1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh

108 386 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cùa huyện Tiên Du 343.3 Hiện trạng dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2014 374.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở 3 xã g

Trang 1

2.1.2 Vai trò của công nghiệp hóa, của khu công nghiệp đến đời sồng người dân 5 2.1.3 Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp 9

2.1.5 Nội dung nghiên cứu về ảnh hưởng của các khu công nghiệp tới đời

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng của việc phát triển các khu công nghiệp tới việc

2.2.1 Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công nghiệp 21 2.2.2 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam 23 2.2.3 Tình hình phát triển các khu công nghiệp ở một số địa phương 24

Trang 2

3.1.2 Đặc điểm về điều kiện đất đai 32

3.1.6 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39

3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quá trình công nghiệp hoá 46 3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh những ảnh hưởng tới đời sống hộ nông dân 47 3.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về vốn, tiền bồi thường 47 3.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ảnh về thu nhập, cơ cấu thu nhập của hộ bị thu hồi

4.1 Thực trạng phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du 48 4.1.1 Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở 3 xã điều tra 48 4.1.2 Tình hình chung về các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du 49 4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng trong việc phát

triển khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du 53

Trang 3

nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 56 4.3.2 Ảnh hưởng đến chất lượng lao động của các nhóm hộ điều tra 58 4.3.3 Ảnh hưởng đến lao động và việc làm các nhóm hộ điều tra 60 4.3.4 Ảnh hưởng đến cơ cấu lao động của các nhóm hộ điều tra 63 4.3.5 Ảnh hưởng đến sự thay đổi việc làm các nhóm hộ điều tra 65 4.3.6 Ảnh hưởng đến đời sống vật chất của các hộ dân trên địa bàn điều tra 67 4.3.7 Sự thay đổi chất lượng sống và điều kiện sống của các hộ dân 75 4.4 Đánh giá chung những ảnh hưởng của khu công nghiệp đến đời sống

4.5 Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động trong

vùng quy hoạch khu công nghiệp trong những năm tiếp theo 86

4.5.2 Những giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cùa huyện Tiên Du 343.3 Hiện trạng dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2014 374.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở 3 xã giai đoạn trước năm 2012

4.2 Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn Huyện Tiên Du 504.3 Tình hình thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ của các hộ dân để phát triển

4.4 Đánh giá chất lượng lao động của nhóm hộ điều tra tại thời điểm có

4.5 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ trước và sau khi thu hồi đất

để phát triển khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du 614.6 Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra 644.7 Tình trạng việc làm trước và sau khi phát triển khu công nghiệp của

4.8 Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ 68

4.10 Bình quân thu nhập trên hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu

4.11 Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập của các hộ dân sau khi phát triển

4.12 Tình hình tiếp cận các cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội sau khi phát triển các khu công nghiệp của các hộ trên địa bàn điều tra 764.13 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của môi trường 774.14 Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau khi phát triển khu

Trang 6

I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn quá trình phát triển của kinh tế thế giới cho thấy các nước có nền kinh tế phát triển đều trải qua quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa đất nước Về cơ bản có thể xem công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, của các ngành sản xuất khác và các ngành thương mại và dịch vụ, đồng thời đó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ yêu cầu nâng cao đời sống về mọi mặt của dân cư Công nghiệp hoá dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp, chuyển dịch cơ bản dân số và lao động, và từ đó sẽ hình thành các khu đô thị mới

Quá trình công nghiệp hoá ở mỗi quốc gia là sự hình thành hệ thống cơ sở vật chất của các ngành kinh tế quốc dân mà trước hết là các ngành công nghiệp Kết quả chính của quá trình này còn bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng

xã hội trên phạm vi cả nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân

Kết quả trên đây của quá trình công nghiệp hóa tất yếu gắn liền sự hình thành các cơ sở, các khu công nghiệp, các khu thương mại, dịch vụ và các khu dân cư mới Điều đó dẫn tới sự hình thành các khu đô thị mới hoặc sự mở rộng quy mô của các khu

đô thị đã có Do vậy, có thể khẳng định rằng đô thị hoá là một quá trình tất yếu và phổ biến của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển

Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta, sự hình thành các khu

công nghiệp mới và mở rộng các khu công nghiệp hiện có là một xu hướng tất yếu

Tỉnh Bắc Ninh cũng không nằm ngoài quy luật chung đó, chúng ta không thể phủ nhận được rằng; trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực, thu nhập của người dân được nâng cao, nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần và các dịch vụ khác ngày càng cao, quá trình công nghiệp hoá trong tỉnh đang diễn ra khá mạnh mẽ

Trang 7

Tiên Du là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh với 4 khu công nghiệp tập trung

và 1 cụm công nghiệp làng nghề, do đó quá trình công nghiệp hoá ở huyện Tiên Du cũng đang diễn ra khá mạnh mẽ Sự hình thành các khu công nghiệp mới, các khu

đô thị mới trong thời gian qua là một xu hướng tất yếu để hoà nhập với sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, đồng thời với các khu công nghiệp mới vấn đề tạo lập khu tái định cư cho người dân thuộc diện quy hoạch sẽ được tiến hành như thế nào? Đời sống kinh tế - xã hội của người dân sau khi giao đất nông nghiệp cho việc giải phóng mặt bằng như thế nào? Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này tôi đã

tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển các khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài thực hiện góp phần ổn định và nâng cao đời sống của các hộ nông dân chịu ảnh hưởng của quá trình thu hồi đất phục vụ xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề công nghiệp hoá và tác động ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp tới đời sống của người dân bị thu hồi đất

- Đánh giá thực trạng quá trình phát triển khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du và đánh giá được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của phát triển các khu công nghiệp tới đời sống người nông dân bị thu hồi đất trong vùng chịu ảnh hưởng

- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần ổn định và nâng cao mức sống của người dân bị thu hồi đất trong vùng chịu ảnh hưởng của các khu công nghiệp

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lao động, việc làm, thu nhập, môi trường, xã hội của các hộ gia đình trong phạm vi ảnh hưởng của các khu công nghiệp huyện Tiên Du

Trang 8

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn khu công nghiệp thuộc huyện Tiên Du gồm các xã Hoàn Sơn, Đại Đồng và Nội Duệ

* Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2013;

số liệu sơ cấp năm 2014

* Về nội dung: Đề tài chỉ giới hạn trong nghiên cứu những ảnh hưởng về lao động, việc làm, thu nhập, môi trường, xã hội đối với những hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trong vùng ảnh hưởng của các khu công nghiệp, từ đó đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần ổn định và nâng cao đời sống của các hộ nông dân vùng chịu ảnh hưởng

Trang 9

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm công nghiệp hoá

Có thể thấy CNH là con đường tất yếu để phát triển kinh tế của các nước, nhưng cần hiểu như thế nào về CNH Ngay từ năm 1963 Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra khái niệm quy ước về công nghiệp hoá: “CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận nguồn lực ngày càng tăng của đất nước được huy động để phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngành với công nghệ hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao cho toàn bộ nền kinh tế và sự tiến bộ về xã hội”

Từ khái niệm trên đây, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về CNH như sau: Công nghiệp hoá là quá trình tác động của công nghiệp với công nghệ ngày càng hiện đại vào hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, làm biến đổi toàn diện nền kinh

tế, đưa nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu tới nền công nghiệp hiện đại

Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011)

