1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

99 821 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 729,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG TÓM TẮTHOÀNG THỊ ANH. Tháng bảy 2009. “ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỀDỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”HOANG THI ANH. July 2009. “Using ARIMA model to Forecast price ofrice at SONG CUU LONG”Từ công việc thu thập số liệu giá lúa gạo của khu vực đồng bằng sông Cửu Long tạitrang web của Hiệp hội nông dân Việt Nam, khóa luận sử dụng phương pháp mô hìnhhồi quy và mô hình Arima với công cụ Eview và Excel để tiến hành dự báo giá lúa gạotại khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng tới. Từ đó, xác định đườngkhuynh hướng giá trong tương lai. Dự báo lúa gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Longtrong tương lai sẽ tăng do nhu cầu gạo trên thế giới đang tăng, ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế làm cho nền kinh tế các nước gặp khó khăn, nhu cầu gạo chấtlượng loại thường và trung bình như ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên ở nhiềunước. Vì vậy, nông dân và các công ty xuất khẩu lúa gạo hoàn toàn yên tâm về giá lúagạo trong thời gian sắp tới, yên tâm đầu tư vào lúa gạo. Ngành lúa gạo đồng bằng sôngCửu Long cần đầu tư nhiều hơn nữa về kỹ thuật, chủng loại giống tốt hơn, chủng loạisản phẩm và thị trường kinh doanh một cách hợp lý tăng cường xâm nhập vào các thịtrường lúa gạo chất lượng cao của các nước phát triển trên thế giới. Để ngành nôngnghiệp đồng bằng sông Cửu Long có thể tồn tại và phát triển song song với các ngànhcông nghiệp của đất nước, cạnh tranh với thị trường lúa gạo chất lượng cao, khẳngđịnh thương hiệu gạo đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, của Việt Nam nói chungvMỤC LỤCTrangDanh mục các bảng viiDanh mục các hình viiiDanh mục phụ lục ixCHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 011.1. Đặt vấn đề 011.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa đề tài 031.2.1. Mục tiêu 031.2.2. Ý nghĩa đề tài 031.3. Phạm vi nghiên cứu 041.4. Cấu trúc của khóa luận 04CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN 062.1. Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long 062.1.1. Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúakhu vực đồng bằng sông Cửu Long 062.1.2. Thu hoạch 102.2. Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây 102.2.1. Tình hình giá lúa gạo 102.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá lúa gạo 122.2.3. Vấn đề phát triển cây nông nghiệp 142.2.4. Thực trạng sản xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long 162.2.5. Thị trường tiêu thụ lúa gạo tại khu vựcđồng bằng sông Cửu Long 17CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 193.1. Các khái niệm dự báo 193.1.1. Thị trường, hiệu quả của thị trường và cơ chếhình thành giá cả sản phẩm nông nghiệp 193.1.2. Dự báo và tính chất của dự báo 203.1.3. Chức năng, vai trò và các nguyên tắc của dự báo 20vi3.1.4. Các nguyên tắc dự báo 213.2. Cung cầu và giá cả thị trường 213.2.1. Cung về sản phẩm lúa gạo 213.2.2. Cầu của sản phẩm lúa gạo 223.3. Cơ sở lý luận về phương pháp dự báo giá vàđánh giá kết quả của dự báo 223.3.1. Lựa chọn phương pháp dự báo 223.3.2. Đánh giá dự báo đối với phương pháp dự báo Box – Jenkins 243.4. Dự báo 253.5. Thu thập và xử lý số liệu 333.5.1. Thu thập số liệu 333.5.2. Xử lý số liệu 34CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 354.1. Hiện trạng sản xuất, tiêu thụ và thị trường 35lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long4.2. Tình hình xuất khẩu 384.3. Dự báo giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long 424.3.1. Thị trường lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 444.3.2. Thị trường gạo xuất khẩu 514.4. Thảo luận 654.4.1. Thuận lợi 664.4.2. Khó khăn 674.5. Một số đánh giá dự báo của chuyên gia trong dự báogiá lúa gạo năm 2009 67CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 705.1. Kết luận 705.2. Đề nghị 715.2.1. Về đầu tư phát triển 735.2.2. Với chính phủ 735.2.3. Về quản lý ngành sản xuất, dự trữ và tiêu thụ lúa gạo 74viiDANH MỤC CÁC BẢNGTrangBảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm (từ 1990 – 2007) 15Bảng 3.1. Quy Tắc Kiểm Định 29Bảng 3.2. Các Loại Mô Hình 32Bảng 4.1. Cán Cân Xuất Nhập Khẩu Của Việt Nam Thời Kỳ 1989 – 1999 39Bảng 4.2: Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua các châu lục qua 17năm qua (từ 19892005) 39Bảng 4.3: Năng suất lúa tại đồng bằng Sông Cửu Long qua các năm. 41Bảng 4.4. Diện tích lúa đồng bằng sông Cửu Long qua các năm 42Bảng 4.5: Sản lượng lúa của cả nước qua các năm 19902007 43Bảng 4.6: Giá lúa theo tháng bình quân từ 012007052009 45Bảng 4.7. So sánh các chỉ tiêu đánh giá các mô hình dự báo 48Bảng 4.8: Gía lúa dự báo 49Bảng 4.9: Dữ liệu giá gạo nguyên liệu loại 1 từ 2025% tấm 52Bảng 4.10: So sánh các chỉ tiêu đánh giá mô hình dự báo gạo nguyên liệu loại I 54Bảng 4.11. Bảng dự báo của gạo nguyên liệu loại I 55Bảng 4.12. Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu 58Bảng 4.13 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình dự báo gạo5% tấm xuất khẩu 59Bảng 4.14: Bảng dữ liệu dự báo giá gạo 5% tấm 60Bảng 4.15: Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm 62Bảng 4.16 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hìnhdự báo gạo 15% tấm xuất khẩu 63Bảng 4.17: Bảng dự báo giá gạo 15% tấm 63`viiiDANH MỤC CÁC HÌNHTrangHình 4.1: Đồ thị diễn biến giá lúa tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long 46Hình 4.2. Đồ thị dự báo giá lúa trên thị trường 50Hình 4.3 : Đồ thị giá gạo nguyên liệu loại 1 53Hình 4.4. Đồ thị dự báo của mô hình ARIMA (4,1,4) của gạonguyên liệu loại I 57Hình 4.5: Biểu đồ giá gạo xuất khẩu 5% tấm 59Hình 4.6: Đồ thị dự báo giá gạo 5% tấm 61Hình 4.7. Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấmixDANH MỤC PHỤ LỤCTrangPhụ lục 1. Dự báo giá lúa đồng bằng sông Cửu Long 77Phụ lục 2. Dự báo giá gạo nguyên liệu loại I 81Phụ lục 3. Dự báo giá gạo 5% tấm xuất khẩu 85Phụ lục 4. Dự báo giá gạo 15% tấm xuất khẩu 88

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI

KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

HOÀNG THỊ ANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN

NGÀNH KINH TẾ

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Dự Báo Giá Xuất Khẩu

Cao Su Tự Nhiên Việt Nam” do Hoàng Thị Anh, sinh viên khóa 2005 – 2009, nghành

Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

Thái Anh Hòa Giáo viên hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Luận văn này là kết quả của những nổ lực hết mình trong những năm tháng học

tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Những kiến

thức và kinh nghiệm quý báu được học tại trường là hành trang để cho em bước vào

đời

Em xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy cô ở trường nói chung và ở khoa

Kinh Tế nói riêng, đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm

làm việc vô cùng quý báu

Em xin cảm ơn thầy Thái Anh Hòa, người đã trực tiếp hướng dẫn cho em thực

hiện đề tài này

Cảm ơn sự hỗ trợ về mặt vật chất lẫn tinh thần của gia đình, cảm ơn sự giúp đỡ

của bạn bè trong suốt thời gian qua là những nền tảng và động lực to lớn để em hoàn

thành luận văn này

Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài có hạn cộng với trình độ hiểu biết và

tầm nhìn chưa rộng, dẫn đến nhiều nhận xét con mang tính chủ quan Vì thế, luận văn

này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các

bạn

Thành phố Hồ CHí Minh, ngày tháng năm 2009

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

HOÀNG THỊ ANH Tháng bảy 2009 “ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỀ

DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

HOANG THI ANH July 2009 “Using ARIMA model to Forecast price of

rice at SONG CUU LONG”

Từ công việc thu thập số liệu giá lúa gạo của khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại trang web của Hiệp hội nông dân Việt Nam, khóa luận sử dụng phương pháp mô hình hồi quy và mô hình Arima với công cụ Eview và Excel để tiến hành dự báo giá lúa gạo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng tới Từ đó, xác định đường khuynh hướng giá trong tương lai Dự báo lúa gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai sẽ tăng do nhu cầu gạo trên thế giới đang tăng, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho nền kinh tế các nước gặp khó khăn, nhu cầu gạo chất lượng loại thường và trung bình như ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên ở nhiều nước Vì vậy, nông dân và các công ty xuất khẩu lúa gạo hoàn toàn yên tâm về giá lúa gạo trong thời gian sắp tới, yên tâm đầu tư vào lúa gạo Ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long cần đầu tư nhiều hơn nữa về kỹ thuật, chủng loại giống tốt hơn, chủng loại sản phẩm và thị trường kinh doanh một cách hợp lý tăng cường xâm nhập vào các thị trường lúa gạo chất lượng cao của các nước phát triển trên thế giới Để ngành nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long có thể tồn tại và phát triển song song với các ngành công nghiệp của đất nước, cạnh tranh với thị trường lúa gạo chất lượng cao, khẳng định thương hiệu gạo đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, của Việt Nam nói chung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Danh mục các bảng vii

2.1 Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long 06

2.1.1 Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúa

khu vực đồng bằng sông Cửu Long 06

2.1.2 Thu hoạch 10

2.2 Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây 10

2.2.1 Tình hình giá lúa gạo 10

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá lúa gạo 12

2.2.4 Thực trạng sản xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long 16

2.2.5 Thị trường tiêu thụ lúa gạo tại khu vực

đồng bằng sông Cửu Long 17

Trang 6

3.2 Cung cầu và giá cả thị trường 21

3.2.1 Cung về sản phẩm lúa gạo 21

3.2.2 Cầu của sản phẩm lúa gạo 22

3.3 Cơ sở lý luận về phương pháp dự báo giá và

đánh giá kết quả của dự báo 22

3.3.2 Đánh giá dự báo đối với phương pháp dự báo Box – Jenkins 24

3.5.1 Thu thập số liệu 33

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Hiện trạng sản xuất, tiêu thụ và thị trường 35

4.2 Tình hình xuất khẩu 38

4.3 Dự báo giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long 42

4.3.1 Thị trường lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 44

4.3.2 Thị trường gạo xuất khẩu 51

4.4.1 Thuận lợi 66

4.4.2 Khó khăn 67

4.5 Một số đánh giá dự báo của chuyên gia trong dự báo

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm (từ 1990 – 2007) 15

Bảng 3.1 Quy Tắc Kiểm Định 29

Bảng 4.1 Cán Cân Xuất Nhập Khẩu Của Việt Nam Thời Kỳ 1989 – 1999 39

Bảng 4.2: Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua các châu lục qua 17

năm qua (từ 1989-2005) 39 Bảng 4.3: Năng suất lúa tại đồng bằng Sông Cửu Long qua các năm 41

Bảng 4.4 Diện tích lúa đồng bằng sông Cửu Long qua các năm 42

Bảng 4.5: Sản lượng lúa của cả nước qua các năm 1990-2007 43

Bảng 4.6: Giá lúa theo tháng bình quân từ 01/2007-05/2009 45

Bảng 4.7 So sánh các chỉ tiêu đánh giá các mô hình dự báo 48

Bảng 4.9: Dữ liệu giá gạo nguyên liệu loại 1 từ 20-25% tấm 52

Bảng 4.10: So sánh các chỉ tiêu đánh giá mô hình dự báo gạo nguyên liệu loại I 54

Bảng 4.11 Bảng dự báo của gạo nguyên liệu loại I 55

Bảng 4.12 Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu 58

Bảng 4.13 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình dự báo gạo

Bảng 4.14: Bảng dữ liệu dự báo giá gạo 5% tấm 60

Bảng 4.15: Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm 62

Bảng 4.16 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình

dự báo gạo 15% tấm xuất khẩu 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 4.1: Đồ thị diễn biến giá lúa tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long 46

Hình 4.2 Đồ thị dự báo giá lúa trên thị trường 50

Hình 4.3 : Đồ thị giá gạo nguyên liệu loại 1 53

Hình 4.4 Đồ thị dự báo của mô hình ARIMA (4,1,4) của gạo

Hình 4.5: Biểu đồ giá gạo xuất khẩu 5% tấm 59

Hình 4.7 Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấm

Trang 9

DANH MỤC PHỤ LỤC

Trang Phụ lục 1 Dự báo giá lúa đồng bằng sông Cửu Long 77

Phụ lục 2 Dự báo giá gạo nguyên liệu loại I 81

Phụ lục 3 Dự báo giá gạo 5% tấm xuất khẩu 85

Phụ lục 4 Dự báo giá gạo 15% tấm xuất khẩu 88

Trang 10

là vấn đề cần quan tâm Lúa là cây trồng chính, là nguồn thu nhập chính của trên 10 triệu hộ nông dân trong cả nước Trong 20 năm đổi mới, sản xuất lúa tăng trưởng liên tục cả về diện tích, năng suất và sản lượng Kết quả sản xuất lúa đông xuân năm 2007 cho thấy hai xu hướng rõ rệt của ngành sản xuất lúa ở hai miền: trong khi diện tích và năng suất lúa các tỉnh miền Bắc đều giảm so với năm trước, thì ngược lại ở miền Nam, hầu hết các tỉnh đều tăng diện tích sản xuất lúa và năng suất cũng tăng theo

Vụ đông xuân năm 2006- 2007, diện tích lúa cả nước đạt 2.984 ha, giảm 4.000

ha so với năm trước, trong đó trong đó diện tích lúa đông xuân miền Bắc 1.136 nghìn

ha, giảm 11,2 nghìn ha, miền Nam gieo 1848,2 nghìn ha, tăng gần 8 nghìn ha Sản lượng lúa đông xuân 2006/2007 cả nước đạt 17210 nghìn tấn, giảm 320 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước, trong đó miền Bắc giảm 540 nghìn tấn, miền Nam tăng 220 nghìn tấn

Diện tích gieo cấy lúa hè thu và lúa mùa đều thấp hơn cùng kỳ năm trước, do các địa phương tiếp tục chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp sang gieo trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu và nuôi trồng thuỷ sản Theo báo cáo của các địa phương, tính đến trung tuần tháng 8 cả nước đã gieo cấy được 2014,7 nghìn ha lúa hè thu, bằng 89,7% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đã gieo cấy 1619,6 nghìn ha, bằng 87,8% Lúa mùa cũng đã gieo cấy được 1418,3 nghìn ha, bằng

Trang 11

95,9%, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1149,8 nghìn ha, bằng 96,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 268,5 nghìn ha, bằng 92,7% Năm 1976, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5,28 triệu héc-ta, năng suất bình quân 24 tạ/héc-ta/vụ và sản lượng 11,8 triệu tấn, đến năm 2006 đạt tương ứng đã lên tới 7,3 triệu héc-ta; 47,7 tạ/héc-ta và 35,8 triệu tấn Xu hướng giảm diện tích gieo trồng lúa cả nước liên tục trong các năm tiếp theo với quy mô và tốc độ khác nhau, chủ yếu theo hướng giảm diện tích gieo cấy lúa vụ 3 và vụ mùa năng suất thấp, chuyển một phần đất lúa năng suất thấp, đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thủy sản, chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đất lúa ven đô thị năng suất thấp chuyển sang trồng rau, hoa, cây ăn quả điển hình là ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng (ĐBSH): các tỉnh Nam Trung Bộ chuyển dịch cơ cấu từ ba vụ lúa ngắn ngày sang hai vụ lúa trung ngày cho tổng sản lượng ổn định và cao hơn sản xuất ba vụ lúa ngắn ngày

Xét tình hình giá lúa gạo thì luôn luôn trong tình trạng trôi nổi bấp bênh, giá cả lúa gạo thường thấp ở khâu thu mua của người nông dân, thêm vào đó việc sản xuất theo phong trào cũng là một yếu điểm lớn gây thiệt hại cho người nông dân Ngành nông nghiệp thực sự cần một cơ quan có thể dự báo giá lúa gạo cho người nông dân hoặc định hướng cho việc phát triển cây trồng vật nuôi ở từng địa phương, vùng miền của tổ quốc để giúp người nông dân thoát khỏi vòng luẩn quẩn, không định hướng được việc nuôi trồng của mình Tuy nhiên tại Việt Nam chưa thực sự có cơ quan nào đứng ra làm việc đó, việc dự báo chỉ là một số đánh giá, nhận định chủ quan của một

số chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo hoặc các chuyên gia nhận định về kinh

tế

Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất cả nước, đặc biệt là đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích trồng lúa lớn và tăng trong một số năm gần đây là vựa lúa chuyên cung cấp lúa gạo xuất khẩu trong nước Vì

Trang 12

cách khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc của nên kinh tế, khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của biến động giá và mức độ dự đoán một cách toàn diện về sự biến động của giá cả Sự biến động này đã dẫn tới hậu quả là người nông dân đang ngày càng giảm diện tích trồng lúa và chuyển sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế hơn.Tuy nhiên do không nắm vững được kỹ thuật nuôi trồng các loại cây mới, người dân vẫn không đạt hiệu quả cao trong việc sản xuất kinh doanh của mình Cuộc sống luôn mãi trong khó khăn và trong vòng luẩn quẩn lựa chọn nên trồng cây gì và nuôi con gì để có hiệu quả kinh tế? Vì vậy dự báo sự biến động của giá không chỉ có ý nghĩa trong việc cung cấp các thông tin cho những nhà hoạch định chính sách mà còn đối với cả các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh các chiến lược kinh doanh Do vậy việc dự báo giá có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất kinh doanh Ngày nay con người đã tìm rất nhiều cách để dự báo với mục tiêu định hướng được tình hình trong tương lai Mô hình ARIMA là một trong những mô hình về dự báo, dự đoán giá trị của các biến số ( hoặc một dãy các biến số) tại một thời điểm trong tương lai căn cứ vào những dữ liệu trong quá khứ

Vì vậy việc thực hiện đề tài nghiên cứu “ Áp dụng mô hình ARIMA cho dự báo giá lúa gạo tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long “ là cần thiết và có ý nghĩa

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa đề tài

1.2.1 Mục tiêu

Dự báo cho giá lúa gạo ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và nêu ra một số khuyến cáo trong sản xuất và tiêu thụ cho thị trường lúa gạo tại đây

Dự báo giá lúa gạo trong giai đoạn 2009-2010

Tìm hiểu một số nguyên nhân gây ra tính trạng biến động giá lúa gạo ảnh hưởng đến người nông dân trong giai đoạn 2005-2009 và nêu ra một số khuyến cáo nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long

1.2.2 Ý nghĩa đề tài

Đối với nhà nước và các cơ quan chuyên nghành nông nghiệp : có ý ngĩa trong việc đưa ra các chính sách khuyến cáo người nông dân sản xuất nông nghiệp trong việc đưa ra các chính sách xuất khẩu lúa gạo, trong quy hoạch và định hướng phát triển ngành nông nghiệp tại khu vự đồng bằng Sông Cửu Long

Trang 13

Đối với các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo có cái nhìn chung về tình hình sản xuất, tiêu thụ và giá cả lúa gạo khu vực đồng bằng Sông Cửu Long để có chiến lược hợp lý trong sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp thu mua hoặc bán lẻ mặt hàng lúa gạo có cái nhìn tổng quan về tình hình chung sự biến động giá lúa gạo, hiệu quả sản xuất nông nghiệp tìm được định hướng phát triển ngành hàng bán lẻ của mình

Đối với người nông dân các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, và nắm được sơ lược về tình hình giá thị trường để đưa ra một kế hoạch sản xuất phù hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng lúa gạo

Trang 14

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trình bày những kết quả mà đề tài đã thực hiện được, bao gồm: Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu lúa gạo trong nước và quan trọng nhất là thực trạng sản xuất, xuất khẩu lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long Mô tả thị trường xuất khẩu trong việc xuất nhập khẩu lúa gạo Tiến hành dự báo giá lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long trong thời gian sắp tới Đồng thời chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu của nghành lúa gạo nước nhà, từ đó đưa ra nhiều đường lối, chiến lược kinh doanh

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Tổng kết lại những kết quả đã đạt được, đặc biệt là kết quả về dự báo giá lúa gạo trong tương lai Đồng thời cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp, giúp lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long có thể cạnh tranh trên thương trường cũng như thị trường quốc tế - vốn ngày càng phức tạp và khó khăn

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long

2.1.1 Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long

Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân

có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống

Trong hơn ba thập kỷ qua nhờ có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nên Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo Hiện nay năng suất lúa bình quân của cả nước đã khá cao đạt khoảng 4,5 tấn/ha, song giữa các vùng sinh thái khác nhau trong nước lại có sự chênh lệch đáng kể về năng suất lúa Lượng gạo tham gia vào các kênh lưu thông chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn cung cấp chính đó là Đồng Bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng

Các hoạt động chế biến và lưu thông lúa gạo tuy đã có những bước phát triển đáng kể song vẫn đang còn nhiều trở ngại cần phải phấn đấu vượt qua Ngành chế biến xay xát lúa gạo chủ yếu là các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và chỉ có một số ít các nhà máy xay xát gạo qui mô lớn phục vụ cho thị trường xuất khẩu Nếu như trước kia cơ chế "kế hoạch hoá tập trung" là trở ngại lớn nhất cho

Trang 16

a Các hệ thống canh tác lúa

Khí hậu là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống canh tác và năng suất lúa Việt Nam có ba vùng khí hậu cơ bản Miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới có mùa đông hanh khô và mùa hè ẩm ướt Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông của Đông Nam Bộ là điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và mưa nhiều Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây của Đông Nam Bộ có hai mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhưng nhiệt độ cao hơn miền Bắc Vì vậy, nông dân ở phía Nam có thể trồng ba vụ lúa trong một năm, trong khi đó miền Bắc chỉ có thể trồng hai vụ một năm, do nhiệt độ trong mùa đông thấp

Ở miền Bắc cây lúa được trồng từ lâu đời nên mức độ thâm canh cao, hệ thống thuỷ lợi được xây dựng tốt, mật độ dân số cao và quy mô nông hộ nhỏ Ngược lại, miền Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi, cây lúa được đưa vào trồng muộn hơn, quy

mô nông hộ lớn hơn và gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng thuỷ lợi mới phát triển đem lại nhiều cơ hội gia tăng sản lượng lúa

b.Các loại giống lúa

Việt Nam trồng khá nhiều loại giống lúa khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện của từng vùng sinh thái và từng mùa vụ Các tỉnh phía Bắc sử dụng nhiều loại giống lúa nhập từ Trung Quốc, trong khi đó các tỉnh phía Nam lại trồng nhiều giống lúa có nguồn gốc từ Viện lúa quốc tế IRRI Mặc dù có hàng 100 giống lúa khác nhau, nhưng chỉ có 10 giống lúa được trồng phổ biến nhất, chiếm tới 60% tổng diện tích gieo trồng lúa cả nước

Các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng các giống lúa lai và lúa thuần Trung Quốc (khoảng 60% diện tích) Đối với nông dân miền Trung, giống lúa IR có vị trí quan trọng hơn Hai giống lúa được trồng nhiều nhất là IR17494 và Khang Dân 18 chiếm 21% và 13% trong vụ Đông-Xuân và khoảng 12% và 8% trong vụ Hè-Thu

IR50404 và OM1490 là hai giống lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam, chiếm khoảng 13% trong vụ Đông-Xuân và 10-13% trong vụ Hè-Thu Mặc dù giống IR64 là giống lúa chính phục vụ cho xuất khẩu nhưng mới chỉ chiếm 5-6% diện tích gieo trồng trong vụ Đông-Xuân và Hè Thu ở miền Nam

Theo báo Nông nghiệp Việt Nam 25/3/2009, với diện tích 4,2 triệu ha gieo trồng lúa ở Nam Bộ, hàng năm yêu cầu 500.000 tấn giống xác nhận hay 120.000ha để

Trang 17

sản xuất giống Nhưng các công ty giống lớn ở Nam bộ như Cty CP Giống cây trồng miền Nam, Cty CP BVTV An Giang, Cty Giống cây trồng Đồng Tháp chỉ đáp ứng 50.000 tấn giống lúa hàng năm, chỉ đảm bảo 10 - 15% lượng giống cung cấp cho sản xuất; tư nhân sản xuất lúa giống đảm bảo chất lượng khoảng 10%; Như vậy trên thực

tế 70% hạt giống sản xuất vẫn chưa được cung ứng theo tiêu chuẩn quốc gia Do đó muốn đảm bảo lượng giống lúa xác nhận phải tổ chức lại sản xuất theo hướng: “Xã hội hóa sản xuất lúa giống” ở Nam Bộ Vào trước những năm 2000, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận của người dân chỉ đạt dưới 10%, nhưng đến năm 2006 - 2007 đã tăng đến 25

- 27% ở các tỉnh Nam bộ Và trong 2 năm gần đây, tình hình sử dụng giống lúa càng được để ý nhiều hơn, ý thức của người dân đã có những bước chuyển đáng kể về sử dụng giống xác nhận Tuy vậy, so với nhiều nước tiên tiến trong khu vực, mức độ sử dụng giống xác nhận ở các tỉnh Nam bộ vẫn còn thấp Vì vậy bước đầu tiên là làm cho người sản xuất phải thay đổi tư duy về giống cây trồng Người dân có ý thức càng cao

về vai trò quan trọng của giống cây trồng thì càng có động lực để thúc đẩy công tác sản xuất giống, kích cầu cung ứng giống và do đó hệ thống giống từ khâu nghiên cứu, sản xuất và lưu thông giống mới có điều kiện phát triển Với vai trò chủ đạo của Nhà nước mà trực tiếp là Bộ NN-PTNT lâu nay đã đề ra nhiều chủ trương chính sách từ khâu nghiên cứu giống, khảo nghiệm và công nhận giống cây trồng Các khâu kiểm tra, kiểm định giống từ cấp trung ương đến địa phương Đặc biệt trong sản xuất giống,

Bộ NN-PTNT đã quy định các cấp nhân giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng và cấp xác nhận Bên cạnh đó để tạo điều kiện trong công tác lưu giữ bảo tồn, khai thác nguồn gen và giống cây trồng địa phương; chọn tạo giống cây trồng mới Trong thực

tế, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các dự án bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học cộng đồng ở ĐBSCL, nhiều nông dân đã được tập huấn kỹ năng lai tạo và chọn lọc giống lúa

c Tình hình sản xuất giống

Trang 18

HTX Đặc biệt có sự quan tâm của các ngành các cấp của địa phương hỗ trợ về mặt kỹ thuật, phương tiện, điều kiện nhân giống với số lượng giống lớn theo yêu cầu của từng vùng sinh thái có chất lượng cao Sự phát triển của mạng lưới sản xuất giống địa phương từ khâu sản xuất, chế biến cung ứng giống, từng bước nâng dần diện tích sử dụng giống có chất lượng, nhằm góp phần cải thiện năng suất, cải thiện chất lượng lúa thương phẩm trên toàn vùng

Để mở rộng mạng lưới sản xuất giống ở địa phương, trước hết các cơ sở kinh doanh giống phải đăng ký, tập huấn và được cung cấp các thông tin quan trọng về quản lý giống cây trồng Các Sở NN-PTNT thành lập bộ phận quản lý về giống, củng cố và nâng cấp các phòng kiểm định, kiểm nghiệm với đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Các Sở NN-PTNT chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận hành nghề về giống ở địa phương UBND cấp tỉnh ban hành những quy định quản lý nhà nước về giống trên địa bàn của tỉnh dựa trên cơ sở quyết định của Nhà nước về quản lý giống cây trồng

d Tình hình sản xuất lúa

Trong sản xuất lúa nhiều năm qua, bà con nông dân thường chú ý đến giống lúa

mà ít quan tâm đến chất lượng hạt giống, Trong thực tế sản xuất ở Nam bộ, đa phần người dân sử dụng giống tự sản xuất hoặc trao đổi giữa các nông dân với nhau, thậm

chí nhiều người còn dùng lúa ăn để làm giống

Vì vậy hậu quả giống bị lẫn tạp, thoái hóa đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng lúa gạo, đồng thời giảm giá trị đối với người tiêu dùng và xuất khẩu

Vai trò của Sở NN-PTNT, Trung tâm khuyến nông, Trung tâm giống của các tỉnh rất lớn trong chiến lược xã hội hóa công tác giống Vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức này thể hiện từ khâu quy hoạch cơ cấu giống của địa phương, tổ chức mạng lưới khảo nghiệm, sản xuất thử, sản xuất giống, hỗ trợ giống cho nông dân, trình diễn, hội thảo, xây dựng mô hình sản xuất giống nông hộ, tọa đàm, phát hành tài liệu, thông tin qua báo đài Nhờ đó giải quyết được đầu ra cho những nơi sản xuất giống và kích thích sự phát triển của hệ thống giống Vấn đề “liên kết 4 nhà”: nhà nông, nhà kinh tế, nhà khoa học, nhà nước đối với xã hội hóa giống cũng cần phải đặt ra thật căn cơ dựa trên nguyên tắc lợi ích và trách nhiệm của các bên, dựa trên các hợp đồng kinh tế - kỹ thuật Các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, giống lúa phải vào cuộc ngay từ những

Trang 19

bước ban đầu: Quy hoạch cơ cấu giống, hỗ trợ giống cho nông dân, đầu tư kỹ thuật sản xuất lúa giống, dự án cụ thể dưới sự giám sát của các tổ chức nhà nước và được hỗ trợ

về mặt kỹ thuật từ phía các nhà khoa học Để liên kết “giữa các nhà” thật bền vững phải dựa vào những cơ chế liên kết theo kinh tế thị trường và phải có sự hỗ trợ, giám sát của Nhà nước

So với Thái Lan trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam có ưu thế về năng suất, sản lượng, giá thành nhưng lại yếu thế về chất lượng lúa gạo Nếu vấn đề “xã hội hóa sản xuất và sử dụng giống xác nhận” thành công thì trong cuộc cạnh tranh trên thị trường gạo quốc tế, Việt Nam sẽ có những bước đột phá ở thị trường gạo chất lượng cao

2.1.2 Thu hoạch

Tình hình thu hoạch của đồng bằng Sông Cửu Long cũng là một vấn đề cần được quan tâm Do chịu ảnh hưởng của nước thủy triều nên thu hoạch thường gặp khó khăn đặc biệt trong hai vụ hè thu và vụ mùa Đây là thời điểm mà mùa mưa hoặc mùa nước lũ nên nhiều khi nông dân bị mất trắng do nước tràn đầy đồng, thu hoạch không kịp là mất mùa hoặc năng suất kém Thêm vào đó do tình hình kho dự trữ lúa gạo không tốt hoặc xuống cấp hay kho dự trữ ko có nên lúa vào các vụ này thường bị hư hại nhiều, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và gây thiệt hại nhiều về kinh tế Thời vụ thu hoạch chính là vụ Lúa đông xuân do vụ này điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho cả sản xuất nên thường thu hoạch vụ này có năng suất cao hơn

2.2 Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây

2.2.1 Tình hình giá lúa gạo

Tình hình giá lúa gạo trong những năm gần đây ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều biến động Lúa gạo là một thị trường rất nhạy cảm và cũng hay biến động, và tình hình lúa gạo trong những năm gần đây cũng phụ thuộc rất nhiều vào tình hình biến động của giá lúa gạo trên thị trường thế giới và cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: dịch bệnh, rầy nâu, giá các yếu tố đầu vào tăng như phân

Trang 20

tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới, đem lại cho ngân sách nhà nước một nguồn thu ngoại tệ lớn, đóng góp vào sự phát triển toàn diện của ngành nông nghiệ Nhưng đặc biệt trong năm 2008 ,giá lúa gạo ở VN có nhiều biến động rất phức tạp, cụ thể như sau:

Năm 2007, thị trường gạo trên thế giới có nhiều biến động Ngay từ đầu năm đã

dự báo nhu cầu gạo thế giới sẽ tăng khoảng 27,2 triệu tấn, nhưng đến tháng 7/2007, do

có sự đột biến, nhu cầu tăng lên hơn 30 triệu tấn Các nước xuất khẩu gạo như Ấn Độ, Việt Nam ngừng kí hợp đồng xuất khẩu gạo, do đó những tháng đầu năm 2008 giá lúa gạo đã có xu hướng tăng lên

Từ ngày 31-3-2008 đến tháng 6, giá lúa gạo tại ĐBSCL liên tục nhích lên do lượng lúa gạo hàng hóa trên thị trường giảm Từ tháng 6 tới nay, giá gạo không ổn định, lúc lên lúc xuống Từ đầu tháng 9, giá thóc gạo có xu hướng giảm nhẹ

do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu thu mua cho xuất khẩu giảm Giá thóc trong nước hiện ở mức 4.000 - 6.300 đồng/kg và giá gạo ở mức 8.000 - 15.000 đồng/kg tuỳ loại.Trước tình hình giá gạo trên thế giới giảm kéo theo giá gạo xuất khẩu của ta cũng giảm đã làm cho giá lúa gạo trong nước đồng loạt giảm mạnh, nông dân thu hoạch lúa không thể bán vì giá thấp không đủ chi phí sản xuất

Khoảng giữa tháng 10/2008 tại các vựa lúa lớn mặc dù số lượng lúa nhiều nhưng giá lúa quá thấp bán không được, các thương lái thì nằm chờ thời , còn các doanh nghiệp kinh doanh thì than lỗ vì giá lúa gạo ngày một rớt giá Cũng trong thời gian đó giá lúa quá thấp trong khi giá gạo quá cao, vì vậy đó cũng là cơ hội để các thương lái làm giàu vì giá lúa quá thấp, và giá gạo trong thời gian này cũng diễn biến hết sức phức tạp từ người bán buôn lẻ đến thương lái, doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu cũng gặp khó khăn

Xuất khẩu gạo đã đang và sẽ ngày càng được nhà nước và các doanh nghiệp quan tâm Gạo nước ta đang được thế giới biết đến ngày càng nhiều thông qua việc chúng ta ngày càng xuất khẩu ra nhiều nước và được thế giới chấp nhận Đã có rất nhiều nước đồng ý nhập khẩu gạo của nước ta và với khối lượng ngày càng tăng Sản lượng gạo xuất khẩu đã có sợ biến đổi qua các năm Nếu như năm 2006 chúng ta xuất khẩu được 5,2 triệu tấn thì đến năm 2007 sản lượng giảm xuống chỉ còn 4,5 triệu tấn, đến năm 2008 sản lượng xuất khẩu của chúng ta sẽ là 4,68 triệu tấn

Trang 21

Nếu như đầu tháng giêng năm 2008, gạo 5% tấm giá chỉ 355 USD/tấn thì tới ngày 4/2, mức giá xuất khẩu của loại gạo này đã lên tới 400 USD/tấn, tăng 95-100 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên, đến cuối tháng 4 khi cuộc khủng hoảng lương thực thế giới lên tới đỉnh cao thì chính phủ đã ban hành lệnh cấm ký thêm các hợp đồng mới về xuất khẩu gạo cho đến cuối tháng 6 để đảm bảo đủ gạo cho nhu cầu trong nước So với 2 tuần trước đó, giá gạo xuất khẩu của nước ta đã tăng thêm bình quân khoảng 200 USD/tấn Nguồn cung gạo cho xuất khẩu ở hầu hết các nước châu Á xuất khẩu gạo đang khan hiếm Tới tháng 10/2008, giá lúa có xu hướng giảm nên theo đó giá gạo xuất khẩu cũng có xu hướng giảm theo

Giá lúa gạo tiếp tục giảm từ tháng 10/2008 đến 12/2008, nhưng đến đầu năm

2009 có xu hướng tăng nhẹ và tiếp tục tăng lên do ảnh hưởng của dịp tết làm giá lúa gạo có xu hướng tăng, đến tháng 4/2009 gạo lại có xu hướng giảm nhẹ do qua giai đoạn tết và việc thu hoạch vụ lúa đông xuân có năng suất cao cũng làm ảnh hưởng giá gạo, có xu hướng giảm nhẹ Thêm vào đó, giá lúa gạo xu hướng giảm cũng một phần

là do người dân bị hàng xáo thu mua với giá thấp làm giá gạo giảm xuống Ngoài ra, giá gạo trong nước giảm, còn do tác động của thị trường gạo thế giới, dưới tác động của khủng hoảng tài chính kinh tế, các nhà nhập khẩu chỉ mua đủ nhu cầu phân phối

mà ngại mua dự trữ như mọi năm

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá lúa gạo

Ở Việt Nam, các yếu tố tác động đến giá lúa gạo có lẽ là những yếu tố sau: Nhu cầu gạo gia tăng do dân số tăng Hiện nay, Việt nam có khoảng 84 triệu người, trong khi đó diện tích đất trồng lúa không tăng đáng kể, điều này cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến giá lúa gạo tăng lên trong những năm vừa qua Cơ cấu đất đai nông nghiệp thay đổi Một diện tích đáng kể đất đai sản xuất nông nghiệp chuyển sang các mục đích khác phi nông nghiệp Do đó diện tích đất đai nông nghiệp giảm đi cả tương đối và tuyệt đối

Trang 22

xuất khẩu lao động, làm các công việc khác phi nông nghiệp Trong cơ cấu chi phí sản xuất lúa gạo hiện nay của Việt Nam, chi phí vật chất chiếm khoảng trên 60%, trong đó, phân bón (chủ yếu là phân hóa học) , phân bón (chủ yếu là phân hóa học) chiếm tỷ trọng nhiều nhất, trung bình cho cả nước là trên 38,4%, tiếp đến là hoạt động cơ giới hóa trên 18%, thuốc bảo vệ thực vật trên 16%, nước tưới trên 9,3%, giống trên 8,8%

Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước mới chỉ sản xuất được 900 nghìn tấn urê/năm, trong khi nhu cầu phân đạm cho nông nghiệp lớn hơn rất nhiều Chính vì vậy, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào lượng urê nhập khẩu từ các nước, nhất

là từ Trung Quốc và Trung Đông Do vậy, giá bán urê trong nước hoàn toàn phụ thuộc vào giá urê và giá dầu mỏ thế giới Theo tính toán của các chuyên gia Bộ Nông nghiệp, đến năm 2011 Việt Nam mới cơ bản đủ phân đạm urê

Hơn nữa giá lúa gạo trong nước biến động phụ thuộc nhiều vào việc thu mua gạo nguyên liệu xuất khẩu và nguồn vốn của các nhà máy Các doanh nghiệp có vốn

đã đồng loạt đẩy mạnh thu mua làm giá lúa gạo tăng lên từng ngày Nhiều doanh nghiệp chuyển sang mua gạo dự trữ và điều này cũng ảnh hưởng đến giá lúa gạo trên thị trường vì các doanh nghiệp đã hạn chế thu mua hơn trước

Sự đầu cơ lúa gạo trong nhũng tháng 4 và 5 vừa qua Đặc biệt là vào những ngày cuối tháng 4/2008 giá gạo tăng bột biến Từ đại lý cho đến điểm bán gạo nhỏ lẻ đều đóng cửa, treo thông báo hết gạo Tuy nhiên, sau khi thông báo hết gạo, các tiểu thương đã bán gạo trở lại nhưng giá cao ngất ngưởng

Rõ ràng, tốc độ tăng giá lúa gạo đang song hành cùng với tốc độ tăng giá vật tư đầu vào, chưa kể đến các yếu tố khác làm tăng chi phí sản xuất như thiên tai, lũ lụt; tiếp cận thị trường qua nhiều khâu trung gian Ngoài ra, giá xăng dầu cũng ảnh hưởng đến qua chi phí vận chuyển vật tư, các máy móc vận hành trong sản xuất; chất lượng gao

Yếu tố chính sách của chính phủ cũng tác không nhỏ đến giá lúa gạo Các quy định, chính sách về đất đai, thủy lợi, tín dụng…

Cung và cầu về lúa gạo cũng như giá lúa gạo của thế giới cũng ảnh hưởng một phần nào đó đến giá lúa gạo của Việt nam

Trang 23

2.2.3 Vấn đề phát triển cây nông nghiệp

Vấn đề phát triển cây nông nghiệp đang là một vấn đề được chính phủ các nước quan tâm do vấn đề về an ninh lương thực toàn cầu đang là một vấn đề bức thiết Hiện nay, với tốc độ phát triển và bùng nổ của các nghành công nghiệp và dịch vụ, ngành nông nghiệp đang bị co cụm lại và vấn đề an ninh lương thực đang là một vấn đề bức thiết được đặt ra Hiện nay, ở nước ta chính phủ cũng rất quan tâm đến vấn đề phát triển ngành nông nghiệp đất nước theo chiều hướng hiện đại, tăng cường nghiên cứu các giống lúa mới loại ngon và cho năng suất cao để đảm bảo việc giảm diện tích sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng lương thực hàng năm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Nhằm nâng chất lượng lúa gạo phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, hơn 150 đại biểu là cán bộ trường Đại học Cần Thơ, Trung tâm Khảo nghiệm Giống cây trồng miền Nam, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Giống Nông nghiệp và nông dân sản xuất giỏi của 13 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã tham dự đánh giá và bình chọn 9 giống lúa triển vọng cho sản xuất các vụ chính năm 2009

Theo tổng hợp của phó giáo sư, tiến sĩ, phó viện trưởng Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long ông Dương Văn Chín về nghiên cứu tập hợp kết quả của 120 thí nghiệm so sánh giống và 18 cuộc đánh giá giống trên đồng ruộng trình diễn tại 17 tỉnh thành phía Nam và tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long có tổng cộng 161 giống trong danh sách đạt thành tích cao được xếp thứ tự từ 1 đến 5 trong thì nghiệm hoặc các đánh giá giống Tần suất xuất hiện của các giống được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp Với trên 110 giống lúa được được tuyển chọn và trồng trình diễn tại đây, các đại biểu đã trực tiếp tuyển chọn ngoài đồng những giống ưu tú theo tiêu chuẩn như giống đạt năng suất cao, phẩm chất gạo ngon đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thích ứng với

Trang 24

Kết quả đánh giá chất lượng giống lúa đang sản xuất tại nhiều địa phương và ở

những điểm trồng khảo nghiệm cho thấy: các giống OM6073, OM4900 và OM5930

được đánh giá cao và nằm trong tốp đầu trong 9 giống lúa được bình chọn Mục tiêu

của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long là tổ chức đưa vào thực nghiệm các giống lúa

triển vọng đáp ứng cho các vùng sản xuất ở khu vực đất nhiễm phèn, các vùng đất đai

kém màu mỡ, trồng lúa khó khăn, năng suất không cao, tạo ra các giống có khả năng

kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn xoắn lá, hướng tới nâng chất lượng hạt gạo, giúp nông

dân tiêu thụ lúa hàng hóa và tăng giá trị của hạt lúa Một mặt đảm bảo tiêu dùng trong

nước, xuất khẩu và đảm bảo công tác an ninh lương thực cho đất nước khi dân số ngày

càng tăng

Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm( từ 1990 – 2007 )

(ĐVT: Nghìn ha) Năm Tổng số Lúa đông xuân Lúa hè thu Lúa mùa

đến 2005, và giảm dần từ 2005 đến nay Trong thời điểm từ 2007 đến 2009, theo thông

tin trên báo đài thì diện tích cây lương thực đang có xu hướng giảm dần do chính sách

ưu tiên phát triển công nghiệp và các nghành nghề kinh doanh của nhà nước, các dự án

Trang 25

thu hút vốn đầu tư của nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước, diện tích cây trồng trong lĩnh vực nông nghiệp giảm dần mà yêu cầu vẫn phải đảm bảo sản lượng tăng Tuy nhiên, bên cạnh các chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp và các ngành nghề kinh doanh dịch vụ, nông nghiệp vẫn được nhà nước ta quan tâm, nghiên cứu giống mới năng suất cao, đảm bảo sản lượng không giảm khi diện tích giảm

2.2.4 Thực trạng sản xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Theo số liệu thống kê, hiện đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng lúa trên 3,77 triệu ha, chiếm 51,59% tổng diện tích trồng lúa cả nước, sản lượng bình quân đạt trên 18,19 triệu tấn/năm Đây cũng là khu vực chiếm hơn 90% lượng lúa gạo xuất khẩu hàng năm của cả nước, giúp Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, chỉ xếp sau Thái Lan Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, biến động về

an ninh lương thực trên thế giới và trong nước, đã buộc chúng ta phải có chiến lược phát triển nghề trồng lúa một cách hợp lý và bền vững Mặt khác, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở khu vực này còn chịu tác động bởi các yếu tố như: Đặc điểm chung của vùng ĐBSCL là phổ biến việc trồng lúa nước 3 vụ/năm; lại chịu ảnh hưởng rất lớn về thời tiết, mưa lũ, chế độ bán nhật triều biển Đông, địa hình đất đai không đồng đều, sự xâm nhập mặn ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trồng lúa và gây thiệt hại nặng cho nông dân Diện tích trồng lúa hiện nay đã

bị thu hẹp gần 200 nghìn ha, hoặc thời vụ phải xuống giống sớm hoặc chậm hơn so với

dự định Bên cạnh đó, việc bảo quản và tiêu thụ lúa gạo tại ĐBSCL cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề như giá thành lúa gạo trên thị trường tăng, nhưng nông dân lại không có lãi, do phải bán qua nhiều trung gian, bị doanh nghiệp trung gian ép giá, hình thức liên kết tiêu thụ lúa trong nông dân còn yếu, việc tồn trữ lúa trong dân làm tăng chi phí Điều đó là vấn đề thực sự khó khăn không chỉ ảnh hưởng đến giá cả do sản lượng lúa

bị dồn nhiều cùng lúc, giá lúa giảm, mà còn làm giảm chất lượng lúa, ảnh hưởng đến

thu nhập của nông dân, và ngay cả đối với doanh nghiệp

Trang 26

2.2.5.Thị trường tiêu thụ lúa gạo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long

a Tình hình tiêu thụ lúa gạo

Tình hình thị trường gạo thế giới có ảnh hưởng lớn đến diễn biến giá trong nước, giá gạo trong nước bị lệ thuộc nhiều vào thị trường thế giới, gây nhiều khó khăn cho người nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau có Thái Lan Tuy nhiên nông dân Việt Nam, nhất là nông dân tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn gặp nhiều khó khăn do sản phẩm mình làm ra nhiều khi không bán được cũng như giá cả đôi lúc xuống dưới giá thành sản xuất Vì vậy người nông dân là bị thiệt thòi nhất vì phải chịu tất cả mọi rủi ro khi giá lên hoặc giá xuống Ngoài ra, hiện nay cũng có nhiều quan điểm bày tỏ đến cơ chế quản lý điều hành kém trong việc thu mua lúa gạo xuất khẩu, chính sách của chính phủ làm người nông dân bị thiệt hại lớn khi đưa ra quyết định cấm xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực Thực trạng vấn đề giá lúa gạo bán giá cao trên thị trường nhưng thu mua trong dân tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với giá thấp gây ra những suy nghĩ tiêu cực, cái nhìn không hay đối với các quyết định của chính phủ, sự ngi ngờ vấn đề có sự can thiệp của các “ ông lớn” nhằm đầu cơ trục lợi, thu mua giá lúa gạo của người nông dân với giá thấp và đợi giá cao bán thu lời

Thị trường lúa gạo xuất khẩu chính của Việt Nam là thị trường các nước Đông Nam Á như Philippines, Indonesia và một số nước quanh đây như Brunei, đặc biệt nước ta đang hướng tới thị trường các quốc gia châu Phi là các nước không kén loại gạo và chất lượng đòi hỏi không cao như các quốc gia châu Âu

b Các kênh tiêu thụ và phân phối lúa gạo

Hệ thống tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam khá phức tạp gồm nhiều đối tác khác nhau: nông dân sản xuất lúa, người thu gom lúa, cơ sở xay xát, người bán buôn, người bán lẻ và các công ty quốc doanh lương thực Ngoài ra, công ty lương thực quốc doanh còn phân thành 2 loại: TW và Địa phương Nhìn chung, kể từ 1980 công cuộc đổi mới

cơ chế chính sách đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của một hệ thống lưu thông lúa gạo tự do ở Việt Nam Thị trường lúa gạo trong nước đã được tháo gỡ khỏi mọi hạn chế ràng buộc Hệ thống lưu thông phân phối và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo hiện nay hầu như hoàn toàn tự do với sự tham gia của nhiều đơn vị, nhiều thành phần kinh tế khác nhau Khu vực tư nhân hiện đang chiếm vị trí quan trọng ở thị

Trang 27

trường lúa gạo trong nước với thị phần ước tính khoảng 95% Tuy nhiên, kinh tế quốc doanh lại đang chiếm giữ vị trí độc tôn trong thương mại quốc tế (96%) nên các chính sách xuất khẩu gạo của chính phủ nhiều khi gây tác động lớn đến đời sống người dân trồng lúa như thời điểm tháng 04 đến tháng 06/2008 Chính vì vậy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp quốc doanh nông nghiệp thường tập chung vào lĩnh vực xuất khẩu gạo và nhập khẩu các vật tư nông nghiệp Hiện nay, chính phủ đang thực hiện

Trang 28

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Các khái niệm cơ bản

3.1.1 Thị trường, hiệu quả của thị trường và cơ chế hình thành giá cả sản phẩm nông nghiệp

Thị trường bao gồm những người bán và người mua với những phương tiện để giao tiếp với nhau Thị trường tồn tại là để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền sở hữu của món hàng hóa từ người bán sang người mua Mỗi khi có sự chuyển giao quyền sở hữu món hàng nào đó cần phải định được giá cả của món hàng

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả giữ vai trò chủ yếu trong điều hành việc phân phối tài nguyên cho những mục đích sử dụng khác nhau và phân chia sản phẩm được sản xuất ra cho người tiêu dùng tùy theo sở thích của họ

Khi một mặt hàng nào đó trở nên khan hiếm so với nhu cầu, giá cả hàng hóa đó

sẽ tăng lên Việc gia tăng giá cả tương đối của hàng hóa là thông tin chuyển đến cho cả người bán lẫn người mua rằng mặt hàng này đang trở nên khan hiếm hơn so với trước đây Thông tin về sự khan hiếm được thể hiện qua việc tăng giá đòi hỏi phải có giải pháp đáp ứng Một người tiêu dùng nào đó nếu định giá trị của mặt hàng thấp hơn giá trị của nó trên thị trường buộc lòng phải hạn chế mua sắm nó qua những mặt hàng thay thế tương ứng Như thế lượng cầu của mặt hàng sẽ giảm Đối với người chủ các phương tiện sản xuất thì họ dẽ chuyển các tài nguyên của mình từ việc sản xuất các mặt hàng khác sang mặt hàng tăng giá vì có thể thi được lợi nhuận nhiều hơn do thu nhập cận biên của một đơn vị tiền tệ của tài nguyên đầu tư cho việc sản xuất mặt hàng này tăng lên

Thị trường là nơi cung cấp các tín hiệu giá cả đúng đắn cho mọi người đề có những phản ứng thích hợp nhằm giải quyết vấn đề Nếu thị trường có hiệu quả thì giá

cả sẽ là một chỉ dẫn thích hợp cho giá trị tương đối của mọi vật được mua bán trên thị

Trang 29

trường Tuy nhiên nếu thị trường hoạt động không có hiệu quả (nghĩa là thị trường không phản ánh những thay đổi của những lực lượng có thể tác động đến thị trường, chẳng hạn như những hạn chế được tạo ra bởi những cá nhân, nhóm chính phủ có khả năng điều chỉnh giá cả hoặc sản xuất) thì vai trò của giá cả trong việc phản ánh đúng đắn giá trị của hàng hóa sũng suy giảm

Đối với sản phẩm nông nghiệp, sự hình thành giá cả của một mặt hàng do sự tác động

hỗ tương của cung và cầu về nông sản đó qui định Điểm cân bằng hay giao điểm của đường cung và đường cầu phản ánh được sự thỏa thuận của bên bán và bên mua và hình thành nên giá cả thị trường

* Hiệu quả thị trường

Khái niệm hiệu quả thị trường thường được áp dụng vào quá trình sản xuất sản phẩm bằng cách so sánh quá trình sản xuất và chi phí sản xuất

Giá trị đầu vào được xác định bằng cách tính toán giá trị về khả năng sản xuất, tất cả các chi phí bỏ ra để dản xuất ra sản phẩm

Giá trị đầu ra được xác định dựa trên đánh giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm thông qua doanh thu thu được khi bán sản phẩm ra thi trường

3.1.2 Dự báo và tính chất của dự báo

Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học mang tính xác suất về mức độ chính xác Tiên đoán là sự nhận thức khách quan vượt qua giới hạn theo chủ quan của con người dựa trên các số liệu vận động trong quá khứ

Tính chất của dự báo : dự báo mang tính xác suất do không ai hoặc phương pháp nào có thể dự báo chính xác hoàn toàn và lặp lại nhiều lân

Dự báo là đáng tin cậy bởi nó dựa trên những cơ sở lý luận khoa học và những diến biến vừa qua Dự báo mang tính chất đa phương án

3.1.3 Chức năng, vai trò và các nguyên tắc của dự báo

Chức năng của dự báo là làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch và đầu tư

Trang 30

3.1.4 Các nguyên tắc dự báo

Nguyên tắc mối quan hệ: là các sự vật hiện tượng có tác động qua lại, một sự vật hiện tượng thay đổi dẫn đến sự thay đổi của nhiều sự vật và hiện tượng khác Do

đó khi dự báo một sự vật cần đặt nó trong mối quan hệ với các sự vật khác

Nguyên tắc kế thừa: theo nguyên tắc này yêu cầu dự báo phải xem xét diễn biến

3.2 Cung, cầu và giá cả thị trường

3.2.1 Cung về sản phẩm lúa gạo

Cung thị trường được định nghĩa là tổng số lượng sản phẩm mà tất cả người sản xuất hay người bán sẵn sàng cung ứng ra thị trường tương ứng với các mức giá cả khác nhau của hàng hóa đó trong một thời gian nhất định trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Khối lượng lúa gạo mà người trồng lúa sẵn sàng cung ứng thêm khi giá tăng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố sản xuất mà còn phụ thuộc vào khoảng thời gian cần thiết để sự điều chỉnh có thể xảy ra (vì cây lúa có mùa vụ, năng suất cao hay thấp còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên có thuận lợi hay không, có bị sâu bệnh hay không)

Đường cong cung sản phẩm được xác định bởi chi phí của nhà sản xuất Đường cong cung thường có độ dốc đi lên về phía phải Đường cung dich chuyển tăng thể hiện rằng một lượng cung lớn hơn sẽ được cung ứng khi mức giá không thay đổi Đường cung dịch chuyển giảm thì tác động ngược lại Các nhân tố ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của đường cung lúa gạo có thể do các nguyên nhân như: giá cả các yếu tố đầu vào thay đổi (phân bón, giống, công lao động chăm sóc…); thay đổi công nghệ sản xuất; thời tiết thay đổi; giá cả của chi phí xay xát, vận chuyển; những rủi ro về giá cả; các chính sách của nhà nước về xuất khẩu lúa gạo; tình hình của nền kinh tế

Ở đây xét đường cung lúa gạo qua các năm qua thời gian được xác định qua hàm: Qs = A + α*T

Trang 31

Trong đó : Qs: là sản lượng cung lúa gạo

α : hệ số góc

T : thời gian

3.2.2 Cầu của sản phẩm lúa gạo

Cầu thị trường được định nghĩa là tất cả các số lượng khác nhau của một loại hàng hóa mà tất cả những người tiêu thụ ở một thị trường nhất định sẵn sàng có khả năng mua khi giá hàng hóa thay đổi tỏng điều kiện các yếu tố khác không đổi Trong hàm cầu, giá cả được xem là yếu tố có sẵn, hàm cầu là hàm biến đổi theo giá của sản phẩm: Q = f(p)

Các nhân tố chính tác động đến đường cầu lúa gạo là: thứ nhất là nhu cầu gạo trên thế giới vì gạo Việt Nam xuất khẩu đứng hàng thứ hai trên thế giới, ảnh hưởng của nhu cầu gạo quốc tế sẽ gây ra biến động lớn đến cầu lúa gạo ở Việt Nam

Thứ hai là do thu nhập : thu nhập tăng sẽ làm tăng nhu cầu đối với hàng hóa vì tiêu dùng có thêm tiền để mua sắm và ngược lại

Thứ ba là dân số: dân số tăng cũng làm tăng nhu cầu hàng hóa

Thứ tư do các sản phẩm có liên quan: sản phẩm này là các sản phẩm thay thế hoặc sản phẩm bổ sung

Thứ năm do khẩu vị và sở thích: khẩu vị và sở thích cũng làm thay đổi cầu Tuy nhiên chũng ta cũng phải xem xét do cầu hàng hóa nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo thì độ co giãn của giá về cầu thường thấp như việc thay đổi nguồn cung ứng thường làm giá cả thay đổi nhiều nhưng lượng cầu thay đổi rất ít

Về cầu dự trữ, công tác dự báo giá trong tương lai của các nhà hoạch định chính sách cũng có thể làm biến đổi đường cầu Ví dụ như hồi tháng 6-2007 do dự báo sai lầm của các nhà hoạch định chính sách cho rằng thiếu lúa gạo, an ninh lương thực có thể bị đe dọa làm cho giá cả lúa gạo biến động rất mạnh

3.3 Cơ sở lý luận về phương pháp dự báo giá và đánh giá kết quả của dự báo

Trang 32

Phương pháp dự báo có thể được chia thành các cách khác nhau:

Phương pháp định tính: khi không có một công thức toán học chính thức nào, thường do dữ liệu sẵn có không được xem như là đại diện cho tương lai (dự báo dài hạn)

Phương pháp hồi qui: là sự mở rộng của hồi qui tuyến tính khi mà một biến cố được xem là liên quan tuyến tính đến số lượng các biến cố không phụ thuộc khác

Các phương pháp giải hệ thông qua hệ phương trình: khi số biến cố phụ thuộc tương tác với nhau thông qua một loại phương trình (như trong mô hình kinh tế)

Phương pháp theo chuỗi thời gian: khi chúng ta có một biến số thay đổi theo thời gian và giá trị tương lai của nó có liên quan đến giá trị trong quá khứ

Theo Yeo (1996 ) có hai trường phải phân tích về dự báo: thứ nhất dựa vào tình hình kinh tế, cung- cầu, dựa vào tình hình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Thứ hai là dựa vào việc phân tích kỹ thuật dựa trên đồ thị về biến động giá, phân tích các số liệu quá khứ

để dự báo cho tương lại, dựa vào mô hình hóa

Tình hình cung cầu biến động gây nên tác động cơ bản nhất là giá hàng hóa đó cũng biến đổi theo Vì vậy khi dự báo giá phải dựa trên tình hình cung cầu, dựa vào hàm cầu và sựu biến động của nó

Đối với việc sử dụng mô hình thì hoàn toàn hợp lý vì số liệu giá lúa gạo theo quý có thể tìm được dựa trên các nghiên cứu, các số liệu thống kê giao dịch trên thị trường Trong bài khóa luận này, các mô hình hóa bao gồm các mô hình kinh tế lượng,

mô hình đầu vào, đầu ra, các mô hình về chuỗi thời gian được sử dụng

Các sự kiện tin tức về nền kinh tế, nhưng nguyên nhân gây biến động kinh tế trong quá khứ có ảnh hưởng đến biến động của giá lúa gạo, các chính sách, tin đồn có ảnh hưởng đến tâm lý người mua, người bán sẽ gây nên tác động quyết định giá cả lúa gạo sẽ được đưa vào mô hình.Cơ sở lý luận dựa vào những biến động trong quá khứ để làm cơ sở căn cứ cho lập luận dự báo giá lúa gạo trong tương lại Đồng thời phải xem xét giá lúa gạo Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thế giới vì vị thế thứ hai trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo, xem xét tình hình biến động của nền kinh tế thế giới, tình hình các nước nhập khẩu lớn mặt hằng này Đặc biệt là các thị trường chính như châu Á và hiện nay đang mở rộng thị trường ở châu Phi và các thị trường về lúa gạo chất lượng cao như châu Âu, châu Mỹ

Trang 33

Còn theo ông Nguyễn Trọng Hoài (2001) thì có hai phương pháp dự báo giá đó

là định lượng và định tính Trong nghiên cứu định lượng thì có phương pháp chuỗi thời gian và mô hình nhân quả Phương pháp chuỗi thời gian sẽ dựa trên phân tích về chuỗi quan sát của một biến duy nhất theo biến số độc lập là thời gian Giả định chủ yếu là biến số kinh tế dự báo sẽ giữ nguyên chiều hướng phát triển đã xảy ra trong quá khứ và hiện tại

Theo Nguyễn Quang Đông (2002) có bốn phương pháp dự báo dựa trên chuỗi thời gian , đó là dự báo dựa trên mô hình hồi quy một phương trình, dự báo dựa trên

mô hình hồi quy nhiều phương trình, dự báo dựa trên mô hình trung bình trượt đồng liên kết, tự hồi quy Box- Jenkins (ARIMA: Autoregressive Integrated Moving Average- tự hồi quy tích hợp trung bình trượt) và mô hình tự hồi quy véc tơ VAR (Vector Autoregressive model) Trong bốn phương pháp trên thì mô hình tự hồi quy Box – Jenkins (ARIMA) là phù hợp với dự báo giá lúa gạo vì đã có cơ sở dữ liệu về giá lúa gạo giao dịch trên thị trường Độ tin cậy của dự báo giá có thể đánh giá được

3.3.2 Đánh giá dự báo đối với phương pháp dự báo Box – Jenkins (ARRIMA)

a Đánh giá trước dự báo

Tính đầy đủ chính xác và phù hợp với dự báo

Kiểm tra các biến tham số đại diện cho các mối quan hệ

Kiểm tra hàm hoặc mô hình

b Đánh giá sau dự báo

Theo Box Jenkins (1976) và Đặng Minh Phương (2005) thì dự báo dưạ trên khái niệm sai số dự báo có các chit tiêu đánh giá như sau:

* Dựa trên sai số dự báo gồm các chỉ tiêu sau:

+Độ lệch tuyệt đối trung bình (MAD)

+ Sai số bình phương trung bình (MSE)

+Sai số dự báo trung bình (RMSE)

Trang 34

3.4 Dự báo

a) Khái niệm dự báo

Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mức độ chính xác Tiên đoán là sự nhận thức khách quan vượt trước thời gian theo chủ quan của con người, dựa trên xu hướng vận động vừa qua Dự báo là một yếu tố quan trọng của hầu hết các quyết định kinh doanh và lập kế hoạch kinh tế Nó như một tập hợp các công cụ giúp người ra quyết định đưa ra các phán đoán tốt nhất về các sự kiện tương lai (dựa vào quá khứ và hiện tại)

b) Tính chất của dự báo

Dự báo mang tính xác suất, sự vật và hiện tượng trong tự nhiên không phải bất biến mà thay đổi rất nhanh Không một ai và một phương pháp nào có thể dự báo chính xác hoàn toàn được, luôn luôn có sai số xảy ra Vì thế dự báo mang tính xác suất

Dự báo là đáng tin cậy: mặc dầu dự báo mang tính xác suất nhưng nó đáng tin cậy, bởi nó dựa trên những phương pháp khoa học và logic, để tìm ra mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại Nhất là hiện nay cùng với khoa học kỹ thuật phát triển, các phần mềm ứng dụng máy tính ngày càng hiện đại, đã giúp con người rất nhiều trong công tác dự báo Vì thế, dự báo ngày càng chính xác và đáng tin cậy

Dự báo mang tính đa phương án: tương lai là bất định, điều gì cũng có thể xảy

ra Dự báo dựa trên nhiều giả thuyết khác nhau có thể xảy ra trong thực tế, mỗi một giả thuyết là một phương án Tập hợp các giả thuyết đó lại, ta có nhiều phương án để lựa chọn Dự báo dựa trên nhiều giả thuyết khác nhau, dẫn đến việc giải quyết vấn đề trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn

c) Quy trình dự báo

Xác định rõ các mục tiêu: nêu rõ các mục tiêu, kể cả dự báo sẽ được sử dụng như thế nào trong việc ra quyết định

Xác định dự báo cái gì? dự báo giá cả hay sản lượng, hay cả hai; dự báo doanh

số nội địa hay xuất khẩu; dự báo doanh số theo sản phẩm hay theo vùng

Nhận dạng các khía cạnh thời gian: độ dài và giai đoạn của dự báo (năm, quý, tuần hay ngày) Mức độ khẩn cấp của dự báo (ảnh hưởng đến việc chọn phương pháp

dự báo)

Trang 35

Thu thập và xử lý số liệu: số lượng và loại số liệu sẵn có (nội bộ hay bên ngoài,

số liệu có ở dạng mong muốn hay không, giá trị hay đơn vị) Có thể có quá nhiều hoặc quá ít dữ liệu Có thể thiếu giá trị cần phải ước tính Có thể cần được xử lý trước

Lựa chọn mô hình: dựa vào bản chất số liệu, độ dài dự báo Chọn mô hình phù hợp với dữ liệu đã được thu thập sao cho tối thiểu hóa “sai số” dự báo Mô hình đơn giản hay phức tạp

Đánh giá mô hình:

Kiểm định các mô hình trên chuỗi số liệu ta muốn dự báo

Phân biệt độ phù hợp và độ chính xác

Độ phù hợp: so với giá trị quá khứ

Độ chính xác: so với giá trị dự báo

Nếu mô hình được chọn mà ở bước này không đạt được độ chính xác, thì quay lại bước 5 với một mô hình khác

Chuẩn bị dự báo: nên sử dụng hơn một phương pháp dự báo vì việc kết hợp nhiều phương pháp sẽ cho kết quả tốt hơn so với chỉ dùng một phương pháp

Trình bày kết quả dự báo: cả dạng viết và thuyết trình

Theo dõi kết quả dự báo: so sánh mức độ chính xác của giá trị dự báo và giá trị thực tế trong giai đoạn dự báo Tìm ra nguyên nhân của sự khác biệt

d Phương pháp nghiên cứu

Trong lĩnh vực kinh tế lượng, việc dự báo thường dựa trên hai loại mô hình chính là mô hình nhân quả và mô hình chuỗi thời gian Trong mô hình nhân quả, kỹ thuật phân tích hồi quy được sử dụng để thiết lập mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến nguyên nhân Đối với các chuỗi thời gian, mô hình ARIMA được sử dụng để

dự báo các giá trị trong tương lai Theo mô hình này, giá trị dự báo sẽ phụ thuộc vào các giá trị quá khứ và tổng có trọng số các nhiễu ngẫu nhiên hiện hành và các nhiễu ngẫu nhiên có độ trễ

Trang 36

Tiến hành nghiên cứu về :

Những số liệu thứ cấp về biến động giá lúa gạo : lấy số liệu giá từ trang web của Hiệp hội nông dân Việt Nam về giá lúa gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long Theo dữ liệu này thì giá cả giao dịch ở đây là giá cả lúa gạo mà người thương lái thu mua của người nông dân trên thị trường Dữ liệu giá cả là dữ liệu tuần, để thuận tiện cho việc chạy mô hình ARIMA ta tiến hành tính trung bình giá tuần để tính giá của các tháng

Tham vấn ý kiến của các chuyên gia qua các bài báo dự báo về tình hình lúa gạo trong thời gian sắp tới

* Mô hình hồi quy

Y = β0 + β1T + e

Trong đó:

Biến phụ thuộc:Yt là biến dự báo giá cao su vào năm T

Biến độc lập: T là năm cần dự báo

β0, β1: là hệ số ước lượng

e: là sai số không quan sát được

Kiểm định mô hình hồi quy

Kiểm định hệ số hồi quy bằng phương pháp P-value

Đặt: H0: βi = 0 (không có ý nghĩa) (i= 0, 1)

H1: βi ≠ 0 (có ý nghĩa)

Dùng mức ý nghĩa 5%

Bác bỏ H0 nếu P-value < 5%

Trang 37

Kiểm định trị thống kê đo lường độ thích hợp của mô hình: R2

R2 = 1- (ESS/ TSS)

Giá trị của R2 : 0 < R2 < 1 Giá trị này càng tiến về 1, thì độ thích hợp của mô hình càng cao, có nghĩa là sự biến động của biến phụ thuộc Y càng được phương trình hồi quy giải thích càng nhiều Ngược lại R2 tiến gần đến 0, mô hình giải thích sự biến động của Y càng ít

Ví dụ, ta có R2 = 0,80, ta nói mô hình hồi quy giải thích được 80% sự biến động của Y

Kiểm định về độ thích hợp tổng thể của mô hình: Fisher

Giả thiết:

H0: β1 = 0 (mô hình hồi quy không thích hợp)

H1: β1 ≠ 0 (mô hình hồi quy thích hợp)

F-statistic = constant

Prob(F-statistic) < α = 0,05, bác bỏ giả thiết H0, vậy mô hình hồi quy thích hợp Ngược lại Prob(F-statistic) > α = 0,05, chấp nhận giả thiết H0, mô hình hồi quy không thích hợp

Kiểm định hiện tượng phương sai không đồng đều bằng kiểm định White

Ta có mô hình hồi quy: Y = β0 + β1T + e

Theo White thì σ2 = α0 + α1T + α2T2

+ Ước lượng mô hình theo OLS để tìm β^ (β0^, β1^)

+ Tính toán phần dư

e = Y – β0^ - β^1T

và xây dựng bình phương phần dư e2

+ Hồi quy phần dư e2 theo một hệ số không đổi

T, T2

Đây là hồi quy phụ tương ứng với σ2

Trang 38

Xác định χ2α ;k với mức ý nghĩa α thông qua bảng chi bình phương, với k là

số biến độc lập trong mô hình hồi nhân tạo (k = 2)

Bác bỏ giả thiết H0 nếu n.R2 > χ2α ;k, và ngược lại

Kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng phương pháp kiểm định d của Durbin – Watson:

Bảng 3.1 Quy Tắc Kiểm Định

Không có tự tương quan dương Bác bỏ 0 < d < dL

Không có tự tương quan dương Không quyết định dL ≤ d ≤ dU

Không có tự tương quan âm Bác bỏ 4 - dL < d < 4 Không có tự tương quan âm Không quyết định 4 – dU ≤ d ≤ 4 – dL

Không có tự tương quan dương hoặc âm Không bác bỏ dU ≤ d ≤ 4 - dU

Trong đó dU và dL là các giá trị tra bảng giá trị d

* Chú ý: trong thực tế, khi tiến hành kiểm định Durbin – Watson người ta thường áp dụng qui tắc kiểm định đơn giản như sau:

Nếu 1 < d < 3 thì kết luận mô hình không có tự tương quan

Nếu 0 < d < 1 thì kết luận mô hình có tự tương quan dương

Nếu 3 < d < 4 thì kết luận mô hình có tự tương quan âm

- Vì mô hình chỉ có một biến độc lập và một biến phụ nên không có hiện tượng

đa cộng tuyến xảy ra

* Mô hình ARIMA

Giới thiệu mô hình

- Mô hình ARIMA được xây dựng dựa trên phương pháp BOX- JENKINS do hai nhà thống kê G E P Box và G M Jenkins sáng lập

Theo Box- Jenkins, mọi quá trình ngẫu nhiên có tính dừng đều có thể biểu diễn bằng mô hình ARIMA Mô hình ARIMA có tên gọi là mô hình tự hồi quy kết hợp

trung bình trượt (ARIMA = AutoRegessive Integrated Moving Average)

+ Mô hình tự hồi quy bậc p – AR (p)

Trong mô hình tự hồi quy quá trình phụ thuộc vào tổng có trọng số của các giá trị quá khứ và số hạng nhiễu ngẫu nhiên Có dạng:

Trang 39

t p t p t

t

+ Mô hình trung bình trượt bậc q – MA (q)

Trong mô hình trung bình trượt, quá khứ được mô tả hoàn toàn bằng tổng có trọng số của các ngẫu nhiên hiện hành có độ trễ Có dạng:

t q t q t

t t

Y = ϕ − θ1ε − 1 − θ2ε − 2 − − θ ε − + ε

+ Mô hình sai phân (d)

Loại ngẫu nhiên không dừng Có dạng:

t

Để loại bỏ tính không dừng - tức biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng

ta phải lấy sai phân bậc d (d = 1, 2)

+ Mô hình bình quân trung bình trượt tự hồi quy - ARMA (p, q)

Mô hình kết hợp tự hồi quy với trung bình trượt, có dạng:

q t q t

t

t p t p t

+ +

+

=

ε θ ε

θ ε

θ

ε φ

φ φ

δ

2 2 1 1

2 2 1 1

+ Mô hình ARIMA (p, d, q)

Mô hình kết hợp 3 quá trình: tự hồi quy, sai phân và trung bình trượt Có dạng:

q t q t

t

t p t p t

+ +

+

=

ε θ ε

θ ε

θ

ε φ

φ φ

δ

2 2 1 1

2 2 1 1

Trong đó:

Yt: biến phụ thuộc là biến dự báo trong tương lai tại thời điểm t

p t

Y − 1, , − : biến phụ thuộc tại các độ trễ t-1,…,t-p (biến hồi quy tự động)

q t

Trang 40

Trung bình: E(Yt ) = μ = const

Phương sai: Var (Yt ) = σ2 = const

Đồng phương sai: Covar (Yt , Yt-k ) = k

+ Tính dừng của một chuỗi thời gian có thể được nhận biết dựa trên đồ thị của chuỗi thời gian, đồ thị của hàm tự tương quan mẫu hay kiểm định Dickey- Fuller

Dựa trên đồ thị Yt = f(t), một cách trực quan chuỗi Yt có tính dừng nếu như đồ thị cho thấy trung bình và phương sai của quá trình Yt không thay đổi theo thời gian

+ Dựa vào hàm tự tương quan mẫu (SAC – Sample Auto Correllation)

Nếu SAC = f(t) của chuỗi thời gian giảm nhanh và tắt dần về 0 thì chuỗi có tính dừng

+ Kiểm định Dickey- Fuller (kiểm định nghiệm đơn vị) nhằm xác định xem chuỗi thời gian có phải là Bước Ngẫu Nhiên (Random Walk; nghĩa là Yt = 1*Yt-1 + εt ) hay không Nếu chuỗi là Bước Ngẫu Nhiên thì không có tính dừng Tuy nhiên, nếu chuỗi không có tính dừng thì chưa chắc là Bước Ngẫu Nhiên

Để biến đổi chuỗi không dừng thành chuỗi dừng, thông thường nếu lấy sai phân một lần hoặc hai lần thì sẽ được một chuỗi kết quả có tính dừng:

Chuỗi gốc: Yt

Chuỗi sai phân bậc 1: Wt = Yt – Yt-1

Chuỗi sai phân bậc 2: Vt = Wt – Wt-1

) ( )

( ]

) [(

ˆ

) , ( )

( (

) )(

t

t t

o

k t t k

t t

k t t

Y Y Y

Y

E

Y Y Cov n

Y Y Y Y Y

Y Y Y

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.4. Diện tích lúa đồng bằng sông Cửu Long qua các năm - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.4. Diện tích lúa đồng bằng sông Cửu Long qua các năm (Trang 51)
Bảng 4.5: Sản lượng lúa của cả nước qua các năm 1990-2007 - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.5 Sản lượng lúa của cả nước qua các năm 1990-2007 (Trang 52)
Bảng 4.6: Giá lúa theo tháng bình quân từ 01/2007-05/2009 - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.6 Giá lúa theo tháng bình quân từ 01/2007-05/2009 (Trang 54)
Bảng 4.8:  Gía lúa dự báo - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.8 Gía lúa dự báo (Trang 58)
Hình 4.2. Đồ thị dự báo giá lúa trên thị trường( mô hình 5,1,5) - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4.2. Đồ thị dự báo giá lúa trên thị trường( mô hình 5,1,5) (Trang 59)
Bảng 4.9 : Dữ liệu giá gạo nguyên liệu loại 1 từ 20-25% tấm: - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.9 Dữ liệu giá gạo nguyên liệu loại 1 từ 20-25% tấm: (Trang 61)
Hình 4.4. Đồ thị dự báo của mô hình ARIMA (4,1,4) của gạo nguyên liệu loại I(  20-25% tấm) : - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4.4. Đồ thị dự báo của mô hình ARIMA (4,1,4) của gạo nguyên liệu loại I( 20-25% tấm) : (Trang 66)
Bảng 4.12. Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu:  ( ĐVT: đồng/kg) - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.12. Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu: ( ĐVT: đồng/kg) (Trang 67)
Hình 4.5: Biểu đồ giá gạo xuất khẩu 5% tấm - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4.5 Biểu đồ giá gạo xuất khẩu 5% tấm (Trang 68)
Hình 4.6: Đồ thị dự báo giá gạo 5% tấm - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4.6 Đồ thị dự báo giá gạo 5% tấm (Trang 70)
Bảng 4.15: Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 4.15 Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm (Trang 71)
Hình 4.7. Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấm - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4.7. Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấm (Trang 74)
Bảng so sánh sai số giữa giá gạo thực tế và giá gạo dự báo của gạo nguyên liệu loại I - ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng so sánh sai số giữa giá gạo thực tế và giá gạo dự báo của gạo nguyên liệu loại I (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w