Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân 1994 khi lai các loài, chủng, giống hay các dòng nội phối khác nhau với nhau thì con lai F1 thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, k
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis Abstract ix
PHẦN 1 MỞ ĐẦU .1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .1
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI .2
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI .2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học .2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .3
2.1.1 Cơ sở khoa học của lai kinh tế .3
2.1.2 Cơ sở khoa học của ưu thế lai 5
2.1.3 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và phát triển 11
2.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 19
2.1.5 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 29
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 33
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 33
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 33
3.3.1 Trên đàn gà sinh sản 33
3.3.2 Trên đàn gà thương phẩm 34
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
3.4.3 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng: 36
Trang 23.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 37
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 43
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 ĐÀN GÀ SINH SẢN 44
4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà giai đoạn 1 – 20 tuần tuổi 44
4.1.2 Khối lượng cơ thể của đàn gà giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi 46
4.1.3 Lượng thức ăn thu nhận từ 1 – 20 tuần tuổi của đàn gà 49
4.1.4 Tuổi thành thục sinh dục 51
4.1.5 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà bố mẹ 53
4.1.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai đoạn đẻ trứng 56
4.1.7 Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà bố mẹ 57
4.1.8 Khảo sát chất lượng trứng 58
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRÊN ĐÀN GÀ THƯƠNG PHẨM 60
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 60
4.2.2 Khối lượng cơ thể của gà thương phẩm 62
4.2.3 Sinh trưởng tuyệt đối 64
4.2.4 Sinh trưởng tương đối 66
4.2.5 Lượng thức ăn thu nhận 67
4.2.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn 69
4.2.7 Chỉ số sản xuất 70
4.2.9 Chỉ số kinh tế 71
4.2.10 Ước tính hiệu quả kinh tế của gà thương phẩm 72
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
5.1 KẾT LUẬN 74
5.2 KIẾN NGHỊ 75
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 36
Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 36
Bảng 3.3 Chế độ dinh dưỡng nuôi gà sinh sản 36
Bảng 3.4 Chế độ dinh dưỡng nuôi gà thịt 37
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà sinh sản 45
Bảng 4.2 khối lượng cơ thể giai đoạn 0-20 tuần tuổi 48
Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của đàn gà sinh sản giai đoạn 1- 20 tuần tuổi 50
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu trong giai đoạn thành thục sinh dục 52
Bảng 4.5 Tỷ lệ đẻ của đàn gà giống bố mẹ 54
Bảng 4.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai đoạn đẻ trứng 56
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn gà thí nghiệm 58
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà sinh sản 59
Bảng 4.9 Tỷ lệ nuôi sống của gà thương phẩm qua các tuần tuổi 61
Bảng 4.10 Khối lượng cơ thể gà thương phẩm qua các tuần tuổi 63
Bảng 4.11 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thương phẩm 65
Bảng 4.12 Sinh trưởng tương đối của gà thương phẩm 66
Bảng 4.13 Lượng thức ăn thu nhận của gà thương phẩm qua các tuần tuổi 68
Bảng 4.14 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thương phẩm qua các tuần tuổi 69
Bảng 4.15 Chỉ số sản xuất của gà lai qua các tuần tuổi 70
Bảng 4.16 Chỉ số kinh tế 71
Bảng 4.17 Ước tính hiệu quả kinh tế của gà thương phẩm 72
Trang 4DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ trứng của đàn gà giống bố mẹ 55
Đồ thị 4.2: Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thương phẩm 61
Đồ thị 4.3 khối lượng cơ thể gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 63
Đồ thị 4.4 sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 65
Đồ thị 4.5 sinh trưởng tương đối của gà thương phẩm 67
Trang 5TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Chăn nuôi gà có một vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, do hiệu quả kinh tế mang lại cũng như tính phù hợp với nhiều phương thức nuôi và đầu tư của người chăn nuôi Gà có sức chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh và bệnh tật cao, khả năng tự kiếm mồi tốt Các sản phẩm từ gà như: thịt, trứng,… đều có giá trị kinh tế cao, cung cấp thực phẩm cho xã hội Để đáp ứng nhu cầu về giống gà thả vườn, nước ta
đã nhập nhiều giống gà nổi tiếng như Tam Hoàng, Lương Phượng, ISA-JA57, Sasso, Kabir… Ưu điểm của chúng là sinh sản cao, tăng trọng nhanh… nhưng chống chịu bệnh kém, chất lượng thịt không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Trong khi đó nước ta có nhiều giống gà có nguồn gen quý như gà Hồ, Đông Cảo, Mía… và nổi bật là gà Chọi Chân Vàng với đặc điểm quý là chất lượng thịt, trứng rất thơm ngon, tầm vóc to, thích nghi tốt với điều kiện chăn thả tại nhiều địa phương, rất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, gà Chọi Chân Vàng có khả năng tăng trọng, khả năng sinh sản thấp do đó việc phát triển trong sản xuất rất hạn chế
Từ những nguồn nguyên liệu đó để nâng cao tốc độ sinh trưởng và sinh sản và đảm bảo chất lượng thịt của gà Chọi Chân Vàng Việt Nam, đến nay tại công ty TNHH MTV gà giống DABACO thôn Hộ Vệ, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã lai tạo thành công tổ hợp Gà Chọi Chân Vàng và gà ISA-JA57 Khi ghép gà trống Chọi Chân Vàng với gà mái ISA-JA57, năng suất sinh sản của gà mái ISA-JA57 không bị thay đổi nhiều
Gà Chọi Chân Vàng và gà lai F1 (♂Chọi Chân Vàng x ♀ISA-JA57) có sức sống cao, khả năng chống bệnh tốt, tỷ lệ nuôi sống ở 12 tuần tuổi lần lượt là 94.31% và 95.65% cao hơn gà ISA-JA57 (93.65%) thích nghi tốt với điều kiện chăn thả
Ở 12 tuần tuổi gà F1 có khối lượng trung bình ( 1987.14g) cao hơn khối lượng trung bình của gà giống bố mẹ (1892.3g) thể hiện tính vượt trội của con lai
so với bố mẹ
Gà thương phẩm nuôi ngoài sản xuất được thị trường ưa chuộng, cho hiệu quả kinh tế cao, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, được người dân chấp nhận
Trang 6THESIS ABSTRACT
Chicken has a very important position in agricultural production, economic efficiency by bringing as much relevance to farming methods and investments of the farmer Chickens are resistant to external conditions and high morbidity, ability to earn
a good primer The chicken products such as meat, eggs, have a high economic value, providing food for the society To meet the needs of backyard chickens, our country has entered many famous breeds like Triad, Luong Phuong, ISA-JA57, Sasso, Kabir Our advantage is the high fertility, rapid weight gain but fight less disease resistant, quality meat not suit the tastes of consumers
Meanwhile we have many varieties of water birds like chicken genetic resources quarter Ho, Dong Cao, sugarcane and notably chicken Chan Choi featuring Gold is precious quality meat, eggs are delicious, stature, adapted good grazing conditions in many places phu¬ong, very suitable for the tastes of consumers However, Chan Choi Chicken Gold likely to gain weight, low reproductive capacity so the development of very limited production
From the raw materials in order to improve the growth rate and fertility and quality of chicken meat Gold Chan Choi Vietnam, so far in the company Limited chickens DABACO Patronus village, Lac Ve Commune, Tien Du, Bac Ninh province has successfully bred combination Ga Choi Chan-JA57 ISA Gold and chicken When coupled with the Golden Foot Fighting rooster hens ISA-JA57, reproductive performance of hens ISA-JA57 not changed much
Fighting cocks and chickens F1 Gold Legs (Golden Legs ♂Choi x ♀ISA-JA57) has high vitality, good disease resistance, survival rate at 12 weeks was 94.31% respectively and 95.65% higher than chicken ISA -JA57 (93.65%) well adapted to grazing conditions
At 12 weeks old chickens F1 average volume (1987.14g) higher than the average volume of chicken broodstock (1892.3g) demonstrates the superiority of hybrids compared to their parents
Commercial chicken feed produced outside the popular market, high economic efficiency, providing income to farmers, the people accept
Trang 7PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi gà là nghề truyền thống của hàng trục triệu nông dân, chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong ngành chăn nuôi Việt Nam, hàng năm cung cấp trên
450 ngàn tấn thịt, trên 3.5 triệu quả trứng cho xã hội Những năm gần đây, chăn nuôi gà không ngừng phát triển cả về quy mô, năng suất, sản lượng và giá trị với các phương thức chăn nuôi đa dạng (chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi trang trại quy
mô vừa và nhỏ có kiểm soát, chăn nuôi quy mô công nghiệp ) Tuy nhiên, hiện nay, chăn nuôi nhỏ lẻ, quy mô vừa và nhỏ vẫn chiếm tỷ lệ cao 75 - 80% mà chủ yếu vẫn là chăn nuôi gà chuyên dụng thịt
Để đáp ứng nhu cầu về giống gà thả vườn, nước ta đã nhập nhiều giống gà nổi tiếng như Tam Hoàng, Lương Phượng, ISA-JA57, Sasso, Kabir… Ưu điểm của chúng là sinh sản cao, tăng trọng nhanh… nhưng chống chịu bệnh kém, chất lượng thịt không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Trong khi đó nước ta có nhiều giống gà có nguồn gen quý như gà Hồ, Đông Cảo, Mía… và nổi bật là gà Chọi Chân Vàng với đặc điểm quý là chất lượng thịt, trứng rất thơm ngon, tầm vóc to, thích nghi tốt với điều kiện chăn thả tại nhiều địa phương, rất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, gà Chọi Chân Vàng có khả năng tăng trọng, khả năng sinh sản thấp do đó việc phát triển trong sản xuất rất hạn chế
Từ những nguồn nguyên liệu đó để nâng cao tốc độ sinh trưởng và sinh sản
và đảm bảo chất lượng thịt của gà Chọi Chân Vàng Việt Nam, đến nay tại công
ty TNHH MTV gà giống DABACO thôn Hộ Vệ, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã lai tạo thành công tổ hợp Gà Chọi Chân Vàng và gà ISA-JA57 Bước đầu tổ hợp này được người tiêu dùng ưa chuộng và đang được nuôi khá thành công tại nhiều hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Với mục đích tạo ra giống gà dễ nuôi, chất lượng thịt cao đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng chúng tôi tiến hành đề tài:
“Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà trống Chọi Chân Vàng với gà mái ISA-JA57 tại công ty TNHH MTV gà giống DABACO”
Trang 81.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá khả năng sinh sản của gà trống Chọi Chân Vàng khi lai với gà mái ISA-JA57
- Xác định được khả năng sinh trưởng và cho thịt của con lai F1(giữa gà
trống Chọi Chân Vàng với gà mái ISA-JA57) nuôi tại Công ty TNHH MTV Dabaco
-Từ kết quả nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm cho các hộ chăn nuôi gà Chọi Chân Vàng, thúc đẩy việc bảo tồn và phát triển giống gà quý hiếm này
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài được tiến hành nhằm bước đầu đánh giá ưu thế lai và khả năng kết hợp của công thức lai kinh tế: trống Chọi Chân Vàng X mái ISA-JA57 thông qua theo dõi các chỉ tiêu về khả năng sinh sản của gà mái ISA-JA57 khi được ghép đôi với gà trống Chọi Chân Vàng, khả năng sinh trưởng và cho thịt của con lai F1 (giữa gà trống Chọi Chân Vàng với gà mái ISA-JA57)
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở khoa học của lai kinh tế
*Khái niệm
Lai kinh tế là phương pháp cho giao phối giữa những con trống với con mái khác giống hay khác dòng với mục đích dùng con lai lấy sản phẩm Phương
pháp lai này còn gọi là phương pháp lai công nghiệp vì có thể sản xuất ra hàng
loạt sản phẩm nhanh, có chất lượng trong một thời gian tương đối ngắn
Mục đích của lai kinh tế để sử dụng ưu thế lai, con lai có thể mang những đặc tính trội của giống gốc bố hoặc mẹ, con lai có thể phố hợp những đặc tính của hai giống gốc
Darwin là người đầu tiên đã phát hiện ra lợi ích của việc lai tạo và ông đã có nhận xét: lai có lợi, tự giao có hại đối với động vật Lai tạo còn nhằm sử dụng một hiện tượng sinh học quan trọng, đó là ưu thế lai(Heterosis), đó là sức sống, khả năng miễn dịch đối với bệnh tật và các tính trạng kinh tế được nâng cao hơn ở đời sau Thông qua các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của tổ hợp lai, ưu thế lai còn được dùng làm căn cứ khoa học cho công tác chọn lọc và nhân giống gia súc (Lê Đình Phương và Phan Cự Nhân, 1994)
Mendel là một trong những nhà khoa học tiên phong trong việc dùng các phương pháp lai để nghiên cứu đặc điểm di truyền các tính trạng, từ đó ông đã phát hiện ra những định luật cơ bản của di truyền học hiện đại(D Ph Petrop, 1984)
Căn cứ vào mục đích cuối cùng của chăn nuôi mà người ta lựa chọn những phương pháp lai khác nhau như: lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành), trong đó lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường , 1992) Để lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần Khi nhân giống thuần, các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân
và cs., 1983) Trong mỗi giống gia cầm thường bao gồm nhiều dòng Mỗi dòng
có đặc điểm chung của giống, nhưng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt Sự khác
Trang 10biệt giữa các dòng, giống về kiểu gen là yếu tố quyết định để làm xuất hiện ưu thế lai Nếu cho lai giữa các giống có sự khác biệt quá xa nhau về di truyền thì
sẽ không có sự kết hợp (Nicking)
Chính vì vậy, trong công tác nhân giống để vừa thu được ưu thế lai cao lại có khả năng kết hợp tốt, người ta cần phải tiến hành nhiều cuộc thử nghiệm và quan trọng nhất là đánh giá chất lượng của các thế hệ sau
Muốn đạt được hiệu quả cao khi lai giữa các dòng hay các giống, người
ta cần phải có định hướng rõ ràng, trên cơ sở đánh giá một cách khoa học về các nguồn nguyên liệu ban đầu Không thể tạo ra được những con lai tốt bằng cách cho giao phối một cách tình cờ và tuỳ tiện Lai kinh tế là một phương pháp được áp dụng phổ biến ở nhiều nước vì mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Người ta đã xác định được bản chất di truyền của hiện tượng này: đó là
cá thể mang gen dị hợp tử có năng suất cao hơn các cá thể mang gen đồng hợp
ta có thể lai đơn hoặc lai kép
Lai đơn: được dùng khi lai giữa một giống địa phương và giống nhập ngoại cao sản Phương pháp này được sử dụng nhiều trong sản xuất gà kiêm dụng thịt trứng nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và khả năng lớn nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt, khối lượng trứng cao của
gà nhập nội Ở nước ta có nhiều công trình sử dụng phương pháp lai đơn để lai tạo giữa các giống: gà Rode IslandRed, gà Sussex, gà Plymouth Rock (Tạ An Bình, 1973; Đỗ Xuân Tăng và cs., 1980; Trần ĐìnhMiên, 1981)
Lai kép: là phương pháp lai phổ biến để tạo gà thương phẩm từ nhiều dòng hoặc giống Thông thường, người ta hay lai 4 dòng để tạo con thương phẩm như gà hướng trứng: Golline 54, Hisex, ISA Brown, Hyline Brown, Brownick, Lohman Brown, gà hướng thịt: BE88, AA
Ngoài việc tạo ra ưu thế lai đối với con thương phẩm, phương pháp lai này còn tận dụng được hiện tượng di truyền liên kết với giới tính nhằm phân biệt trống mái 1 ngày tuổi thông qua màu lông và tốc độ mọc lông cánh ở gà con
Trang 11*Cơ sở khoa học của ưu thế lai
Ưu thế lai là sự tăng sức sống và tăng cường thể trọng, trong đó, các cá thể lai khác loài, khác giống thường vượt cả hai bố mẹ chúng (Hutt F., 1978)
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học chỉ sự tăng sức sống của đời con so với
bố mẹ khi có sự giao phối giữa những cá thể không thân thuộc Ưu thế lai không chỉ bao hàm sức chịu đựng mà còn bao hàm cả sự giảm độ tử vong, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất Vì vậy người ta xem hiện tượng đó như một sự tăng lên về sinh lực (Lasley J.F., 1974)
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ có thể của những cá thể do lai tạo từ những con có nguồn gốc không cùng huyết thống
Có thể biểu hiện ưu thế lai theo nghĩa toàn cục, tức là sự phát triển toàn khối của
cơ thể con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất và sự tăng lên của các tính trạng sản xuất Mặt khác có thể hiểu ưu thế lai theo từng mặt, từng tính trạng một, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác giữ nguyên, có tính trạng giảm đi (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1994) khi lai các loài, chủng, giống hay các dòng nội phối khác nhau với nhau thì con lai F1 thường vượt các dạng bố
mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, khả năng sử dụng thức ăn, tính chống chịu với bệnh tật Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức chịu đựng, năng suất của đời con do giao phối không cận huyết và được nuôi trong những điều kiện khác nhau (Lebedev M M., 1972) Theo Kushner K F (1969), ưu thế lai là sự tăng trưởng phát triển mạnh
mẽ ở đời con, tính chịu đựng và năng suất của nó cao hơn so với bố mẹ
Tóm lại ưu thế lai là một hiện tượng sinh học thể hiện trên nhiều mặt Thế
hệ lai hơn hẳn thế hệ bố mẹ về khả năng sinh sản, tốc độc sinh trưởng, khả năng sống, chất lượng thịt, khối lượng trứng, thời gian của chu kỳ đẻ trứng, sự chuyển hoá thức ăn và những đặc tính kinh tế có lợi khác, từ đó năng suất con lai được nâng lên
Tác giả Nguyễn Ân và cs (1983) cho rằng trong chăn nuôi việc lai giữa các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng loại nhìn chung đã xuất hiện ưu thế lai thể hiện rất đa dạng, khó xếp loại thật rành mạch Nhưng điều thể hiện rõ nhất
là con lai F1 có ưu thế lai cao hơn so với bất kỳ con lai nào ở các thế hệ tiếp theo
là F2; F3 Fn , song dựa vào sự biểu hiện của tính trạng mà người ta thấy ưu thế lai ở động vật có thể phân tích thành các loại sau:
Trang 12- Con lai F1 vượt bố mẹ về khối lượng và sức sống
- Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa hai giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ
- Con lai F1 trội hơn bố mẹ về thể chất, sức làm việc song nó mất một phần hoặc hoàn toàn khả năng sinh sản
- Một dạng ưu thế lai đặc biệt là từng tính trạng riêng rẽ có khả năng di truyền theo typ trung gian có khi liên quan đến sản phẩm cuối cùng thì lại khác
Để xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai các tác giả như: (Fallconer D.S., 1960; Johansson I.,1963; Lasley J F., 1974; Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995) cho rằng ưu thế lai là sự khác biệt (hiệu) giữa giá trị tính trạng của con lai với bố mẹ và thường vượt lên trên trung bình của bố mẹ
M mẹ + M bố
M con lai >
2
Theo Lasley J.F (1974): Ưu thế lai thường được biểu hiện bằng giá trị %
và tính theo công thức sau:
về nhiều mặt như: Tầm vóc, sức dẻo dai, sức thồ, sức chịu đựng (Trần Đình Miên
và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Cho đến nay, bản chất ưu thế lai vẫn còn là một vấn đề nan giải nhất của
di truyền học Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của di truyền học phân tử, người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải thích hiện tượng ưu thế lai (Hutt F.B., 1978) Theo nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có hai thuyết được dùng để giải thích bản chất của ưu thế lai (Trần Đình Miên và Nguyễn văn Thiện, 1995)
* Thuyết gen trội: Theo Davenport (1908); Kecble and Pelow (1910); Jones (1917) (Trích dẫn theo Kushner K.F., 1969), nhờ tác dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, gen trội thường là gen có ích, dễ biểu hiện ra
Trang 13Tạp giao là sự kết hợp các gen trội của hai bên bố mẹ được thể hiện ở cơ thể lai Các gen trội thể hiện ở nhiều chỗ, có thể ức chế các gen lặn tương ứng, tạo ra tác dụng lẫn nhau, làm tăng các điểm trội lên Các gen lặn bao giờ cũng bị che lấp (trong chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo) Còn gen trội khi lai có tác động mạnh hơn Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng, các tính trạng này được nhiều gen điều khiển nên xác suất để tất
cả các gen ở trạng thái đồng hợp tử là thấp Tuy nhiên nhân giống theo dòng để tạo ra các dòng phân hoá về di truyền thì xác suất để tạo ra các chỗ gen đồng hợp
tử là cao hơn Do vậy, khi cho lai các dòng này, con lai F1 biểu hiện ưu thế lai cao vì các gen trội của cha mẹ được thể hiện ở F1 Đó là ưu việt của con lai so với cha mẹ Chúng có khả năng át đủ các gen bất lợi khác nhờ đó mà con lai có sức sống và sức sản xuất cao hơn cha mẹ
Ví dụ:
Đời cha mẹ : AAbbccDDee × AaBbccDdEE
Số lô cut mang gen trội : 2 ↓ 2
Đời con : AaBbccDdEe
Số lô cut mang gen trội : 4
Trong trường hợp này tất cả các gen lặn (trừ C) đều bị át chế bởi alen trội
Do vậy, con lai hơn cha mẹ và có ưu thế lai là do tác động hỗ trợ lẫn nhau của các gen trội Khi cha mẹ khác nhau trong quan hệ huyết thống như khác giống, khác dòng thì xác suất để mỗi cặp cha mẹ truyền lại cho đời con những gen trội khác nhau càng tăng lên, từ đó dẫn đến ưu thế lai càng cao
Tuy vậy thuyết gen trội chưa giải thích được hoàn chỉnh vì bên cạnh gen trội có lợi cũng có những gen trội có hại và ngược lại Thuyết gen trội chưa giải thích được một hiện tượng thực tế là khi tạp giao các cá thể dị hợp tử với nhau thì con lai giữa bốn dòng lại tốt hơn con lai giữa hai dòng
* Thuyết siêu trội: Theo Kushner K.F (1969), cơ sở của ưu thế lai chính ở ngay tính dị hợp tử theo nhiều nhân tố di truyền Trạng thái dị hợp tử của hai alen thuộc lô cut AA1 đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt hơn so với từng trạng thái đồng hợp tử AA và A1A1 (tức là AA1 > AA và A1A1) Sở dĩ có hiện tượng siêu trội là do hiệu ứng sinh lý của các gen khác nhau, những tác động lẫn nhau, các sản phẩm phản ứng của chúng tốt hơn so với tác động độc lập do tổ hợp gen
Trang 14thuần sinh ra Trong quá trình sinh hoá, trình tự khác nhau của các phản ứng vật chất khác nhau sẽ tạo ra các vật chất khác nhau Do vậy, phản ứng sinh hoá xẩy
ra ở con lai mạnh hơn con thuần Tất cả sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể lai, tăng cường sức sống cho cơ thể lai
Thuyết siêu trội đã giải thích thoả đáng hơn, trường hợp ưu thế lai trong lai kép bốn dòng mà hiện nay được sử dụng rộng rãi trong ngành trồng trọt và chăn nuôi gia cầm Tuy nhiên theo thuyết này ưu thế lai được tạo nên từ dị hợp
tử, do đó không thể cố định được, nếu thuần hoá ưu thế lai sẽ giảm
Dựa vào hai thuyết trên, đó là quan niệm cho rằng sự thay đổi về trạng thái hoạt động của các hoạt động hoá sinh bởi hệ thống enzim trong cơ thể sống
đã tạo ra ưu thế lai, đó là tính dị hợp tử của cơ thể mới
Theo Dinu M (1965); Dickenson G.E (1973), gà lai thịt có tốc độ mọc lông nhanh và khả năng cho thịt cao hơn gà thuần Ưu thế lai rất quan trọng khi gà nuôi vỗ béo đến ngày giết thịt ≤ 42 ngày tuổi
Ví dụ ở con lai 3 máu, chỉ số ưu thế lai là 1% lúc 2 tuần tuổi đã tăng lên 12% lúc 4 tuần tuổi và 6% ở gà 6 tuần tuổi
Các tác giả N.V Turbin (1966); Gentrev G (1968); V.Ladimrov (1969) (Trích dẫn theo Đoàn Xuân Trúc và cs., 1993) cho biết ưu thế lai là đặc trưng kết quả của phép cộng tác động tương ứng lên kiểu hình của số lớn những nguyên nhân đa dạng Vì vậy, chúng không được giải thích bằng một giả thuyết
Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), ưu thế lai phụ thuộc vào hai yếu tố: Trạng thái hoạt động của dạng dị hợp tử (d) và sự khác nhau giữa hai quần thể xuất phát (y)
Trang 15cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào sự tương quan âm hay dương giữa môi trường và kiểu di truyền Quan niệm đó được thể hiện bằng phương trình:
Pijk = A + Gi + Ej + (GE)ij + Mijk Trong đó: Pijk kiểu hình của cá thể đến thứ k thuộc kiểu di truyền i đến môi trường thứ j
Theo Wassen (1928); Kushner (1954); Kawahara (1960); Fomia (1964) cho rằng khi chọn đúng cặp bố mẹ cho giao phối thì ở con lai sức sống, sản lượng trứng tăng nhiều và chi phí thức ăn giảm bớt (Trích dẫn theo Nguyễn
Ân, 1979)
Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) cho biết trong thực tế chăn nuôi, không phải giống, dòng nào cho lai cũng cho kết quả tốt Vì thế khi chọn phối các cặp bố mẹ phải có khả năng phối hợp Khả năng phối hợp phụ thuộc vào mức độ chọn lọc các giống gốc Nếu các giống gốc có áp lực chọn lọc cao, có tiến
bộ di truyền (∆g) lớn, thì khi lai với nhau mới có khả năng phối hợp cao
Trong chăn nuôi gia cầm, với mỗi dòng khác nhau, đều phải chọn lọc khắt khe để có tổ hợp lai cho năng suất cao Do đó khả năng phối hợp cũng là hiện tượng tổ hợp mới được tạo ra khi chọn phối Vì khả năng đó đã có sẵn nằm ở gen con đực và con cái, khả năng sẵn có đó phải được các nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện và chọn phối Greffing khái quát quan niệm này bằng mô hình toán học sau:
Trang 16
Có thể hiểu: P: Tần số phối hợp các gen
Lijk: Sai lệch khi nhận xét Xij: Kết quả do phối giữa 2 giống i và j U: Hiệu quả trung bình trong quần thể G: Hiệu quả phối hợp của 2 giống gi và gj Sij: Hiệu quả di truyền đặc biệt
Rij: Hiệu quả tương quan di truyền Ngoài quan niệm kết hợp chung như đã nêu còn có khả năng kết hợp đặc biệt, khả năng kết hợp chung thường do hoạt động của các gen trội, gen lấn át, có nhiều loại tương tác át gen khác nhau Đầu tiên là loại tương tác át gen thứ hai là căn cứ vào loại nhân tố tham gia đó là sự tương tác của giá trị giống hoặc sai lệch trội Như vậy có 3 loại tương tác: Tương tác giữa hai giá trị giống, tương tác giữa giá trị giống và sai lệch trội, tương tác giữa hai sai lệch trội Tất cả đều chịu ảnh hưởng của môi trường, có tương quan giữa môi trường và di truyền
Theo Vũ Kính Trực (1972), ưu thế lai giữa tạp giao thuận và nghịch có mức chênh lệch lớn, có khi ở mức khác nhau về chất lượng, nguyên nhân chính do:
- Sự khác nhau về tế bào chất của cơ thể mẹ
- Ảnh hưởng sinh lý với đặc điểm riêng của cơ thể mẹ đến con lai
Đối với gà, cơ thể con mẹ có phần ảnh hưởng lớn (trong tạp giao thuận nghịch nếu sử dụng hai giống có sự chênh lệch cao về sức sản xuất) ALen chứng minh trong tế bào chất ở gà có một số di truyền đặc thù có tên gọi “Plusmon” ảnh hưởng rõ đến khả năng di truyền nhiều tính trạng bao gồm: sức sống của phôi gà
Trang 17và gà trưởng thành, sức đẻ trứng, khối lượng trứng gà Chỉ ở các trứng gà đã lấy mất chất “Plusmon” của cơ thể mẹ mới không thấy ảnh hưởng
Tóm lại khi chọn lọc các dòng để lai tạo, mức độ biểu hiện ưu thế lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Môi trường, độ tuổi và chọn giống
2.1.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và phát triển
2.1.2.1 Khả năng sinh trưởng
*Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ, sự tăng chiều cao,chiều dài, bề ngang,khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất
di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần dần các chất, chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng tích luỹ các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein chính cũng tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của
cơ thể (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992)
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein Nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.Tuy nhiên có khi tăng trọng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn béo mỡ,chủ yếu là tích nước không có sự phát triển của mô cơ) Sự tăng trưởng từ khi trứng rụng cho đến lúc cơ thể đó trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai, đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành
Như vậy sinh trưởng sẽ thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng
số lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào.Tất cả các đặc tính của gia súc gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải do sẵn có trong tế bào Các bộ phận hình thành trong quá trình sinh trưởng là sự thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn
do tác động của môi trường
Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành
Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc gia cầm Sinh trưởng được coi là quá trình thay đổi cấu tạo chức năng, hình
Trang 18thái, kích thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành
Đối với gia cầm, sinh trưởng là quá trình biến đổi, tổng hợp của sự tăng lên về số lượng, kích thước của tế bào và thể dịch trong mô bào giai đoạn phát triển của phôi Trong một số mô, sinh trưởng là do tăng lên về kích thước của tế bào Giai đoạn sinh trưởng này chia làm hai thời kỳ:
Thời kỳ gà con: Trong thời kỳ này số lượng tế bào tăng nhanh cả về số
lượng, kích thước và khối lượng nên gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh với cường độ mạnh Một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh, đặc biệt là
hệ tiêu hoá Các men tiêu hoá chưa đầy đủ, gà con dễ bị ảnh hưởng của thức ăn
và nuôi dưỡng Do đó, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng ở thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm Gà con rất nhạy cảm với sự thay đổi của điều kiện nuôi dưỡng, đặc biệt là nhiệt độ Trong những ngày đầu thì nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà con, do thân nhiệt chưa ổn định Cũng trong thời kỳ này diễn ra quá trình thay lông Đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó làm tăng quá trình trao đổi chất, quá trình tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn Do đó cần chú ý tới hàm lượng các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các axít amin hạn chế như: Lyzin, Methionin, Tryptophan…
Thời kỳ gà trưởng thành: Thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể gia cầm
gần như đã phát triển hoàn thiện Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích luỹ của gia cầm một phần để duy trì sự sống và một phần
để tích luỹ mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gà con Vì vậy, giai đoạn này cần xác định thời điểm giết mổ hợp lý (khi tốc độ sinh trưởng giảm) để cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng đầu tiên là chú ý đến vấn đề xác định khối lượng cơ thể ở một tuần tuổi nào đó Khối lượng cơ thể
ở tuần tuổi nào đó là một chỉ tiêu được sử dụng rất quen thuộc để đánh giá sự sinh trưởng vì chỉ tiêu này đơn giản, dễ thực hiện Vì vậy, người chăn nuôi thường theo dõi khối lượng của cơ thể ở các tuần tuổi và tính mức độ tăng khối lượng vì tính trạng này liên quan đến hiệu quả sử dụng thức ăn
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm
Sinh trưởng của gia cầm là quá trình sinh học phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau như: Di truyền, dòng, giống, tính biệt, tốc độ
Trang 19mọc lông, chế độ dinh dưỡng, khả năng kháng bệnh, điều kiện chăn nuôi và nhiều yếu tố khác
* Ảnh hưởng của di truyền
Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm Trần Đình Miên và cs (1975) trích dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật thành 3 loại:
+ Gen ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung, đến các chiều, đến tính năng lý học các chiều
+ Gen ảnh hưởng theo nhóm
+ Gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng rẽ
Theo Nguyễn Ân và cs (1983) , các tính trạng năng suất (trong đó có tốc
độ sinh trưởng) là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường được như: khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết: Các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen hay còn gọi đa gen (polygens) Các gen này hoạt động theo 3 phương thức đó là sự cộng gộp; trội, lặn và tương tác giữa các gen
G = A + D + I G: Giá trị kiểu gen (Genotype value)
A: Giá trị cộng gộp - hiệu ứng tích luỹ từng gen (Additive value)
D: Sai lệch do tương tác trội lặn - hiệu ứng giữa các gen cùng locus (Dominance deviation)
I: Sai lệch do tương tác giữa các gen - hiệu ứng tương tác của các gen không cùng locus (Interaction deviation)
Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng khái niệm hệ
số di truyền (h2) Đặng Hữu Lanh (1995) khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình Tài liệu của Đặng Hữu Lanh (1995) cho biết ở gà 32 tuần tuổi có hệ số di truyền về khối lượng cơ thể là 0.55, khối lượng trứng là 0.50, sản lượng trứng là 0.10 Theo Đặng Vũ Bình (2002), người ta thường phân chia hệ số di truyền thành 3 nhóm, hay nói cách khác là các tính trạng thường gặp có 3 mức khác nhau về hệ số di truyền:
Trang 20+ Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0 – 0.2): thường bao gồm các tính trạng thuộc về sức sinh sản như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống, số con đẻ ra trong 1 lứa, sản lượng trứng …
+ Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (từ 0.2 – 0.4): thường bao gồm các tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng … + Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0.4 trở lên): thường bao gồm các tính trạng thuộc về phẩm chất sản phẩm như khối lượng trứng, tỷ lệ mỡ sữa,
tỷ lệ nạc trong thân thịt
Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Thành Đồng (1996) nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất (PN) của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở 4 giống gà là khác nhau: gà broiler AA là 187.97; gà Lohmann 215.33; gà ISA Vedette 211.83 và gà broiler Avian 204.95 Như vậy gà broiler Lohmann và ISA Vedette là cao nhất và thấp nhất là gà AA
* Ảnh hưởng của dòng, giống
Dòng giống có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể giữa các giống có sự khác nhau, gà thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà kiêm dụng và gà hướng trứng, giữa các dòng của một số giống cũng có sự khác nhau
về sinh trưởng
Letner and Asmundson (1938) đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi và cho rằng gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn ở 2 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết sự khác nhau
về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13 - 30%) Khi nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV8, Trần Long (1994) cho rằng tốc độ sinh trưởng ở 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi
Theo Godfrey and Joap (1952), sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) Vì vậy, có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa
Trang 21con trống và con mái trong cùng một giống (gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%) Nguyễn Ân và cs (1983) cho biết hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở 3 tháng tuổi ở gà là 26 - 50%
* Ảnh hưởng của tính biệt
Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái, ngoại trừ chim cút (con trống nhỏ hơn con mái) Theo Jull (1923) (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32% Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể) North and Bell (1990) cho biết khối lượng
gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%
* Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc
Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm
Vì vậy, phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng nếu không sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và khả năng sản xuất của gia cầm, đồng thời không phát huy hết tiềm năng của giống
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1993), để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những phải cung cấp đầy đủ thức ăn với đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn phải đảm bảo sự cân bằng giữa chúng, đặc biệt là cân bằng giữa năng lượng và protein, sự cân bằng giữa các axit amin Để có năng suất và hiệu quả chăn nuôi cao, đặc biệt phát huy được tiềm năng sinh trưởng của gia cầm thì lập ra khẩu phần ăn cân đối trên cơ sở tính chính xác nhu cầu của gia cầm là một trong những vấn đề cơ bản (Bùi Đức Lũng, 1992)
Dinh dưỡng của gia cầm gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần dinh dưỡng đều có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng:
- Protein: Cấu tạo lên mô bào, là thành phần chính của các enzim cho các
quá trình biến đổi vật chất trong cơ thể Do vậy những giống vật nuôi sinh trưởng càng nhanh thì nhu cầu protein càng cao Trong mỗi giống, dòng, mỗi cá thể ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau nhu cầu protein khác nhau Sự thiếu hụt các axit amin trong khẩu phần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng
Trang 22và hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm Gà từ 8 - 56 ngày tuổi, khi ăn khẩu phần có mức protein thấp sẽ làm giảm sinh trưởng, giảm thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn Khi khẩu phần dư thừa protein thì gia cầm giảm sinh trưởng, giảm tích luỹ mỡ và tăng hàm lượng axit uric trong máu Ngoài ra, sự dư thừa protein còn gây phân nhão, tăng stress do tăng hoạt động của tuyến thượng thận, tăng sinh hormone Adrecorticosteroit (Scott M L., 1992)
- Năng lượng: Nhằm duy trì và sản xuất cho con vật Theo (Festi D M.,
1984 ; Smith C F., 1984) nhận định rằng, sự tăng năng lượng trong thức ăn có thể cải thiện khả năng tăng trọng của gà Nếu năng lượng trong khẩu phần thấp thì gà ăn nhiều hơn song hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn (Scott M L., 1992 ; Nesheim M C., 1992)
* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông của gà có liên quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, trong cùng một giới tính, những con nào
có tốc độ mọc lông nhanh thì có tốc độ sinh trưởng tốt hơn Tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền liên quan tới đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm
Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết, tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền liên kết với giới tính, trong cùng một dòng gà thì gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống, đó là hormone tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà có tốc độ mọc lông nhanh
có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn
* Ảnh hưởng của mật độ
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ngoài các tác nhân khí hậu ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ không khí, ánh sáng thì mật độ nuôi cũng là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và năng suất chăn nuôi gia cầm, mật độ nuôi thưa gây lãng phí lao động, lãng phí chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp, mật độ nuôi cao không hợp lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng nuôi Mật độ nuôi ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu chuồng nuôi:
Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng nuôi, khí độc trong chuồng nuôi sinh ra từ sự phân hủy phân, nước tiểu, nước thải, thức
ăn thừa , tạo thành các khí NH3, CO2, H2S, CH4 khí NH3 khi đi vào cơ thể làm lượng kiềm dự trữ trong máu tăng, gia cầm bị trúng độc kiềm Theo Đỗ
Trang 23Ngọc Hòe (1996) cho biết khi hàm lượng NH3 trong chuồng là 25ppm sẽ làm giảm lượng hemoglobin trong máu, giảm sự trao đổi khí, giảm hấp thu dinh dưỡng và làm giảm tăng trọng của gà tới 4% Còn theo Coldhaft T.M., 1971 (trích từ Đỗ Ngọc Hòe, 1996) cùng với NH3, khí H2S cũng là khí độc ảnh hưởng tới sinh trưởng, H2S kết hợp với Na trong dịch niêm mạc đường hô hấp tạo thành Na2S, muối này đi vào máu thủy phân thành H2S, tác động tới thần kinh, gây trúng độc cho gia cầm Nếu nồng độ H2S lớn hơn 1mg/l, gà sẽ bị chết vì bị liệt trung khu hô hấp (Đỗ Ngọc Hòe, 1996)
Mật độ nuôi ảnh hưởng tới khả năng điều hòa thân nhiệt vì mật độ nuôi làm thay đổi nhiệt độ, độ ẩm của tiểu khí hậu chuồng nuôi, giảm mật độ nuôi góp phần làm tỏa nhiệt từ cơ thể gà dễ dàng hơn Với điều kiện khí hậu ở nước ta, khi nuôi gà nhốt thì mật độ 10 con/m2 hoặc ít hơn là thích hợp
* Ảnh hưởng của môi trường
Ngoài các yếu tố kể trên ra, những yếu tố như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng,
sự thông thoáng,… cũng ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng phát triển của gia cầm Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ quá cao hay quá thấp đều giảm tốc độ sinh trưởng của gia cầm Ngoài ra mật độ chăn nuôi và chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm
Gà con rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ Trong những ngày đầu, nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của gà con, do thân nhiệt chưa ổn định Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1993), giai đoạn đầu gà con cần nhiệt độ 30 - 350C Nếu nhiệt độ thấp hơn gà kém ăn, chậm lớn, chết nhiều Sau 5 tuần tuổi thì nhiệt độ tiêu chuẩn chuồng nuôi là 18 -
250C sẽ giúp gà ăn khoẻ, lớn nhanh
Trong điều kiện nuôi thông thoáng tự nhiên ở nước ta khó có thể đạt được tiêu chuẩn trên vì nhiệt độ chênh lệch giữa mùa hè và mùa đông Vì vậy, trong chăn nuôi, chúng ta cần phải tìm ra giải pháp tối ưu để đạt được xấp xỉ tiêu chuẩn nhiệt độ quy định Ngoài ra, nhiệt độ môi trường còn ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng trao đổi và năng lượng tiêu hoá của gà Do đó, thu nhận thức ăn của
gà chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường
Ẩm độ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà Khi ẩm độ tăng cao làm cho chất độn chuồng dễ bị ẩm ướt, thức ăn dễ bị
Trang 24mốc, nấm mốc phát triển, đặc biệt NH3 do vi khuẩn phân huỷ các axit uric trong phân và các chất độn chuồng ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của gà
Các yếu tố này làm tăng khả năng nhiễm bệnh của gà như cầu trùng, Newcastle và E.coli từ đó làm giảm sinh trưởng của gà Nhưng nếu ẩm độ quá thấp làm tăng lượng bụi trong chuồng nuôi nên gà hay mắc bệnh đường hô hấp, làm tăng sự bốc hơi nước nên da khô, gà gầy yếu và ngứa ngáy khó chịu hay cắn,
mổ nhau
Sự thông thoáng cũng có vai trò rất quan trọng đối với sinh trưởng của gà
Nó giúp cho gà có đủ O2 để thở, thải khí CO2 và các chất độc khác, điều hoà ẩm
độ chuồng nuôi, qua đó hạn chế bệnh tật Đối với gà lớn, cần tốc độ lưu thông không khí cao hơn gà nhỏ Theo Đỗ Ngọc Hoè (1996), việc cải tạo khí hậu bằng cách làm trần, lắp quạt thông gió và các hệ thống làm mát mang lại hiệu quả kinh
tế cao trong chăn nuôi gà công nghiệp
Ngoài những yếu tố kể trên ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng đúng quy trình, thực hiện lịch phòng Vacxin đầy đủ cũng ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm
* Cách đánh giá sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi trưởng thành Do vậy, việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải dễ dàng.Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế (Chambers, 1990)
* Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể ở từng thời điểm là một chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá sự sinh trưởng của gà Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ xác định được sự sinh trưởng ở một thời điểm nhất định của cơ thể nhưng không chỉ ra được sự sai khác
và tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần cơ thể trong một khoảng thời gian ở các
độ tuổi khác nhau Chỉ tiêu này được minh hoạ bằng đồ thị Đồ thị này thay đổi theo giống, dòng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Đối với gia cầm, khối lượng
cơ thể thường được theo dõi theo tuần tuổi, đơn vị tính bằng kg/con hoặc g/con
* Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N 2.39,
Trang 251997) Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabon Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn
* Sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên về kích thước, khối lượng và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2.40, 1997) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypepon Ở gà con, tốc độ sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo độ tuổi
* Đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng không chỉ biểu thị tốc độ sinh trưởng của gà mà còn biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia súc và gia cầm nói chung Theo Chamber
J R (1990), đường cong sinh trưởng gồm bốn pha và có bốn đặc điểm chính:
- Pha sinh trưởng tích luỹ: Tăng tốc độ nhanh sau khi nở
- Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất
- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
- Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành
2.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
2.1.3.1 Khả năng sinh sản của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm: Là sản lượng trứng đẻ ra trong một thời gian nhất định, thường tính bằng một năm Cũng có khi tính sản lượng trứng theo một năm sinh học là số trứng đẻ ra trong 365 ngày kể từ khi gà đẻ quả trứng đầu tiên hay 500 ngày tuổi từ khi gia cầm đẻ ra
Sức đẻ trứng của gia cầm thường được đánh giá bằng một số chỉ tiêu chính như: Sức bền đẻ trứng, cường độ đẻ trứng, tỷ lệ đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng Sức bền đẻ trứng: Là số trứng đẻ ra tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ và thay lông
Cường độ đẻ trứng: Là số trứng đẻ ra trong một thời gian xác định không
kể đến chu kỳ hay nhịp đẻ
Tỷ lệ đẻ trứng: Là tỷ lệ phần trăm giữa số trứng đẻ ra của đàn gà tại một thời điểm nhất định và số gà có mặt tại thời điểm đó
Trang 26Chu kỳ đẻ trứng: Là số trứng đẻ ra liên tục trong vòng một số ngày, chu
kỳ đẻ trứng có thể dài hoặc ngắn, phụ thuộc vào thời gian hình thành một quả trứng Thời gian hình thành trứng càng dài thì chu kỳ đẻ trứng càng ngắn và ngược lại Chu kỳ nhắc lại và chia làm hai loại chu kỳ đều và chu kỳ không đều, thường gia cầm đẻ tốt thì chu kỳ đều và kéo dài
Chu kỳ đẻ trứng sinh học: Là khoảng thời gian tính từ khi gia cầm bắt đầu
đẻ quả trứng đầu tiên cho đến khi gia cầm nghỉ đẻ thay lông Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với sản lượng trứng của gia cầm
2.1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sức đẻ trứng của gia cầm
* Các yếu tố di truyền cá thể
Sức đẻ trứng là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng của gia cầm đối với con người Có năm yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm là: Tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, thời gian nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng
+ Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Ở gà mái tuổi thành thục sinh dục là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với mỗi đàn (quần thể) gà (Pingelaf et al., 1980) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004) Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của giống và môi trường Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau, tuổi thành thục sinh dục của gà khoảng
170 - 180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 20 ngày Tuổi đẻ quả trứng đầu của
gà Ri 135 - 144 ngày (Nguyễn Văn Thạch, 1996); gà Đông Tảo 157 ngày (Phạm Thị Hoà, 2004); gà Mía là 174 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoành Phanh, 1999);
gà xương đen Thái Hoà Trung Quốc 141 - 144 ngày (Vũ Quang Ninh, 2002)
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Những gia cầm có khối lượng cơ thể nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục sớm là ngày, tháng nở của gà con (độ dài của ngày chiếu sáng), khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo, cũng như khối lượng cơ thể Sự biến động trong tuổi thành thục sinh dục có thể còn do các yếu tố khác có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển như tiêm phòng vắc xin
Trang 27cho gà con sẽ dẫn đến đẩy lùi ngày đẻ quả trứng đầu tiên Khẩu phần ăn cũng có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson I., 1972)
Thể trạng và độ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng đến khả năng thành thục sinh dục Khi nghiên cứu về mối quan hệ phụ thuộc giữa thể trạng và tuổi thành thục sinh dục, (Lerner I M.,1943; Taylo I W., 1943) cho biết những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thì phần lớn bắt đầu đẻ trứng sớm hơn những giống gà có tầm vóc lớn
Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Thời gian gà đẻ mạnh vào những ngày ngắn của thu đông, điều đó cũng nói lên rằng thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục (Brandsch H.,1978; BiilchelàH., 1978) cho biết hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là h2 = 0.14 – 0.15 Theo Đặng Hữu Lanh (1995) cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0.32
+ Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn Theo Card L E and Neshein M C (1970) cho rằng, cường độ đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời gian 30 - 60 ngày và 100 ngày Các tác giả này còn cho biết, đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và thứ ba, sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Nguyễn Mạnh Hùng và
cs (1994) cho biết có sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường độ đẻ trứng của 3 -
4 tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm Vì vậy, người ta thường dùng cường độ
đẻ trứng ở 3 - 4 tháng tuổi đầu tiên để dự đoán sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đôi và chọn lọc giống Cường độ đẻ trứng còn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng
+ Thời gian nghỉ đẻ
Ở gà, thường có hiện tượng nghỉ đẻ trong một thời gian, có thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí kéo dài 1 - 2 tháng Thời gian nghỉ đẻ thường vào mùa đông, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gia cầm thường thay lông vào mùa đông nên thời gian này
gà nghỉ đẻ Trong điều kiện bình thường, lúc thay lông đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những đàn gà thay lông sớm, thời gian bắt đầu thay lông từ tháng 6 - 7 và quá trình thay lông diễn ra chậm, kéo dài 3 - 4 tháng là những đàn đẻ kém Ngược lại, có những đàn thay lông muộn, thời gian
Trang 28thay lông bắt đầu từ tháng 10 - 11, quá trình thay lông diễn ra nhanh là những đàn gà đẻ tốt Đặc biệt ở một số đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 - 5 tuần
và lại đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lông mới Có con gà đẻ ngay trong
thời gian thay lông
+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học
Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở của gia cầm con Tuỳ thuộc vào thời gian nở mà sự bắt đầu và kết thúc của chu kỳ đẻ trứng sinh học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Thường ở gà, chu kỳ này kéo dài trong năm; ở gà tây, vịt, ngỗng chu kỳ này ngắn hơn và theo mùa, chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan nghịch rõ rệt
+ Tính ấp bóng hay bản năng đòi ấp bóng
Đây là phản xạ không điều kiện có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong tự nhiên, tính ấp bóng giúp gia cầm duy trì nòi giống Bản năng đòi
ấp rất khác nhau giữa các giống và các dòng Các dòng nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng đòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân Gà Leghorn và gà Goldline hầu như không còn bản năng đòi ấp Bản năng đòi ấp là một đặc điểm di truyền của gia cầm, nó là một phản xạ nhằm hoàn thiện quá trình sinh sản Trong lĩnh vực ấp trứng nhân tạo, để nâng cao sản lượng trứng của gia cầm thì người chăn nuôi đã rút ngắn và làm mất hoàn toàn bản năng ấp trứng của gia cầm Bởi vì bản năng
ấp trứng là một yếu tố ảnh hưởng đến sức bền đẻ trứng và sức đẻ trứng
* Giống, dòng gia cầm
Theo tác giả Nguyễn Thị Mai và cs (2009) cho biết giống gia cầm khác nhau khả năng đẻ trứng cũng khác nhau Giống, dòng gia cầm ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất trứng của gia cầm Giống khác nhau có khả năng đẻ trứng khác nhau: Giống gà Kabir sản lượng trứng trung bình 195 quả/mái/năm, gà Brown nick sản lượng trứng trung bình là 300 quả/mái/năm Các giống gà được chọn lọc theo hướng chuyên trứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm dụng và các giống gà chuyên thịt, các giống gà nội thường có sản lượng trứng và khối lượng trứng thấp hơn so với các giống gà ngoại nhập Theo Nguyễn Thị Mai
và cs (2007), năng suất trứng của một số giống gà nội: Gà Ri 120 - 130 quả/mái/năm; gà Đông Tảo 50 quả/mái/năm và gà Hồ 55 quả/mái/năm Các
Trang 29giống gà chuyên trứng sản lượng cao: Goldline có sản lượng trứng 260 - 280 quả/mái/năm; Isa Brown 280 - 290 quả/mái/năm; CP - Brown 270 - 290 quả/mái/năm Trong cùng một giống sản lượng trứng cũng khác nhau ở các dòng khác nhau, những dòng được chọn lọc, sản lượng trứng cao hơn dòng không được chọn lọc 15 - 20%
* Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm có liên quan đến năng suất trứng, sản lượng trứng gia cầm giảm dần theo tuổi, thường thì năm thứ hai giảm 15 - 20% so với sản lượng năm thứ nhất Khi gà mới bắt đầu đẻ thì sản lượng trứng thường thấp và chưa ổn định, sau đó sản lượng trứng tăng dần lên đến khi đạt đỉnh cao tỷ lệ đẻ và sau đó giảm dần Ở gà thì năm thứ nhất sản lượng trứng là cao nhất, sau đó giảm dần theo tuổi (năm thứ hai sản lượng trứng còn 85% so với năm thứ nhất), còn ở vịt và gà tây sản lượng trứng cao nhất vào năm thứ hai, ngỗng năm thứ ba sản lượng trứng cao nhất (Nguyễn Thị Mai và cs., 2007)
* Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ với khả năng đẻ trứng Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo một khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng Quan trọng nhất là cân bằng protein
và năng lượng, cân bằng các axit amin, cân bằng các chất khoáng và vitamin
* Điều kiện ngoại cảnh
+ Mùa vụ
Ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gà Ở nước ta vào mùa hè sức đẻ trứng giảm xuống so với mùa xuân, đến mùa thu thì sức sản xuất trứng của gà lại tăng lên
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt độ thích hợp cho gia cầm đẻ trứng là 18 - 240C Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thì gia cầm phải phải huy động năng lượng để chống rét và nhiệt độ cao trên nhiệt độ giới hạn thì cơ thể phải điều hoà thân nhiệt
+ Ánh sáng
Có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng trứng của gia cầm Nó được xác định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng Yêu cầu của gà đẻ về thời gian
Trang 30chiếu sáng là từ 12 - 16 giờ/ngày Ta có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo để chiếu sáng cho gà với cường độ chiếu sáng từ 3 – 3.5 W/m2 Theo Bigioco (dẫn theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs., 1994), gà thường đẻ từ 7 - 17 giờ, nhưng
đa số là vào buổi sáng, cụ thể là 17.7% gà đẻ vào thời điểm 7 - 9 giờ, 28.5% vào
9 - 11 giờ, 27.3% vào lúc 11 - 13 giờ, 19.5% vào lúc 13 - 15 giờ và 7% vào lúc
15 - 17 giờ so với tổng số gà đẻ trong ngày Ở nước ta, với điều kiện khí hậu nóng ẩm, cường độ đẻ trứng cao nhất ở gà vào thời điểm 8 - 12 giờ từ 60 - 70 %
so với tổng gà đẻ trong ngày
số trứng đem ấp Trong thí nghiệm, để so sánh giữa các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ
lệ ấp nở hoặc xác định chất lượng máy ấp, người ta tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra với số trứng có phôi Ở các Trung tâm giống hay các Trạm nghiên cứu di truyền giống, để xác định toàn diện chất lượng đàn giống, người ta tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra với số trứng đẻ ra Để đánh giá hiệu quả kinh tế người ta thường dùng công thức tính tỷ lệ ấp nở là tỷ lệ phần trăm giữa số gà con loại I trên số trứng đem ấp
Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể chia làm hai yếu tố tác động chính là yếu tố di truyền và điều kiện môi trường
*Ảnh hưởng của các yếu tố di truyền
Các yếu tố di truyền như: Hình dạng trứng, chất lượng trứng, khối lượng trứng, độ dày vỏ trứng, chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ đều ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm Các yếu tố này liên quan đến sự cân đối của các thành phần trong trứng, đặc biệt là tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ Diện tích tiếp xúc với môi trường bên ngoài, quá trình bốc hơi nước đồng thời ảnh hưởng tới lượng khí trao đổi trong quá trình phát triển của phôi
Trứng quá to hoặc quá nhỏ đều làm giảm tỷ lệ ấp nở Qua nhiều nghiên cứu người ta xác định tỷ lệ ấp nở cao nhất ở những giống có khối lượng trứng trung bình của giống Perdrix J (1969); Orlov M V (1974) cho rằng tỷ lệ ấp nở
Trang 31cao nhất ở nhóm trứng có hình dạng bình thường và khối lượng trứng trung bình với tỷ lệ lòng trắng trên lòng đỏ là 2/1
Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) nghiên cứu trên gà RhodeRi cũng cho biết những trứng có khối lượng trung bình từ 46 - 51g cho tỷ lệ nở cao nhất Người ta còn thấy có sự tương quan giữa diện tích bề mặt của trứng và sự bốc hơi nước qua bề mặt vỏ trứng trong thời gian ấp Vì vậy, những quả trứng nhỏ có bề mặt tương đối hơn so với khối lượng của chúng Do vậy, tỷ lệ hao hụt trong thời gian ấp cao hơn Chỉ số hình dạng có ý nghĩa lớn đối với hiệu quả ấp
nở vì nó ảnh hưởng đến vị trí của đĩa phôi khi ấp, dẫn đến ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi Trứng gia cầm chủ yếu có hình ô van, đối với những trứng quá tròn, quá dài hoặc bị dị dạng đều cho tỷ lệ nở thấp Trứng có chỉ số lòng đỏ cao cho tỷ lệ ấp nở cao Nhiều nghiên cứu còn xác định được mối quan hệ trực tiếp tỷ
lệ ấp nở với cường độ đẻ trứng Thường trứng đẻ ở giữa chu kỳ nở tốt hơn những quả ở đầu và cuối kỳ
Tỷ lệ ấp nở là một tính trạng di truyền, tuy nhiên hệ số di truyền của tính trạng này thấp h2 = 0.15 – 0.20
* Ảnh hưởng của điều kiện môi trường
Các yếu tố của điều kiện môi trường có ảnh hưởng đến tỉ lệ ấp nở như: Nhiệt độ, ẩm độ, sự trao đổi khí và quá trình đảo trứng
- Nhiệt độ
Khi nhiệt độ môi trường tăng cao thì nước từ trong trứng sẽ bị bay hơi nhiều và làm phá vỡ quá trình trao đổi chất trong phôi ở quá trình ấp trứng Nếu trứng ấp bảo quản kéo dài trong điều kiện ẩm độ thấp và nhiệt độ cao sẽ làm cho khối lượng trứng giảm nhanh, lòng trắng trở nên đặc dần, chỉ số lòng trắng giảm,
tỷ lệ lòng đỏ tăng lên do sự thẩm thấu nước từ lòng trắng sang lòng đỏ, màng lòng đỏ giảm dần, chỉ số đàn hồi, chỉ số lòng đỏ giảm xuống và đặc biệt đơn vị Haugh cũng giảm xuống theo thời gian bảo quản Do có sự biến đổi các chỉ tiêu chất lượng trứng và sự giảm khối lượng trứng, dẫn đến kết quả ấp nở bị ảnh hưởng đáng kể
Theo Trần Long (1994), nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc tới tỷ lệ ấp nở: Ở nhiệt độ 39 - 400C kéo dài trong một thời gian, sẽ làm cho phôi phát triển nhanh, gia cầm nở sớm, một số bị biến dạng, dị tật, gây xung huyết Nếu nhiệt độ trên
Trang 32400C sẽ gây chết phôi hàng loạt Nếu nhiệt độ dưới 370C kéo dài sẽ làm gia cầm
2.1.3.4 Vấn đề thích nghi của gia cầm
Trong công tác giống gia cầm vấn đề thích nghi tương đối quan trọng, vì trong quá trình tạo giống, nhân giống người ta có thể nhập một số giống mới từ nước ngoài vào hoặc có thể chuyển con giống từ vùng này sang vùng khác Nói chung khi chuyển con giống từ vùng này sang vùng khác thì vấn đề thích nghi được đặt ra Quan điểm về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng thích nghi là sự thay đổi về khả năng phản ứng của cơ thể sinh vật với ảnh hưởng lâu dài của điều kiện ngoại cảnh, ý kiến khác lại cho rằng thích nghi là sự phù hợp của cơ thể đối với những đặc điểm của môi trường xung quanh
Các phản ứng của cơ thể con vật với môi trường xung quanh rất phức tạp, ngày nay với những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên việc chọn lọc, chọn phối, nuôi dưỡng được tốt hơn vì vậy mà địa bàn thích nghi của các giống gà cũng được mở rộng hơn Cho đến nay thì những yếu tố ảnh hưởng tới sự thích nghi của gia cầm hay cụ thể hơn là tới gà vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, tuy nhiên một số nhân
Trang 33tố chủ yếu có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của gà là: Điều kiện khí hậu, đặc tính phẩm giống, dinh dưỡng và thức ăn, lứa tuổi, sức sống và khả năng kháng bệnh, trình độ khoa học kỹ thuật
* Điều kiện khí hậu
Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, áp lực khí quyển là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới sự thích nghi Nhiệt độ thấp làm cho lông phát triển rậm và dài, nhiệt độ cao làm cho lông mọc thưa hơn Các chỉ tiêu về sinh lý của gia cầm như: Nhịp đập của tim, nhịp thở, thân nhiệt cũng thay đổi tuỳ theo nhệt độ và ẩm độ của không khí Ánh sáng cũng ảnh hưởng tới sự thích nghi của gia cầm, nhất là những gia cầm chuyển từ vùng ôn đới tới vùng nhiệt đới Đối với gia cầm thì ánh sáng có ảnh hưởng lớn tới sản lượng trứng, nếu cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng phù hợp thì sản lượng trứng cao và ngược lại
* Đặc tính của phẩm giống
Đặc tính của phẩm cấp giống cũng được hình thành và củng cố qua quá trình thích nghi với điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng ở một địa phương Những đặc tính ấy được củng cố vững chắc dần và di truyền lại qua nhiều thế hệ Do đó, khi gia cầm bị di chuyển tới những vùng có điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng mới thì sẽ làm ảnh hưởng tới sự thích nghi
* Dinh dưỡng thức ăn
Ở mỗi nơi khác nhau thì thức ăn khác nhau, đặc biệt là nồng độ dinh dưỡng trong mỗi loại thức ăn cũng khác nhau.Chính điều này ảnh hưởng rõ rệt tới sức sản xuất của gia cầm
Lê Viết Ly, 1995 cho biết động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị tress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống
Trang 34lâu và tỷ lệ chết thấp
Theo Jonhanson I (trích từ Phan Cự Nhân và cs., 1972) cho biết sức sống được thể hiện ở khả năng có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh, sức sống được xác định bởi tính
di truyền Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể có tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994)
HillàJ.F et al., 1954 cho biết đã tính được hệ số di truyền của sức sống là 0.66 Theo Lerner J M and Taylor I W., 1943, hệ số di truyền sức sống của gà
là 0.13 ; còn Nguyễn Trọng Thiện và Trần Đình Miên, 1995 lại cho biết hệ số di truyền sức sống của gà là 0.33 Theo Gavora J.F., 1990, hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0.25
Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng ), gà lông màu có khả năng thích ứng tốt hơn với môi trường sống (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998)
Bùi Quang Tiến và Trần Công Xuân, 1994 cho biết gà Ross - 208 có tỷ lệ nuôi sống đến 42 ngày tuổi đạt 95%, gà hậu bị và mái đẻ đạt 98.47 ; 98.74% Theo Đoàn Xuân Trúc và cs., 1996 thì tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi của gà A.A đạt 91%, gà AAV35 đạt 93.86%, gà AAV53 đạt 93.42%, gà V1AA đạt 92.07%
Với những nhân tố chính ảnh hưởng tới quá trình thích nghi của gia cầm nên khi nhập các giống gà mới để nuôi thích nghi, thì việc đầu tiên là cần hiểu biết về đặc tính sinh học của giống ấy, nhất là những đặc tính kinh tế quan trọng như: Sinh trưởng, phát dục qua các giai đoạn, khối lượng cơ thể lúc sơ sinh, tuổi cho sản phẩm đầu tiên, tuổi trưởng thành, tính trạng sinh sản, sức sản xuất qua các giai đoạn phát triển của cơ thể Còn với những tính trạng về sinh lý như: Thân nhiệt, mạch đập, tần số hô hấp, sinh hoá máu và các hằng số sinh lý Ngoài
Trang 35ra, mỗi cá thể cần một lý lịch rõ ràng (thường ít nhất là có ba đời tổ tiên), tránh hiện tượng đồng huyết quá gần hoặc gần, biết rõ nguồn gốc xuất phát tạo ra giống đó và những giá trị kinh tế, tính năng di truyền của phẩm giống Những dòng họ cao sản và khả năng thích nghi ở những vùng khác nhau Ở Việt Nam đã nuôi thích nghi được nhiều giống gà như: Giống gà Leghorn trắng dòng BVx và BVy ở xí nghiệp gà giống Ba Vì, gà được nhập từ Cu Ba; gà Lương Phượng
nhập từ Trung Quốc
2.1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các giống gà nội có năng suất thấp nhưng lại có chất lượng thịt thơm ngon, dễ nuôi và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của nước ta Đây là nguồn quỹ gen quí, góp phần tạo gà broiler trong các công thức lai tạo Theo Nguyễn Trọng Thiện, 2008 cho biết: từ năm 1975 đến năm 1985 đã nghiên cứu lai tạo ra giống gà kiêm dụng Rhoderi từ gà Rhode Island và gà Ri Hải Dương Gà Rhoderi qua 4 thế hệ chọn lọc có sản lượng trứng cao hơn gà Ri và gà Rhode Island Tốc độ sinh trưởng của con lai cao hơn con thuần trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường Khối lượng khi trưởng thành của gà trống Rhoderi là 3165g
và gà mái là 2500g, sau khi được công nhận, giống mới Rhoderi tiếp tục được hoàn chỉnh, nâng cao các chỉ tiêu sản xuất, tính kháng bệnh tiêu tốn thức ăn trên đơn vị tăng trọng, ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên đối tượng là các giống gà nhập nội từ đó đưa ra được các công thức lai mới cho hiệu quả kinh tế cao
Nguyễn Hoài Tao và Tạ An Bình, 1984 nghiên cứu lai kinh tế: Mía x Ri; Phù Lưu Tế x Ri; Chọi x Ri, kết quả cho thấy ở 2 công thức lai Mía x Ri; Phù Lưu Tế x Ri có khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức ăn đều ở mức tốt hơn so với gà
Ri thuần
Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) nghiên cứu lai tạo ra giống
gà kiêm dụng Rhoderi có sản lượng trứng cao hơn gà Ri 27%, khối lượng trứng cao hơn gà Ri 8.6%
Các Công ty, Xí nghiệp gà giống đã tiến hành nhập gà giống ông bà, bố
mẹ giống thịt, giống trứng về nuôi và cung cấp con giống có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu con giống của thị trường như: Công ty TNHH MTV gà giống DABACO Lạc Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh đã tiến hành nhập và nuôi thành công
Trang 36giống gà thịt Ross 308, Hurbard - Classic Công ty cổ phần giống gia cầm Lương
Mỹ - Chương Mỹ - Hà Nội nhập giống gà Hubbard - Flex Công ty cổ phần gà giống Châu Thành - Nam Định (gà thả vườn Kabir) Công ty CP có cả giống gà siêu thịt và siêu trứng
Kết quả nghiên cứu khả năng sản suất 4 dòng gà ông bà Sasso nhập nội của Phùng Đức Tiến và cs., 2007 cho biết năng suất trứng/mái/42 tuần đẻ đạt 126.39 – 179.3 quả; tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 2.56 – 3.65 kg; tỷ lệ trứng có phôi 80.11 – 91.17% Con thương phẩm nuôi thịt đến 60 ngày tuổi khối lượng cơ thể trung bình từ 2230 – 2350g/con
Theo Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Thành Đồng, 2001 khi nghiên cứu trên
gà Lương Phượng Hoa cho biết: gà đẻ bói lúc 143 - 147 ngày tuổi, tỷ lệ đẻ 5% lúc 149- 152 ngày, sản lượng trứng/mái/68 tuần tuổi đạt 166.5 quả Khả năng cho thịt của gà Broiler ở 12 tuần tuổi khối lượng đạt 2.0- 2.57kg/con; TTTĂ/kg tăng khối lượng từ 2.78- 2.81kg Tác giả Đào Văn Khanh, 2002 khi nghiên cứu trên
gà Lương Phượng cũng cho biết tỷ lệ nuôi sống của gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi đạt cao từ 96.60% - 99.50%
Đồng thời với việc nghiên cứu về giống cũng có nhiều công trình nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn, tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăm sóc - nuôi dưỡng… để phát huy tối đa tiềm năng di truyền của con giống và giảm chi phí thức ăn xuống 7 - 10%, nghiên cứu quy trình ấp nở, quy trình thú y phòng trị bệnh cho gia cầm
2.1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nhằm đáp ứng nhu cầu về con giống có năng suất cao hoặc cải tiến chất lượng hoặc tạo ra con giống có ngoại hình (màu lông, da thịt ) được người chăn nuôi và người tiêu dùng ưa chuộng, người ta tiến hành song song các biện pháp củng cố các giống hiện có ở địa phương, nhập các giống mới có năng suất cao để làm phong phú thêm vốn gen, tiến hành lai tạo, chọn lọc để tạo ra các giống mới
Theo Neshein M C., 1970, gà Broiler được sản xuất thương mại từ năm
1935 - 1940 Gà Broiler được tạo ra từ gà trống Plymouth Rock vằn phối với Newhampshier, Giai đoạn 1940 - 1950 gà Broiler được tạo nên từ gà trống WhiteVandette và gà mái Newhampshier, năng suất con lai lúc 68 - 75 ngày tuổi
là 1.2 – 1.4 kg, tiêu tốn thức ăn 2.8 – 3.2 kg/kg tăng khối lượng cơ thể, phải nuôi đến 12 - 13 tuần tuổi mới đạt 1.8 kg bình quân Giống gà thịt chủ yếu là con lai
Trang 37giữa dòng trống Red Cornish với dòng mái Newhampshier, sau nhờ lai tạo cố định thành dòng Cornish trắng làm dòng trống và Plymouth Rock vằn hoặc Plymouth Rock trắng làm dòng mái để tạo gà Broiler có năng suất cao hơn Lúc
10 tuần tuổi đã đạt 1.8kg; tiêu tốn thức ăn giảm xuống 2.5 – 2.6kg/kg tăng khối lượng cơ thể Từ những năm 70 trở lại đây các giống gà không ngừng được lai tạo, chọn lọc, cố định các tổ hợp gen cho năng suất cao, ngày một nâng cao các tính trạng sản xuất trong đó có khả năng sinh trưởng, đồng thời khai thác triệt để
nguyên l ý ưu thế lai Các tổ hợp lai cùng giống (giữa các dòng) và các giống có
3, 4, 6 hoặc 8 dòng đã xuất hiện và phát triển phổ biến đến ngày nay
Công ty Kabir (Israel) đã tạo ra giống gà thương phẩm “Kabir” là tổ hợp lai bốn dòng có lông vàng hoặc nâu vàng thích hợp với thị hiếu khách hàng Hiện nay, Công ty có 28 dòng gà chuyên thịt trong đó có 13 dòng gà nổi tiếng
Hãng Sasso của cộng hòa Pháp đã nhân giống chọn lọc, lai tạo và cho ra nhiều tổ hợp gà thịt lông màu có thể nuôi thâm canh, thả vườn hoặc nuôi ở các trang trại Các tổ hợp lai của gà Sasso có khả năng thích nghi cao dễ nuôi ở những vùng có điều kiện khí hậu nóng ẩm, chất lượng thịt thơm ngon Hãng đã đưa vào sản xuất gồm 16 dòng gà trống và 6 dòng gà mái, các dòng gà trống được sử dụng rộng rãi hiện nay là: X44N, T55, T55N, T77, T88, T88N1 Dòng mái được sử dụng rộng rãi nhất là: SA31 và SA51, Gà SA31có mầu lông nâu đỏ, khối lượng lúc 20 tuần tuổi đạt 2.01 – 2.29kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là: 2.38 – 2.46kg, Gà SA51 có khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi là 1.42kg, sản lượng trứng 188 - 190 quả/mái/năm Hãng sử dụng trống X44 x mái SA31L tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2550g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2.46 kg
Hãng Hubbard - Isa thành lập tháng 8/1997 do sự xác nhập của 2 tập đoàn Hubbard và Isa theo kế hoạch của công ty mẹ (nay mang tên Aventis) Quá trình nghiên cứu, nhân giống, chọn lọc, lai tạo, công ty đã tạo ra được những giống gà thịt cao sản, các giống gà lông màu có thể nuôi công nghiệp hoặc chăn thả Hiện nay, hãng Hubbard - Isa có 119 giống gà chuyên thịt lông trắng và lông màu Trong đó có nhiều giống nổi tiếng đang được nuôi ở nhiều nước trên thế giới, các dòng trống tăng trưởng chậm gồm: S66, S77, I66, S88, S77N, Các dòng trống tăng trưởng phân biệt gồm: Grey Master, Grey Barred, Colorpac, Redbro Naked Neck, Redbro Các dòng mái lông màu gồm: JA57, P6N, redbroS, redbroM, Các giống
gà của hãng Hubbard - Isa đáp ứng nhu cầu thâm canh công nghiệp trong điều kiện
Trang 38khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Hãng cũng đã sử dụng trống dòng S44 x mái dòng JA57 con lai ở 63 ngày tuổi có khối lượng cơ thể 2209g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2.24 – 2.30kg Trống dòng Redbro Naked neck x mái dòng Redbro S con lai ở 63 ngày tuổi có khối lượng cơ thể 2424g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2.29 – 2.35kg Trống dòng Redbro x mái dòng Redbro S con lai ở 63 ngày tuổi có khối lượng cơ thể 2585g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2.34 – 2.31kg
Ở Nhật người ta đã tạo ra các con lai để nuôi thịt có chất lượng cao rất được chú trọng Các giống gà này được nuôi thời gian dài 85 - 120 ngày, chúng được ăn bằng thức ăn đặc biệt, trong khẩu phần không có nguồn gốc động vật
Ở Trung Quốc, trong những năm gần đây cũng tạo ra nhiều giống gà và đưa vào nhiều giống gà lông màu như: Lương Phượng, Tam Hoàng, Long Phượng, Lô Hoa, Ma Hoàng
Đồng thời với việc phát triển các giống gà thịt, nhiều hãng gia cầm trên thế giới cũng chú trọng đến tạo ra các giống gà chuyên trứng lông màu nổi tiếng như: Goldline - 54, Hyline, Brownick, CP Brown với thời gian khai thác đến 80 tuần tuổi, đạt năng suất trứng 310 - 320 quả/mái, chất lượng trứng thơm ngon
Trang 39PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Gà giống bố mẹ: gồm gà ISA-JA57(♂,♀ISA-JA57), và gà Chọi Chân Vàng (♂,♀ Chọi Chân Vàng)
♀Chọi Chân Vàng
↓ ISA-JA57 (Gà nuôi thương phẩm)
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: công ty TNHH MTV gà giống DABACO thôn Hộ Vệ, xã Lạc
Vệ, Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Trên đàn gà sinh sản
- Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà trong giai đoạn 1 – 20 tuần tuổi
- Khối lượng cơ thể của đàn gà giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi
- Lượng thức ăn thu nhận từ 1 – 20 tuần tuổi của đàn gà
- Tuổi thành thục sinh dục
- Tỷ lệ đẻ trứng của đàn gà
Trang 40- Năng suất trứng của đàn gà
- Hiệu quả sử dụng thức ăn giai đoạn gà đẻ trứng
- Kết quả ấp nở
- Khảo sát chất lượng trứng của đàn gà
3.3.2 Trên đàn gà thương phẩm
- Tỷ lệ nuôi sống
- Khối lượng cơ thể của gà thương phẩm
- Sinh trưởng tuyệt đối
- Sinh trưởng tương đối
- Lượng thức ăn thu nhận
- Hiệu quả sử dụng thức ăn
- Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể
- Chỉ số sản xuất
- Chỉ số kinh tế
- Ước tính hiệu quả kinh tế của gà thương phẩm
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đối với đàn gà giống bố mẹ:
- Các số liệu được chúng tôi theo dõi trực tiếp trên đàn gà nuôi tại Công ty
Đàn gà giống bố mẹ được nuôi trong kiểu chuồng khép kín, với phương thức trên sàn kết hợp với nền chuồng có đệm lót không thay đổi
Chuồng có hệ thống đèn sưởi ấm và hệ thống rèm che, hệ thống quạt chống nóng và hệ thống làm mát bằng hơi nước Bao quanh trại có hệ thống tường bao trên có lưới thép gai để ngăn chặn không cho người lạ vào khu vực chăn nuôi
Hệ thống máng ăn, máng uống điều khiển tự động, có hệ thống đèn chiếu sáng đảm bảo đủ lượng ánh sáng cho đàn gà
+ Gà trống và gà mái được nuôi tách riêng từ 1 - 19 tuần tuổi, sau 19 tuần tuổi sẽ được chuyển lên ghép trống mái