2.2.3 Bài học kinh nghiệm về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 38 2.2.4 Chủ trương, chính sách về huy động nguồn lực c
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
2.1.2 Vai trò, đặc điểm của huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
2.2.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ
2.2.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ
Trang 22.2.3 Bài học kinh nghiệm về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới của huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 38 2.2.4 Chủ trương, chính sách về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
4.1 Thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng
4.1.1 Thực trạng các hoạt động huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 58 4.1.2 Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng
4.1.3 Đánh giá về huy động nguồn lực cộng đồng để xây dựng hạ tầng cơ sở
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định 88
4.2.2 Năng lực tổ chức và quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở 90
4.2.4 Sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Lộc 95 4.3 Giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng cho
Trang 34.3.2 Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng
đồng cho xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 101
Trang 4GTNT Giao thông nông thôn
MTQG Mục tiêu quốc gia MTTQ Mặt trận tổ quốc
PTNT Phát triển nông thôn
Trang 5DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2012 – 2014 47 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2012 – 2014 49 3.3 Cơ cấu kinh tế huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2012 – 2014 52
3.6 Đối tượng và số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 55 4.1 Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới của ba xã
4.2 Kế hoạch huy động các nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông
4.3 Kết quả công tác tuyên truyền xây dựng CSHT nông thôn mới huyện
4.4 Tỷ lệ biết đến chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới,
hình thức tuyên truyền về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây
4.5 Đánh giá của cán bộ về sử dụng nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
4.6 Đóng góp trí tuệ của cộng đồng vào các hoạt động xây dựng cơ sở hạ
4.7 Kết quả huy động công lao động của người dân huyện Mỹ Lộc trong
4.8 Kết quả hiến đất của cộng đồng cho xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ
4.9 Kết quả huy động đất đai xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc giai
4.10 Kết quả huy động vốn từ cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông
Trang 64.11 Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT NTM
4.12 Ý kiến của chủ doanh nghiệp đối với công tác xây dựng CSHT NTM
4.13 Kết quả xây dựng CSHT nông thôn mới giai đoạn 2010-2014 của 3 xã
4.16 Ý kiến của cán bộ địa phương về sự tham gia của người dân trong các
hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới (n=30) 90 4.17 Ý kiến của cán bộ địa phương về cách tổ chức huy động cộng đồng
tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới (n=30) 91 4.18 Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở huyện Mỹ
4.22 Phân bố các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Lộc theo xã và theo
4.23 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong huy động nguồn lực cộng
đồng cho xây dựng CSHT NTM huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định 99
Trang 7DANH MỤC HỘP
4.1 Ý kiến của cán bộ Ban Quản lý xây dựng NTM xã về việc lập kế
hoạch huy động nguồn lực xây dựng CSHT nông thôn mới 67 4.2 Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu
4.3 Tuyên truyền tổ chức huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng cơ sở
4.5 Giám sát quá trình huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
4.7 Hạn chế trong sử dụng nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT NTM 76 4.8 Sáng kiến của người dân đưa ra trong các cuộc họp thôn phổ biến công tác
huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng NTM 79 4.9 Ý kiến của cán bộ địa phương đánh giá về các chủ trương, chính sách
4.10 Ý kiến về sự tham gia đóng góp của doanh nghiệp cho xây dựng
CSHT NTM trên địa bàn huyện Mỹ Lộc giai đoạn 2010-2015 96
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.1 Vai trò của cộng đồng tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới 18 4.1 Quá trình thực hiện quy hoạch cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện
4.2 Quy trình phổ biến các chủ trương, chính sách về huy động nguồn lực
cộng đồng cho xây dựng CSHT NTM của huyện Mỹ Lộc 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Tình hình lao động phân theo khu vực kinh tế của huyện Mỹ Lộc giai
Trang 9PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, ý chí quyết tâm của Đảng để thay đổi diện mạo nông thôn với mục tiêu phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân nông thôn, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và đồng đều khắp cả nước Nhằm cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành “
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”, quyết định số 800-QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Đây
là chủ trương đúng đắn hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng
Trong 19 tiêu chí về xây dựng NTM của Bộ tiêu chí quốc gia, tiêu chí về thực hiện quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn được đặt lên hàng đầu (Nguyễn Ngọc Đông, 2012) Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở cả thành thị và nông thôn Các học thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng muốn kinh tế phát triển, tăng trưởng thì nhất thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng thiết yếu, đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp
Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng đồng bộ là một trong những tiêu chí cần đạt được trong quá trình xây dựng nông thôn mới Hiện nay công tác huy động nguồn lực cho xây dựng CSHT nông thôn mới đang là bài toán khó đối với các cấp, các ngành địa phương Để xây dựng CSHT nông thôn mới đạt chuẩn theo bộ tiêu chí thì cần rất nhiều nguồn lực từ các nguồn khác nhau: Nguồn lực ngân sách Nhà nước, vốn lồng ghép từ các chương trình phát triển nông thôn, vốn đầu tư của doanh nghiệp và đặc biệt là nguồn lực huy động từ cộng đồng Trong khi nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước đang ngày càng hạn chế
và eo hẹp thì việc huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới càng trở nên quan trọng hơn nữa
Cùng với các địa phương trên cả nước, chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nam Định đã được cấp ủy, chính quyền và
Trang 10các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn tỉnh triển khai tích cực, nhân dân đồng tình hưởng ứng nên bước đầu đã thu được những kết quả quan trọng Sau hơn
4 năm triển khai, các địa phương trong tỉnh đã huy động gần 10 nghìn tỷ đồng, nhân dân đóng góp 2.920 ha đất nông nghiệp và hiến gần 200 ha đất thổ cư để làm đường giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng Toàn tỉnh đã xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo được 5.418 km đường giao thông nông thôn đạt chuẩn, 1.897 công trình thủy lợi, 175 km mương cấp III, 356 trạm biến áp, 1.443 km đường dây hạ thế, 537 nhà văn hóa và khu thể thao thôn, 64 chợ nông thôn, 38 trạm y tế xã, 24 công trình cấp nước sạch, 93 bãi xử lý rác thải, 9.753 hầm Biogas Đến hết năm 2014, có 100/229
xã, thị trấn (47,8%) đạt và cơ bản đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Nam Định được Trung ương đánh giá là một trong 5 địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới (UBND tỉnh Nam Định, 2015)
Đối với huyện Mỹ Lộc, trong những năm qua, các cấp, ban ngành cùng với toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong huyện đã tích cực triển khai và thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn; chủ động thực hiện các biện pháp huy động nguồn lực của cộng đồng vào xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới Tính đến nay, nguồn lực huy động từ cộng đồng và các tổ chức kinh tế đã đạt được những kết quả đáng kể Một số nơi đã hoàn thành
cơ bản về số lượng các công trình cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, cũng như các địa phương khác của cả nước, huyện Mỹ Lộc đang gặp phải khó khăn trong quá trình huy động nguồn lực cộng đồng vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới như đội ngũ cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế trong việc thẩm định, giám sát việc thi công các công trình xây dựng; điều kiện kinh tế của nhiều hộ dân trên địa bàn huyện còn khó khăn Điều đó dẫn tới kết quả thực hiện 19 tiêu chí xây dựng NTM còn chậm, kể cả 04 xã làm điểm giai đoạn 2010-2015; đến hết năm 2014 vẫn chưa có xã nào đạt và cơ bản đạt 19 tiêu chí, nhất là nhóm tiêu chí về cơ sở
hạ tầng (UBND huyện Mỹ Lộc, 2015)
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình bàn về xây dựng NTM, cũng như việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới; nhưng đối với Mỹ Lộc thì chưa có công trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu cụ thể việc huy động nguồn lực cộng
Trang 11đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng NTM để góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài: “Huy động nguồn lực cộng đồng
cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” làm đề
tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng huy động các nguồn lực cộng đồng xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian qua,
đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở địa phương trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trong đề tài nghiên cứu, tôi tiến hành trả lời các câu hỏi sau:
1 Thực trạng huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đang diễn ra như thế nào?
2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định?
