứng xử của hộ nông dân trồng vải trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Tạp chí khoa học và phát triển, tập 10, số 3, 516-525 Khác
8. Đặng Đình Đào (2001). Giáo trình thương mại doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Khác
9. Trần Minh Đạo (2006). Giáo trình Marketing căn bản, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội Khác
10. Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung (1997). Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Trung Hiếu (2014). Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ trên địa bàn thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương Khác
13. Nguyễn Thị Hòe (2010). Nghiên cứu đặc điểm nông - sinh học và khả năng tạo cây tứ bội của một số dòng giống cam quýt tại Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên Khác
14. Phạm Hoàng Hộ (1993). Cây cỏ Việt Nam, xuất bản tại Canada (1991-1993), NXB Trẻ tái bản (1999-2000) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Sản lượng một số loại quả trên thế giới năm 2005 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 2.1 Sản lượng một số loại quả trên thế giới năm 2005 (Trang 29)
Bảng  2.2  Diện  tích,  năng  suất,  sản  lượng  một  số  loại  cây  ăn  quả  của  Việt - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
ng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây ăn quả của Việt (Trang 36)
Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2012 - 2014 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua 3 năm 2012 - 2014 (Trang 45)
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm qua 3 năm - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Gia Lâm qua 3 năm (Trang 47)
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm qua 3 năm - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm qua 3 năm (Trang 51)
Bảng 4.5 Số lượng giống cây ăn quả sản xuất ra của các hộ được điều tra - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.5 Số lượng giống cây ăn quả sản xuất ra của các hộ được điều tra (Trang 65)
Bảng 4.8 Số lượng và tỷ lệ loại cây giống bán ra theo các hình thức tiêu thụ - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.8 Số lượng và tỷ lệ loại cây giống bán ra theo các hình thức tiêu thụ (Trang 71)
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ (Trang 75)
Bảng 4.12 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 1 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.12 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 1 (Trang 78)
Bảng 4.14 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 2 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.14 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 2 (Trang 82)
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ 2 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ 2 (Trang 84)
Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ 3 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của hộ 3 (Trang 88)
Bảng 4.18 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 4 - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.18 Số lượng giống cây và doanh thu bán ra theo từng hình thức tiêu thụ của hộ 4 (Trang 90)
Bảng 4.20 So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ được lựa chọn - Nghiên cứu các hình thức tiêu thụ giống cây ăn quả của các hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.20 So sánh hiệu quả kinh tế của các hộ được lựa chọn (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm