1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội

109 410 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 22,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hình xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi là một trong những bài toán nan giải trong quá trình vận động và phát

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến đời sống và việc làm của người dân 4

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất .4

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống, việc làm 5

1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình phát triển ở nước ta .8

1.1.4 Ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống và việc làm của các hộ nông dân 10

1.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về giải quyết đời sống và việc làm của người dân khi bị thu hồi đất 15

1.2.1 Đối với Trung Quốc 15

1.2.2 Đài Loan 18

1.2.3 Nhật Bản 19

Trang 2

1.3 Chính sách thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống và đào

tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi 20

1.3.1 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ trước khi có Luật đất đai năm 1993 20

1.3.2 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ khi có Luật đất đai năm 1993 đến Luật đất đai năm 2003 21

1.3.3 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật đất đai năm 2003 đến nay 22

1.4 Sự cần thiết phải đào tạo nghề, giải quyết việc làm và kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi 23

1.4.1 Sự cần thiết phải đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi 23

1.4.2 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp ở một số địa phương của Việt Nam 26

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất sản xuất ở Việt Nam 30

1.5 Đánh giá chung 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Nam Từ Liêm 33

2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại địa bàn quận Nam Từ Liêm 33

2.2.3 Thực trạng chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận Nam Từ Liêm 34

2.2.4 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người có đất nông nghiệp bị thu hồi tại địa bàn điều tra 34

Trang 3

2.2.5 Đề xuất giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có

đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn điều tra 34

2.3 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34

2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 35

2.3.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 35

2.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp 36

2.3.5 Phương pháp phân tích, so sánh 36

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Nam Từ Liêm 37

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

3.1.3 Đánh giá chung 43

3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 45

3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 45

3.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 48

3.3 Thực trạng chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 51

3.3.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 51 3.3.2 Tình hình thu hồi đất tại 3 phường điều tra 53

3.3.3 Đánh giá về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và các chính sách khác đối với hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi 55

3.4 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi tại địa bàn điều tra 61

3.4.1 Sự thay đổi về diện tích đất nông nghiệp 61

3.4.2 Sự thay đổi về cơ cấu lao động 63

3.4.3 Sự thay đổi việc làm 68

Trang 4

3.4.4 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đến đời sống của người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 71

3.4.5 Sự thay đổi về thu nhập và cơ cấu thu nhập 74

3.4.6 Tác động đến việc phát triển cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội 79

3.4.7 Tác động đến môi trường 82

3.4.8 Tác động đến một số vấn đề xã hội khác 83

3.4.9 Đánh giá chung về ảnh hưởng của thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến đời sống và việc làm của người dân 85

3.5 Đề xuất giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi tại địa bàn điều tra 86

3.5.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 86

3.5.2 Nhóm giải pháp về tổ chức và quản lý 88

3.5.3 Nhóm giải pháp về công tác chỉ đạo và thực hiện 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

Kết luận 92

Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH-ĐTH : Công nghiệp hóa, đô thị hóa GPMB : Giải phóng mặt bằng

KCN : Khu công nghiệp KĐT : Khu đô thị LĐĐ : Luật đất đai NĐ-CP : Nghị định - Chính phủ

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Cơ cấu kinh tế quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2013 -2014 40

3.2 Biến động các loại đất quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2010 - 2014 49

3.3 Cơ cấu đất nông nghiệp quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2010-2014 50

3.4 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi giai đoạn 2010 - 2014 tại quận Nam Từ Liêm 51

3.5 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở 3 phường giai đoạn 2010 - 2014 53

3.6 Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp 56

3.7 Tổng hợp ý kiến của người dân về mức giá bồi thường đất nông nghiệp, hoa màu và công trình xây dựng trên đất 60

3.8 Biến động về đất nông nghiệp trong nhóm hộ điều tra 62

3.9 Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ trước và sau khi thu hồi đất 64

3.10 Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra 66

3.11 Bình quân thu nhập trên hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu hồi đất 75

3.12 Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 76

3.13 Kết quả điều tra khảo sát về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội 80

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Sơ đồ vị trí quận Nam Từ Liêm 37

3.2 Cơ cấu, diện tích các loại đất quận Nam Từ Liêm năm 2010 và 2014 50

3.3 Diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi tại các phường điều tra 53

3.4 Dự án khu đô thị mới Xuân Phương tại phường Xuân Phương 54

3.5 Diện tích đất nông nghiệp còn lại phường Tây Mỗ 54

3.6 Ý kiến của người bị thu hồi về thông báo trước khi thu hồi đất 57

3.7 Hiểu biết của người dân về mục đích thu hồi đất 58

3.8 Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 66

3.9 Cơ cấu lao động theo độ tuổi của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 68 3.10 Sự thay đổi việc làm của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 69

3.11 Ý kiến của người dân về việc sử dụng tiền bồi thường 73

3.12 Kết quả điều tra khảo sát về tình hình cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội sau khi thu hồi đất 80

3.13 Nhà ở khu đô thị Viglacera tại phường Xuân Phương 81

3.14 Trường Tiểu học Nam Từ Liêm 81

3.15 Ý kiến của người dân tại địa bàn điều tra về chất lượng môi trường sau khi thu hồi đất 82

3.16 Ý kiến của người dân về trật tự, an toàn xã hội sau khi thu hồi đất 84

3.17 Ý kiến của các hộ điều tra về mối quan hệ gia đình sau khi thu hồi đất 84

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH - HĐH) và đô thị hoá (ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy CNH - HĐH và ĐTH là nhân tố quyết định làm thay đổi phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới, hiện đại Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Để đẩy mạnh CNH -HĐH, ĐTH cần phải thực hiện việc thu hồi đất cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, đó là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển

Ở nước ta, việc thu hồi đất phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH và ĐTH được chú trọng từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, đặc biệt được đẩy mạnh từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và đến Đại hội XI vẫn được nhấn mạnh: huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH - HĐH đất nước Trong những năm qua, trên khắp các vùng, miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng cấp, xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt kinh

tế - xã hội của đất nước đã nhanh chóng theo hướng CNH - HĐH và văn minh Việc thu hồi đất nông nghiệp cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng dẫn đến đất dành cho sản xuất nông nghiệp của người dân bị thu hẹp, phải thay đổi điều kiện sống Thực

tế cho thấy diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi tập trung chủ yếu nằm ở những khu vực đông dân, có tốc độ phát triển nhanh như các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam Bộ,

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thu hồi đất nông nghiệp đã phát sinh nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân và phần nào ảnh hưởng tới tình

Trang 9

hình xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi là một trong những bài toán nan giải trong quá trình vận động và phát triển kinh tế theo hướng CNH-HĐH đất nước

Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và được các địa phương nỗ lực vận dụng để giải quyết các vấn đề bồi thường, hỗ trợ, vấn đề chuyển đổi nghề và đào tạo việc làm, hỗ trợ ổn định đời sống cho người dân có đất bị thu hồi Tuy nhiên, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt của bộ phận dân cư bị thu hồi đất nông nghiệp vẫn đang là vấn đề bức xúc trong xã hội

Thành phố Hà Nội là nơi đất chật, người đông, cũng là nơi có tốc độ ĐTH nhanh nhất so với các địa phương khác trong phạm vi cả nước Quá trình thu hồi đất nông nghiệp diễn ra ngày càng tăng, đặc biệt là khi địa giới hành chính thành phố Hà Nội được mở rộng

Quận Nam Từ Liêm là một trọng điểm phát triển kinh tế, xã hội phía Tây Bắc thành phố Hà Nội Thời gian gần đây diện tích đất nông nghiệp của quận nhanh chóng bị thu hẹp nhường chỗ cho các khu đô thị, trung tâm thương mại và một số các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh vùng quy hoạch cũng được cải tạo và nâng cấp đồng bộ Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng cơ sở ngày càng được cải thiện hơn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động của ĐTH đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, không thể không đề cập tới những tác động của nó đối với vấn đề lao động - việc làm Trong khi lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn thì vấn đề đảm bảo điều kiện sống và việc làm cho nông dân trở nên gay gắt và bức xúc

Nhằm kịp thời có những giải pháp tích cực trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

bức xúc hiện nay, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển

đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội” là rất cần thiết

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống trước mắt và lâu dài cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi tại địa bàn quận Nam Từ Liêm

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn để đánh giá chung về tình hình đời sống, việc làm của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra hiện nay ở quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội Đồng thời, là tài liệu tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương đồng về phát triển đô thị

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến đời sống và việc làm của người dân

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Theo Luật Đất đai và đại từ điển Tiếng Việt các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử

dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Chuyển mục đích sử dụng đất là thay đổi mục đích sử dụng đất theo quy

hoạch sử dụng đất được duyệt bằng quyết định hành chính (trong trường hợp phải xin phép) khi người sử dụng đất có yêu cầu (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2003)

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền

sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi

đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà

nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với

một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013)

Khái niệm về việc làm: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập và không bị

pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm (Quốc hội nước cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, 1994)

Theo định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;

Trang 12

- Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật

Khái niệm việc làm theo Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng, cụ thể như: những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở, đến các hoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi là việc làm), các công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình, đều được coi là việc làm

Khái niệm về đời sống: Đời sống của con người được thể hiện thông qua

thu nhập, điều kiện sống của mỗi con người, đó là chất lượng sống

Chất lượng đời sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã hội, trước hết là những nhu cầu vật chất cơ bản tối thiểu của con người Sau đó, là điều kiện nảy sinh các nhu cầu tinh thần Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng đời sống càng cao (Nguyễn Kim Thoa, 2003)

Chất lượng cuộc sống còn thể hiện ở sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được (Nguyễn Kim Thoa, 2003)

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống, việc làm

1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống

a Thu nhập: Thu nhập của một cá nhân hay hộ gia đình quy ra tiền trong một khoảng thời gian nhất định là số tiền chi cho tiêu dùng cộng với sự thay đổi giá trị của tài sản tính bằng tiền trong khoảng thời gian đó Thu nhập bằng tiền là luồng tiền mà một cá nhân hay gia đình nhận được từ mọi nguồn như lương, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức từ vốn tài chính như tiền lãi, lãi cổ phần, chuyển giao, vv

b Chất lượng cuộc sống: Có liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói chung và nhu cầu của con người nói riêng Chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm, mà còn là môi

Trang 13

trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe và tinh thần, giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư

1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm

a Yếu tố khách quan:

- Tình hình kinh tế - xã hội: Tình hình kinh tế - xã hội phát triển, kinh tế thịnh vượng, kéo theo sự phát triển của các doanh nghiệp và đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Sự suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp giảm tốc

độ, tạm dừng sản xuất kinh doanh hoặc phá sản, kéo theo hàng vạn lao động thất nghiệp, không có cơ hội tìm kiếm việc làm;

- Chính sách lao động và việc làm trong xã hội: Đây là một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển

xã hội chính sách việc làm còn bao gồm các giải pháp trợ giúp cho các loại đối tượng đặc biệt (người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội, người hồi hương ) có cơ hội

và điều kiện được làm việc (Nguyễn Hữu Đoàn, Nguyễn Đình Hương, 2002)

Cũng như các chính sách xã hội khác, chính sách việc làm rất đa dạng và phong phú, có thể phân loại như: các chính sách ở tầng vĩ mô, có mục đích mở rộng và phát triển việc làm cho lao động toàn xã hội bao gồm chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động; các chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao động như chính sách phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ, chính sách phát triển khu vực kinh tế phi hình thức, chính sách di dân phát triển vùng kinh tế mới, chính sách tự do di chuyển lao động và hành nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài… chính sách việc làm cho các đối tượng đặc biệt (người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội)

Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh khỏi Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo ra chỗ làm mới, mặt khác phải tránh cho người lao động đang làm việc lâm vào tình trạng thất nghiệp Ngoài ra, phải có hệ thống bảo hiểm cho người lao động khi họ

bị thất nghiệp Thực hiện tốt các chính sách việc làm, nguồn lao động được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm xuống, giảm được chi phí

Trang 14

cho các trợ cấp thất nghiệp Ngược lại, khi chính sách việc làm chưa được giải quyết tốt, nhất là vào thời kỳ kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên và các

tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh Khi đó gánh nặng của chính sách về bảo đảm

xã hội, an ninh xã hội sẽ tăng lên Đặc biệt nếu giải quyết không tốt chính sách việc làm còn có thể gây bất ổn về chính trị xã hội

Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng: Đất đai cùng tài nguyên sinh vật trên đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt của con người tác động vào

nó tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu phát triển của xã hội Diện tích đất canh tác, mặt nước càng lớn tài nguyên nông lâm sản càng phong phú thì khả năng tạo việc làm càng nhiều

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc cũng là yếu tố gián tiếp góp phần tạo việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm Việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cộng đồng dân cư sẽ tạo khả năng thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm trong từng cộng đồng (Nguyễn Thị Hải Vân, 2005)

- Dân số - nguồn lao động: Dân số và việc làm vừa có quan hệ tương hỗ, vừa hạn chế lẫn nhau Quy mô dân số lớn, dân số tăng nhanh tất yếu sẽ làm tăng nguồn lao động và đồng nghĩa với tăng sức ép về giải quyết việc làm với mỗi thành viên và cộng đồng gây ra tình trạng thất nghiệp trong xã hội Mặt khác, lao động là nguồn lực rất cơ bản để phát triển kinh tế Khi kinh tế phát triển thì khả năng tạo việc làm trong xã hội càng nhiều Giải quyết mối quan hệ dân số và việc làm là vấn đề nan giải của mỗi quốc gia Chính phủ phải luôn đối phó với xu hướng gia tăng số lượng lao động với quy mô lớn hơn tốc độ gia tăng số chỗ việc làm không kém phần quan trọng là phải nâng cao chất lượng nguồn lao động - một yếu tố tác động trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm trong xã hội (Hội

khoa học đất Việt Nam - Dự án Enable, 2009)

b Yếu tố chủ quan

- Trình độ lao động: Người lao động chủ quan trong việc đầu tư đạo tạo nghề, thiếu đào tạo hoặc không được đào tạo cơ bản; trình độ văn hoá thấp, nhận thức hiểu biết về khoa học kỹ thuật không cao, chưa có kinh nghiêm trong tổ chức và sản xuất;

Trang 15

- Sức khỏe của người lao động: Đây là một trong những yếu tố anh hưởng đến chất lượng lao động và ảnh hưởng đến việc làm của người lao động

1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình phát triển ở nước ta

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH - HĐH là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi

cơ bản đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hoá được coi là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay Cùng với quá trình CNH - ĐTH được coi như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong

đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp -

xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lượng khai thác và sử dụng nước sạch tăng, ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở về vệ sinh môi trường,…

Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, thì phải đẩy mạnh CNH - HĐH đất

Trang 16

nước, đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống, vật chất và tinh thần của nhân dân Cũng như ở các quốc gia khác, CNH - HĐH ở nước ta tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá Tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh thì trình độ đô thị hoá càng cao Đô thị hoá là quan hệ hệ quả tất yếu của CNH - HĐH Đô thị hoá và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ hiện đại hoá Về thực chất, CNH - HĐH là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm mạnh lao động nông nghiệp Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị

Đến nay, tuy mức độ CNH - HĐH ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh, nhưng so với thế giới thì Việt Nam vẫn ở mức thấp Theo báo cáo thống

kê của Liên Hợp Quốc, các nước công nghiệp phát triển cho thấy trình độ đô thị hoá của nước ta thấp hơn nhiều Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2008 của Việt Nam chỉ đạt 471 USD, ngược lại các nước có nền kinh tế công nghiệp mới có mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người cao hơn gấp 5 đến 24 lần, các nước G7 cao hơn gấp 60 đến 80 lần Đến năm 2011, với sự bứt phá mạnh thì Việt Nam cũng chỉ đạt 1.300 USD/năm

Trước tình hình trên, Việt Nam phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH - HĐH, như là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự phát triển Trên thực tế, đối với nước ta quá trình CNH - HĐH đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại

và dịch vụ là yếu tố quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tạo việc làm ở các khu vực chính với chất lượng công việc và giá trị lao động ngày càng cao

Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế

- kỹ thuật ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ những năm 1990, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH -

Trang 17

HĐH Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ “Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,… tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX )

Cùng với CNH - HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng được đặt ra một cách cấp thiết Tiến trình CNH - HĐH ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đô thị hoá cả về chiều rộng và chiều sâu Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 - 2020 xác định mục tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: xây dựng tương đối hoàn chỉnh đô thị cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bổ phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,… phấn đấu đến năm 2020, dân số đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước

Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây là sự chuyển đổi mục đích sử dụng của các loại đất Nhờ đó đã xây dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viên,… hoàn thiện và phát triển các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, du lịch;

mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh,… chính điều đó làm cho quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn

Tóm lại, để CNH - HĐH tất yếu phải thu hồi đất, trong đó diện tích đất bị

thu hồi lớn nhất là đất sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trong quá trình CNH - HĐH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một số lượng đất đai từ mục đích

nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp

1.1.4 Ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống và việc làm của các hộ nông dân

CNH - HĐH là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, nhất là đối với các nước châu Á Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH - HĐH diễn ra ngày càng nhanh CNH - HĐH

Trang 18

góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, quá trình CNH - HĐH cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, phương thức đền bù giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càng phức tạp Như vậy, quá trình thu hồi đất đã ảnh hưởng đến việc làm và đời sống của các hộ dân ở những nội dung sau đây:

1.1.4.1 Ảnh hưởng đến đất sản xuất

a Ảnh hưởng tích cực

Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tất yếu phải thu hồi đất và diện tích đất bị thu hồi chủ yếu là đất ở, đất sản suất nông nghiệp Việc thu hồi đất để đầu tư hạ tầng, xây dựng các khu đô thị lớn tạo sự chuyển giữa các loại đất với nhau; do đó làm thay đổi cơ cấu các loại đất trong vùng, trong đó diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh, diện tích đất đô thị và đất giao thông tăng cao Đây là cơ hội thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, thương mại, người nông dân có cơ hội chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch

vụ - công nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong vùng, đáp ứng các nhu cầu về đời sống, văn hóa xã hội của người dân trong vùng, nâng cao mức sống, trình độ dân trí của người dân

b Ảnh hưởng tiêu cực

Quá trình đô thị hóa nhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh Điều này dẫn đến tình trạng sụt giảm mạnh hoặc mất hết những diện tích đất sản xuất nông nghiệp Đồng thời sự suy giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện mức sống của một bộ phận người dân không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, họ trở nên thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống; đất đai bị khai thác nhiều mà không được quan tâm đến việc tái tạo, phục hồi, bảo vệ chất lượng đất nông nghiệp

Trang 19

1.1.4.2 Ảnh hưởng đến nguồn vốn của hộ

a Ảnh hưởng tích cực

Nguồn vốn thể hiện rõ khả năng đầu tư của hộ gia đình cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài yếu tố tự nhiên sẵn có như đất đai, vốn sẽ góp phần cho việc sử dụng và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực lao động và đất đai

Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, người dân nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ; đây là cơ hội để những người bị thu hồi đất tăng nguồn vốn của gia đình Vốn tiền mặt đối với hộ nông dân là rất quan trọng, đây là nguồn vốn để nông hộ trang trải, đầu tư cho sản xuất và phát triển kinh tế, xây dựng và sửa chữa nhà ở, mua sắm các phương tiện đi lại phục vụ cho sản xuất và đời sống Thực tế cho thấy, sau khi bị thu hồi đất, vốn tiền mặt tích lũy của hộ nông dân

trên địa bàn quận tăng, thu nhập và mức sống của người dân cũng tăng theo

1.1.4.3 Ảnh hưởng đến việc làm

a Ảnh hưởng tích cực

Trên thực tế hiện nay cho thấy quá trình giảm dần quỹ đất canh tác do CNH - HĐH và ĐTH đã kéo theo một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp, qua đó số lao động công nghiệp và lao động trong các ngành thương mại, dịch vụ tăng lên Đây là một xu hướng tốt rất phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định “Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000

Trang 20

Trong đó tỷ trọng GDP của nông nghiệp chiếm 16 - 17%, công nghiệp chiếm

40 - 41% Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%” (Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX trang 1959 - 1960) Như vậy quá trình CNH - HĐH đã có tác động tích cực đến sản xuất hộ nông dân

b Ảnh hưởng tiêu cực

Quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa đã lấy đi một phần đất nông nghiệp

để xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm mục đích phát triển kinh tế, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội Đó là lợi ích chung mà cả xã hội được hưởng Tuy nhiên, khi cả xã hội được hưởng lợi ích do quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, thì một bộ phận không nhỏ nông dân lại bị thiệt thòi do quá trình đó gây ra Đó là những người nông dân trực tiếp bị thu hồi đất nông nghiệp cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm thương mại, các dự án đầu tư xã hội hóa Những người nông dân sẽ phải chuyển đổi việc làm sang làm nghề khác Vì vậy, họ sẽ gặp không ít khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm Chính sách của Nhà nước phải bù đắp cho họ đỡ bị thiệt thòi Những năm qua, công tác đền bù và giải phóng mặt bằng tuy vẫn đảm bảo thực hiện, song nó vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng ở tất cả các địa phương

1.1.4.4 Ảnh hưởng đến đời sống của hộ nông dân

a Ảnh hưởng đến thu nhập

* Ảnh hưởng tích cực

CNH-HĐH và đô thị hóa sẽ tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi

cơ cấu việc làm, từ thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới ổn định và có thu nhập cao

Mặt khác khi CNH-HĐH và đô thị hóa được xây dựng sẽ giải quyết một lượng lao động vào làm việc tại khu công nghiệp với mức thu nhập cao và ổn định Ngoài ra khi thực hiện giải phóng mặt bằng phục vụ CNH-HĐH và đô thị hóa các hộ nông dân sẽ có một khoản tiền lớn từ việc đền bù đất đai Đây sẽ là một khoản thu nhập rất lớn đối với những hộ nông dân, số tiền này sẽ lại càng trở nên ý nghĩa hơn với những hộ biết sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả

Trang 21

* Ảnh hưởng tiêu cực

Việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng các Trung tâm thương mại, khu đô thị, khu công nghiệp gây ra không ít khó khăn cho những hộ trực tiếp bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Cuộc sống từ bao đời nay của họ vẫn gắn liền với công việc đồng áng Nay bắt họ rời xa nó, chuyển sang một lĩnh vực hoạt động sản xuất khác quả thực là một thách thức đối với những hộ thuần nông Như ở trên đã nói, khi có khu công nghiệp hay đô thị mới thì sẽ có một số lao động được tuyển vào làm việc trong các nhà máy, công ty nhưng để được vào làm việc ở đó người lao động phải qua đào tạo, phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật thích ứng với những công việc mới Nếu chỉ là lao động phổ thông đơn thuần thì thu nhập thấp, thậm chí không đủ đảm bảo cuộc sống

b Ảnh hưởng đến môi trường sống

* Ảnh hưởng tích cực

Quá trình CNH - HĐH đã tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và hệ thống

hạ tầng kỹ thuật vùng nông thôn Nhìn chung khi địa phương nào có khu công nghiệp và khu chế xuất hay những đô thị mới thì ở đó sẽ có một hệ thống đường giao thông rất tốt Cơ sở hạ tầng phát triển, hệ thống đường, điện, trường học, bệnh viện,… được đầu tư trang trang, hiện đại Tuy nhiên không phải nó không

có những tác động xấu tới cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường sống

Trước hết là ô nhiễm nước thải gồm nước thải công nghiệp, nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt… đây là những chất thải rất có hại cho sức khỏe con người Nếu không được xử lý tốt đây sẽ là nguồn gây bệnh rất đáng lo ngại

Trang 22

1.1.4.5 Tác động về xã hội

* Tác động tích cực

Quá trình CNH - HĐH đã tạo nên nhiều tác động tích cực không những về

mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã hội, làm thay đổi cuộc sống người dân ở các khu công nghiệp và khu đô thị như:

+ Thay đổi bộ mặt văn hoá của địa phương

+ Phát triển cộng đồng tổ chức

+ Thay đổi nếp sống của công đồng theo hướng tốt lên

+ Do kinh tế phát triển nên các hộ nông dân ở đây có điều kiên tiếp xúc với phương tiên thông tin đại chung nhiều hơn, có cơ hội hưởng thụ văn hoá nhiều hơn

1.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về giải quyết đời sống và việc làm của người dân khi bị thu hồi đất

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới Và thu hồi đất là cách thức thường được thực hiện để xây KCN và xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và

cá nhân, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có cách làm riêng của mình Tình hình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi ở một số nước mang tính tương đồng với Việt Nam, các tổ chức ngân hàng về vấn đề này như sau:

1.2.1 Đối với Trung Quốc

Trong thời kỳ đầu cải cách và mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tốc độ đô thị hoá của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng Diện

Trang 23

tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tác động của quá trình đô thị hoá, trong khi dân số tăng nhanh làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng Trong những năm 1990, Trung Quốc có khoảng từ 100 - 120 triệu lao động nông thôn thiếu việc làm, hàng năm con số này lại tăng thêm từ 6 - 7 triệu người Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu người nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này cũng gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt như quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và rất nhiều các vấn

đề xã hội khác Để giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong quá trình đô thị hoá, Trung Quốc đã tập trung thực hiện một số biện pháp sau:

- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động:

Công cuộc cải cách và mở cửa của nền kinh tế thị trường ở nông thôn Trung Quốc được tiến hành từ cuối những năm 1970 Các chính sách khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn

Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá Trong những năm đầu đã có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới 50% Đây là dấu hiệu cất cánh của CNH - HĐH nông thôn Trung Quốc mà ưu tiên hàng đầu

là tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hoá

Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn Ở Trung Quốc đã xuất hiện hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn đó là mô hình doanh nghiệp tập thể ở thành phố Văn Châu Mô hình doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp ở nông thôn, nhưng còn thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu Mô hình doanh nghiệp tập thể được hình thành trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá

- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các thành phố lớn:

Trang 24

Trung Quốc cho rằng, có hai cách chính để chuyển đổi lao động dư thừa trong nông thôn: cách thứ nhất là chuyển họ sang các ngành công nghiệp và dịch

vụ ở các vùng nông thôn, cách thứ hai là chuyển họ đến các thành phố

Năm 1995, có khoảng 60 triệu lao động nông thôn tìm kiến việc làm ở các

đô thị và hầu hết trong số họ gia nhập vào đội ngũ dân số trôi nổi ở thành phố lớn Trong những năm 1990, số lượng nông dân rời bỏ sản xuất nông nghiệp và

đi tìm việc ở nơi khác đã lên tới trên 200 triệu người Điều cần thiết là phải tạo thêm các đô thị mới để thu hút họ Trong bối cảnh đô thị hoá nhanh ở Trung Quốc, nếu hàng triệu nông dân đổ vào các thành phố sẽ làm phát sinh nhiều vấn

đề như: quá tải về hệ thống giao thông và phá vỡ các dịch vụ xã hội, trong khi đó, thị trường lao động ở các thành phố đã gần như bão hoà Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với công nghiệp hoá nông thôn không chỉ là giải pháp quan trọng để thu hút lao động dư thừa ở khu vực này mà còn góp phần tối

đa hoá việc phân bổ các nguồn lực ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển của các đô thị nhỏ, một số người cho rằng, việc phát triển đô thị nhỏ mang lại những khó khăn nhiều hơn mang lại thuận lợi, nhưng ngược lại số khác lại coi việc phát triển những đô thị nhỏ là một giải pháp cho việc thu hút lao động nông nghiệp dư thừa

Chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000

đô thị nhỏ Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa Tuy nhiên, khả năng thu hút lao động dư thừa hiện nay của mỗi đô thị nhỏ ở Trung Quốc chỉ là 1.600 người Nếu số đô thị nhỏ được tăng lên gấp đôi thì sẽ thu hút được thêm 30 triệu lao động

Trung Quốc chủ trương thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp địa phương, qua đó đẩy nhanh quá trình hình thành các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn Chính sách này đã góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá Ngoài ra Trung Quốc chủ trương tạo ra một

Trang 25

mô hình phát triển đô thị mới Nội dung của mô hình này là xây dựng các đô thị giữa các thành phố có quy mô lớn và vừa như thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh,

1.2.2 Đài Loan

Quá trình công nghiệp hoá của Đài loan khởi đầu từ khu vực nông thôn Chính quyền Đài Loan đã dành ưu tiên hàng đầu về vốn đầu tư, cơ chế, chính sách cho nông nghiệp, nông thôn Trong những năm 1950, 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành cho phát triển kết cấu hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp Khi nông nghiệp phát triển, lao động dư thừa trong khu vực nông thôn mới chuyển sang các ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và sau cùng mới là phát triển công nghiệp nặng Vào những năm 1950, do đất đai hạn chế cộng với số dân di cư từ Đại lục sang dẫn đến nguy cơ thất nghiệp lớn ở nông thôn, nhưng nhờ công nghiệp nông thôn phát triển nên đã thu hút được nhiều lao động Lao động nông nghiệp từ chỗ chiếm trên 50% những năm 1950 đã giảm xuống còn 14,2% năm 1988 Lao động được chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp đã không gây ra tình trạng di dân số lượng lớn từ nông thôn vào thành thị mà họ có thể làm việc ngay tại các nhà máy ở vùng lân cận Có thể khái quát những kinh nghiệm của Đài Loan trong việc giải quyết việc làm khu vực nông thôn trong quá trình đô thị hoá như sau:

- Nông nghiệp được ưu tiên phát triển làm cơ sở để phát triển công nghiệp nông thôn, trước hết là công nghiệp chế biến nông sản

- Chú trọng phát triển doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ, lấy công nghệ sử dụng nhiều lao động là chính

- Công nghiệp nông thôn phát triển không tập trung nhưng vẫn có liên kết với nhau và liên kết với các công ty lớn ở đô thị

- Chính quyền có chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực ở nông htôn

- Chính quyền có kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp gắn với quy hoạch phát triển các cơ sở nông- công nghiệp sẽ được bố trí ở nông thôn, với vùng nguyên liệu và các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp

- Tạo môi trường chính sách vĩ mô thuận lợi cho công nghiệp hoá nông

Trang 26

thôn thông qua các chính sách về lãi suất, tiền lương, tỷ giá, khuyến khích sản xuất nông sản, trợ giá đầu vào cho chế biến thức ăn gia súc và chăn nuôi,… Từ

đó khuyến khích chuyển lao động sang hoạt động phi nông nghiệp

- Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao khả năng

bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn

Chính phủ Nhật bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các thông tin về việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua Internet đến với những người đang tìm việc, giúp họ có những

sự lựa chọn phù hợp với năng lực, điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi thường những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo trên cơ sở nhu cầu của mỗi vùng, phát triển nguồn nhân lực và kỹ thuật kết nối thông tin trong những khu vực mới hoặc đang phát triển

Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác Luật về ổn định việc làm của người lao động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đại hoặc từ các công ty chi nhánh Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động

Trang 27

trung niên Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng thay đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và các địa phương

Trong những năm 1960, 1970, các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin học và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra những thị trường mới ở Nhật Bản Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển Việc phát triển khoa học và công nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng Chính phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải ủng hộ điều này một cách tích cực

1.3 Chính sách thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ ổn định đời sống và đào tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi

1.3.1 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ trước khi

có Luật đất đai năm 1993

Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Các chính sách được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất đai 1993, cụ thể như sau:

Ngày 14/4/1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Thông tư 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”

Trang 28

Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy định về đền bù thiệt hại chứ chưa quy định về chính sách thu hồi đất, do đó nhà nước không bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Nguyên nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn Các quy định cụ thể là:

Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29/2/1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó

Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT

về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường UBND các tỉnh, thành phố quy định

cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước

1.3.2 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ khi có Luật đất đai năm 1993 đến Luật đất đai năm 2003

Hiến pháp năm 1992 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc

tổ chức theo thời giá thị trường (Điều 23)

Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đã có điều chỉnh so với giai đoạn trước trên cơ sở thực hiện LĐĐ năm 1993 xác lập quyền sử dụng đất của hộ dân Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đây của Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng

Trang 29

Nhìn chung việc bồi thường đất nông nghiệp trong giai đoạn này có sự thay đổi cơ bản về chủ thể đối với quyền sử dụng đất, nhưng vì giá bồi

thường thiệt hại đất nông nghiệp còn thấp (mới đảm bảo đủ chi phí cho việc khai hoang xây dựng đồng ruộng) chưa phù hợp với giá chuyển nhượng

quyền sử dụng đất Việc thu hồi đất để thực thi các dự án đầu tư còn gặp nhiều khó khăn Nội dung của Nghị định 90/CP còn rất sơ sài, chưa gắn với

cơ chế thị trường

Ngày 24/4/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng để thay thế cho Nghị định số 90/1994/NĐ - CP Nghị định gồm 6 chương 40 điều quy định rõ phạm vi, đối tượng được bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc, giá đất đền bù, chính sách hỗ trợ, Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất rất rõ ràng, đầy

đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta

Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ

số K cho từng dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định Việc tính hệ số K ở mỗi dự án, mỗi địa phương rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nhân dân

1.3.3 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp ở Việt Nam từ khi thực hiện Luật đất đai năm 2003 đến nay

Luật đất đai năm 2003 ra đời, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định 22/1998/NĐ-CP có bố cục về cơ bản thống nhất với nhau, nhưng Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định 22/1998/NĐ-

CP Trong đó, quy định "giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng" do UBND tỉnh quy định

Trang 30

Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Điểm mới tại Nghị định chính là quy định trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp

Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009, quy định bổ sung

về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư

Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh trên phạm vi toàn quốc, các nghị định liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước đây

đã không còn phù hợp với thực tiễn, dẫn đến tình trạng người dân bị thu hồi đất không đồng thuận với Nhà nước, đơn thư khiếu nại kéo dài

Để khắc phục những bất cập trong công tác giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất nói riêng và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung, Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng định hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực là một trong những chính sách được người dân mong mỏi, đón chờ nhất Mức giá bồi thường và chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo Luật đất đai 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cao hơn so với các quy định trước đây

1.4 Sự cần thiết phải đào tạo nghề, giải quyết việc làm và kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi

1.4.1 Sự cần thiết phải đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi

Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề nan giải của mọi quốc gia, trong giai đoạn hiện nay, giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi vừa mang tính lâu dài vừa mang tính cấp bách, điều

đó xuất phát từ những lý do:

Trang 31

Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH và ĐTH, Nhà nước đã tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế -

xã hội, trong đó tập trung phát triển các KCN, dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động Hàng triệu lao động đã tìm được việc làm với thu nhập cao, trong đó có một số ít lao động trẻ là những nông dân bị thu hồi đất Tuy nhiên, trên thực tế số lao động tìm được việc làm chỉ có tính tạm thời nên số lao động không có việc làm lại tăng lên Cụ thể là: sau 5 đến 10 năm, chỉ có một số rất ít lao động có tay nghề cao và sức khỏe tốt được tiếp tục làm việc, đa phần còn lại

bị sa thải vì bị mất ưu thế về sức lao động và mức lương thấp Sau một thời gian

ổn định, các doanh nghiệp sẽ tuyển những lao động có sức khỏe tốt hơn và trình

độ nghề nghiệp cao hơn để đảm bảo yêu cầu về chất lượng lao động trong nhà máy của họ Điều này xảy ra phổ biến ở các KCN có các nhà đầu tư nước ngoài

đã làm cho tỷ lệ thất nghiệp tại các vùng thu hồi đất nông nghiệp tăng một cách nhanh chóng

Trên cả nước, đã có hàng vạn nông dân bị mất việc làm khi bị thu hồi đất nông nghiệp Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, từ năm

2005 - 2012, Hà Nội có gần 189.000 người (bình quân 2 lao động/hộ) bị mất việc; Hà Nam 15.360 người; Hải Phòng 16.275 người; Hải Dương 13.963 người; Bắc Ninh 3.473 người; Một số xã như An Khánh (Hoài Đức, Hà Nội) sau khi giao 96% đất nông nghiệp có 1.520 lao động mất việc, xã Anh Dũng (Kiến Thụy, Hải Phòng) giao 90% đất nông nghiệp, số lao động mất việc làm lên tới 1.401 người (chiếm 60% lực lượng lao động) Xã Lai Vu (Kim Thành, Hải Dương) sau khi bàn giao 87% đất sản xuất nông nghiệp thì 70% lực lượng lao động bị mất việc làm Trung bình mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động rơi vào tình trạng mất việc làm sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

Trong số lao động bị mất việc, nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất từ 35 tuổi trở lên, chiếm khoảng 60% Trong độ tuổi này, họ rất khó tìm được việc làm và thu nhập ổn định Nhóm lao động trong độ tuổi từ 18 - 25, kinh nghiệm lao động chưa nhiều, tại thời điểm bị THĐ việc chuyển nghề và tìm kiếm việc làm mới gặp nhiều khó khăn vì không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề Nhiều địa

Trang 32

phương có tới hàng ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có 10 - 20% người đã qua đào tạo nghề Nhóm tuổi này có ưu thế về sức khỏe, trình độ học vấn đồng đều, trình độ nghề nghiệp chưa cao nhưng khả năng học nghề tốt, nhạy bén với cái mới và thời cuộc Sức ép về giải quyết việc làm cho đối tượng này là làm sao cho cung - cầu lao động gặp nhau

Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, KĐT chính là điều kiện và thời cơ tốt để chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp, khu vực có năng suất lao động thấp, sang công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao Nhưng trong quá trình thực hiện thu hồi đất những hệ lụy về giải quyết việc làm cho nông dân mà nó gây ra

đã vượt quá khả năng giải quyết của địa phương Vì thế, việc thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện mục tiêu CNH - HĐH vốn là để giải quyết việc làm thì nay lại trở thành sức ép về giải quyết việc làm Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trở nên gay gắt hơn, số lượng lao động nông nghiệp bị mất việc làm ngày một tăng lên trong cả nước qua mỗi năm thực hiện CNH

Thứ nhất, những lao động không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng lao

động của các doanh nghiệp Mặc dù các doanh nghiệp nhận đất thu hồi đều cam kết với chính quyền địa phương sẽ giải quyết việc làm cho người dân khi bị mất đất sản xuất, cụ thể: ở Hà Nội thu hồi 1 ha đất doanh nghiệp phải tạo việc làm mới cho 10 lao động, Hưng Yên thu hồi 100m2 doanh nghiệp phải giải quyết việc làm cho 1 lao động Nhưng nếu trên thực tế số lao động được tuyển dụng làm việc trong các doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 20% - 30%) Phần lớn không được tuyển dụng do không đáp ứng được yêu cầu của công việc, một phần nữa do sự thất hứa của các doanh nghiệp Vì thế, những người nông dân bị thu hồi đất nêu không tự tìm việc khác cho mình thì lâm vào tình trạng thất nghiệp là tất yếu

Thứ hai, Những người lao động có đất bị thu hồi có tư tưởng ỷ lại vào

chính sách hỗ trợ của Nhà nước và tiền đền bù mà chưa tự tìm kiếm việc làm khác cho mình Đây cũng là lý do người dân bị thu hồi đất không quan tâm đến xuất khẩu lao động Mặt khác, việc tổ chức, chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động ở các địa phương còn hạn chế Như vậy, giải quyết việc làm cho

Trang 33

nông dân có đất bị thu hồi là nhiệm vụ tất yếu của thời kỳ CNH - HĐH đất nước Đảng, Nhà nước và Chính phủ cần phải có những chính sách và biện pháp đồng

bộ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Như vậy, chủ trương thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho CNH - HĐH sẽ giảm bớt những hệ lụy và tạo được đà thuận lợi cho các giai đoạn kinh tế phát triển tiếp theo của đất nước

1.4.2 Kinh nghiệm về giải quyết việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp ở một số địa phương của Việt Nam

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Vấn đề chuyển dịch mục đích sử dụng đất dẫn đến chuyển dịch lao động cũng đang diễn ra mạnh mẽ cả tự phát và trong quy hoạch làm đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Hiện tượng lao động nông nghiệp có đất nông nghiệp bị thu hồi bị mất việc làm do quá trình đô thị hóa và hình thành các khu vực công nghiệp tập trung diễn ra mạnh mẽ

Những năm qua, Nhà nước đã ban hành hàng loạt những chính sách vĩ mô hướng vào giải quyết cơ bản vấn đề lao động - việc làm khu vực nông thôn đó là: Nghị quyết số 13/NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Chính phủ ra Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm

2000, tiếp đó là Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/ 9/2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 –

2005, Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và mới đây là quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”

Các chính sách này đã góp phần quan trọng, tạo thế chủ động, tích cực để giải quyết vấn đề thu nhập, đời sống và việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động nông nghiệp bị thu hồi đất nói riêng Ngoài ra, Nhà nước đã ban hành những quy định cụ thể về việc hỗ trợ cho những người dân có đất bị thu hồi

Trang 34

trong việc đào tạo nghề mới và chuyển đổi nghề nghiệp như: Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 2 tháng 4 năm 1998, sau đó là Nghị định 197/2004/NĐ-CP

về bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành 22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất Ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”

Theo đó, các địa phương đã ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân có đất bị thu hồi dưới nhiều hình thức nhằm tạo thêm nhiều điều kiện cho người lao động đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp như:

Thực hiện Nghị định 1956/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ năm 2012, Hải Phòng dành 7 tỷ đồng hỗ trợ mở lớp dạy nghề cho lao động nông thôn Các nghề được đào tạo thu hút đông học viên tham gia, số học viên có việc làm, tự tạo việc làm sau đào tạo đạt tỷ lệ cao (khoảng hơn 80%)

1.4.2.1 Thành phố Hà Nội

Trong 4 năm qua, thành phố Hà Nội đã triển khai 2.818 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất, bình quân trên 300 dự án/năm Bình quân một năm, TP đã giải phóng mặt bằng gần 1.000ha, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến 178.205 hộ dân và bố trí tái định cư cho 13.044 hộ (Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thành phố Hà Nội, 2014) Theo báo cáo của UBND thành phố