3 Cần có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian tới?
Trang 121.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
- Đối tượng khảo sát: Các hộ dân, doanh nghiệp, cán bộ cấp thôn, cấp xã, cấp huyện có liên quan trên địa bàn huyện Mỹ Lộc
- Số liệu sơ cấp: Thu thập số liệu năm 2014 và những đánh giá cho giai đoạn
2012 - 2014
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 07/2014 đến tháng 08/2015
Trang 13Khái niệm “Huy động” lần đầu tiên được sử dụng trong một bối cảnh quân
sự, để mô tả việc chuẩn bị của quân đội Nga trong những năm 1850 và năm 1860
Lý thuyết và kỹ thuật huy động đã liên tục thay đổi kể từ đó Huy động là "quá trình hình thành đám đông, nhóm, assiciations, và tổ chức cho việc theo đuổi các mục tiêu tập thể" (S.Rengasamy, 2009)
Như vậy, “huy động” là tập hợp nhân lực, của cải cho một công việc lớn như huy động nguồn lực, kinh phí cho công trình
Phương thức huy động: Bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động
Nguyên tắc huy động: Huy động được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ bàn bạc, công khai minh bạch và quyết định theo đa số
2.1.1.2 Nguồn lực
a Khái niệm nguồn lực
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định (Lê Thông và cộng sự, 2014)
Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực
b Phân loại nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét ở nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau Cụ thể:
Trang 14* Căn cứ vào nguồn gốc
- Vị trí địa lý: tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước hay giữa các quốc gia với nhau
- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất
- Nguồn lực kinh tế - xã hội: có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn (Lê Thông và cộng sự, 2014)
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
- Nguồn lực trong nước (có ý nghĩa quyết định): nguồn lực trong nước còn gọi là nội lực, bao gồm các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang được khai thác
- Nguồn lực nước ngoài (có vai trò quan trọng): nguồn lực nước ngoài còn được gọi là nguồn ngoại lực, bao gồm khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất… từ nước ngoài (Lê Thông và cộng sự, 2014) Ngoài ra, nguồn lực còn được chia thành nguồn lực phi vật chất và nguồn lực vật chất Trong đó, nguồn lực phi vật chất được hiểu là nguồn lực từ con người như sức mạnh, trí óc (ý tưởng, sáng kiến)… nguồn lực vật chất được hiểu là các nguồn lực từ tiền bạc, đất đai, vật tư… Khi con người làm nên tất cả và quyết định tất cả nên nguồn lực con người được gọi là nguồn lực của mọi nguồn lực
2.1.1.3 Cộng đồng
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ điển tiếng Việt giải thích: “Cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” (Viện ngôn ngữ học, 1992) Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung… Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung
2.1.1.4 Nguồn lực cộng đồng
Một cách khái quát nhất, nguồn lực từ cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực
Trang 15tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống cho chính họ Nguồn lực cộng đồng được khái niệm một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau:
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên: là các nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…
- Các nguồn tài sản vật chất: là các công trình được xây dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận)
Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm)
- Các nguồn tài sản về con người: (gồm các kỹ năng, kiến thức và năng lực của các thành viên trong cộng đồng)
- Các nguồn tài sản xã hội: mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng,
ví dụ như niềm tin
- Các nguồn tài sản tài chính: là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng (Vũ Trọng Bình, 2009)
2.1.1.5 Huy động nguồn lực cộng đồng
Huy động nguồn lực là một chỉnh lý thuyết xã hội học trong việc nghiên cứu các phong trào xã hội mà nổi lên trong những năm 1970 Nó nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên của phong trào để có được nguồn tài nguyên và huy động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêu của phong trào (Phạm Thị Hiệp, 2014)
Huy động nguồn lực cộng đồng là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được mục tiêu về huy động nguồn lực cộng đồng
Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng bao gồm các hoạt động huy động các nguồn lực phi vật chất (sức mạnh, trí óc ) và nguồn lực vật chất (tiền của, đất đai, vật tư ) từ phía người dân và các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế xã hội đang hoạt động trên địa bàn của một vùng, một địa phương mà chủ yếu là nguồn nội lực để tăng cường năng lực tổ chức và mang lại lợi ích cho cộng đồng
2.1.1.6 Cơ sở hạ tầng nông thôn
a Khái niệm cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất -
kỹ thuật nền kinh tế quốc dân Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất - kỹ
Trang 16thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp (Đỗ Xuân Nghĩa, 2013)
Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc trình độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng như giữa các địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước Tại các nước phát triển, cơ sở
hạ tầng nông thôn còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lý
và làm sạch nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ khuyến nông Kinh tế - xã hội nông thôn không thể phát triển nếu các yếu tố cơ sở hạ tầng nông thôn không được đáp ứng (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
b Đặc điểm của cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng bao gồm tổng thể các công trình mang tính hệ thống, đồng bộ, phục vụ lâu dài, có tính thẩm mỹ, tính tiên phong định hướng, vốn đầu tư lớn (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005) Cụ thể, CSHT nông thôn có những đặc điểm như sau (Đỗ Xuân Nghĩa, 2013):
- Tính hệ thống: Kết cấu hạ tầng của một quốc gia, một vùng hay một địa phương là một hệ thống cấu trúc phức tạp bao trùm và có phạm vi ảnh hưởng mức
độ cao thấp khác nhau đến mọi hoạt động KT - XH trên địa bàn Nhưng đều liên quan gắn bó với nhau, sự trục trặc ở khâu này sẽ liên quan, ảnh hưởng đến khâu khác Do đó, việc quy hoạch tổng thể phát triển hạ tầng phải kết hợp, phối hợp các loại hạ tầng trong một hệ thống đồng bộ để giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng của các công trình hạ tầng, là đòn bẩy tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống dân
cư trên địa bàn, tạo sự thay đổi cảnh quan của khu vực
- Tính kiến trúc: Các bộ phận cấu thành hệ thống cơ sở hạ tầng có cấu trúc phù hợp với những tỉ lệ cân đối, kết hợp với nhau thành một tổng thể hài hòa, đồng
bộ Sự khập khiễng trong kết cấu hạ tầng có thể làm cho hệ thống công trình mất tác dụng, không phát huy được hiệu quả, thậm chí làm tê liệt cả hệ thống hay từng phân
hệ của cấu trúc
- Tính tiên phong định hướng: Tính tiên phong của hệ thống cơ sở hạ tầng thể hiện ở chỗ luôn đi trước, mở đường cho các hoạt động kinh tế, xã hội phát triển
Trang 17Chiến lược đầu tư phát triển hạ tầng đúng là chiến lược ưu tiên công trình hạ tầng
“trọng điểm”, có tính "đột phá" Sự phát triển về cơ sở hạ tầng về quy mô, chất lượng, trình độ kỹ thuật là những tín hiệu cho thấy định hướng phát triển kinh tế-xã hội và tạo tiền đề vật chất cho tiến trình phát triển KT - XH của vùng, của đất nước
- Tính tương hỗ: Các bộ phận trong cơ sở hạ tầng nông thôn có tác động qua lại với nhau Sự phát triển của bộ phận này có thể tạo thuận lợi cho bộ phận kia và ngược lại Việc xây dựng một con đường giao thông thì không những phục vụ trực tiếp cho hoạt động đi lại, vận chuyển hàng hoá… của vùng đó được thuận tiện mà còn góp phần giảm được chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh; tuy nhiên, trong một số trường hợp khi xây dựng công trình làm thiệt hại cho đối tượng này nhưng lại làm lợi cho đối tượng khác
- Tính công cộng: Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng tạo ra những sản phẩm hàng hoá công cộng như: đường giao thông, cầu cống, mạng lưới điện, cung cấp nước… điều đó được thể hiện cả trong xây dựng và trong sử dụng Bởi vậy, hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn không thể chỉ xét đến lợi ích của doanh nghiệp đầu tư mà còn phải xét đến ý nghĩa phúc lợi của nó đối với toàn xã hội
- Tính vùng (địa lý): Các ngành sản xuất và dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng thường gắn với một vùng, địa phương cụ thể Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (tài nguyên, môi trường, địa hình, đất đai…) và các yếu tố kinh tế, xã hội của từng vùng, từng khu vực Kết cấu hạ tầng của các vùng nông thôn có vị trí địa lý khác nhau thì cũng sẽ khác nhau
- Xây dựng hạ tầng nói chung và CSHT nông thôn nói riêng thuộc lĩnh vực đầu tư kinh doanh, đòi hỏi vốn lớn: Trong điều kiện nguồn vốn có hạn, khi đầu tư cần chú ý phân bổ nguồn vốn hợp lý giữa các lĩnh vực phát triển hạ tầng
và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội Mặt khác, các công trình hạ tầng thường là những công trình công cộng không thể hoặc khó thu hồi vốn và trong khi sử dụng phải tu sửa, bảo dưỡng, vì vậy cần phải huy động đóng góp của người dân, trích từ phí sử dụng hay huy động đóng góp của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, công đức
Trang 18* Một số đặc thù riêng cơ sở hạ tầng nông thôn
- Phần lớn công trình hạ tầng nông thôn mang tính địa phương, khu vực khá
rõ nét Công trình xây dựng phân tán, phát huy trong một phạm vi nhất định, tính hệ thống bị chia cách bởi địa lý, tự nhiên, kinh tế, cơ chế quản lý
- Tính thời vụ: Do đối tượng tác động, phục vụ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân nông thôn, nên công trình CSHT ở nông thôn hoạt động có tính thời vụ, tuỳ thuộc vào mùa vụ sản xuất nông nghiệp và các yếu tố tự nhiên Trong điều kiện kinh tế nông thôn, sản xuất nhỏ, phụ thuộc điều kiện tự nhiên thì tính phân tán, manh mún CSHT thể hiện rõ nét
- Hệ thống thiết bị và công trình CSHT nông thôn chậm phát triển so với thành phố, và các khu công nghiệp: đây là đặc điểm có tính phổ biến ở các nước cũng như các vùng trong một quốc gia Việc rút ngắn khoảng cách này không chỉ phụ thuộc vào vị trí địa lý của vùng nông thôn hay vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân mà còn liên quan chặt chẽ đến các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy của nhà nước
- Đặc điểm về quản lý: Việc quản lý, điều hành hệ thống, công trình trong CSHT nông thôn rất phức tạp và khó khăn Thông thường việc quản lý và điều hành những công trình nhỏ và vừa trong các làng, xã được xây dựng theo từng cộng đồng hay từng nhóm dân cư Việc kinh doanh ít vì phần lớn các công trình được coi là tài sản chung phục vụ cho cả cộng đồng
c Phân loại cơ sở hạ tầng nông thôn
Theo kinh tế chính trị học thì toàn bộ CSHT nông thôn được phân ra thành, CSHT sản xuất và CSHT phi sản xuất (Phạm Văn Hùng, 2013)
Trong CSHT sản xuất lại được phân ra thành CSHT trực tiếp phục vụ cho sản xuất vật chất và CSHT gián tiếp phục vụ sản xuất Tất cả các ngành giao thông liên lạc, thuỷ lợi, kho tàng cung ứng vật tư kỹ thuật tạo thành CSHT vật chất Ngoài
ra, ở đây còn có các điều kiện chung của sản xuất như hệ thống mạng lưới điện, vận tải công nghiệp, hệ thống mạng lưới các công trình, các xí nghiệp, các trung tâm, trạm, trại nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp
Trang 19Cơ sở hạ tầng phi sản xuất bao gồm các ngành phục vụ, đảm bảo hoạt động chung cho con người như: y tế, giáo dục, các cơ sở nghỉ ngơi, dịch vụ khác
- Các nhà kinh tế lại phân loại CSHT theo CSHT kinh doanh và CSHT phục
vụ sản xuất:
+ CSHT kinh doanh bao gồm những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho việc kinh doanh của những doanh nghiệp sản xuất hoặc dịch vụ Đó là những hệ thống hạ tầng thuộc sự quản lý của các doanh nghiệp nhất định Thí dụ nhà máy, công xưởng, hệ thống dây chuyền sản xuất
+ CSHT phục vụ sản xuất là những cơ sở vật chất gián tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: hệ thống điện, liên lạc, giao thông nội bộ
Gần đây người ta đã phân CSHT theo hai phần "phần cứng và phần mềm":
- "Phần cứng" của CSHT nông thôn là hệ thống công trình đường xá nông thôn, mạng lưới điện nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, công nghiệp chế biến nông sản, thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp nước sạch
- "Phần mềm"của CSHT nông thôn là hệ thống giáo dục, đào tạo nghề và kinh tế công cộng, cơ sở nghiên cứu để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông thôn và vận hành chúng (Phạm Văn Hùng, 2013)
2.1.1.7 Nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam
Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009) Như vậy nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải
là thị tứ, thị trấn Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn; là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng
Trang 20cao; giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010)
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
2.1.1.8 Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới là khâu then chốt để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
và xây dựng nông thôn mới Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cùng quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ngày nay, để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới thì cần phải phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn trước một bước để tạo điều kiện thuận lợi cho KT -
XH phát triển
Những nội dung chủ yếu về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới bao gồm:
- Hệ thống giao thông nông thôn: đường giao thông (liên thôn, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống giao thông), được ví như "mạch máu" trong cơ thể con người Hiện nay đường giao thông nông thôn mặc dù đã được cải thiện nhưng chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng nông thôn mới Do vậy, cần phải xây dựng và phát triển giao thông gắn kết giữa các vùng nông thôn, giữa nông thôn với thành thị, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, góp phần giảm chi phí vận chuyển do đó giảm được chi phí sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh, mở rộng thị trường, tạo cơ hội giao lưu giữa các vùng miền, tạo thuận lợi cho việc đi lại, tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, bảo hiểm… của người dân
- Hệ thống kênh mương và các công trình thuỷ lợi nông thôn: bao gồm toàn
bộ hệ thống công trình phục vụ cho việc khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) và hạn chế những tác hại do nước gây ra đối với sản xuất, đời sống và môi trường sinh thái Các công trình chủ yếu gồm: các trạm bơm tưới, tiêu, hệ thống đê sông, hệ thống kênh mương Việc xây dựng hệ thống kênh mương
Trang 21và các công trình thuỷ lợi hiện đại, góp phần khắc phục tình trạng hoang hoá, mở rộng diện tích canh tác, cung cấp nước tưới, tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ và sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, kịp thời khắc phục những hậu quả của thiên tai là một yêu cầu bức thiết với các vùng nông thôn hiện nay trong xây dựng NTM
- Hệ thống cung cấp nước sạch nông thôn: đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào việc bảo vệ sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống cư dân nông thôn
Hiện nay, việc cung cấp nước sạch ở nông thôn có thể thực hiện thông qua
hệ thống cung cấp nước tập trung, khai thác từ các nguồn qua hệ thống phân phối chuyển đến nơi sử dụng hoặc có thể do các hộ dân, cơ sở sản xuất khoan giếng, trữ nước mưa Do vậy, cần phải xây dựng các nhà máy nước (có thể mỗi xã xây dựng một nhà máy nước hoặc hai, ba xã… xây dựng một nhà máy nước) để phục vụ nhân dân Thực tế cho thấy, việc xây dựng nhà máy cấp nước sạch cho các vùng nông thôn là giải pháp hữu hiệu nhất trong bối cảnh môi trường ngày càng có xu hướng
bị ô nhiễm, do tác động của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, nhất
là sự phát triển các hoạt động công nghiệp Nó đảm bảo chất lượng nguồn nước đã qua xử lý, đảm bảo cung cấp đủ nước cho nhu cầu sử dụng của dân cư
- Về hệ thống thoát nước và xử lý chất thải, nước thải nông thôn: hiện nay, nhiều vùng nông thôn đã căn bản cải tạo được tình trạng ao tù, nước đọng… Tuy nhiên, môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm, tình trạng chất thải, nước thải xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ của người dân Do vậy, cần đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải ở nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho
cư dân nông thôn
- Hệ thống thông tin và bưu chính viễn thông nông thôn: hệ thống này bao gồm toàn bộ các phương tiện phục vụ cho việc cung cấp thông tin, trao đổi thông tin đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống ở nông thôn như: mạng lưới bưu điện, điện thoại, internet, mạng lưới truyền thanh, truyền hình của địa phương và Trung ương
- Hệ thống cung cấp điện nông thôn: bao gồm mạng lưới đường dây tải điện
từ nguồn cung cấp, hệ thống các trạm hạ thế, mạng lưới phân phối và dẫn điện tới
Trang 22các dụng cụ, hộ dân sử dụng điện Tuy nhiên, chất lượng nguồn điện cung cấp chưa cao, tỷ lệ tiêu hao điện ở khu vực nông thôn còn ở mức cao, phần nguồn lực cộng đồng vào việc xây dựng hệ thống điện còn lớn, giá điện ở nông thôn thường cao hơn so với thành thị Do vậy, việc quy hoạch và phát triển đồng bộ hệ thống điện nhằm đảm bảo đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt, giảm mức tổn thất điện năng là yêu cầu bức thiết với xây dựng nông thôn mới hiện nay
- Chợ nông thôn: với đa số các vùng nông thôn, chợ đã hình thành khá sớm trong lịch sử Chợ nông thôn ra đời và phát triển do nhu cầu trao đổi hàng hóa Nhiều chợ đã tồn tại lâu đời và đến nay vẫn được duy trì Tuy nhiên, về cơ bản chợ nông thôn có quy mô nhỏ, hàng hoá còn đơn điệu, chủ yếu là những sản vật trong vùng (nhất là nông sản) và những vật dụng cần cho sản xuất và sinh hoạt thường ngày của người dân Điều đó đòi hỏi phải huy động mạnh mẽ các nguồn lực của cả nhà nước và cộng đồng cư dân nông thôn trong việc xây dựng chợ nông thôn phục
vụ cho quá trình xây dựng nông thôn mới
- Hệ thống các trường học: gồm các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, nguồn lực con người đã trở thành một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình xây dựng nông thôn mới Do vậy, phải tập trung huy động mọi nguồn lực để xây dựng các trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT đạt chuẩn sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, kỹ năng nghề nghiệp phục vụ cho xây dựng nông thôn mới
- Trạm y tế xã: nơi chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng dân cư ở nông thôn Tuy nhiên, ở nhiều vùng nông thôn hiện nay, trạm y tế xã còn thấp kém, cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị y tế thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh ban đầu và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Do vậy, việc xây dựng, cải tạo nâng cấp các trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia là yếu tố mở đường cho công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nông thôn trong quá trình xây dựng thôn mới
- Nhà văn hoá thôn: nông thôn là nơi bảo tồn, lưu truyền và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tuy nhiên, hiện nay cơ sở vật chất, thiết chế văn hoá cấp xã còn
Trang 23thiếu thốn, số xã có thư viện rất ít, nhà văn hoá còn thô sơ lồng ghép Do vậy, việc phát triển nhà văn hóa nông thôn như phát triển các trung tâm văn hóa, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, thư viện… là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hóa nông thôn mới bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế và tiến tới xóa bỏ các hoạt động mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu đã tồn tại lâu dài ở nông thôn
Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT nông thôn mới
là cách thức tổ chức tuyên truyền, vận động và thuyết phục để người dân và cộng đồng, doanh nghiệp tham gia đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của vào xây dựng các công trình thiết yếu, như: đường giao thông, hệ thống kênh mương, hệ thống nước sạch, hệ thống điện, các trường học, trạm y tế, nhà văn hóa thôn, khu dân cư phục vụ cho lợi ích và nhu cầu thiết thân của người dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
2.1.2 Vai trò, đặc điểm của huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
2.1.2.1 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
Cơ sở hạ tầng nông thôn là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới Với tư cách là những phương tiện vật chất - kỹ thuật cung cấp những dịch vụ cần thiết cho các hoạt động KT - XH ở nông thôn, cơ sở hạ tầng trở thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển của KT - XH, là nền tảng cho sự phát triển KT
- XH nông thôn, nói cụ thể hơn nó là nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống cư dân nông thôn, thay đổi diện mạo nông thôn trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Do các vùng nông thôn có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn nhiều
so với các khu vực đô thị nên cần tiến hành xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu
hạ tầng cho phù hợp với từng vùng và trong từng giai đoạn cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện vật chất cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thực tế cho thấy, sự hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn, việc đẩy mạnh
Trang 24ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến cho sản xuất nông nghiệp, đưa những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đẩy mạnh thực hiện chuyên canh để sản xuất các loại nông sản là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu và phát triển mạnh các hoạt động công nghiệp dịch vụ ở khu vực nông thôn chỉ có thể thực hiện được khi nông thôn có một cơ sở hạ tầng hiện đại Sản xuất nông nghiệp hàng hoá và phát triển công nghiệp nông thôn trong xây dựng nông thôn mới không thể thiếu các công trình thuỷ lợi, mạng lưới giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, chợ và trung tâm buôn bán Khi cơ sở hạ tầng được tạo lập khá đầy đủ và đồng bộ ở nông thôn, các nhà đầu tư sẽ bỏ vốn đầu
tư, do đó sẽ thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh và mạnh hơn
Cơ sở hạ tầng nông thôn hoàn thiện và đồng bộ sẽ giúp giảm giá thành sản xuất, giảm chi phí vận chuyển, chi phí dịch vụ, giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và các ngành liên quan trực tiếp tới nông nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá Trong điều kiện hiện nay với xu hướng hội nhập, nếu thiếu hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống ngân hàng hay hệ thống giao thông hiện đại thì không thể đạt được mục tiêu phát triển như mong muốn (Phạm Văn Hùng, 2013)
CSHT nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự phát triển khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào thị trường nông nghiệp, nông thôn Góp phần tạo việc làm thu hút nguồn lao động dư thừa, tăng thêm thu nhập cho cư dân ở các vùng nông thôn, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Ngoài ra còn tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận được với tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận được với các dịch vụ chất lượng cao như tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm,
Cơ sở hạ tầng nông thôn là điều kiện quan trọng tác động tới việc phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội Thực hiện mục tiêu công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở khâu phân phối kết quả mà nó còn thể hiện ở chỗ tạo điều kiện
Trang 25sử dụng tốt năng lực của mình, đó chính là cơ hội học tập, cơ hội được chăm lo sức khoẻ và đặc biệt là cơ hội được làm việc, tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội
Cơ sở hạ tầng nông thôn là điều kiện vật chất quan trọng, có tính quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cũng như sự chuyển dịch cơ cấu nội
bộ ngành nông nghiệp Ngân hàng thế giới cho rằng: “Những trở ngại trong giao thông vận tải thường là trở ngại chính đối với sự phát triển khả năng chuyên môn hàng hoá sản xuất tại khu vực có tiềm năng phát triển nhưng không thể tiêu thụ được sản phẩm hoặc không được cung cấp lương thực một cách ổn định ” (Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, 2006) Như vậy, nếu không có hạ tầng giao thông nói chung hay hạ tầng giao thông nông thôn nói riêng thì không thể có giao lưu hàng hóa nông sản với các hàng hoá khác, không thể tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tăng cường được khả năng giao lưu hàng hoá, thị trường nông thôn được mở rộng, khơi thông sự ngăn cách giữa thị trường nông thôn và toàn bộ nền kinh tế Nhờ đó, kích thích sự phát triển kinh tế hộ, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống cư dân, tạo ra sự thay đổi diện mạo KT - XH nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo giữa thành thị và nông thôn, từng bước xoá bỏ sự ngăn cách về không gian giữa thành thị và nông thôn
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ tạo điều kiện tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho nhân dân, nhờ đó mà giảm bớt
và ngăn chặn tình trạng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị Đồng thời, tạo lập sự công bằng, nâng cao mức hưởng thụ các dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế và văn hoá cho dân cư vùng nông thôn, xoá đi những chênh lệch trong phát triển KT - XH giữa các vùng miền trong nước
2.1.2.2 Vai trò của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới
Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, là cơ sở cho phát triển nông thôn bền vững vì:
- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình
- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương
mà quá trình phát triển phải dựa vào đó
Trang 26- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát triển
- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)
- Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác (Vũ Trọng Bình, 2009)
Khi xem xét quá trình huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT nông thôn mới, vai trò của người dân được thể hiện: Dân cần, dân biết, dân bàn, dân góp, dân làm, dân quản lý, dân kiểm tra, dân hưởng lợi
Sơ đồ 2.1 Vai trò của cộng đồng tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn mới
Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới được hiểu:
- Dân cần: là nhu cầu, mong muốn của cộng đồng Các công trình xây dựng
phải đáp ứng được nhu cầu và phục vụ lợi ích cho đa số người dân trong cộng đồng, được cộng đồng nhất trí và ủng hộ
CỘNG ĐỒNG
Kiểm tra
Hưởng lợi
Trang 27- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của cộng đồng về những
kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch xây dựng nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng được thụ hưởng
- Dân bàn: bao gồm sự tham gia bàn bạc để đề xuất, đóng góp ý kiến của cộng đồng liên quan đến các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới: mức đóng góp xây dựng công trình, phương thức quản lý và sử dụng nguồn lực, quản lý công trình
- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản
lý và sử dụng công trình Cộng đồng trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch, hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội có việc làm, tăng thu nhập và trách nhiệm cho cộng đồng
Dân kiểm tra: có nghĩa là thông qua các hoạt động có sự giám sát và đánh giá của cộng đồng, để thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng và Nhà nước; nâng cao hiệu quả, chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Dân quản lý: đó là thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần có sự quản lý trực tiếp của một tổ chức do
Trang 28cộng đồng hưởng lợi để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu Việc tổ chức cho cộng đồng tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại
Như vậy, cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn mới nên việc huy động nguồn lực cộng đồng cũng như sự tham gia của cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới là vô cùng cần thiết
2.1.2.3 Vai trò của huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông nghiệp là một ngành chiếm tỷ trọng lao động và giá trị sản lượng lớn Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, nhưng nông nghiệp vẫn là một ngành quan trọng, góp phần rất lớn vào việc phát triển đất nước Phần lớn các hoạt động sản xuất đều tiến hành bằng lao động thủ công, năng suất lao động thấp, sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn còn quá nhỏ bé, cơ sở hạ tầng nông thôn còn rất lạc hậu Nội dung chủ yếu về xây dựng nông thôn mới rất cần thiết cho một địa phương là có một bộ mặt nông thôn đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống của người dân Đối với cơ sở hạ tầng, đường giao thông (liên thôn, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thông), hệ thống thuỷ lợi, các công trình y tế, trường học, công trình văn hoá, được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu của đời sống và sản xuất (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008)
Những công trình cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất (hệ thống điện, đường giao thông, thuỷ lợi, kênh mương, ) cần được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển CSHT nhằm đẩy mạnh phát triển KT - XH, còn có thể là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới, những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường
Trang 29Xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển Tuy nhiên đầu tư vào lĩnh vực này đòi hỏi phải có một lượng vốn rất lớn mà thời gian thu hồi vốn dài, có một số công trình phục vụ đời sống dân sinh, lợi nhuận thấp vì vậy việc huy động các công ty, doanh nghiệp đầu tư vốn,nguồn lực vào xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là các công trình cơ bản ở nông thôn là rất khó khăn và hạn chế Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nếu chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ, đầu tư cho xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn thì không thể đáp ứng được và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới sẽ thất bại Vì vậy phải huy động sự tham gia tích cực từ phía cộng đồng và các doanh nghiệp vào việc xây dựng CSHT nông thôn, để khơi dậy và phát huy sức mạnh tổng hợp các nguồn lực, các tiềm năng thế mạnh đáp ứng yêu cầu của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên cần phải xác định rõ quy mô, tính cấp thiết của các công trình để đảm bảo các công trình đó có quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng (Phạm Văn Hùng, 2013)
Như vậy, huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới là một quá trình và mang tầm chiến lược quan trọng, cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải chủ động thực hiện trong thời gian dài với nội dung và phương pháp linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở
hạ tầng nông thôn mới
2.1.3.1 Các hoạt động huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
a Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, xác định nhu cầu nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nông thôn mới
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa quan trọng quyết định thành công của chương trình xây dựng NTM Căn cứ Văn bản số 1416/BNN- KTHT ngày 27/05/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng
Trang 30dẫn lập đề án cho xã xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới và Quyết định 193/QĐ-Ttg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình rà soát Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, xã tham gia xây dựng NTM lập quy hoạch tổng thể hạ tầng kinh tế - xã hội sau đó UBND huyện sẽ thẩm định quy hoạch NTM, góp ý, hoàn thiện và UBND huyện sẽ phê duyệt đề án quy hoạch NTM Nguồn lực cần cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới là rất lớn, đòi hỏi địa phương phải có chính sách huy động từ nhiều nguồn khác nhau: Nguồn vốn ngân sách Trung ương; nguồn vốn ngân sách tỉnh; nguồn vốn ngân sách huyện; nguồn vốn ngân sách xã; nguồn vốn tín dụng; nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án; nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp, nguồn vốn huy động từ cộng đồng (các khoản đóng góp tự nguyện và viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn mới) Vì vậy, khi lập đề án xây dựng nông thôn mới, các xã phải xác định nhu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới của địa phương đảm bảo tính khả thi và huy động có hiệu quả
b Xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn mới
Uỷ ban nhân dân xã và Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân nơi có dự án đầu tư để bàn bạc dân chủ, công khai lựa chọn thứ tự dự án ưu tiên để đầu tư Trên cơ sở ý kiến của nhân dân, quy chuẩn xây dựng của Nhà nước và ý kiến tư vấn của cán bộ chuyên môn, Uỷ ban nhân dân xã lập kế hoạch vốn của xã trong giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2016
- 2020, gửi đến Ban Chỉ đạo Trung ương, các Bộ liên quan, Ban Chỉ đạo Tỉnh để theo dõi, quản lý
Việc huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng CSHT nông thôn mới phải do nhân dân bàn bạc và quyết định trên cơ sở dân chủ, công khai và quyết định theo đa số Mức độ huy động nguồn lực cộng đồng, mức miễn, giảm cho các đối tượng chính sách xã hội do nhân dân bàn bạc và quyết định căn cứ vào thu nhập bình quân và khả năng đóng góp của nhân dân trên địa bàn
Trang 31c Tổ chức huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn mới
Tổ chức huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn mới bao gồm: Công tác phổ biến chính sách huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới; Công tác tuyên truyền, vận động tổ chức huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới Đây là hai khâu then chốt trong công tác huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn mới Làm tốt hoạt động này sẽ đảm bảo toàn thể cộng đồng đều biết đến và hiểu được mục đích cũng như nội dung của huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn mới, từ đó cộng đồng sẽ tích cực tham gia vào quá trình xây dựng cơ sở nông thôn mới, có như vậy các công trình xây dựng mới đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng, được cộng đồng ủng hộ và đảm bảo tính bền vững
d Giám sát quá trình huy động và công khai kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn mới
Quá trình huy động nguồn lực cộng đồng được thực hiện theo phương thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp Các xã thành lập Ban giám sát công trình để giám sát quá trình huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực cộng đồng Các thành viên Ban giám sát do cộng đồng cùng bàn và quyết định cử ra trong số đại diện hộ gia đình trong xã và thôn xóm
Hình thức huy động nguồn lực cộng đồng có thể bằng tiền, hiện vật hoặc ngày công lao động Kết quả huy động nguồn lực phải công khai cho dân biết Hình thức công khai có thể bằng cách niêm yết tại trụ sở Hội đồng nhân dân, UBND xã, công khai lên hệ thống truyền thanh, công khai thông qua trưởng thôn để báo đến dân hoặc công khai trong các cuộc họp xã và thôn xóm
e Sử dụng nguồn lực cộng đồng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Việc sử dụng nguồn lực cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
- Sử dụng nguồn lực cộng đồng hợp lý
- Sử dụng nguồn lực cộng đồng một cách hiệu quả và tiết kiệm
- Sử dụng nguồn lực cộng đồng đảm bảo tính công khai và minh bạch
Trang 32Việc thi công công trình phải ưu tiên sử dụng lao động và lực lượng thi công của địa phương, chỉ mời thầu và tổ chức đấu thầu với lực lượng thi công ngoài địa bàn xã trong trường hợp công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, tính chất phức tạp mà lực lượng của xã không đảm nhận được
Ban giám sát của cộng đồng có trách nhiệm yêu cầu chủ đầu tư, các nhà thầu báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin làm rõ những vấn đề mà cộng đồng có ý kiến Đồng thời, chủ đầu tư có trách nhiệm công khai hóa thông tin về quản lý đầu tư theo quy định của pháp luật, trả lời, giải trình, cung cấp các thông tin khi cộng đồng yêu cầu
2.1.3.2 Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
- Nguồn lực đất đai: trong xây dựng nông thôn mới, việc huy động cộng đồng đóng góp đất đai để xây dựng kết cấu hạ tầng là việc vô cùng lớn đặc biệt, trong khi quỹ đất ngày càng bị thu hẹp, mỗi tấc đất đối với người nông dân là một tấc vàng, nhưng vì lợi ích cộng đồng cần phải huy động nguồn lực đất đai để xây dựng đường giao thông nông thôn và các công trình phúc lợi xã hội, phục vụ nhân dân Việc huy động cộng đồng đóng góp đất đai để xây dựng kết cấu hạ tầng thông qua công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục để người dân hiến đất, góp đất (người dân có đất thổ cư, đất canh tác khi có công trình xây dựng đi qua thì có thể hiến đất, người dân ở trong làng, xóm thì góp đất có thể bằng một khoản tiền, ) để mở rộng đường giao thông, làm đường ra đồng, xây dựng kênh mương, xây dựng nhà văn hóa thôn, sân vận động, trường học và xây dựng các công trình dân sinh (Phạm Văn Hùng, 2013)
- Nguồn lực tài chính (tiền của): Việc huy động tiền của trong dân để xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn mới là rất quan trọng và cần thiết, có làm được việc này thì mới có điều kiện nâng cấp, mở mang các công trình văn hóa, y tế, giáo dục, đường giao thông, hệ thống kênh mương Việc huy động tiền của phải xác định mức độ ưu tiên của từng công trình và có lộ trình thực hiện, tránh huy động quá sức đóng góp của người dân; huy động mọi thành phần kinh tế, tổ chức, đoàn thể, xã hội, doanh nghiệp, con em xa quê, nhất là những người thành đạt có tâm huyết đóng góp xây dựng quê hương, làng xã
Trang 33- Sức lao động: Lực lượng lao động trong nông nghiệp nông thôn là rất lớn (chiếm khoảng 70% lực lượng lao động); đặc điểm của lao động nông nghiệp là làm theo mùa vụ, có khoảng thời gian nhàn rỗi Việc huy động cộng đồng vào tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới cần phải xác định đối tượng, thành phần tham gia (thường là những người trung tuổi gắn bó với nông nghiệp), thời điểm nông nhàn và đặc biệt là phải vận động, thuyết phục để họ hiểu được việc đóng góp sức lao động xây dựng các công trình cơ bản trong nông thôn là phục vụ cho cuộc sống thiết thực, hằng ngày của họ, nếu người dân không bỏ công sức tham gia đóng góp thì không ai có thể làm thay họ và trong sự phát triển chung của đất nước thì cuộc sống của người dân nông thôn sẽ gặp khó khăn, thiệt thòi, không có nhiều cơ hội học tập, khám chữa bệnh, điều kiện tiếp cận với các dịch vụ, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, tiện nghi văn minh của nhân loại (Phạm Văn Hùng, 2013)
- Nguồn lực vật tư: huy động cộng đồng đóng góp vật tư, nguyên vật liệu cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới, đây được coi là việc phát huy nội lực sẵn có trong nhân dân, nhất là những nông dân có điều kiện và đang là những chủ trang trại, cơ sở sản xuất, kinh doanh các vật liệu, như cát, đá, xi măng, sản xuất gạch
có gia đình có những người con thành đạt đang là những chủ doanh nghiệp hoặc có những người mong muốn được đóng góp xây dựng quê hương thông qua việc tài trợ các vật liệu xây dựng công trình trong làng, xã, thôn, xóm nơi họ đã sinh ra và lớn lên Việc huy động cộng đồng đóng góp vật tư, nguyên nhiên vật liệu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới cần được chú trọng quan tâm để phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Đóng góp về trí tuệ: người dân nông thôn rất thông minh và ham học hỏi, có tinh thần hiếu học.Việc huy động trí tuệ của cộng đồng trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới cần khuyến khích họ tham gia vào việc hội họp, bàn thảo, quyết định trong việc xây dựng các công trình cơ bản, nhất là đường giao thông, nhà văn hóa, hệ thống kênh mương, hệ thống điện đóng góp ý kiến trong các bản vẽ, thiết kế trước khi phê duyệt xây dựng; tham gia ý kiến chỉnh sửa những việc làm, hạng mục, công việc chưa hợp lý, bất cập trong việc thi công, vận hành, sửa chữa công trình, việc bàn giao công trình cho cộng đồng quản lý và sử dụng (Phạm Văn Hùng, 2013)
Trang 342.1.3.3 Đánh giá về huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
Việc đánh giá kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới là một cách để công khai, minh bạch kết quả huy động nguồn lực cộng đồng, giúp nhìn nhận tổng thể về quá trình thực hiện cũng như kết quả đạt được trong xây dựng cơ sở hạ tầng để Ban Quản lý xây dựng NTM xã cũng như các
cơ quan liên quan có thể rút kinh nghiệm, điều chỉnh lộ trình và kịp thời phòng ngừa các sai sót, thiệt hại có thể xảy ra để làm tốt hơn công tác huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo
So sánh với trước khi thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, tình hình cơ sở hạ tầng trên địa bàn đã có sự thay đổi theo hướng tích cực hay tiêu cực cũng chính là mục tiêu của đánh giá kết quả huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn mới
2.1.4.1 Cơ chế, chính sách
Các chủ trương, chính sách phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
sẽ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển cơ sở hạ tầng và làm thay đổi diện mạo nông thôn Một số chính sách có ý nghĩa tích cực từ phía Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như: Chính sách quy hoạch; quản lý và sử dụng đất đai; chính sách hỗ trợ vốn của Nhà nước; chính sách tín dụng, tạo vốn, huy động vốn, khuyến khích ưu đãi đầu tư; chính sách về quản lý đầu tư xây dựng và quản lý ngân sách Trong đó, chính sách hỗ trợ về vốn của nhà nước đối với các vùng nông thôn, đặc biệt là những vùng còn có nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội là vô cùng cần thiết và thường được thực hiện thông qua các chương trình mục tiêu như: Các chương trình kiên cố hoá kênh mương; kiên cố hoá đường GTNT; kiên cố hoá trường, lớp học; cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Chính sách phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương trong phê duyệt và thực hiện các dự án sẽ góp phần phát huy tính chủ động, năng động và sáng tạo của các địa phương trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, đồng thời cũng góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
Trang 35Về phía địa phương: các chính sách của Nhà nước về quy hoạch phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng, về sử dụng đất đai, về hỗ trợ vốn, huy động vốn… về những quy định, thủ tục phê duyệt và thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đều được chính quyền cấp địa phương cụ thể hoá và thực hiện Như vậy, chính quyền địa phương là người chấp hành và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, để chính quyền địa phương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, chính quyền Trung ương cần phải đầu tư để nâng cao năng lực chính quyền địa phương trong lộ trình cải cách hành chính, trong đó có vấn đề đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương quyết định hạng mục, công trình đầu
tư, hỗ trợ vốn từ ngân sách, huy động các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, doanh nghiệp, trong điều hành, quản lý các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn
và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
2.1.4.2 Năng lực tổ chức, quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở
Năng lực tổ chức, quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở để huy động đóng góp của người dân xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới có hiệu quả, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực, nhiệt tình, uy tín và trách nhiệm với công việc Năng lực tổ chức, quản lý và điều hành, vận động và thuyết phục người dân của đội ngũ cán bộ cơ sở có tính chất quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới nói chung và huy động sức dân xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới nói riêng
Đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực, trình độ, uy tín và trách nhiệm thì làm việc sẽ khoa học và hiệu quả, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện các kế hoạch, đề án… phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, lôi cuốn vận động người dân cùng tham gia thực hiện, đóng góp trí tuệ, tài chính, sức lao động… xây dựng các công trình trên địa bàn, người dân yên tâm, tin tưởng vào chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức, quản lý cho đội ngũ cán bộ cơ sở là rất cần thiết và quan trọng, về lâu dài phải đào tạo đội ngũ cán bộ tại địa phương có trình độ, năng lực tổ chức, quản lý để lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
Trang 362.1.4.3 Từ phía người dân và cộng đồng
Với vai trò là chủ thể trong xây dựng NTM, vì vậy người dân phải được biết, được bàn, được quyết định, tự làm, tự giám sát và được thụ hưởng đóng góp công sức, tiền của, trí tuệ, sức lao động để xây dựng các công trình như: đường giao thông, nhà văn hóa thôn, hệ thống kênh mương, trường học,… trên địa bàn để phục
vụ cho sản xuất, cuộc sống và sinh hoạt của chính họ Điều đó thể hiện rất rõ vai trò, vị trí quan trọng của người dân Người dân thể hiện vai trò, tiếng nói của mình trong các cuộc họp, bàn bạc, ra quyết định và trực tiếp tham gia công trình Khi người dân vẫn đứng ngoài cuộc thì mọi chính sách áp dụng đều dẫn đến thất bại bởi không có sự tham gia của người được hưởng lợi, người chịu trách nhiệm đó chính là toàn thể cộng đồng Cộng đồng có hiểu, có đồng tình ủng hộ thì họ mới tự nguyện đóng góp công sức, tiền của, trí tuệ cho công cuộc xây dựng nông thôn mới Khi cộng đồng nhận thức đúng vai trò của mình họ sẽ tham gia nhiệt tình các hoạt động, công việc như: sản xuất ngoài đồng ruộng, đóng góp xây dựng các công trình trong làng, xã (đường giao thông, kênh mương, trường học, nhà văn hóa thôn, ), tự nguyện hiến đất, góp đất, vật tư, vận động gia đình, người thân tham gia xây dựng nông thôn mới Vì vậy, trình độ dân trí và nhận thức của cộng đồng là yếu tố quan trọng và quyết định trong việc huy động đóng góp của người dân, cộng đồng, doanh nghiệp tham gia xây dựng CSHT nông thôn mới
Kinh tế hộ cũng là yếu tố có tác động quan trọng trong sự đóng góp nguồn lực cộng đồng Điều kiện kinh tế của mỗi hộ khác nhau nên mức đóng góp cũng khác nhau Vì vậy, cần có chính sách huy động mức đóng góp hợp lý cho từng đối tượng Hộ có kinh tế khá giả, có nguồn tài chính dồi dào thường sẽ đóng góp bằng hoặc cao hơn mức huy động của địa phương và họ sẵn sàng đóng góp khi địa phương vận động Đối với hộ trung bình, hộ nghèo với nguồn tài chính hạn chế thì
họ thường ủng hộ ít hoặc không ủng hộ những khoản đóng góp để xây dựng các công trình công cộng, thay vào đó họ có thể đóng góp sức lao động
2.1.4.4 Sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn
Kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn cũng rất quan trọng Nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt, thu được lợi nhuận cao, địa phương
Trang 37biết cách huy động thì đây cũng là một nguồn vốn quan trọng không chỉ bằng tiền
mà còn bằng vật tư, trí tuệ
Vì vậy, huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới không chỉ dựa trên nội lực của người dân địa phương mà còn phải phát huy sức mạnh ngoại lực để hoàn thành mục tiêu, các tiêu chí xây dựng NTM
và được triển khai trên toàn quốc, trở thành chương trình quốc gia Mục đích của Phong trào Seamaul Undong là: phát huy tính cần cù, tư lập tự cường giúp đỡ lẫn nhau (cả chính phủ và nông dân); phải biết cách làm việc hợp lý, hiệu quả và năng động hơn; phải xây dựng khối đoàn kết toàn dân; tạo bước nhảy vọt về phát triển KT-XH nông thôn, nâng cao mức sống cho cư dân, cụ thể:
Thiết lập Uỷ ban phát triển làng mới ở mọi cấp của chính quyền địa phương,
từ Trung ương, tỉnh, thành phố, quận huyện, mỗi làng thành lập uỷ ban tổ chức của làng để cố vấn và hướng dẫn các làng lập và chọn dự án, quyết định những vấn đề
ưu tiên về huy động lao động, vốn và vật tư (Đặng Kim Sơn và cộng sự, 2001)
Một trong những nội dung quan trọng của phong trào này là xây dựng và phát triển hệ thống hạ tầng KT - XH nông thôn trên cả nước nhằm tạo điều kiện giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội ở khu vực nông thôn
Xây dựng cụ thể các giai đoạn phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, mỗi giai đoạn có những mục tiêu, mục đích, chiến lược riêng và có những bước đi thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể Ngay từ những năm 1970, Hàn Quốc tập trung tiến hành ngay trên 10 hoạt động đồng loạt trên toàn quốc ưu tiên: quy hoạch đất canh tác; cải tạo môi trường; cải tạo núi đồi; mở rộng đường lộ trong làng; xây dựng hệ thống cấp nước; cải tạo sửa chữa hệ thống đê điều; xây đắp bờ chống xói mòn sau đó
Trang 38dần dần triển khai xây dựng đến các công trình công cộng như: kho chứa; nhà tắm tập thể; điện thoại công cộng; công viên đến những giai đoạn cuối, Hàn Quốc mới tập trung đẩy mạnh phát triển các hạ tầng phúc lợi xã hội công cộng như: giáo dục; mạng lưới y tế; bảo hiểm xã hội Những biện pháp này đã cho thấy Hàn Quốc tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn một cách lâu dài hơn là tăng thu nhập hay cho cá nhân lợi ích trước mắt
Qua đây ta thấy, Hàn Quốc rất thành công trong việc xây dựng CSHT nông thôn theo từng giai đoạn chiến lược Hơn nữa, để đẩy mạnh xây dựng hệ thống cơ
sở hạ tầng nông thôn, bên cạnh việc phát huy tinh thần làm chủ, tinh thần tự giác, sự tham gia của nhân dân đóng góp sức lao động, hiến đất đai, tiền vốn Chính phủ Hàn Quốc cung cấp một số nguyên vật liệu chính và cần thiết như xi măng, sắt thép
để xây dựng hạ tầng cơ sở như: xây dựng đường làng, đường vào trang trại; xây dựng hội trường làng Với giải pháp này, Hàn Quốc đã rất thành công trong huy động được đa dạng nguồn vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, với mục tiêu chính là thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội, cải tạo môi trường sống, nâng cao mức sống cho nhân dân vùng nông thôn
Quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng ngành văn hoá và coi trọng vai trò của các tổ chức nhân dân Bằng việc xây dựng hội trường làng, với diện tích khoảng 300m2, kinh phí phần lớn của dân đóng góp, của các cá nhân, các doanh nghiệp dùng để hội họp bàn các việc của làng, xã Các tổ chức “Tổ hợp tác nông nghiệp”,
“Hội Phụ nữ”, “Hội điều hành nông thôn” đã đóng góp quan trọng trong phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn Tại hội trường làng các tổ chức đã triển khai các cuộc hội họp, các buổi thảo luận tham gia vào lựa chọn dự án đầu tư, tham gia vào huy động vốn, vào quản lý và sử dụng, bảo trì các công trình hạ tầng Một nguyên tắc để phát huy tinh thần chủ động của nhân dân là Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công của: Nhân dân tự quyết định loại công trình nào cần ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm quyết định toàn bộ về thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Nhà nước bỏ ra 1 (chủ yếu là vật tư xi măng, sắt thép ) thì nhân dân bỏ ra 5-10 (công sức và tiền của) (Đặng Kim Sơn và cộng sự, 2001) Đó là giải pháp vô cùng hữu hiệu trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn của Hàn Quốc
Trang 39Như vậy, để phát triển nông thôn toàn diện, trước hết Chính phủ Hàn Quốc chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Bất kể biện pháp hay cách làm nào, Hàn Quốc đều phát huy tối đa vai trò của cộng đồng và các tổ chức đoàn thể Chính điều
đó đã từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn Hàn Quốc
2.2.1.2 Trung Quốc
Trung Quốc đã có nhiều chính sách và biện pháp huy động người dân và
cộng đồng xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn (Phạm Văn Hùng, 2013) Cụ thể:
Bên cạnh đảm bảo nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, Trung Quốc rất tích cực tìm kiếm các khoản vay ưu đãi với mức lãi suất thấp từ các tổ chức kinh tế quốc tế cho xây dựng CSHT ở nông thôn, tập trung vào khu vực miền Tây, miền Trung và các dự án cơ sở hạ tầng đa năng có tính đột phá, "đầu tàu" như: giao thông, viễn thông, mạng lưới điện theo phương châm “đầu tư lớn hơn, xây dựng sớm hơn, đi tắt đón đầu”
Thực hiện cơ chế chủ động phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương trong phát triển cơ sở hạ tầng Để khai thác tiềm năng và các nguồn lực của các địa phương, Chính phủ đã giảm sự “độc quyền” của mình trong công tác phát triển cơ
sở hạ tầng, đã tiến hành phân cấp cho chính quyền cấp dưới và khuyến khích họ tham gia vào quản lý, xây dựng và khai thác cơ sở hạ tầng Chính phủ chỉ quan tâm vào các dự án lớn hiện đại và mang tầm quốc gia như: điện lưới quốc gia, đường giao thông huyết mạch nối liền các tỉnh, cầu cảng, sân bay… còn những cơ sở hạ tầng ở nội vùng nông thôn chủ yếu giao cho chính quyền cấp thấp hơn đảm nhận Chính vì vậy nhiều địa phương đã chủ động dùng vốn ngân sách của mình và huy động sự đóng góp của người dân, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư để đầu tư vào những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trọng điểm của địa phương mình Sự kết hợp giữa chính quyền Trung ương và các cấp chính quyền địa phương và sự đóng góp của người dân đã mang lại cho nông thôn Trung Quốc một diện mạo mới về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Đến lượt nó, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn đã tác động mạnh mẽ đến tiến trình CNH nông thôn Hệ thống GTNT, hệ thống thông tin - viễn thông,… phát triển đã góp phần giảm chi phí vận chuyển, cước phí giao dịch ở vùng duyên hải xuống ngang bằng với mức của một số nước
Trang 40trong khu vực, yếu tố này đã làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến giá nhiều loại sản phẩm hàng hoá của Trung Quốc thấp hơn so với khu vực
Đẩy mạnh phát triển chợ nông thôn: Trung Quốc hết sức coi trọng mở rộng thị trường giao lưu hàng hoá nhất là hàng hoá nông sản Vì vậy, trong những năm qua có nhiều biện pháp đẩy mạnh phát triển hệ thống chợ nông thôn Nhiều chợ nông thôn đã được xây mới, mở rộng, nâng cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước giao lưu, trao đổi, mua bán các yếu tố sản xuất và sản phẩm hàng hoá trong và ngoài nước
Hình thành các KCN, CCN và khu đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn để tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và thu hút lao động dư thừa Sự phát triển các khu đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với việc phát triển các ngành công nghiệp nông thôn gắn với hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp không chỉ là một giải pháp quan trọng để thu hút lao động dư thừa ở khu vực này mà còn góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế nông thôn Trong thời gian này, chính phủ Trung Quốc chủ trương tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000 đô thị nhỏ bên cạnh các khu công nghiệp Những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa Ở Trung Quốc, các đô thị nhỏ đã trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, giải trí, giáo dục và thông tin Sự phát triển của các đô thị nhỏ góp phần đem lại cuộc sống tốt hơn cho dân cư và còn góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, tạo ra điều kiện quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển KT - XH và quá trình đô thị hoá nông thôn khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH
Như vậy, những thành công đã đạt được trong xây dựng nông thôn ở Trung Quốc đó là do Chính phủ Trung quốc đã giảm bớt sự “độc quyền” của mình và trao quyền cho cộng đồng để thực hiện chiến lược đầu tư xây dựng CSHT đồng bộ Hệ thống CSHT quy mô lớn và hiện đại đã giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, có hệ thống và đáp ứng xu hướng CNH, HĐH trên thế giới