* Khái niệm khu công nghiệp

Theo Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ, các Khu công nghiệp được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sản xuất Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống

hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp (Nghị định số 192/CP của Chính phủ, 1994)

Trang 10

* Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp

Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về

cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Frank Ellis, 1993)

* Khái niệm về đời sống

Đời sống của con người được thể hiện thông qua thu nhập, điều kiện sống của mỗi con người, đó là chất lượng sống

Chất lượng đời sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã hội, trước hết là những nhu cầu vật chất cơ bản tối thiểu của con người Sau đó, là điều kiện nảy sinh các nhu cầu tinh thần Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng đời sống càng cao (Nguyễn Thị Kim Thoa, 2003)

Chất lượng cuộc sống còn thể hiện ở sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được

2.1.2 Vai trò của công nghiệp hóa, của khu công nghiệp đến đời sồng người dân

* Vai trò của công nghiệp hóa

- Thứ nhất: công nghiệp hóa với quá trình đô thị hóa Thông qua việc quy hoạch phát triển sản xuất công nghiệp, công nghiệp hóa thúc đẩy quá trình phân bố lại dân cư ở các vùng, tạo điều kiện đô thị hóa đất nước Thực tế cho thấy quá trình công nghiệp hóa thường đi đôi với quá trình đô thị hóa…

Công nghiệp hoá với sự mở rộng sản xuất công nghiệp, theo đó là sự phát triển

Trang 11

các ngành dịch vụ Sự phát triển của các ngành này đã thu hút một lượng lớn lao động ở nông thôn vào thành thị, dẫn đến yêu cầu phải mở rộng các khu vực thành thị vốn đã trở nên chật hẹp so với yêu cầu mới làm cho các vùng nông thôn ven các

đô thị lớn dần trở thành các đô thị vệ tinh Sự mở rộng sản xuất công nghiệp nhiều khi được thực hiện bằng việc xây dựng các khu công nghiệp mới ngay tại các vùng nông thôn, miền núi Điều này đã thu hút lực lượng lao động tại chỗ cho yêu cầu sản xuất công nghiệp và một bộ phận dân cư khác lại tổ chức các hoạt động dịch vụ đáp ứng những yêu cầu mới của khu công nghiệp (Nguyễn Hữu Đoàn, 2002)

- Thứ hai: công nghiệp hóa thúc đẩy các mối liên kết trong kinh tế Để thực hiện quá trình sản xuất, ngành này phải sử dụng sản phẩm của các ngành khác và ngược lại Quá trình này tạo ra các mối liên kết xuôi, ngược giữa các ngành với nhau Hoạt động sản xuất của công nghiệp chế biến yêu cầu đầu vào từ sản phẩm của công nghiệp khai thác, của nông nghiệp và chính bản thân các ngành công nghiệp chế biến với nhau Ngược lại, hoạt động sản xuất của nông nghiệp lại yêu cầu phân bón hoá học, thuốc trừ sâu và các công cụ sản xuất từ công nghiệp Trong các quá trình trên, để đưa sản phẩm từ nơi này đến nơi khác lại phải có các dịch vụ vận chuyển, thương mại… công nghiệp hoá đã thúc đẩy các mối liên kết ngày càng phát triển sâu rộng Đây chính là cơ sở để tạo ra cơ cấu kinh tế ngày càng năng động cho đất nước

- Thứ ba: công nghiệp hóa là con đường cơ bản nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Sức mạnh cạnh tranh quốc gia, theo cách tiếp cận của “diễn đàn kinh tế thế giới” về đánh giá khả năng cạnh tranh quốc gia đã xếp hạng trên cơ sở

371 chỉ tiêu của 8 nhóm Đó là:

+ Sức cạnh tranh của nền kinh tế, trên cơ sở đánh giá toàn bộ nền kinh tế vĩ mô + Vai trò của Chính phủ trong việc đưa ra các chính sách tạo môi trường cho cạnh tranh

+ Nền tài chính quốc gia, hoạt động thị trường tài chính và chất lượng dịch

vụ tài chính

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất kinh doanh

+ Trình độ quản lý và khả năng thu được lợi nhuận của các doanh nghiệp

Trang 12

+ Trình độ khoa học - công nghệ, cùng với sự thành công trong nghiên cứu

cơ bản và ứng dụng

+ Chất lượng nguồn lực

Như vậy, khả năng cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế bao gồm cả hoạt động kinh tế vĩ mô và vi mô: từ các chính sách của Chính phủ đến trình độ quản lý của doanh nghiệp; từ cơ sở hạ tầng của nền kinh

tế đến khả năng huy động các yếu tố nguồn lực Rõ ràng chỉ có công nghiệp hoá mới có thể thúc đẩy sự phát triển tổng lực của nền kinh tế

* Vai trò của khu công nghiệp

Chủ trương phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung được Đảng khởi xướng từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VI Ban chấp hành Trung ương năm

1994 và được tiếp tục khẳng định tại văn kiện Đại hội XI của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020

KCN, KCX ở nước ta được hình thành và phát triển từ năm 1991, khởi đầu là KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh Trong 24 năm phát triển, kết quả hoạt động của các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh

tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đào tạo cán bộ quản lý, công nhân lành nghề, tạo điều kiện để xử lý các tác động tới môi trường một cách tập trung Các KCN thực

sự đóng vai trò tích cực trong công cuộc CNH, HĐH đất nước

Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế -

kỹ thuật ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm

1990, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định rõ: Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,…tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ XI, 2011)

Trang 13

Qua 24 năm hình thành và phát triển KCN ở Việt Nam, nhiều KCN đã và đang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn, Yiên Phong (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực

đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng

- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của Nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu

tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN

- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô

để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân

cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của

Trang 14

cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương) (Đặng Kim Sơn, 2001)

- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN (Đặng Kim Sơn, 2001)

Quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện

sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng Các KCN đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao trình độ và hiện đại hóa công nghệ, tăng cường khả năng tổ chức quản lý sản xuất và quản lý nhà nước, từ đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong quá trình hội nhập Các KCN cũng thể hiện vai trò không thể thiếu trong việc xây dựng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN nhằm thích ứng với nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại, nó cũng đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước những mục tiêu khắc phục các yếu kém, hạn chế, nâng cao hơn nữa hiệu quả và vai trò của KCN trong các giai đoạn tới, góp phần tích cực hơn nữa vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (Đặng Kim Sơn, 2001)

2.1.3 Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp

Trong những năm qua, các KCN tập trung trong vùng là nhân tố động lực đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng, biến vùng thuần nông thành vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phổ biến trên 10%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP với tốc độ khá nhanh Nhiều tỉnh thuần nông trước đây nhờ phát triển KCN sẽ nhanh trở thành những tỉnh công nghiệp như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương Bộ mặt nông thôn đổi mới

Trang 15

theo hướng văn minh, hiện đại Nhiều nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại, công nghệ cao được xây dựng và phát triển thu hút hàng chục tỉ USD và hàng nghìn tỉ đồng của các nhà đầu

tư trong và ngoài nước Các KCN đã và đang thu hút hàng trăm nghìn lao động nông thôn, tạo ra thị trường sức lao động mới để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội trong vùng Hệ thống kết cấu hạ tầng được xây dựng mới và nâng cấp, nhất là khu vực nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo giảm (Đức Nguyên, 2015) Tại sao phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn? Vì nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế Nông dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% đến 27% GDP của cả nước… Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn

7 triệu ha đất canh tác; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu ) Nông nghiệp, nông thôn còn giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển cụm công nghiệp - dịch vụ

Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực này vẫn thấp (chiếm 10% - 15% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao, trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị trường quốc tế lên xuống bất thường Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước đột phá mạnh Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng

Trang 16

xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song chưa mạnh và không đồng đều Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn Thêm nữa, kinh nghiệm từ các nước trên thế giới và trong khu vực (như Singapo, Thái Lan, Trung Quốc, Thụy Điển, Tây Ban Nha ) đều cho thấy bài học: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước (Phạm Thanh Hà, 2015)

Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính là từng bước để phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Để làm được điều này, cần rất nhiều giải pháp, trong đó một giải pháp quan trọng là phải phát triển dịch vụ và du lịch Với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.1.4 Đặc điểm hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân

* Hộ nông dân có những đặc điểm sau:

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng

- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp,

tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường

- Phương thức tổ chức sản xuất của hộ hông dân mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ gia đình với nhau

- Hộ nông dân ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất khác nhau Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động

phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau

Trang 17

Kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:

- Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất

- Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân

- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động vào sản xuất

- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao và hiệu quả đầu tư thấp

- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực của các chế độ hiện hành gây ra

- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã hội thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài

Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau Trong quá trình tiến hoá ấy hộ nông dân thay đổi mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường (Chu Tiến Quang, 2001)

Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêu tối đa hoá lợi ích Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình Người nông dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để sản xuất nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số của gia đình

Trang 18

Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:

- Khả năng mở rộng diện tích (có thể bằng tăng vụ) có hay không:

- Có thị trường lao động không, vì người nông dân có thể bán sức lao động để tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao

- Có thị trường vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm một ít vật tư (nếu có tiền để mua và có lãi)

- Có thị trường sản phẩm không vì người nông dân phải bán đi một ít sản phẩm để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác

Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường, nhất là thị trường lao động và thị trường vật tư

Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy vậy

mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp Đây là kiểu hộ nông dân “nửa tự cấp” có tiếp xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư Hộ nông dân thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách sản xuất của hộ Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng với giá cả, với thị trường chưa nhiều Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa hoàn

chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định

Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật

tư, lao động và thị trường sản phẩm Tuy vậy, giả thiết rằng người nông dân là người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều công trình nghiên cứu Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ kỹ thuật và quản lý,

do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn chỉnh Đây là một vấn đề đang còn tranh luận Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá, trình

độ kinh doanh của nông dân (Nguyễn Văn Nam, 2014)

* Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân

- Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu tố sản

Trang 19

xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như các tài sản khác của hộ Mặt khác, do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ có ý thức trách nhiệm cao và bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ

- Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa, kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành và đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên, tính thống nhất giữa lao động quản lý

và lao động là rất cao

- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh tế hộ có quy

mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác

có quy mô sản xuất lớn hơn, do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp quy mô khi gặp điều kiện bất lợi

- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của những người lao động Trong khi kinh tế hộ, mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xậy dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi

cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ

- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế hộ nông dân vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy

mô lớn Đặc biệt kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng và vật nuôi Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ: kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả (Đào Thế Tuấn, 1997)

Trang 20

2.1.5 Nội dung nghiên cứu về ảnh hưởng của các khu công nghiệp tới đời sống hộ nông dân

đã tác động tới đời sống của các hộ dân vì họ thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hoá (Lưu Song Hà, 2009)

Để phục vụ các khu công nghiệp, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có hàng chục nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, trong 4 năm từ năm 2011 – 2014, tổng diện tích đất nông nghiệp đã lấy là hơn 300 nghìn ha Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi được thu hồi đất nhiều nhất, trong đó những địa phương đứng đầu là: Thái Nguyên, Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Điều đó tác động tới đời sống khoảng 2 triệu người với gần 600 nghìn hộ nông dân Số liệu cho thấy, trung bình

cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ làm hơn 10 lao động nông dân mất việc

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, năm 2014 xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo Dù vậy không có nghĩa là chúng ta không có nguy cơ mất cân đối an ninh lương thực trong tương lai, nhất là thiếu lương thực cục bộ ở khu vực dân cư nghèo, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, dân số tăng, tình hình thiên tai, dịch bệnh, giá lương thực tăng cao Mục tiêu hàng đầu của nước ta là giữ diện tích lúa ít nhất ở mức 3,8 triệu - 4 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 44-45 triệu tấn lúa/năm như hiện nay thì an ninh lương thực của Việt Nam được bảo đảm Tuy nhiên việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của các hộ dân vì họ thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hoá

Trang 21

* Ảnh hưởng tới môi trường

Việc hình thành các KCN nhằm tạo điều kiện để các chủ doanh nghiệp đầu

tư mở rộng qui mô sản xuất, song thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã nhập dây chuyền công nghệ lạc hậu hàng chục năm Điều này, không chỉ làm giảm sức cạnh tranh, mà còn khiến hoạt động sản xuất không ổn định, gây ô nhiễm môi trường (Phan Tiến Ngọc, 2006)

Việc xử lý chất thải của các nhà máy trước khi thải ra môi trường đang làm đau đầu các nhà quản lý Theo ước tính, mỗi KCN thải khoảng từ 3.000 - 10.000 m3nước thải/ngày đêm Như vậy, tổng lượng nước thải công nghiệp của các KCN trên

cả nước lên khoảng 500.000 - 700.000m3/ngày đêm

Ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, thì chất lượng thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành hoá chất… độc hại cao

Ngoài ra, tại các KCN, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm khó kiểm soát và không được quan tâm Khí thải của các cơ sở sản xuất chứa nhiều chất độc hại được xả trực tiếp vào môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân quanh vùng

Theo kết quả quan trắc, nồng độ chất SO2, CO và NO2 gần KCN hoặc trong các KCN đang gia tăng Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 6 lần Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, công nghiệp hoá chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng sản… trong KCN, nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là khí SO2) trong không khí, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 5 lần

Cùng với đó, người dân đang phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ việc phát triển các KCN ở địa phương, sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sự thoái hoá đất đai do những chất thải độc hại từ KCN gây ra…

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng ô nhiễm môi trường trong KCN, trong đó phải nói đến công tác quy hoạch các KCN còn nhiều điểm không hợp lý, như việc bố trí một số KCN gần đường giao thông, khoảng cách quá gần khu dân

Trang 22

cư Do đó, ô nhiễm trong KCN dễ dàng gây những ảnh hưởng không tốt tới môi trường xung quanh Thêm vào đó là nhận thức về việc bảo vệ môi trường trong các KCN của các cấp chính quyền địa phương chưa cao, chưa đánh giá đúng mức vấn

đề môi trường đối với việc phát triển bền vững Các cơ quan Nhà nước ở địa phương và Trung ương chưa có chế tài và giám sát chặt chẽ việc xây dựng KCN theo quy hoạch và theo đúng dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Do

đó, trong báo cáo khả thi, các hạng mục xử lý nước thải, chất thải và bảo vệ môi trường, trên thực tế không được triển khai Mặt khác, chi phí xây dựng hệ thống xử

lý chất thải cùng với việc chưa có cơ chế hỗ trợ thoả đáng từ phía Nhà nước, là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư chậm triển khai các hệ thống này Chất thải công nghiệp cũng đang là mối nguy cơ đe dọa tới cuộc sống của một số địa phương có KCN đóng trên địa bàn Chất thải công nghiệp chưa được xử lý

kỹ càng, sẽ gây ô nhiễm trầm trọng tới nguồn nước, không khí, tiếng ồn… Về vấn đề này đã có khá nhiều địa phương phải trả giá; đời sống người dân thật sự bị đe dọa Nếu chúng ta không đánh giá đúng và không đưa ra những giải pháp hữu hiệu, tổ chức tốt việc phòng chống ô nhiễm thực tại này sẽ gây những tác hại khôn lường

* Ảnh hưởng tới lao động, việc làm

Việc phát triển khu công nghiệp đã tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động

Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới và mở rộng Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít, thiếu đồng bộ, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp, đang là rào cản cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, văn minh và bền vững Tại các khu công nghiệp, phần lớn lao động vừa mới thoát ra khỏi đồng ruộng hoặc các trường phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề cơ bản Tình trạng thiếu việc làm trong thời vụ đang là khó khăn hiện nay ở nông thôn Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giá cả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh

Trang 23

hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân (Nguyễn Thị Hải Vân, 2014)

* Ảnh hưởng tới thu nhập hộ nông dân

Sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vẫn theo phương thức cũ, nhỏ lẻ, phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp và có nguy cơ kém bền vững trước thiên tai dịch bệnh và biến động của thị trường Diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh do quá trình phát triển các khu công nghiệp, từ đó làm hạn chế cơ hội để nâng cao thu nhập

từ ngành chính là trồng trọt, trong khi khả năng phát triển chăn nuôi, thủy sản và các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế Các sản phẩm rau quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm có sức cạnh tranh thấp

Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trước "vòng xoáy" của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồn tại, chính quyền cơ sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự nghiệt ngã của tình cảnh "nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn" đang là tác nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự do

di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên Họ luôn trong tâm lí lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy "ăn chắc, mặc bền" vẫn là phổ biến, có đồng nào đổ vào "xây nhà xây cửa" chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém (Nguyễn Văn Nam, 2014)

* Ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của các KCN đã đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình đó, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỉ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, góp phần làm thay đổi

về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích

Trang 24

canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỉ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi (Phạm Thanh Hà, 2015)

* Ảnh hưởng tới xã hội nông thôn

Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập

và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giá cả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân

Do thúc đẩy tăng trưởng nhanh các khu công nghiệp nhưng chưa quan tâm giải quyết đúng mức ngay từ đầu những yếu tố hạ tầng xã hội hỗ trợ thiết yếu như: giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao, dẫn đến tình trạng đời sống văn hóa tinh thần của những cộng đồng dân cư mới và công nhân ở trọ xung quanh các khu công nghiệp thực sự bức xúc, đôi khi trở thành nơi sản sinh ra các loại tệ nạn xã hội Nhìn chung việc tổ chức triển khai xây dựng các dự án đều theo đúng trình

tự, đúng qui định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, hiện nay do giá cả thị trường bất động sản luôn biến động, cùng với sự lôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài, nội dung chủ yếu là đòi nâng giá bồi thường, nâng cấp loại đất bồi thường, giảm giá đất tái định cư, v.v làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Sự tập trung cao của lao động tại các KCN đang khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trở thành áp lực lớn đối với chính quyền địa phương và người dân quanh KCN Đó là tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, thiếu các công trình phúc lợi công cộng, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất vẫn là nảy sinh tệ nạn xã hội (Đức Nguyên, 2015)

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng của việc phát triển các khu công nghiệp tới việc làm và đời sống của người lao động

* Các nhân tố phát triển kinh tế - cơ cấu kinh tế:

Quan hệ cung cầu trên thị trường hình thành nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của xã hội

Trang 25

Lao động và đất đai là hai bộ phận cơ bản của sản xuất nông nghiệp, số lượng và chất lượng của lao động có ý nghĩa to lớn đối với cơ cấu ngành trong nông nghiệp và nông thôn

Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng để mở rộng nâng cao giá trị của nông sản hàng hoá, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, nó cũng là tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khoa học công nghệ ngày nay phát triển rất mạnh và đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Cơ chế chính sách là yếu tố chủ quan của Nhà nước tác động vào nền kinh

tế, nhằm mục đích phát triển nền kinh tế đúng hướng và có hiệu quả

Các yếu tố ảnh hưởng khác như nguồn vốn, sự phát triển của các KCN, khu

đô thị, kinh nghiệm, tập quán, truyền thống dân cư ở nông thôn cũng ảnh hưởng tới

sự hình thành và phát triển các ngành sản xuất và kinh tế nông thôn

* Yếu tố phát triển khu công nghiệp

Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến chỗ ở, việc làm của người dân mà còn ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập và đời sống

cả về vật chất lẫn tinh thần của gia đình họ

* Yếu tố xã hội

- Biến động về dân số tự nhiên là do tác động của sinh đẻ và tử vong

- Biến động cơ học là do tác động của quá trình di dân

- Yếu tố giáo dục:

Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời

- Yếu tố ảnh hưởng tiếp theo là y tế và sức khoẻ:

Sức khoẻ có tác động đến chất lượng lao động trong cả hiện tại và tương lai

- Yếu tố về tính kỷ luật và chất lượng lao động:

Ngoài những yếu tố ảnh hưởng trên thì các nhà quản lý cho rằng yếu tố về tính kỷ luật và chất lượng trong lao động ngày nay là rất cần thiết

Trang 26

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công nghiệp

Các khu công nghiệp, thực tế đã trở thành “vườn ươm” hay là nơi thử nghiệm các cơ chế, chính sách mới, tiên tiến như: cơ chế “một cửa tại chỗ”, hay cơ chế “tự bảo đảm tài chính”; nhiều chính sách khác về hoàn thiện thủ tục kiểm hóa hải quan, phát triển hoạt động tài chính - ngân hàng trong các KCN có sự phối hợp của ban quản lý KCN, đã tạo cho môi trường đầu tư tại các KCN trở nên hấp dẫn hơn

Đó là đánh giá của nhóm nghiên cứu về tính bền vững của các KCN trong dự

án VIE/01/021 Kinh nghiệm của một số nước láng giềng cho thấy, phát triển bền vững các KCN là một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

* Chính sách phát triển KCN của Đài Loan

Công tác xây dựng quy hoạch phát triển các KCN ở Đài Loan được tổ chức khoa học và chặt chẽ Trước hết, Cục Công nghiệp thuộc Bộ Kinh tế Đài Loan tiến hành khảo sát, đánh giá tiềm năng, lợi thế so sánh của từng vùng kết hợp với việc

dự báo, đánh giá về xu hướng phát triển khoa học công nghệ, triển vọng thị trường đầu tư và thương mại quốc tế trong thời gian 10 - 20 năm để xây dựng chiến lược và qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế quốc dân, định hướng phát triển ngành nghề theo vùng và khu vực Sau đó, trên cơ sở qui hoạch tổng thể định hướng phát triển của từng vùng và khu vực, các nhà đầu tư xác định khả năng xây dựng các KCN với qui mô thích hợp và lập qui hoạch chi tiết trình cơ quan có thẩm quyền xin phép đầu

tư xây dựng KCN Với cách làm này, việc xây dựng các KCN vừa đảm bảo phù hợp với quy hoạch tổng thể chung, vừa phù hợp với thực tế của địa phương và khả năng của nhà đầu tư, nên tính khả thi của dự án cao

Để đảm bảo cho các KCN hoạt động có hiệu quả, sự phát triển các KCN ở Đài Loan luôn gắn liền với việc xây dựng một hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật và xã hội bên trong và bên ngoài

KCN như: hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp điện nước, các dịch vụ bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, hệ thống xử lí chất thải tập trung Xây dựng các khu đô thị xung quanh, đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực và

Trang 27

dịch vụ tiện ích công nghiệp và đời sống, trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường

Tại các KCN của Đài Loan luôn đảm bảo tỉ lệ kết cấu hợp lí giữa diện tích đất dành cho sản xuất khoảng 60%, đất dành cho xây dựng khu dân cư từ 2,2 - 2,3%, đất dành cho công trình bảo vệ môi trường 33% (trong đó, đất trồng cây xanh khoảng 10%) và đất dành cho phát triển các công trình vui chơi giải trí khoảng 4,7 - 4,8% Qui hoạch xây dựng và phát triển KCN của Đài Loan không phải cố định, mà thường xuyên được kiểm tra và đánh giá lại sự phù hợp giữa qui hoạch và thực tế, nhất là những vấn đề liên quan đến môi trường để kịp thời điều chỉnh, bổ sung Theo quy định hiện hành, việc kiểm tra, đánh giá quy hoạch được tiến hành 3 năm một lần Việc quy hoạch xây dựng các KCN của Đài Loan luôn tuân theo nguyên tắc là khai thác và sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng và toàn lãnh thổ, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào việc phát triển các KCN Vì vậy, nhiều KCN ở Đài Loan được xây dựng tại những vùng đất cằn cỗi hoặc đất lấn biển Việc xây dựng các KCN ở những nơi này không chỉ tiết kiệm được quỹ đất nông nghiệp vốn rất khan hiếm, mà còn giảm thiểu được các chi phí về đền bù, giải phóng mặt bằng và có điều kiện để xây dựng ngay từ đầu một hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ

và hiện đại theo chuẩn mực quốc tế

Về định hướng phát triển KCN, các nhà hoạch định chính sách Đài Loan luôn xác định, để có thể bắt kịp với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế và sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ trên thế giới, trong những năm tới, việc phát triển các KCN tập trung cần được đổi mới theo hướng chuyển thành các KCN có dịch vụ kĩ thuật, công nghệ cao, đáp ứng được nhiệm vụ là nơi tập trung chuyển và chế biến sản phẩm cao cấp cho xuất khẩu và thị trường trong nước

Có thể nói, hệ thống chính sách kinh tế của Đài Loan luôn được hoạch định và điều chỉnh kịp thời khi tình hình kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế thay đổi, nên

nó có tính năng động và tính khả thi cao, thực sự trở thành kim chỉ nam, là đòn bẩy kích thích sự phát triển của các KCN và nền kinh tế (Yu-Kang Mao, 1995)

* Chính sách phát triển KCN của Thái Lan

Thái Lan chỉ có khoảng gần 60 KCN, nhưng lại khá đa dạng: KCN tập trung

Trang 28

phần lớn là các xí nghiệp công nghiệp nặng, chỉ sản xuất hàng hóa để tiêu thụ trong nước chứ không xuất khẩu; KCN tổng hợp gồm các xí nghiệp chủ yếu sản xuất hàng tiêu thụ trong nước, xuất khẩu chỉ chiếm 40% tổng sản phẩm của xí nghiệp, và khu chế biến xuất khẩu Khu sản xuất này phải đạt tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa tới 40% tổng sản phẩm sản xuất của xí nghiệp Ngoài ra Thái Lan cũng có cả nơi bao gồm KCN, KCX, các khu dịch vụ và khu dân cư

Ngay từ đầu Chính phủ Thái Lan đã quan tâm tới vấn đề phát triển bền vững KCN Đó là cung cấp đầy đủ cơ sở hạ tầng cơ bản, có lợi cho các KCN, nhất là ở các thành phố mới và phân phối lại thu nhập cùng với các điều kiện vật chất khác Đối với các doanh nghiệp công nghệ được tập trung vào một số KCN, là điều kiện cho sự chuyển giao khoa học công nghệ giữa các nhà công nghiệp, công nhân làm việc tại đấy được đào tạo dần và ngày càng nâng cao tay nghề (Pasuk Phongpaichit, 1999)

2.2.2 Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu mô hình KCN từ những năm 1991 Các KCN được hình thành đã khẳng định vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; góp phần xóa đói giảm nghèo, và đặc biệt là đã đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế Tuy nhiên, từ những kinh nghiệm của các nước, mà Việt Nam có những mô hình tương tự, chúng ta cũng cần có những bước điều chỉnh cần thiết và kịp thời Trong điều kiện tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, môi trường đầu tư kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, công tác quản lí nhà nước KCN, cũng như bản thân hoạt động của các KCN, đã có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, năng lực, chương trình và trọng tâm công tác để thích nghi với điều kiện mới Nhờ đó, trong năm 2014 các KCN: một mặt tiếp tục đà tăng trưởng như những năm trước, mặt khác có những nét phát triển mới mang tính đột phá

Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu tư tính đến 31/12/2014, cả nước đã có

295 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 84.000 ha, phân bố trên

54 tỉnh, thành phố trên cả nước Trong đó, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 56.000 ha, chiếm 66% diện tích đất công nghiệp Trong đó

212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 60.000ha và 83 KCN đang trong giai đoạn đề bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện

Trang 29

tư đã thực hiện đạt 48,64 tỷ USD Thu hút đầu tư trong nước được 5.464 dự án với tổng vốn đăng ký gần 542.000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện đạt 265.400 tỷ đồng

Các khu kinh tế đã thu hút được 247 dự án đầu tư nước ngoài và 777 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký đạt 36,9 tỷ USD và 541.816 tỷ đồng; vốn giải ngân đạt tương ứng là 36% và 30% tổng vốn đăng ký Tình hình sản xuất kinh doanh trong các khu công nghiệp, khu kinh tế năm 2014 đều tăng trưởng khá: Tổng doanh thu đạt hơn 118 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 73,4 tỷ USD, đóng góp 49% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp vào ngân sách nhà nước hơn 95,5 nghìn tỷ, tạo việc làm cho khoảng 2,4 triệu lao động (Bộ kế hoạch đầu tư, 2014)

2.2.3 Tình hình phát triển các khu công nghiệp ở một số địa phương

* Tình hình quy ho ạch và phát triển các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc

Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 20 KCN được Chính phủ cho phép thành lập với tổng diện tích là trên 5.973ha Trong đó có 9 KCN đã đi vào hoạt động diện tích quy hoạch là 1.739,61ha, tỷ lệ lấp đầy diện tích đã thu hồi là 81,74% Hiện nay cả 9 KCN đã có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng, trong đó có 6 doanh nghiệp là nhà đầu tư trong nước và 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Với quan điểm công tác quy hoạch phải đi trước một bước, quy hoạch phải mang tính tổng thể, đồng bộ, gắn phát triển công nghiệp với phát triển đô thị và dịch

vụ, bảo đảm sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN; khai thác phát triển KCN ở các vùng đồi, vùng đất bạc màu, hạn chế tối đa khai thác quỹ đất trồng lúa cho phát triển công nghiệp, bảo đảm cho sự phát triển bền vững các KCN, Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã phê duyệt quy hoạch phát triển các KCN của tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm

2030 Theo đó, ngoài 9 KCN đã có, dự kiến từ nay đến 2020 tỉnh Vĩnh Phúc có

Trang 30

thêm 11 KCN với diện tích 4.233,4ha Như vậy đến năm 2020, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ có

20 KCN với diện tích 5.973 ha

Tính đến hết tháng 12/2014, trên địa bàn tỉnh có: 123 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 2.430,74 triệu USD, tổng vốn đầu tư đã giải ngân 1.181,49 triệu USD, trong đó 96 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh,

9 dự án đang xây dựng cơ bản và 18 dự án chưa triển khai Các dự án đầu tư nước ngoài đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Ý, Anh, Đức,… trong đó khu vực Đông Bắc á chiếm tỷ lệ lớn với Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc Đặc biệt, có các doanh nghiệp lớn như: Honda, Toyota, Piagio, VPIC1

Đối với các dự án đầu tư trong nước tính đến hết tháng 12/2014 các KCN tại Vĩnh Phúc đã thu hút 30 dự án với số vốn đăng ký đạt 6.343,75 tỷ đồng, vốn đầu tư

đã giải ngân đạt 1.822,7 tỷ động, trong đó 25 dự án đã đi vào hoạt động, 5 dự án đang xây dựng cơ bản

Giá trị sản suất năm 2014 của các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đạt 69.236,76 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 1.192,56 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước 6.505,41 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 48.282 lao động (Trần Hoàn, 2015)

* Tình hình quy ho ạch và phát triển các khu công nghiệp ở Bắc Ninh

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh giai đoạn 2010-2020 được xác định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế xã hội với nhịp độ cao, hiệu qủa, bền vững, khai thác mọi nguồn lực và khuyến khích mọi thành phần kinh

tế trong và ngoài nước, phấn đấu đến năm 2015 Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020…” Trong chiến lược đó, Bắc Ninh lựa chọn khâu đột phá để tăng trưởng kinh tế là đầu

tư phát triển các khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp đa nghề và làng nghề, đây chính là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển một nền kinh

tế toàn diện và bền vững trong sự nghiệp CNH, HĐH

Xác định phát triển các KCN chính là động lực để đẩy nhanh thu hút nguồn vốn đầu tư vào tỉnh, vì vậy Bắc Ninh đã quan tâm và tập trung phát triển các KCN Kết quả là năm 2000 Bắc Ninh mới chỉ có một KCN được thành lập với tổng diện

Trang 31

tích giai đoạn I là 134 ha (KCN Tiên Sơn), đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 15 KCN với tổng diện tích 5.111,5 ha, trong đó có 9 khu đã đi vào hoạt động; còn lại 6 khu đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Các KCN đã tham gia vào việc phân bố, điều chỉnh lại không gian kinh tế - xã hội của tỉnh, thể hiện rõ nhất là thúc đẩy phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, nước, giao thông vận tải và tạo sự phát triển đồng đều, hỗ trợ lẫn nhau giữa khu vực phía Bắc sông Đuống (phát triển công nghiệp và dịch vụ) và phía Nam sông Đuống (phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa)

Song song với thành công trong công tác quy hoạch phát triển các KCN, công tác xúc tiến và thu hút đầu tư vào các KCN thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả khá ấn tượng, làm thay đổi diện mạo mới cho ngành công nghiệp, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đến 31/5/2015 các KCN Bắc Ninh đã thu hút được 531 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 7,492 tỷ USD, và 328 dự án trong nước với số vốn đăng ký 30.984,2 tỷ đồng đã cho thuê 3.476,41 ha đất công nghiệp, chủ yếu là dự án đầu tư nước ngoài của các tập đoàn kinh tế có thương hiệu khu vực và toàn cầu trong các lĩnh vực điện, điện tử, viễn thông công nghệ cao: Canon 2 dự án, Sumitomo, Foxconn, Samsung, Microsoft, Longtech, Mitac Đặc biệt thu hút được một số dự án hạ tầng KCN thuộc các tập đoàn lớn: VSIP Bắc Ninh (Singapore), Tập đoàn IGS (Hàn Quốc), Foxconn (Honghai)… KCN cũng đã chuyển hướng xúc tiến đầu tư theo chuỗi (các tập đoàn lớn và cụm các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN, nhà đầu tư tài chính) để kéo theo nhiều nhà đầu tư thứ cấp khác tạo giá trị gia tăng cao, thay thế hình thức xúc tiến đơn lẻ trước đây

Hoạt động quản lý SXKD của các doanh nghiệp KCN có bước tăng trưởng lớn cả về số lượng và chất lượng Đến 31/5/2015 đã có 505 dự án đi vào hoạt động, giá trị SXCN 5 tháng đầu năm 2015 đạt 149.409 tỷ đồng, nộp Ngân sách đạt 1.951

tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 7.459 tr.USD, tạo việc làm 189.564 lao động Các KCN đã đóng góp trên 90% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh Kết quả trên là cơ sở để Bắc Ninh xác lập phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn trong thời gian tới, mà trọng tâm là ngành công nghiệp điện tử và công nghệ cao (Ban quản lý KCN tỉnh Bắc Ninh, 2015)

Trang 32

2.2.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Tiên Du

Năm 2014, phát huy mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển để duy trì nhịp độ tăng trưởng và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác nông nghiệp; quan tâm phát triển văn hoá, y tế, giáo dục đi liền với ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính thu hút đầu tư

Huyện Tiên Du coi công tác cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, bồi thường giải phóng mặt bằng, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu

đô thị, là khâu đột phá trong quá trình đưa địa phương sớm trở thành huyện công nghiệp, góp phần xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động Huyện đã thực hiện giải phóng mặt bằng, công khai phương án đền bù đến toàn thể nhân dân, chọn những cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức để giao nhiệm vụ, lấy chi bộ và đảng viên là hạt nhân đi đầu; lựa chọn các doanh nghiệp có đủ năng lực để đảm bảo đầu tư hiệu quả; biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân gương mẫu trong công tác giải phóng mặt bằng Bên cạnh đó huyện Tiên Du đã thực hiện cải cách từ việc rà soát văn bản, rà soát thủ tục hành chính để sửa đổi, bổ sung, loại bỏ các thủ tục không còn phù hợp gây phiền hà, cản trở công việc của nhân dân và các doanh nghiệp Ngoài ra huyện còn làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân để chấn chỉnh kỉ luật, kỉ cương hành chính; công khai hoá qui trình giải quyết thủ tục hành chính; kiện toàn sắp xếp lại tổ chức bộ máy; thực hiện tốt cơ chế một cửa liên thông…

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh Bắc Ninh với quyết tâm chính trị cao của tập thể lãnh đạo và sự đồng thuận của nhân dân trong huyện, với cách làm bài bản, nhanh chóng, đến tháng 5/2015 huyện Tiên Du đã có 4 Khu công nghiệp, 1 cụm công nghiệp được quy hoạch, đầu tư hạ tầng và đi vào hoạt động Kết quả thu hút đầu tư khá ấn tượng với 222 dự án FDI số vốn đầu tư 2.129,8 triệu USD, dự án của các doanh nghiệp trong nước 239 dự án với số vốn đầu tư: 18.527,2 tỷ đồng, trong đó có 461 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động Qui mô hơn một nghìn ha đầu tư

Trang 33

phát triển công nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Một số dự án trọng điểm như: Canon, Microsoft, Vinamilk, VSIP, Pepsi, sumitomo…

Với những kết quả đạt được trong những năm qua đã đưa Tiên Du trở thành điểm sáng của tỉnh Bắc Ninh về thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2010 – 2014 đạt 8,5%/ năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 42,2 triệu đồng/năm Năm 2014 giá trị sản xuất mà các doanh nghiệp tạo ra là 33.427 tỉ đồng, diện tích đất đã quy hoạch giành cho phát triển các KCN hơn 1.500 ha, diện tích đất đã thu hồi xây dựng các KCN khoảng 1.000ha, các KCN đang hoạt động đã giải quyết việc làm cho 57.742 lao động Tạo

ra động lực mới cho nhiều ngành nghề dịch vụ phát triển, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định

và giữ vững, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được củng cố, hệ thống Nhà nước pháp quyền hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả cao hơn

2.2.5 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nguyễn Tiệp, chủ nhiệm đề tài cấp bộ năm 2005 về "Xây dựng một số mô hình tạo việc làm đối với lao động bị mất việc làm tại các vùng chuyển đổi mục đích

sử dụng đất" của trường Đại học Lao động Thương binh - Xã hội Đề tài đã nêu cơ

sở lý luận của việc xây dựng mô hình tạo việc làm cho lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất; đề tài cũng đi sâu đánh giá tác động của chuyển đổi mục đích sử đất đối với lao động, việc làm thông qua 3 địa phương: ngoại thành

Hà Nội, Hải Dương và Vĩnh Phúc Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra quan điểm và một

số mô hình tạo việc làm cho lao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại ngoại thành Hà Nội, Hải Dương và Vĩnh Phúc kèm theo các giải pháp và điều kiện áp dụng Đề tài nghiên cứu công phu vấn đề việc làm cho lao động thất nghiệp sau khi thu hồi đất

Lê Du Phong (2007) đã chủ biên cuốn sách "Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia" do nhà

xuất bản chính trị quốc gia ban hành Cuốn sách đã nêu một số vấn đề lý luận và

Trang 34

thực tiễn về thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia Đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi, làm rõ những khó khăn tồn tại thông qua những vấn

đề bức xúc đang đặt ra Trên cơ sở đó, cuốn sách đã nêu các quan điểm và 3 nhóm giải pháp chủ yếu mang tính khả thi đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi, đó là: cơ chế chính sách; tổ chức quản lý; công tác chỉ đạo và thực hiện Tuy nhiên, phạm vi đề cập của cuốn sách tập trung vào thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi trong phạm vi khá rộng về mục đích sử dụng đất và không gian nghiên cứu trong phạm vi cả nước Vì vậy, vấn đề việc làm của người có đất bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp cần phải có một nghiên cứu sâu hơn trong phạm vi hẹp (cấp thành phố)

Nghiên cứu của Bùi Thị Ngọc Lan (2007), Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã có bài đăng tạp chí Bảo hiểm xã hội số 08 năm 2007 về

"Những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển đô thị

và khu công nghiệp" Nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra sau

thu hồi đất để phát triển đô thị và khu công nghiệp đó là: (1) Một bộ phận nông dân

bị thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống; (2) Nhiều điểm nóng phát sinh tình trạng khiếu kiện kéo dài; (3) Tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng; (4) Tình trạng di dân có tổ chức hoặc tự phát gây khó khăn trong việc quản lý các nơi đi và đến Trên cơ sở những bức xúc đặt ra nghiên cứu đã nêu 6 giải pháp khá thuyết phục: Rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể về sử dụng đất nông nghiệp; Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, các cấp, các ngành trong việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và khu đô thị; đào tạo nghề cho người lao động nhất là thanh niên nông thôn; nghiên cứu bổ sung sửa đổi việc thực hiện chính sách bồi thường đất nông nghiệp; tổng kết, nhân rộng mô hình thực hiện tốt việc thu hồi đất; phát triển khu công nghiệp, đô thị mới theo hướng công viên công nghiệp Đây thực sự là hướng mở cho các nghiên cứu tiếp sâu hơn

về việc làm cho người dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tuyết (2009) về “Nghiên cứu về ảnh

Trang 35

hưởng của phát triển khu công nghiệp đến việc làm của lao động nông thôn ở vùng đông Huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội năm 2009” đã nhận định quá trình phát

triển khu công nghiệp những những đã tạo nên cho xã hội phát triển theo hhướng công nghiệp mà còn thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp và dịch vụ là tiền đề cốt yếu cho nền kinh tế địa phương và quốc gia

Phát triển khu công nghiệp còn góp phần vào việc cải tạo bộ mặt nông thôn Tuy nhiên phát triển khu công nghiệp có những mặt hạn chế đó là làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và một số vấn đề tiêu cực, việc mở dụng khu công nghiệp thì đồng nghĩa với nó là diện tích đất khu công nghiệp tăng lên, diện tích đất nông nghiệp sẽ bị giảm đi và dẫn đến nhiều hộ dân mất đất, số lao động sản xuất nông nghiệp dẫn tới việc làm không ổn định, trình độ có hạn nên việc xin vào các công ty, doanh nghiệp là vấn đề không hề dễ đối với họ

Quá trình phát triển khu công nghiệp của vùng Đông huyện Chương Mỹ trong những năm vừa qua có những tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Chương Mỹ nói chung và cơ cấu kinh tế trong khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng Hệ thống cơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện và

mở rộng theo hướng công nghiệp, đời sống của người dân được nâng lên cả về mặt

số lượng và chất lượng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động đã dần đi theo hướng công nghiệp Tuy nhiên bên cạnh vẫn còn những tồn tại Qua việc dự báo nhu cầu

sử dụng lao động trong tương lai của các khu công nghiệp và bằng việc phân tích những cơ hội và thách thức, thuận lợi và khó khăn của người nông dân vùng bị quy hoạch khu công nghiệp đề tài đề xuất một số giải phát giải quyết việc làm cho lao động cuãgn như giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội, trong giai đoạn tiếp theo giải quyết tốt các vấn đề của khu công nghiệp của huyện Chương Mỹ và vận dụng đồng

bộ các giải pháp như: đền bù giải phóng mặt bằng, đào tạo lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng cường cho vay vốn tín dụng cho các

hộ có vốn để mở rộng phát triển sản xuất, phát triển khoa học công nghệ và các giải phát về môi trường

Trang 36

III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Tiên Du là huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 5 km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Bắc Phía Bắc giáp Thành phố Bắc Ninh, huyện Yên Phong, Phía Nam giáp huyện Thuận Thành, Phía

Đông giáp huyện Quế Võ, Phía Tây giáp Thị xã Từ Sơn

Tiên Du có 14 đơn vị hành chính gồm: 01 thị trấn (thị trấn Lim) và 13 xã (Liên Bão, Đại Đồng, Phật Tích, Hiên Vân, Lạc Vệ, Nội Duệ, Tri Phương, Hoàn Sơn, Tân Chi, Minh Đạo, Cảnh Hưng, Việt Đoàn và xã Phú Lâm) Với tổng diện tích tự nhiên là 9.568,65 ha, chiếm 11,63% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Có các tuyến đường bộ QL1A và tuyến đường sắt đi qua địa bàn huyện nối liền với Thành phố Bắc Ninh và thủ đô Hà Nội Có QL38 với cầu Hồ qua sông Đuống đi Hải Dương, Hưng Yên và thông thương với thành phố Hải Phòng (nơi có cảng biển Quốc tế) Ngoài ra, huyện còn có các đường TL276, TL287 cùng với hệ thống các tuyến đường huyện và đường sông Đuống chảy qua, hình thành nên mạng lưới giao thông thuỷ, bộ rất thuận lợi Với vị trí địa lý thuận lợi như trên, đã tạo nên nhiều lợi thế cho huyện Tiên Du trong phát triển sản xuất, thu hút vốn đầu tư và

mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, vùng Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội

Hệ thống thuỷ văn của huyện Tiên Du thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, kể cả vào mùa khô Mặt khác, sông Đuống có hàm lượng phù sa nhiều, vào mùa mưa trung bình cứ 1m3 nước có khoảng 2,8 kg phù sa Lượng phù

sa khá lớn này đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng phù

sa màu mỡ ven sông của huyện

Điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cũng cần phải chú ý đến các hiện tượng bất lợi như nắng nóng, lạnh, khô hạn và lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa để có kế hoạch chỉ đạo sản xuất cho hợp lý Yếu tố hạn chế nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc sản xuất

Trang 37

3.1.2 Đặc điểm về điều kiện đất đai

Huyện Tiên Du nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình Tiên Du tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát triển rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày

Bảng 3.1 Thống kê đất đai của huyện Tiên Du

Đơn vị tính: ha

(2014-2010) Tổng diện tích đất đai (1+2+3) 9.568,65 9.568,65 Tăng Giảm

Nguồn Phòng tài nguyên – môi trường huyện Tiên Du

Qua bảng thống kê đất đai huyện Tiên Du giai đoạn 2010-2014 cho thấy tính đến ngày 31/12/2014 tổng diện tích đất tự nhiên huyện Tiên Du là 9568,65ha,

Trong đó:

- Đất nông nghiệp: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 4.914,01ha, chiếm

51,3% so với diện tích đất tự nhiên, giảm 224,88ha so với năm 2010 Diện tích đất lâm nghiệp 164,64ha, chiếm 1,72% diện tích đất tự nhiên, giảm 42,42ha so với năm 2010 Đất nuôi trồng thủy sản với diện tích 313,55 ha, chiếm 3,27% diện tích đất tự nhiên, giảm 86,99ha so với năm 2010 Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện giảm mạnh là do thu hồi đất chuyển sang phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư và các

Trang 38

công trình phúc lợi công cộng

- Đất phi nông nghiệp: Diện tích 4.090,55 ha, chiếm 42,75% diện tích tự

nhiên, tăng 347,7ha so với năm 2010 Trong đó: Đất ở 1.149,3ha tăng 48,87ha so

với năm 2010, đất chuyên dùng 2.941,25ha tăng 298,83ha so với năm 2010

- Đất chưa sử dụng: Diện tích đất chưa sử dụng năm 2014 có 12,2 ha, chiếm

0,62% diện tích tự nhiên, giảm 47,19ha so với năm 2010 trong đó chủ yếu là đất bằng chưa sử dụng

3.1.3 Đặc điểm về kinh tế xã hội

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tiên Du lần thứ XVI, nhiệm

kỳ 2010-2015 với những thuận lợi cơ bản: Sau gần 20 năm tái lập tỉnh, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ổn định và có bước phát triển mới đạt nhiều thành tựu to lớn; là huyện có nhiều lợi thế và tiềm năng, hệ thống giao thông thuận lợi; Đảng bộ

và nhân dân có bề dày truyền thống văn hiến và cách mạng; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố vững chắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao

Kinh tế Tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tổng sản phẩm trên địa bàn huyện (GRDP) theo giá so sánh 2010 giai đoạn 2010-2014 tăng bình quân 8,5%/năm; trong đó: Công nghiệp - XDCB tăng bình quân 9,4%; thương mại, dịch vụ tăng 8,9%; nông-lâm-thủy sản tăng 1,9% Cơ cấu kinh tế theo ngành năm 2014: Công nghiệp-XDCB 73,8%, thương mại-dịch vụ 17,5%, nông-lâm nghiệp thủy sản 8,7% Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 35,5 triệu đồng/người/năm

Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp-thuỷ sản năm 2014 ước đạt 1.168 tỷ đồng;

tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 37,9%, ngành chăn nuôi 46,1%, tăng 0,4%; thủy sản 8,1% và lâm nghiệp 0,5%

Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, tiếp tục thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện tăng nhanh; năm 2014 đạt 33.427 tỷ đồng (theo giá HH), trong đó CN-TTCN địa phương đạt 11.081 tỷ đồng

Trang 39

Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cùa huyện Tiên Du

Tr đó: - Công nghiệp, xây dựng Tỷ đồng 3.939,9 4.167,9 4.532,1 4.620,6 105,5

Tr đó: - Công nghiệp, xây dựng Tỷ đồng 4.441,6 5.320,9 5.830,9 6.154,9 111,5

Trang 40

Nội dung Đơn vị

3.Giá trị SX nông nghiệp (giá HH) Tỷ đồng 1.176,8 1.168,8 1.143,3 1.168,0 99,7 4.Tổng giá trị SX công nghiệp (giá HH) Tỷ đồng 25.474,0 29.486,0 32.079,0 33.427,0 109,4 5.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ Tỷ đồng 1.810 2.555 2.936 3.443 123,9

Nguồn Phòng thống kê huyện Tiên Du, 2014

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thống kê đất đai của  huyện Tiên Du - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Thống kê đất đai của huyện Tiên Du (Trang 37)
Bảng 3.3. Hiện trạng dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2014 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3. Hiện trạng dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2014 (Trang 42)
Hình 4.1. Diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Hình 4.1. Diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất (Trang 54)
Bảng 4.2. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn Huyện Tiên Du - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn Huyện Tiên Du (Trang 55)
Bảng 4.3. Tình hình thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ của các hộ dân để phát triển khu công nghiệp - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Tình hình thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ của các hộ dân để phát triển khu công nghiệp (Trang 62)
Bảng 4.5. Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ trước và sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5. Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ trước và sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp (Trang 66)
Bảng 4.6. Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6. Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra (Trang 69)
Hình 4.2. Tình trạng việc làm trước và sau khi phát triển khu công nghiệp - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Hình 4.2. Tình trạng việc làm trước và sau khi phát triển khu công nghiệp (Trang 71)
Bảng 4.8. Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8. Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ (Trang 73)
Bảng 4.9. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn (Trang 74)
Bảng 4.10. Bình quân thu nhập trên hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10. Bình quân thu nhập trên hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu hồi đất (Trang 76)
Bảng 4.11. Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập của các hộ dân - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.11. Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập của các hộ dân (Trang 78)
Bảng 4.13. Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của môi trường - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.13. Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của môi trường (Trang 82)
Bảng 4.15. Ảnh hưởng đến đời sống văn hoá - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.15. Ảnh hưởng đến đời sống văn hoá (Trang 86)
II.2. Hình thức bồi thường - Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh
2. Hình thức bồi thường (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w