Hà Nội, các cơ chế chính sách của Trung ương và thành phố Hà Nội về hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho người dân nông nghiệp bị thu hồi đất chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn tới nguy cơ về mất việc làm, thất nghiệp rất lớn Một bộ phận hộ gia đình nông dân sau khi bị thu hồi đất trên 30% đã trở thành hộ nghèo Chính sách bồi thường, hỗ trợ mới quan tâm đến thiệt hại vật chất và được chi trả trực tiếp cho người dân, khiến người dân sử dụng khoản tiền này chưa hợp lý, ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề và việc làm để đảm bảo ổn định cuộc sống khi

Trang 35

Nhà nước thu hồi đất Hà Nội đã đưa ra các giải pháp thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế đi liền với chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển nông thôn, ổn định đời sống cho nhân dân vùng thu hồi đất

Giải pháp đầu tiên được đưa ra là việc thành lập Quỹ Hỗ trợ ổn định đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo Nghị định 64/CP.Theo đó, ngân sách TP cấp ban đầu là 50 tỉ đồng; trích 50% nguồn kinh phí hỗ trợ của các nhà đầu tư cho TP khi được giao đất; kêu gọi, vận động đóng góp của chủ đầu tư được giao đất sản xuất kinh doanh, dịch vụ Thành phố hỗ trợ trong 3 năm tiền học phí và tiền đóng góp cơ sở vật chất trường học cho học sinh ở độ tuổi phổ cập phổ thông

; hỗ trợ 100% kinh phí bảo hiểm y tế cho người trên 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi với nữ; trợ cấp khó khăn cho người già, cô đơn có hoàn cảnh đặc biệt, mức tương đương 30kg gạo/người/tháng Ngoài ra, thành phố sẽ hỗ trợ học nghề một lần kinh phí đào tạo một nghề cho người trong độ tuổi lao động, có nhu cầu học nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề, nhưng không chi trực tiếp cho người học, với mức tối đa không quá 6 triệu đồng/thẻ

Các giải pháp còn lại được UBND thành phố thực hiện là: Xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN dịch

vụ mới hình thành; xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN khi xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi được tham gia kinh doanh, ưu tiên cho lao động trong các hộ bị thu hồi trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao; có

cơ chế về đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp (trên 30%) để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ, phục vụ các khu công nghiệp, đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đồng thời đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và công nghiệp hiện đại với vùng dân cư cũ (thôn, xã, tổ dân phố, phường)

1.4.2.2 Huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương

Để giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất nói riêng và lực lượng lao động của huyện nói chung, huyện Kim Thành đã xây dựng và triển khai Chương

Trang 36

trình "Giải quyết việc làm và nâng cao nguồn nhân lực giai đoạn 2006 - 2010"

a Công tác xây dựng, tổ chức, triển khai thực hiện chương trình đào tạo lao động và giải quyết việc làm

Huyện Kim Thành đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng đề án do một Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, các phòng ban chức năng là uỷ viên Đề

án đã được Ban Thường vụ Huyện uỷ thông qua tháng 4 năm 2006 và giao cho UBND huyện tổ chức triển khai Các mục tiêu chính của Chương trình là:

- Mỗi năm tạo việc làm mới cho từ 1.600 - 2.000 lao động, ưu tiên cho các đối tượng thuộc các hộ có đất bị thu hồi để thực hiện các dự án đầu tư

- Tới năm 2011 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40%

b Các giải pháp tạo việc làm

- Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá để thu hút lao động, chuyển giao kỹ thuật cho nông dân về giống cây trồng, vật nuôi, các biện pháp canh tác, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại tập trung, xa khu dân cư để đảm bảo vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh môi trường

- Tăng cường thông tin, truyền thông để xuất khẩu được nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn với Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phát triển làng nghề

- Tạo môi trường thuận lợi và khoa học để phát triển các nghề phù hợp với địa phương, từ đó thu hút các nhà đầu tư đưa dự án vào địa bàn

- Làm tốt công tác quy hoạch phát triển các khu cụm công nghiệp gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời đảm bảo vệ sinh môi trường

- Thực hiện tốt các chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hoá đủ sức cạnh tranh với thị trường, phát triển sản xuất tạo ra việc làm cho nhiều lao động

- Phát huy lợi thế về giao thông, các khu cụm công nghiệp tập trung, đẩy mạnh phát triển dịch vụ để tạo việc làm và tiêu thụ hàng hoá cho nông dân

Trang 37

c Kết quả công tác đào tạo, giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi Kết quả thống kê cho thấy, trong 3 năm 2009 -2011 các chỉ tiêu về đào tạo lao động, giải quyết việc làm cho người lao động luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra của Chương trình:

- Năm 2009 đào tạo được 2.585 lao động; giải quyết việc làm cho 2.154 người, trong đó có 817 lao động công nghiệp và xây dựng, 832 lao động nông nghiệp, 224 lao động dịch vụ, 281 lao động xuất khẩu

- Năm 2010 đào tạo được 2.708 lao động; giải quyết việc làm cho 1.950 người, trong đó có 780 lao động công nghiệp và xây dựng, 684 lao động nông nghiệp, 214 lao động dịch vụ và 272 lao động xuất khẩu

- Năm 2011 đào tạo được 2.951 lao động; giải quyết việc làm cho 2.149 người, trong đó có 807 lao động công nghiệp và xây dựng, 786 lao động nông nghiệp, 263 lao động dịch vụ và 293 lao động xuất khẩu

Nhận xét chung: Mặc dù đã có nhiều nỗ lực của chính quyền các cấp, các

tổ chức chính trị xã hội, các cơ sở đào tạo dạy nghề, các doanh nghiệp sử dụng đất tại địa phương nhưng nhìn chung hiệu quả của công tác đào tạo, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Kim Thành được đánh giá là chưa hiệu quả

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất sản xuất ở Việt Nam

- Đưa mục tiêu giải quyết việc làm vào trong các kế hoạch chương trình

phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời, tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, phát triển nhanh các khu vực dịch

vụ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với nhiều hướng sản xuất, kinh doanh; nhiều ngành, nhiều cấp và tạo điều kiện để nhân dân tự tạo việc làm dưới nhiều hình thức khác nhau

- Chú trọng đầu tư phát triển giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng công tác đào tạo nghề, mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

- Xây dựng chính sách ưu tiên, khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh

Trang 38

doanh, tạo mở việc làm mới như: cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế 5 năm thời

kỳ đầu đối với các ngành nghề mới, cho thuê, mượn mặt bằng để tổ chức sản xuất

- Hình thành và phát triển thị trường lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, thông qua

hệ thống môi giới, tư vấn việc làm và nghề nghiệp để làm cầu nối cho cung - cầu lao động gặp nhau

- Xây dựng cơ chế chính sách, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và dự án đầu tư tạo nhiều việc làm, đặc biệt là ở những nơi nông dân thu hồi

đất cho phát triển công nghiệp và đô thị

- Tiếp tục khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, tạo và phát triển những ngành nghề mới

1.5 Đánh giá chung

Mặc dù mỗi nước có chế độ sở hữu đất đai khác nhau nhưng chính sách thu hồi đất, pháp lý về thu hồi đất là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, có thể chính sách pháp luật của các nước không quy định chi tiết đến từng đối tượng nhưng bao quát đầy đủ (kể cả chính sách lẫn sự chuẩn

bị về vốn và quỹ đất, quỹ nhà) cùng với các cơ chế phù hợp được người dân ủng

hộ, chấp thuận Đặc biệt là ý thức tự giác và sự tuân thủ luật pháp của người có đất bị thu hồi

Mặc dù mỗi nước đều có chế độ sở hữu đất đai riêng nhưng chính sách thu hồi đất đai và giải quyết các vấn đề việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi là áp lực không tránh khỏi trong quá trình phát triển Qua nghiên cứu, chính sách quản lý sử dụng đất và giải quyết việc làm của các nước và tổ chức không có gì mới mà là do việc tuân thủ pháp luật đất đai rất nghiêm minh, sự chấp hành vô điều kiện pháp luật trong quá trình thực hiện chính sách thu hồi đất

từ cơ quan có thẩm quyền đến người sử dụng đất Cuối cùng là tính pháp chế cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền là nguyên nhân thành công của mọi thành công ở các nhà nước này

Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc

Trang 39

liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm sau khi thu hồi đất Đây

là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ chính sách giải quyết việc làm sau khi thu hồi đất của Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản chúng

ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

(i) Không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên

cơ sở nhu cầu lao động của xã hội

(ii) Phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ và những ngành nghề sử dụng lao động

(iii) Phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động (iv) Thực hiện cái cách chế độ tiền lương, thu nhập của người lao động

Trang 40

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2010-2014

- Một số tác động của quá trình thu hồi đất nông nghiệp tới đời sống, việc làm, thu nhập của người dân có đất bị thu hồi

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu những ảnh hưởng của việc chuyển đổi đất

nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của các hộ dân để phục vụ cho quá trình đô thị hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;

- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu đối với các hộ dân tại 3

phường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm (phường Tây Mỗ, phường Xuân Phương

và phường Phương Canh) có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Việc thu hồi đất được thực hiện từ năm

2010 đến năm 2014

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Nam Từ Liêm

- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình - địa mạo và thủy văn quận Nam Từ Liêm

- Điều kiện kinh tế - xã hội: thực trạng phát triển các ngành kinh tế, thực trạng cơ sở hạ tầng của quận Nam Từ Liêm

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại địa bàn quận Nam Từ Liêm

- Đánh giá tình hình quản lý đất đai nói chung

- Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chính phủ (2009). Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ: Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ: Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
9. Võ Văn Đức và Đinh Ngọc Giang (2012). Một số vấn đề xã hôi nảy sinh trong quá trình công nghiệ hóa, đô thị hóa ở Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hôi nảy sinh trong quá trình công nghiệ hóa, đô thị hóa ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Đức, Đinh Ngọc Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
10. Nguyễn Hữu Đoàn, Nguyễn Đình Hương (2002). Giáo trình kinh tế đô thị - Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế đô thị
Tác giả: Nguyễn Hữu Đoàn, Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
11. Lưu Song Hà (2009). Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp - Nhà xuất bản từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp
Tác giả: Lưu Song Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển bách khoa
Năm: 2009
17. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1993). Luật Đất đai năm 1993 - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 1993
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 1993
18. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2003). Luật Đất đai năm 2003 - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2003
21. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2008). Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm: 2008
26. Viện Ngôn ngữ học (2002). Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2002
1. Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thành phố Hà Nội (2014). Báo cáo kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng năm 2013 và phương hướng thực hiện năm 2014 Khác
2. Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Nam Từ Liêm (2014). Báo cáo kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng năm 2013 và phương hướng thực hiện năm 2014 Khác
3. Chi cục thống kê quận Nam Từ Liêm (2014) - Niên giám thống kê quận Nam Từ Liêm Khác
4. Chính phủ (2004). Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai năm 2003 Khác
6. Chính phủ (2014). Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai 2013 Khác
7. Chính phủ (2014). Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
8. Vũ Đình (2010). Giải quyết đời sống của nhân dân diện thu hồi đất ở Đồng Tháp, Tạp chí Cộng sản số 43 Khác
12. Hội khoa học đất Việt Nam, Dự án Enable (2009). Hội thảo chính sách pháp LĐĐ liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày 08/05/2009 tại Hà Nội Khác
13. Nguyễn Chí Mỹ, Hoàng Ngọc Bắc, Hoàng Xuân Nghĩa, Nguyễn Thanh Bình (2012). Giải phóng mặt bằng ở Hà Nội: Hệ lụy và hướng giải quyết - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
14. Nguyễn Văn Nam (2005). Việc làm cho người nông dân hết đất sản xuất, quy hoạch lại nguồn lao động - Thời báo kinh tế Việt Nam, số ra ngày 19/8/2005 Khác
15. Phòng Tài nguyên và môi trường quận Nam Từ Liêm (2014), Báo cáo công tác quản lý đất đai, cấp giấy chứng nhận quyến sử dụng đất năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ năm 2015 Khác
19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013). Luật Đất đai năm 2013 - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2004, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sơ đồ vị trí quận Nam Từ Liêm - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí quận Nam Từ Liêm (Trang 44)
Hình 3.2. Cơ cấu, diện tích các loại đất quận Nam Từ Liêm năm 2010 và 2014 - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.2. Cơ cấu, diện tích các loại đất quận Nam Từ Liêm năm 2010 và 2014 (Trang 57)
Bảng 3.3. Cơ cấu đất nông nghiệp quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2010-2014 - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Bảng 3.3. Cơ cấu đất nông nghiệp quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2010-2014 (Trang 57)
Hình 3.4. Dự án khu đô thị mới Xuân Phương tại phường Xuân Phương - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.4. Dự án khu đô thị mới Xuân Phương tại phường Xuân Phương (Trang 61)
Hình 3.5. Diện tích đất nông nghiệp còn lại phường Tây Mỗ - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.5. Diện tích đất nông nghiệp còn lại phường Tây Mỗ (Trang 61)
Bảng 3.6. Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Bảng 3.6. Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp (Trang 63)
Hình 3.7. Hiểu biết của người dân về mục đích thu hồi đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.7. Hiểu biết của người dân về mục đích thu hồi đất (Trang 65)
Bảng 3.10. Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Bảng 3.10. Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra (Trang 73)
Hình 3.9. Cơ cấu lao động theo độ tuổi của  các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.9. Cơ cấu lao động theo độ tuổi của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất (Trang 75)
Hình 3.10. Sự thay đổi việc làm của các hộ  điều tra trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.10. Sự thay đổi việc làm của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất (Trang 76)
Hình 3.11. Ý kiến của người dân về việc sử dụng tiền bồi thường - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.11. Ý kiến của người dân về việc sử dụng tiền bồi thường (Trang 80)
Bảng 3.13. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình   tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Bảng 3.13. Kết quả điều tra khảo sát về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội (Trang 87)
Hình 3.13. Nhà ở khu đô thị Viglacera tại phường Xuân Phương - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.13. Nhà ở khu đô thị Viglacera tại phường Xuân Phương (Trang 88)
Hình 3.14 . Trường Tiểu học Nam Từ Liêm - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.14 Trường Tiểu học Nam Từ Liêm (Trang 88)
Hình 3.16. Ý kiến của người dân về trật tự, - Nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tới đời sống và việc làm của người bị thu hồi tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội
Hình 3.16. Ý kiến của người dân về trật tự, (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm