1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của công ty tnhh một thành viên phân đạm và hóa chất hà bắc tại thị trường miền bắc

116 380 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

52 4.1.1 Sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm urê của công ty 52 4.2 Đánh giá chung về thực trang sức cạnh tranh sản phẩm urê của công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị

Trang 1

2.1.4 Các tiêu chí chủ yếu phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm 10 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp 14 2.1.6 Các công cụ cạnh tranh dùng để tăng sức cạnh tranh sản phẩm 22

Trang 2

3.1.1 Đặc điểm Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc 34 3.1.2 Đặc điểm thị trường miền Bắc trong tiêu thụ sản phẩm urê của công ty 46

4.1 Thực trạng sức cạnh tranh sản phẩm urê của Công ty TNHH một

thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc 52 4.1.1 Sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm urê của công ty 52

4.2 Đánh giá chung về thực trang sức cạnh tranh sản phẩm urê của công

ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc 68

4.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới sức cạnh tranh sản phẩm urê của

công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc 72

4.4 Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của công ty tại

4.4.2 Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của công ty 85

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

2.1 Công suất sản xuất urê ở các khu vực trên thế giới 27 2.2 Nhu cầu tiêu thụ urê ở các khu vực trên thế giới 27 2.3 Tình hình nhập khẩu urê về Việt Nam từ năm 2010 đến nay 29 3.1 Tình hình tài sản – nguồn vốn tại thời điểm 31/12 từ 2012 – 2014 42 3.2 Tình hình nguồn nhân lực của công ty năm 2012-2014 43 3.3 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của Hanichemco

3.4 Thu nhập bình quân của lao động công ty năm 2010-2014 45

4.1 Sản lượng sản xuất sản phẩm urê từ năm 2000 đến 2014 52 4.2 Kết quả tiêu thụ sản phẩm urê từ năm 2010 đến 2014 53 4.3 Những khách hàng lớn tiêu thụ sản phẩm urê của Hanichemco 55 4.4 Tỷ lệ ý kiến khách hàng trả lời về chất lượng sản phẩm Urê Hà Bắc

4.5 Tỷ lệ ý kiến khách hàng trả lời về chất lượng sản phẩm Urê Hà Bắc so

4.6 Tỷ lệ ý kiến khách hàng trả lời về chất lượng, hình thức bao bì sản

4.7 Tỷ lệ ý kiến khách hàng trả lời về chất lượng, hình thức bao bì sản

4.8 Tỷ lệ ý kiến khách hàng trả lời về nhưng thông tin ghi trên bao bì sản

Trang 4

4.14 Thị phần tiêu thu sản phẩm urê của Hanichemco năm 2010-2014 65 4.15 Sản lượng tiêu thụ trong nước giai đoạn 2010-2014 66 4.16 Đánh giá các đối thủ cạnh tranh của Hanichemco trên thị trường Miền Bắc 75

4.18 Các hình thức đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại Hanichemco 80 4.19 Tên thương hiệu sản phẩm, logo và slogan của các đơn vị sản xuất

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3.1 Tổng doanh thu và lợi nhuận trước thuế của công ty từ 2010-2014 44 4.1 Thị phần theo sản lượng thiết kế (giai đoạn 2008-2010) 63 4.2 Thị phần theo cơ cấu sản lượng thiết kế (giai đoạn 2010-2014) 64

DANH MỤC SƠ ĐỒ

4.1 Quy trình công nghệ sản xuất Urê của Hanichemco 81

DANH MỤC HÌNH

4.1 Bao bì sản phẩm Urê Phú Mỹ; Ninh Bình; Hà Bắc; Cà Mau 58

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GTGT Giá trị gia tăng

HANICHEMCO Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc

Trang 7

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường bắt đầu từ năm 1986 Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi chính sách kinh tế nhiều thành phần đi vào cuộc sống, tư tưởng cạnh tranh giữa các đơn vị, giữa các thành phần kinh tế được thừa nhận thì một số doanh nghiệp và mặt hàng của Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường trong nước và vươn ra cạnh tranh được trên thị trường nước ngoài Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của phần lớn doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam còn yếu kém cả về chất lượng, mẫu mã và giá cả; tốc độ hội nhập của Việt Nam còn

ở mức trung bình; xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam qua các năm còn thấp, năm 2012 xếp thứ 65/142, năm 2013 xếp thứ 75/144, năm 2014 xếp thứ 70/148 nước so sánh (Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF, 2015)

Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 71,10 % lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 18% GDP của cả nước Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Vì vậy trong

cơ cấu kinh tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động xă hội Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong nhiều năm nữa Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường và chè (Báo điện

tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2006)

Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống, phân bón v.v Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường xuyên Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết sức quan trọng

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phân đạm và hoá chất Hà Bắc (HANICHEMCO) là doanh nghiệp nhà nước đóng trên địa bàn Tỉnh Bắc Giang,

Trang 8

được thành lập với nhiệm vụ sản xuất phân bón và các sản phẩm hóa chất phục vụ các ngành khác của đất nước Với gần 60 mươi năm xây dựng và phát triển, HANICHEMCO là đứa con đầu lòng của ngành sản xuất phân đạm Việt Nam Từ khi bước vào sản xuất đến nay, đã góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, các sản phẩm khác cũng góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội Bên cạnh đó, HANICHEMCO còn là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật cho các nhà máy đạm lớn hơn và cho các cơ quan, doanh nghiệp khác trong nước Từ năm 2000 đến nay, HANICHEMCO đã có những cố gắng vượt bậc, phát huy tốt các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định cả về sản xuất và tiêu thụ, hoàn thành xuất sắc các mục tiêu kế hoạch, có nhiều đóng góp cho ngân sách Nhà nước và xã hội, có vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ngành hoá chất Việt Nam

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, HANICHEMCO xác định nhiệm vụ trọng tâm của mình là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp tục mở rộng và phát triển Công ty thành một đơn vị vững mạnh của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và của cả ngành hóa chất Việt Nam

Từ năm 2013 thị trường phân bón Urê chứng kiến nhiều cuộc cạnh tranh gay gắt khi cung bỏ xa cầu do ngoài Công ty TNHH MTV Phân đạm và hóa chất Hà Bắc công suất 190 nghìn tấn/năm và Nhà máy Đạm Phú Mỹ công suất 800 nghìn tấn/năm còn có thêm Nhà máy Đạm Cà Mau công suất 800 nghìn tấn/năm, Nhà máy Đạm Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn/năm và Nhà máy Đạm Hà Bắc sẽ có thêm dây chuyền 2 nâng công suất lên thành 500 nghìn tấn/năm, nâng tổng sản lượng sản xuất phân bón Urê trong nước lên đạt trên 2,6 triệu tấn trong khi tổng nhu cầu trong nước hàng năm chỉ đạt khoảng 2,2 triệu tấn (Phòng Thị trường - Hanichemco)

Để HANICHEMCO tồn tại và phát triển bền vững trước sức ép cạnh tranh trên thị trường, nhất là thị trường truyền thống Miền Bắc, rất cần có những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nhằm tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu Trên tinh thần

đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của

Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc”

Trang 9

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến sức cạnh tranh sản phẩm urê của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Về nội dung

+ Luận văn nghiên cứu thực trạng sức cạnh tranh của sản phẩm Urê Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc thông qua các tiêu chí chủ yếu phản ánh sức cạnh tranh sản phẩm như: Các tiêu chí về sản phẩm, các tiêu chí về tiêu thụ sản phẩm có so sánh với các đối thủ cạnh tranh

+ Nghiên cứu đề ra giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của Urê Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc trong những năm tới

1.3.2.2 Về không gian

Trong phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu sức cạnh tranh sản phẩm urê của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường

Trang 10

Miền Bắc Theo chiến lược tiêu thụ và phát triển thị trường của Hanichemco, thị trường Miền Bắc bao gồm các khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng Sông Hồng

và 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An

1.3.2.3 Về thời gian

+ Số liệu thứ cấp từ năm 2000-2014

+ Số liệu sơ cấp: Được lấy từ kết quả thăm dò ý kiến khách hàng năm 2013,

2014 của Hanichemco và kết quả trả lời phỏng vấn của lãnh đạo quản lý Công ty và đối thủ cạnh tranh những năm gần đây

+ Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc đến năm 2020

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Khái niệm về cạnh tranh đã được đề cập đến từ rất lâu, theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với

khả năng của mình” (Dương Thị Thu Trang, 2009)

Qua thời gian và không gian, các quan niệm về cạnh tranh cũng khác nhau Theo từ điển kinh doanh Anh xuất bản năm 1992 thì cạnh tranh được xem là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Ở Việt Nam, đề cập đến “cạnh tranh”, một số nhà khoa học cho rằng, cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa – dịch vụ và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế Nói khác đi là giành lợi thế để hạ thấp các yếu tố “đầu vào” của chu trình sản xuất kinh doanh và nâng cao giá trị của

“đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất (Mạc Thị Hà, 2013)

Như vậy, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh

tế phát triển Mặt khác, đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp Và từ đó, cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho

các chủ thể kinh doanh thích nghi được với điều kiện thị trường

2.1.1.2 Khái niệm về cạnh tranh sản phẩm

Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất, là nỗ lực sản xuất của doanh nghiệp và nó là cái mà doanh nghiệp hy vọng sẽ đem lại lợi ích cho mình Các doanh nghiệp luôn mong muốn sản phẩm của mình tìm được chỗ đứng trên thị trường, được khách hàng chấp nhận

Trang 12

Chúng ta biết rằng, cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi (Nguyễn Hồng Cẩm, 2006)

Như vậy có thể hiểu, cạnh tranh sản phẩm là việc các doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, các dịch vụ hậu mãi sau bán hàng hấp dẫn, đặc biệt là các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để thu hút các khách hàng sử dụng và tiêu thụ nhiều sản phẩm của mình

2.1.1.3 Khái niệm về sức cạnh tranh sản phẩm

Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh sản phẩm, khả năng cạnh tranh sản phẩm Tuy nhiên, các khái niệm này là một khái niệm phức hợp được xem xét

ở các cấp độ khác nhau như: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và sức cạnh tranh của sản phẩm Do đó, việc nhận biết và phân biệt để hiểu một cách đầy đủ khái niệm sức cạnh tranh của sản phẩm là rất cần thiết

Sức cạnh tranh sản phẩm: Đối với khái niệm này, cho đến nay các tác giả, nhà nghiên cứu kinh tế cũng chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất Các khái niệm

mà các tác giả đưa ra dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Sức cạnh tranh sản phẩm là sự vượt trội của nó (nói về các chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có sức cạnh tranh hay không trên thị trường, là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng v.v so với sản phẩm cùng loại mà đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường (Chu Văn Cấp, 2003)

Sức cạnh tranh sản phẩm chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của

Trang 13

loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định

Sức cạnh tranh sản phẩm hàng hoá lại được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Sẽ không có sức cạnh tranh sản phẩm hàng hoá cao khi năng lực cạnh tranh doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp

Ở đây cũng cần phân biệt sức cạnh tranh sản phẩm và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Đó là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau Sức cạnh tranh sản phẩm có được do năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp không chỉ do sức cạnh tranh sản phẩm quyết định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, sức cạnh tranh sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Dương Thị Thu Trang, 2009)

2.1.2 Phân loại cạnh tranh sản phẩm

Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh sản phẩm được phân ra thành nhiều loại

2.1.2.1 Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh

Căn cứ vào tính chất cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, cạnh tranh sản phẩm bao gồm:

+ Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh

+ Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải

sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

+ Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu

2.1.2.2 Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh:

Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp, cạnh tranh sản phẩm bao gồm:

+ Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai

+ Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như trốn thuế, buôn lậu, móc ngoặc,

khủng bố v.v.) (Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2012)

2.1.3 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm

Nước ta đang có bước chuyển rất nhanh và mạnh về phát triển kinh tế Từ một nền kinh tế tập trung bao cấp trì trệ, yếu kém, bảo thủ và cực kỳ quan liêu Việc chuyển mình mạnh mẽ, thay đổi cơ chế quản lý nhằm trở thành một nền kinh tế thị trường đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Năm 2006 đã đánh dấu một cột mốc hết sức quan trọng, nước ta trở thành thành viên của WTO – Tổ chức thương mại thế giới Sự kiện này đã mở ra một cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam vươn tầm ra thế giới, đồng thời cũng là một thách thứ không nhỏ vì phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh mạnh về kinh nghiệm cũng như về quy mô trên đấu trường quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh sản phẩm có vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung (Đào Duy Anh, 2008)

2.1.3.1 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm đối với doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp, sản phẩm là yếu tố cốt lõi vì vậy cạnh tranh sản phẩm có vai trò sống còn quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, một số vai trò

cụ thể của cạnh tranh sản phẩm đối với doanh nghiệp:

+ Cạnh tranh sản phẩm được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp Vì vậy nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm có vai trò cực kỳ to

Trang 15

lớn Cạnh tranh sản phẩm quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh sản phẩm tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Cạnh tranh sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành

+ Cạnh tranh sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình

độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn

2.1.3.2 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm đối với người tiêu dùng

Có cạnh tranh, sản phẩm sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong

xã hội Vì vậy, đối với người tiêu dùng cạnh tranh sản phẩm có các vai trò sau: + Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong

xã hội Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình

+ Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp

2.1.3.3 Vai trò của cạnh tranh sản phẩm đối với nền kinh tế

Cạnh tranh sản phẩm được coi như là “linh hồn” của nền kinh tế, vai trò của cạnh tranh sản phẩm đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:

+ Cạnh tranh sản phẩm là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc

Trang 16

quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh

+ Cạnh tranh sản phẩm bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc

+ Cạnh tranh sản phẩm thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế

+ Cạnh tranh sản phẩm làm nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài

+ Cạnh tranh sản phẩm giúp cho nền kinh tế có nhìn nhận đúng hơn về kinh

tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta

Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh sản phẩm cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế v.v gây nên sự bất

ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và của người tiêu dùng (Vũ Thái An, 2013)

2.1.4 Các tiêu chí chủ yếu phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm

b Giá bán sản phẩm

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay doanh

Trang 17

nghiệp dự định có thể nhận được từ người mua qua việc trao đổi sản phẩm trên thị trường Giá cả có một vai trò rất quan trọng, đối với doanh nghiệp là khẩu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa, còn đối với người tiêu dùng là một trong những yếu tố quyết định đến hành vi mua hàng Giá cả là dấu hiệu tin cậy phản ánh tình hình biến động thị trường Thông qua giá cả, doanh nghiệp có thể nắm bắt được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm trên

thị trường

Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của nó Đồng thời, giá cả còn là công cụ linh hoạt nhất, mềm dẻo nhất trong cạnh tranh

Giá cả sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua thỏa thuận giữa người bán và người mua Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hang Trong nền kinh tế thị trường, “khách hàng là thượng đế” họ có quyền lực chọn những gì mà họ cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn

Mặc dù vậy, khi thu nhập của đại bộ phận dân cư đều tăng, khoa học kỹ thuật phát triển thì việc định giá thấp chưa hẳn là giải pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng với việc suy giảm chất lượng Vì vậy, định giá thấp, định giá ngang thị trường hay định giá cao, làm sao sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh lợi hại là tùy thuộc vào từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tùy thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường

c Chủng loại sản phẩm

Phát triển số lượng chủng loại sản phẩm hàng hóa để hỗ trợ cho nhau tránh rủi ro là đòi hỏi khách quan trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt Phát triển số lượng chủng loại sản phẩm có thể thực hiện theo hai hướng: Phát triển đa dạng mặt hàng kinh doanh trên

cơ sở một mặt hàng chủ lực hoặc phát triển đa dạng chủng loại sản phẩm trên cơ sở sản phẩm xương sống Hình thức thứ nhất thực chất là kinh doanh với những sản phẩm khác nhau hoàn toàn về giá trị sử dụng, thậm chí về ngành nghề kinh tế kỹ

Trang 18

thuật, nhưng có một vài sản phẩm được ưu tiên phát triển mạnh Hình thức thứ hai thực chất là việc cải tiến, thay đổi mẫu mã phẩm trên cơ sở một sản phẩm gốc nhằm khai thác ở các đoạn thị trường khác nhau Trên thực tế, các doanh nghiệp thường

áp dụng cả hai hình thức này, vừa phát triển danh mục chủng loại sản phẩm theo chiều rộng vừa phát triển theo chiều sâu

Để tiến hành phát triển số lượng chủng loại sản phẩm, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều các biện pháp nghiên cứu thị trường, các biện pháp khuyến khích người lao động có sáng kiến cải tiến kỹ thuật v.v

d Mẫu mã bao bì sản phẩm

Sản phẩm có bao bì, kiểu dáng được thiết kế đẹp, bắt mắt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng thì càng dễ nâng cao tính cạnh tranh Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm

có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm (Trần Thu Hương, 2012)

2.1.4.2 Các tiêu chí về tiêu thụ sản phẩm

Để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường, sức cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường chúng ta dựa vào các tiêu chí: Doanh thu, thị phần, hệ thống phân phối v.v

a Doanh thu tiêu thụ sản phẩm

Sức cạnh tranh sản phẩm cũng biểu hiện qua doanh thu tiêu thụ của sản phẩm đó trên thị trường Nếu sản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao

so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sản phẩm có sức cạnh tranh cao Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

Doanh thu = số lượng hàng hóa tiêu thụ * giá cả hàng hóa ( trong một khoảng thời gian nhất định )

b Thị phần của sản phẩm trên thị trường

Thị phần của một hàng hóa trên thị trường là tỷ lệ phần trăm mà một mặt hàng chiếm lĩnh được trên thị trường đó

Thị phần của hàng hóa A trên thị trường = mA / M * 100%

mA: Số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường

Trang 19

M: Tổng số lượng hàng hóa được tiêu thụ trên thị trường

Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ chiếm lĩnh thị trường của một sản phẩm Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá mức độ cạnh tranh của một sản phẩm

so với sản phẩm cùng loại khác

Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem xét sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần của sản phẩm đó Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh cao trên thị trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được bán trên thị trường

Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm có thể so sánh theo tính lịch sử, tức là

năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có sức cạnh tranh cao và ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sản phẩm của Công ty có sức cạnh tranh thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh (Trần Thu Hương, 2012)

2.1.4.3 Các tiêu chí liên quan khác

Nếu như trước kia tiêu chí thuộc về sản phẩm và tiêu chí về tiêu thụ sản phẩm có tính chất quyết định đến sức cạnh tranh của sản phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện sức cạnh tranh cần phải được mở rộng hơn Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các tiêu chí định tính khác như:

- Thương hiệu: “Một thương hiệu là một tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hoặc thiết kế hoặc một sự kết hợp của tất cả nhứng thứ đó, nhằm xác định các hàng hóa và dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán và để phân biệt với những đối thủ cạnh tranh.” (Phillip Kotler, 2012) Thương hiệu càng mạnh thì sức cạnh tranh của sản phẩm càng cao

- Lòng tin của khách hàng và sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm: Lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm được xây dựng trong thời gian dài khách hàng thỏa mãn với sản phẩm và các dịch vụ khác của doanh nghiệp Lòng tin của khách hàng và sự thỏa mãn của khách hàng càng cao thì sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường càng cao

Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoá

Trang 20

toàn bộ các tiêu chí phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy, chúng ta phải kết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định sức cạnh tranh thực sự của hàng hoá trên thị trường Không chỉ đánh giá trên một vài tiêu chí quan trọng như: Thị phần, doanh thu, giá cả mà phải đánh giá một cách tổng hợp, phải dựa trên tất cả các mặt, các yếu tố liên quan đến sản phẩm, thị trường, nhu cầu thị hiếu của khách hàng v.v (Trần Thu Hương, 2012)

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp

2.1.5.1 Yếu tố bên ngoài

a Các yếu tố về mặt kinh tế

Các yếu tố về mặt kinh tế có vai trò quan trọng, quyết định đối với việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh Đồng thời các yếu tố này cũng có ảnh hưởng to lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh sản phẩm

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lên đồng nghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc độ tích luỹ vốn đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên, mức độ hấp dẫn đầu tư cũng sẽ tăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Thị trường được mở rộng đây chính là cơ hội tốt cho những doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ, biết tự hoàn thiện mình, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường Nhưng nó cũng chính là thách thức đối với những doanh nghiệp không có mục tiêu rõ ràng, không có chiến lược hợp lý

Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển ổn định, sẽ diễn ra cuộc chạy đua không khoan nhượng đối với tất cả các doanh nghiệp dù là doanh nghiệp nước ngoài cũng như doanh nghiệp ở trong nước dù là doanh nghiệp đó đang hoạt động ở thị trường nội địa hay thị trường nước ngoài và ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái, bất ổn định, tâm lý người dân hoang mang, sức mua của người dân giảm sút, các doanh nghiệp phải giảm sản lượng, phải tìm mọi cách để giữ khách hàng, lợi nhuận cũng sẽ giảm theo trong lúc đó sự cạnh tranh trên thị trường lại càng trở nên khốc liệt hơn

Trang 21

Các yếu tố về mặt kinh tế như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái

v.v tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp Với chính sách mở cửa và

xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà Nước tác động tới sức cạnh tranh

sản phẩm trong nước so với sản phẩm của nước ngoài Cụ thể khi tham gia vào WTO

giá cả hàng hoá sẽ hạ thấp vì thuế quan được cắt giảm và thủ tục hành chính được

đơn giản hoá, chất lượng, mẫu mã hàng hoá được thay đổi do sức ép cạnh tranh trong

nội bộ WTO

b Các yếu tố thuộc chính trị, luật pháp

Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứ doanh

nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Chính trị và

pháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sở pháp lý cho các

doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thị trường nào dù là trong

nước hay nước ngoài

Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổn định,

phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếp đến

hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế Mỗi thị trường đều có hệ thống

pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn

định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Đặc

biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng

của quan hệ giữa các chính phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế v.v Các doanh

nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia

Sự khác biệt này có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp những đièu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch

chiến lược phát triển, loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường

Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một môi

trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ

chức v.v trong nền kinh tế, khuyến khích phát triển, nâng cao sức cạnh tranh sản

phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 22

c Khách hàng

Khách hàng hay người mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện mối tương quan về thế lực nếu nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi Các doanh nghiệp cần phải làm chủ mối tương quan này, thiết lập được mối quan hệ với khách hàng để giữ khách hàng (thông qua số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao nhận và dịch

vụ sau bán hàng) Khách hàng có ưu thế là có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn

Khách hàng có thể được xem như một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp phải giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại khi người mua (khách hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội

để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn

Nếu doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và trung thành từ phía khách hàng, doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh và sản phẩm có sức cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh

Về mặt lý thuyết, lợi ích của khách hàng và của doanh nghiệp mâu thuẫn với nhau Khách hàng mong muốn có được những chủng loại hàng hóa và dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả thấp nhất Còn doanh nghiệp lại mong muốn khách hàng trả cho hàng hóa của họ mức giá cao

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng cho nên nhất thiết các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hành về phía mình

d Đối thủ cạnh tranh

Trong bất kỳ trận chiến nào thì “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” Biết được đối thủ cạnh tranh của mình là ai, họ chào bán những gì, có thể giúp doanh nghiệp làm cho sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động marketing của mình nổi

Trang 23

trội và khác biệt Những kiến thức về đối thủ rất có ích cho doanh nghiệp trong việc định ra chiến lược cạnh tranh Doanh nghiệp còn có thể sử dụng những kiến thức này để sáng tạo các chiến lược cạnh tranh nhằm tận dụng điểm yếu của đối thủ và nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của riêng mình

Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng vì các đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua Nếu các đối thủ này yếu doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là không đáng

kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn tới tổn thương cho doanh nghiệp

Khi một ngành có sự tăng thêm về số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học, công nghệ Sự xuất hiện của một đối thủ cạnh tranh mới trong ngành thường thông qua việc mua lại các doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng đang có ý định rút lui khỏi ngành Không phải bao giờ cũng gặp phải các đối thủ cạnh tranh mới, nhưng khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần tự tạo một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của đối thủ mới Những hàng rào nàycó thể là lợi thế trong sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, các dịch vụ bán hàng tốt v.v

e Các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp

Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền vốn, lao động đôi khi gây đe doạ cho doanh nghiệp do họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Họ thường gây sức ép trong những tình huống như:

- Họ độc quyền cung cấp vật tư

- Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế

- Không có điều khoản ràng buộc hoặc bảo đảm trong các hợp đồng kinh tế

đã ký kết

- Khi đầu vào đó quan trọng, quyết định trong sản xuất kinh doanh của

Trang 24

doanh nghiệp

- Khi họ có khả năng khép kín sản xuất

Vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập quan hệ lâu dài với các đơn vị cung cấp và đưa ra các biện pháp ràng buộc với các đơn vị cung ứng đầu vào để giảm bớt các ràng buộc họ có thể gây nên với mình, giúp doanh nghiệp sản xuất ổn định, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

f Sản phẩm thay thế

Việc gia tăng về chủng loại và số lượng các sản phẩm thay thế của sản phẩm của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh sản phẩm và thị phần tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động của nhu cầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấp hơn, và chính nó lại làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế

Sức ép do xuất hiện sản phẩm thay thế làm hạn chế lợi nhuận tiềm năng của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại ở các thị trường nhỏ bé Vì vậy, các hãng không ngừng nghiên cứu và tung ra các mặt hàng thay thế

Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu được nhiều lợi nhuận khi trong ngành kinh doanh đó có các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực khách hàng yếu và thế lực nhà cung cấp cũng yếu Ngược lại, một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trong một ngành hàng

có các cản trở xâm nhập thấp, cạnh tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế, thế lực

và của khách hàng và nhà cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chật vật và lợi nhuận thấp Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ được các thế lực trong môi trường cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp (Vũ Hoàng Nam, 2012)

2.1.5.2 Yếu tố bên trong doanh nghiệp

a Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp

Trang 25

và tình hình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi vốn, khả năng thanh toán v.v Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu

tư về liên doanh liên kết.Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh (Trần Thị Anh Thư, 2012)

Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị, nguyên liệu hay phân phối, quảng cáo cho sản phẩm v.v đều phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị công nghệ máy móc hiện đại Doanh nghiệp nào có tiềm lực tài chính hùng mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, giá bán sản phẩm tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, doanh nghiệp cũng có khả năng chấp nhận lỗ một thời gian ngắn để hạ giá thành sản phẩm nhằm giữ vững và mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp để tăng sức cạnh tranh sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Vì vậy vấn đề tài chính luôn luôn là vấn đề gây nhiều trăn trở cho nhà quản

lý Không chỉ vậy trong nền kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng cho sự giàu có phát đạt, sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nguồn tài chính vững chắc sẽ là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp dành được sự tin cậy, đầu tư từ phía khách hàng lẫn nhà đầu tư nước ngoài

Khả năng tài chính của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu hay vốn tự có

và các nguồn vốn khác có thể huy động được Tài chính không chỉ gồm các tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp, mà gồm cả các khoản vay, khoản nhập sẽ có trong tương lai và cả giá trị uy tín của doanh nghiệp đó trên thị trường Vốn tự có có thể do các thành viên sáng lập đóng góp hoặc do một phần lợi nhuận được để lại từ đầu tư, hoặc vốn góp thêm của các cổ đông sau này Vốn vay có thể được huy động từ ngân hàng các tổ chức tài chính các đơn vị quen biết Thiếu nguồn tài chính cần thiết, doanh nghiệp có thể bị phá sản, sụp

Trang 26

đỗ bất cứ lúc nào Tài chính được coi là phương tiện chủ yếu vũ khí sắc bén để tấn công, đánh thắng các đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp nào không đủ khả năng tài chính sẽ bị thôn tính bới các đối thủ hùng mạnh hơn hoặc tự rút lui khỏi thị trường

b Nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được coi là vấn đề có ý nghĩa sống còn với mọi tổ chức trong tương lai Ngày nay thông thường khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hay sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp, người ta thường đánh giá trước tiên nguồn nhân lực của doanh nghiệp:

Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển thành công của mỗi doanh nghiệp

Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể làm đựợc tốt tất cả những

gì mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồn lực khác cho doanh nghiệp một cách nhanh chóng Trí tuệ chất xám của nguồn nhân lực là những thứ vô cùng quý giá, nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu việt hơn với giá thành sản xuất thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh Một đội ngũ lãnh đạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình

độ cao, năng động, linh hoạt và hiểu biết v.v sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước mắt như tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp Họ sẽ đưa ra nhiều ý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của doanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường

c Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp

Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, năng lực quản lý của bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt

là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp

Các thành viên bộ máy quản trị ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bộ máy quản trị có tầm nhìn rộng, có kế hoạch kinh doanh

rõ ràng phù hợp, tư duy chiến lược, trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm phân tích đánh giá năng động, sáng tạo, có mối quan hệ với bên ngoài tốt thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ những lợi ích truớc mắt như tăng doanh thu, lợi

Trang 27

nhuận, mà còn nâng cao uy tín doanh nghiệp, lợi ích lâu dài Đây là yếu tố quan trọng tác động đến sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức, doanh nghiệp đó sẽ tận dụng được những lợi thế tiềm ẩn của tổ chức mình Đây là một đòi hỏi đối vớic các nhà quản trị cấp cao Không thể nói doanh nghiệp có được một cấu trúc tốt nếu không có một

sự nhất quán trong cách nhìn nhận về cơ cấu doanh nghiệp

Một cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp tốt đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõ ràng Bên cạnh đó ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt nề nếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôi cuốn họ vào quá trình đạt tới những mục tiêu chung của doanh nghiệp là tăng sức cạnh tranh sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

d Thương hiệu

Thương hiệu có sức ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiêp bởi lẽ một doanh nghiệp mà có thương hiệu đã in đậm trong tâm trí người tiêu dùng khách hàng thì sản phẩm của doanh nghiệp đó được chấp nhận và ưa chuộng trên thị trường

Các lợi ích do thương hiệu mang lại:

- Tăng doanh số bán hàng

- Thắt chặt sự trung thành của khách hàng

- Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Mở rộng và duy trì thị trường tiêu thụ

- Tăng cường thu hút lao động và việc làm

- Tăng sản lượng hàng hóa

Khi một thương hiệu đã được khách hàng chấp nhập, nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đích thực dễ nhận thấy Đó là khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng và sâu rộng hơn ngay cả khi đó là một chủng loại hàng hóa mới (ví

dụ như Wave, SH thuộc sản phẩm của Honda v.v.), tạo ra cơ hội thâm nhập và

Trang 28

chiếm lĩnh thị trường đối với các thương hiệu mạnh Hàng hóa mang thương hiệu nổi tiếng có thể bán giá cao hơn so với các hàng hóa tương tự nhưng mang thương hiệu xa lạ Ngoài ra một thương hiệu mạnh sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn (nhờ tác dụng tuyên truyền và phổ biến kinh nghiệm của chính những người tiêu dùng) tăng sức cạnh tranh sản phẩm và lợi nhuận cho doanh nghiệp

e Nguồn lực về vật chất kỹ thuật công nghệ

Nhóm các yếu tố về vật chất kỹ thuật công nghệ sản xuất ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Nó tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng sản phẩm và giá bán sản phẩm

Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệ tiên tiến phù hợp với qui mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao năng lực sản xuất, làm tăng sức cạnh tranh sản phẩm của của doanh nghiệp lên rất nhiều, với một cơ sở vật chất tốt, chất lượng sản phẩm sẽ được nâng lên cao hơn cùng với việc

hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường Khả năng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ rất lớn, ngược lại không một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà công nghệ sản xuất lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu làm giảm chất lượng sản phẩm, tăng chi phí sản xuất (Vũ Hoàng Nam, 2012)

2.1.6 Các công cụ cạnh tranh dùng để tăng sức cạnh tranh sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ các đối thủ cạnh tranh Để tồn tại và phát triển được trong điều kiện như vậy, mỗi doanh nghiệp đều có những công cụ riêng của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trường Các công cụ thường được sử dụng là: giá cả, sản phẩm, hệ thống phân phối, các hoạt động xúc tiến v.v Việc lựa chọn các công

cụ và biện pháp cho phù hợp để áp dụng trong từng trường hợp cụ thể là cả một nghệ thuật trong cạnh tranh

2.1.6.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm

Nhu cầu của thị trường ngày càng biến động nhanh chóng và đa dạng Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược phát triển sản phẩm theo các hướng

Trang 29

a Nâng cao chất lượng sản phẩm

Có thể hiểu chất lượng sản phẩm là mức đo, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của nó Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người tiêu dùng ngày càng cao thì những yêu cầu về chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ cũng gia tăng tương ứng

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO đưa ra khái niệm: Chất lượng sản phẩm

là tổng thể những chi tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của sản phẩm, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn

b Đa dạng hóa sản phẩm

Đa dạng hóa sản phẩm thực chất là quá trình mở rộng danh mục hàng hóa, tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả Cùng với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, vòng đời của sản phẩm đang ngày càng bị rút ngắn lại Doanh nghiệp cần có nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa để hỗ trợ cho nhau

Trong quá trình mở rộng kinh doanh, các doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hóa sản phẩm với các hình thức khác nhau Có thể dùng hình thức hoàn thiện và cải tiến các loại sản phẩm đang sản xuất để giữ vững thị trường hiện tại và thâm nhập thị trường mới, có thể đa dạng hóa theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm, hoặc có thể sản xuất ra những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chung chủng loại nguyên liệu gốc, hoặc sử dụng tổng hợp các chất có chứa đựng trong một loại nguyên liệu để sản xuất một số sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau

c Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm

Trong cạnh tranh, giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh hữu hiệu thông qua chính sách định giá bán Khi đưa ra chính sách định giá bán, doanh nghiệp cần phải xem xét các vấn đề như: lượng cầu đối với sản phẩm, chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp phải chấp nhận giá bán thấp hơn giá thành vì những mục tiêu khác như: để thâm nhập thị trường

dễ dàng hơn Điều cuối cùng là phải nhận dạng đúng thị trường nhằm đảm bảo sự phù hợp với nhu cầu và giá bán sản phẩm (Lê Thị Nhung, 2011)

2.1.6.2 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh và đây

Trang 30

cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và lợi nhuận Để tiêu thụ sản phẩm, công việc đầu tiên của doanh nghiệp là lựa chọn kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý,

có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải phóng nguồn hàng để bù đắp chi phí sản xuất và thu hồi vốn Xây dựng được một hệ thống mạng lưới phân phối tốt có nghĩa là xây dựng được một nền tảng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp

Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ sở giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi hình thức bán buôn, bán lẻ vừa thích hợp với phong tục, tập quán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùng đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng

Hệ thống phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Nhờ có hệ thống phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ Hệ thống phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sản xuất dễ dàng hơn như những dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân phối hàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối cơ bản đó là:

- Kênh trực tiếp: Là loại kênh phân phối trong đó hàng hoá được chuyển đưa thẳng từ người sản xuất tới người tiêu dùng

- Kênh gián tiếp: Là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trung gian phân phối

Căn cứ vào ưu nhược điểm của từng loại kênh phân phối, tình hình thị trường và đặc điểm hàng hoá của mình mà doanh nghiệp ra quyết lựa chọn loại kênh nào hoặc là sử dụng kết hợp với nhau

Việc tổ chức mạng lưới cửa hàng để đưa hàng hoá đến người tiêu dùng trong hệ thống phân phối cũng ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Hệ thống phân phối rộng rãi trên nhiều khu vực, các nhà phân phối có vị trí ở những nơi giao thông thuận tiện sẽ tạo ra sự tiện lợi khi mua sắm của khách hàng Nhờ đó, hệ thống phân phối góp phần làm tăng sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp (Lê Thị Nhung, 2011)

Trang 31

Để nâng cao uy tín và trách nhiệm của mình đối với khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt các dịch vụ sau bán hàng Vai trò của dịch vụ sau bán hàng được thể hiện như sau:

Tạo lòng trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp theo thống kê cho thấy có khoảng 30% khách hàng chuyển sang nhà cung cấp khác khi các nhà cung cấp đó thỏa mãn tốt hơn các vấn đề về sản phẩm và chất lượng, còn lại 70% là do gặp phải các vấn đề về dịch vụ khách hàng, đặc biệt là dịch vụ sau bán hàng

Tác động đến bán hàng và quyết định tiếp tục mua hàng, khi thỏa mãn khách hàng bằng dịch vụ sau bán hàng sẽ có ảnh hưởng tốt đến quyết định mua hàng

Tăng thêm hình tượng của công ty đối với khách hàng, dịch vụ sau bán hàng tốt sẽ tạo niềm tin cho khách hàng từ đó mang lại sức cạnh tranh sản phẩm cao hơn

Tóm lai, dịch vụ sau bán hàng đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong các doanh nghiệp hiên nay với mục tiêu biến các khách hàng một lần thành các khách hàng thường xuyên hoắc suốt đời Làm được điều đó doanh nghiệp giảm được chi phí vì việc giữ một khách hàng cũng luôn hài lòng chỉ bằng 1/5 chi phí để thu hút khách hàng mới, đồng thơi doanh nghiệp nâng cao được uy tín trên thị trường, tăng sức cạnh trạnh và kết quả là tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận

b Phương thức thanh toán

Trang 32

Phương thức thanh toán cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử dụng Phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chóng sẽ ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường

Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phương thức thanh toán khác nhau như: Thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngân hàng, mở L/C giúp cho hoạt động mua bán được diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người bán và người mua Việc lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý sẽ có tác động kích thích đối với khách hàng, tăng khối lượng tiêu thụ, tăng sức cạnh tranh sản phẩm và do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp (Lê Thị Nhung, 2011)

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm urê trên Thế giới và trong nước

2.2.1.1 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm urê trên Thế giới

Trên thế giới, urê được sử dụng chủ yếu làm phân bón, ngoài ra urê còn là nguyên liệu công nghiệp quan trọng

Trong nông nghiệp, urê đã trở thành phân bón phổ biến nhất do hàm lượng nitơ cao (>46%), có thể dự trữ và bảo quản dễ dàng, đặc biệt ở những quốc gia phát triển Urê được sử dụng chủ yếu để bón cho các loại cây trồng như Lúa, Ngô và các loại cây trồng có giá trị kinh tế, các đồng cỏ và rừng trồng Một lượng nhỏ urê còn được sử dụng trong bảo quản cá, trộn vào thức ăn gia súc v.v Tiêu thụ urê trong nông nghiệp chiếm 90% tổng sản lượng urê tiêu thụ hàng năm trên thế giới

Trong công nghiệp, urê được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như sản xuất ván nhân tạo, sơn, chế biến gỗ, vật liệu xây dựng, dầu bóng, giấy, thuộc da, sợi dệt v.v Tiêu thụ trong công nghiệp chiếm 10% sản lượng toàn thế giới Urê là loại phân bón có tính thương mại nhất trong các loại phân bón trên thị trường thế giới Trong giai đoạn

từ năm 1987 đến năm 1999, lượng urê tiêu thụ trên toàn thế giới tăng 48% trong khi đó lượng tiêu thụ phân bón Nitơ khác chỉ tăng 17% trong cùng thời kỳ này Do đó, thị phần urê chiếm phần lớn trên thị trường phân bón so với các loại phân bón khác Theo

dự báo của Hiệp hội Công nghiệp phân bón thế giới (IFA - International Fertilizer Industry Association) thì trong giai đoạn 5 năm tới nhu cầu tiêu thụ toàn cầu sẽ tăng

Trang 33

bình quân 2,06%/năm và đạt 154,6 triệu tấn vào năm 2015 Sản lượng sản xuất toàn

cầu dự kiến sẽ đạt 165,1 triệu tấn vào năm 2015 (Vũ Thái An, 2013)

Bảng 2.1 Công suất sản xuất urê ở các khu vực trên thế giới

Khu vực

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Bắc Mỹ 12.794 9,50 10.658 7,30 10.658 6,60 10.658 6,50

Mỹ La Tinh 6.134 4,60 7.221 4,90 8,292 5,10 8.292 5,00 Liên Xô cũ 12.526 9,30 11.284 7,70 11.284 6,90 10.937 6,60 Châu Âu 11.149 8,30 11.648 7,90 11.648 7,10 11.648 7,10 Châu Phi 3.128 2,30 3.525 2,40 5.455 3,30 5.455 3,30 Trung Đông 6.833 5,10 13.736 9,30 21.330 13,00 22.980 13,90 Châu Á 81.156 60,60 88.307 60,20 94.404 57,70 94.404 57,20 Châu Đại Dương 465 0,30 498 0,30 498 0,30 720 0,40

Tổng cộng 134.182 100 146.877 100 163.569 100 165.094 100

Nguồn IFA và APPI

Theo IFA, sản xuất urê tăng lên ở những nước tiêu thụ mạnh, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ Sản phẩm urê sản xuất ở Trung Quốc và Ấn Độ phần lớn được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, chỉ có lượng nhỏ sản phẩm dư thừa được xuất khẩu

Bảng 2.2 Nhu cầu tiêu thụ urê ở các khu vực trên thế giới

Khu vực

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Số lượng (nghìn tấn)

Tỷ trọng (%)

Châu Mỹ 20.480 19,00 21.390 16,60 30.130 21,20 32.380 20,90 Châu Âu 10.230 9,50 12.570 9,70 15.720 11,00 16.720 20,90 Châu Á 73.510 59,20 91.230 70,80 93.890 66,00 103.330 66,80 Khu vực khác 3.560 3,30 3.720 2,90 2.560 1,80 2.200 1,40

Tổng cộng 107.780 100 128.910 100 142.300 100 154.630 100

Nguồn IFA và APPI

Trang 34

2.2.1.2 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ urê tại Việt Nam

Trước đây, việc tăng sản lượng của cây trồng phụ thuộc vào hai yếu tố chính là diện tích canh tác và năng suất Với diện tích canh tác ngày càng thu hẹp nhường chỗ cho các khu công nghiệp, ở Việt Nam hiện nay việc tăng năng suất trở thành nhân tố chủ yếu để tăng sản lượng Chúng ta đã đánh giá được việc tăng năng suất góp phần làm tăng 80% sản lượng lúa trong những năm gần đây, và trong tương lai gần có thể đạt được tới 100% (Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế - IFPRI, 1996) Ngoài việc đưa ra những giống mới, luân canh gối vụ để tăng sản lượng thì biện pháp tăng năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích đất canh tác đòi hỏi tăng lượng dinh dưỡng trong đất, việc bổ sung dinh dưỡng cho đất từ phân bón rất quan trọng Nhờ việc đánh giá đúng đắn và quan tâm tới vai trò của phân bón trong canh tác đã đưa nền nông nghiệp Việt Nam thay đổi từ một nền nông nghiệp truyền thống “dựa vào đất” sang nền nông nghiệp lớn mạnh “dựa vào phân bón”

Năm 2014, tại Việt Nam nguồn cung phân urê đáp ứng được toàn bộ nhu cầu trong nước nhờ các nhà máy sản xuất mới đi vào hoạt động với tổng công suất thiết

kế cao Tuy nhiên, diễn biến cung cầu trong năm 2014 chưa thực sự căng thẳng do một số nhà máy mới vẫn chưa hoạt động hết công suất

Trong đó, Đạm phú mỹ sản xuất và tiêu thụ khoảng 770.000 tấn, Đạm Cà Mau sản xuất và tiêu thụ khoảng 760.000 tấn Nhà máy đạm Ninh Bình gặp sự cố

kỹ thuật dẫn đến việc ngưng sản xuất để khắc phục sự cố và sửa chữa toàn nhà máy đến đầu tháng 5/2014 nhà máy đã khắc phục được các sự cố và đưa vào vận hành sản xuất ở mức thấp tải và dần nâng tải lên đạt 70 - 80% công suất thiết kế Với việc gặp sự cố trên nên nguồn cung ra thị trường của nhà máy đạm Ninh Bình thấp hơn

so với công suất thiết kế là 560.000 tấn/năm Nhà máy đạm Hà Bắc đang chạy ổn định với công suất 180.000 tấn/năm và đang hoàn thiện dự án cải tạo mở rộng nhà máy nâng công suất lên 500.000 tấn/năm

Như vậy, với khả năng cung ứng của 4 nhà máy sản xuất urê hiện nay thì cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu cả nước là khoảng 2,2 triệu tấn urê Về dài hạn, khi năng lực sản xuất của 4 nhà máy ổn định thì tổng công suất thiết kế lên hơn 2,6 triệu tấn so với tổng nhu cầu cả nước khoảng hơn 2,2 triệu tấn thì cung sẽ vượt cầu (Phòng Thị trường – Hanichemco)

Trang 35

Biểu đồ 2.1 Cung cầu urê tại Việt Nam

Nguồn: Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí , 2012

Tình hình nhập khẩu urê của Việt Nam trong những năm vừa qua cũng hết sức mạnh mẽ, có tất cả trên 15 thị trường cung cấp urê tới Việt Nam Với lợi thế giá

rẻ, thuận lợi về mặt địa lý nên Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp urê số 1 của nước

ta Tỷ trọng nhập khẩu urê từ Trung Quốc chiếm 51% tổng lượng nhập, bỏ khá xa

so với nhà cung cấp lớn thứ hai là Nga với tỷ trọng chiếm 10,26% tổng nhập Sau Trung Quốc, nhập khẩu phân bón từ các thị trường khác như: Nga, Philippin, Ucraina, Đài Loan, Indonesia, v.v

Bảng 2.3 Tình hình nhập khẩu urê về Việt Nam từ năm 2010 đến nay

Trang 36

Tình hình nhập khẩu urê về Việt Nam năm 2014 giảm mạnh cả về số lượng

và giá trị, lượng urê nhập về giảm 627.449 tấn tương đương giảm 55,45%, giá trị giảm 223.355 nghìn USD tương đương giảm 52,54 % so với năm 2013, có điều đó

là do năm 2014 nguồn cung urê trong nước từ 4 nhà máy sản xuất đã đủ đáp được nhu cầu tiêu thụ trong nước

2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của một số doanh nghiệp

2.2.2.1 Kinh nghiệm cùa Đạm Phú Mỹ

Một là, tiết giảm chi phí bằng cách tiết kiệm chi phí trong sản xuất, bán hàng

Đạm Phú Mỹ dần chiếm lĩnh được thị trường (Nam Khang, 2013)

2.2.2.2 Kinh nghiệm của Đạm Ninh Bình

Một là, phát triển quan hệ tốt với các ngân hàng, tổ chức tài chính ký kết thêm nhiều hợp đồng tín dụng để cung cấp kịp thời vốn tài trợ phương án mua sắm vật tư dự phòng giúp cho Đạm Ninh Bình có được sự vận hành ổn định, liên tục và sản phẩm đạt chất lượng cao

Ngày 27/9/2013, tại Ninh Bình, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Tây Hồ (BIDV Tây Hồ) và Công ty TNHH MTV Đạm Ninh Bình (thành viên của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam - Vinachem) tổ chức Lễ ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng giai đoạn 2013 - 2014 với tổng giá trị là 800 tỷ đồng

Ngày 12/05/2014, tại Ninh Bình, đã diễn ra Lễ ký kết hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với công ty TNHH MTV đạm Ninh Bình (Đạm Ninh Bình) Theo đó, giới hạn tín dụng được

Trang 37

Vietcombank cấp cho Công ty đạm Ninh Bình trị giá lên tới 800 tỷ đồng

Hai là, có chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng, công nhân vận hành có tay nghề cao

Ba là, duy trì sản xuất ổn định, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất làm giảm giá thành sản phẩm tăng lợi thế cạnh tranh, sử dụng chiến lược định giá thấp nhằm thâm thập thị trường thu hút khách hàng và đạt được thị phần tiêu thụ (Theo Vinachem.com.vn)

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra qua việc nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm cho Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc

Qua phân tích những bài học kinh nghiệm từ một số doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc trong việc nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm như sau:

Thứ nhất, quan tâm cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo sản xuất an toàn, ổn định chất lượng sản phẩm sản xuất ra tốt nhất và có uy tín trên thị trường

Thứ hai, tiết giảm tối đa chi phí quản lý, chi phí trong sản xuất, chi phí bán hàng, sử dụng tiết kiệm chống lãng phí nguyên liệu đầu vào để hạ giá thành sản phẩm tăng lợi thế cạnh tranh

Thứ ba, duy trì và phát triển mối quan hệ với các ngân hàng, tổ chức tài chính để có thể ký kết được nhiều hợp đồng tín dụng, giúp ổn định và tăng nguồn tài chính hoạt động của công ty

Thứ tư, trú trọng phát triển hệ thống phân phối rộng khắp và có các dịch vụ sau bán hàng hấp dẫn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm của Công ty

Thứ năm, giữ mối quan hệ tốt với các đơn vị cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của công ty, tránh phụ thuộc quá nhiều vào một số ít đơn vị cung cấp

để đảm bảo nguyên liệu đầu vào được cung cấp ổn định và giá cạnh tranh

2.2.4 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đề tài

Vấn đề nâng cao năng lực hay sức cạnh tranh của sản phẩm, của nền kinh tế, của các doanh nghiệp v.v đã được giới học thuật, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch

Trang 38

định chính sách, quản lý doanh nghiệp v.v rất quan tâm nghiên cứu

Liên quan đến đề tài này, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ kinh tế đề cập Chẳng hạn:

Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

Trần Thị Thu Hương (2012), Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường

Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trần Thị Anh Thư (2012), Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương; Nguyễn Hồng Cẩm (2006), Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dệt may thành công đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường

Vũ Hoàng Nam (2010), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty

Cổ phần điện tử biên hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân;

Lê Thị Nhung (2011), Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần TOJI Việt Nam đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế

quốc dân

Trần Thị Hồng Yến (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nông sản xuất khẩu tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM,

Chuyên đề tốt nghiệp, Trường Đại học kinh tế quốc dân

Dương Thị Thu Trang (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Trang 39

bánh kẹo của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trên thị trường Việt Nam, Đề án

kinh tế thương mại, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Tác giả đã nghiên cứu, tham khảo các công trình trên và luận văn “Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm urê của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc tại thị trường Miền Bắc” là một nghiên cứu mới không trùng lặp với

các nghiên cứu trước đây, tập trung đề ra giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho một sản phẩm cụ thể của một doanh nghiệp cụ thể trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh sản phẩm phân bón đó là sản phẩm urê của Công ty TNHH một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc

Trang 40

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc

3.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngày 18/02/1959, tại Bắc Kinh - Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc ký Hiệp định về việc Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng nhà máy phân đạm bằng viện trợ không hoàn lại Đây thể hiện biểu tượng cao đẹp cho tình hữu nghị giữa hai Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước Việt - Trung Đây là nhà máy phân đạm đầu tiên của Việt Nam, với sản lượng thiết kế là 10 vạn tấn phân bón Urê một năm, với nguyên liệu chính là than cục

Ngày 29/01/1975, Nhà máy phân đạm Hà Bắc được thành lập theo Quyết định số 178/HC-QLKT của Tổng cục trưởng Tổng cục Hóa chất (bao gồm cả Nhà máy điện Hà Bắc và nhà máy cơ khí Hà Bắc) Ngày 12/12/1975, bao phân đạm urê đầu tiên xuất xưởng, đánh dấu thời điểm quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Nhà máy phân đạm Hà Bắc

Trong thời gian từ 1976 ÷ 1977, Nhà máy trong giai đoạn chạy thử và sản xuất ban đầu Tuy nhiên, kết thúc giai đoạn này, dây truyền sản xuất vẫn chưa chạy máy liên tục, dài ngày và chưa đạt công suất thiết kế Đồng thời trong giai đoạn này,

do nhiều lý do, các chuyên gia của Trung Quốc cũng rút về nước, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới chạy thử, nghiệm thu của Nhà máy

Từ năm 1978 ÷ 1983, Nhà máy chính thức bước vào giai đoạn sản xuất theo

kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước, tuy nhiên do công nghệ không ổn định; tình hình cung cấp nguyên nhiên vật liệu khó khăn, nên sản xuất của Nhà máy ngày càng kém

đi, sản lượng thấp, Nhà máy đứng trước nguy cơ ngừng sản xuất

Giai đoạn từ năm 1983 ÷ 1990, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương,

cơ chế cho các doanh nghiệp tự hạch toán kinh doanh, đổi mới hoạt động Tuy nhiên, Nhà máy vẫn trong tình trạng sản xuất hết sức khó khăn, do công nghệ không

ổn định, thiếu nguyên nhiên vật liệu, điện và các vật tư thiết bị, phụ tùng thay thế khan hiếm; sự biến động về giá, lương, tiền cũng ảnh hưởng không ít đến tình hình sản xuất của Nhà máy

Giai đoạn từ năm 1991 ÷ 1996, đây là giai đoạn phát triển mạnh của Nhà

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thái An (2013). Xây dựng chiến lược tiêu thụ cho sản phẩm phân đạm urê của Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
2. Đào Duy Anh (2008). Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của Công ty cổ phần chè Quân Chu, Thái nguyên trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên Khác
3. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006). Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng Khác
5. Nguyễn Hồng Cẩm (2006). Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dệt may thành công đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Khác
6. Chu Văn Cấp (2003). Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Đảng bộ Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc (2015). Văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Công ty lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020 Khác
8. Diễn đàn kinh tế thế giới – WEF (2015). Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu Khác
9. Mạc Thị Hà (2013). Chiến lược kinh doanh sản phẩm phân bón trên thị trường Miền trung - Tây nguyên của Công ty Cổ phần phân bón và hóa chất dầu khí Miền trung, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Khác
10. Trần Thị Thu Hương (2012). Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
11. Nam Khang (2013). Trò chuyện với doanh nghiệp, Chúng tôi chọn sự trung thực, Báo Doanh nhân Sài Gòn điện tử Khác
12. Vũ Hoàng Nam (2010). Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần điện tử biên hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
13. Lê Thị Nhung (2011). Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần TOJI Việt Nam đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân Khác
14. Philip Kotler (2012). Quản trị Marketing, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Khác
15. Trần Thị Anh Thư (2012). Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương Khác
16. Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí (2012). báo cáo thường niên năm 2012, Câu chuyện nổi bật:Tổng quan thị trường phân đạm 2011-2012 Khác
17. Dương Thị Thu Trang (2009). Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bánh kẹo của Khác
18. Trần Thị Hồng Yến (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nông sản xuất khẩu tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM, Chuyên đề tốt nghiệp, Trường Đại học kinh tế quốc dân Khác
19. Viện nghiên cứu chính sách thực phẩm quốc tế - IFPRI (1996). Tăng năng suất góp phần tăng sản lượng lúa Khác
20. Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2002). Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, NXB Giao thông Vận tải, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm