Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi trong những năm học tập Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn sâu sắc và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Giáp Thị Hợp
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể, các cơ quan trong và ngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Phúc Thọ đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong ban lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam, khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn và tập thể các thầy,
cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi về thời gian cũng như kiến thức trong những năm học tập, thực hiện đề tài tại viện
Tôi xin thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Văn Lâm, phòng NN, LĐTB&XH, công thương và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết và tổ chức các cuộc điều tra để thực hiện tốt đề tài của mình
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Giáp Thị Hợp
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận về việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 23
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động thôn 27
2.2 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 35
2.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Trung Quốc 35
2.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Hàn Quốc 37
2.2.3 Kinh nghiệm ở Việt Nam 40
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 46
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 46
3.1.2 Điều kiện kinh tế 47
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
3.1.3 Điều kiện xã hội 50
3.2 Phương pháp nghiên cứu 54
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 54
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 54
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 57
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài 57
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1 Khái quát về tình hình lao động và việc làm của lao động nông thôn tại huyện Văn Lâm 59
4.1.1 Tình hình chung về lao động và việc làm của lao động nông thôn huyện Văn Lâm 59
4.1.2 Tình hình việc làm và thiếu việc làm của người lao động huyện Văn Lâm 60
4.1.3 Tình hình việc làm và thiếu việc làm của người lao động huyện Văn Lâm theo nhóm hộ điều tra 61
4.1.4 Phân bổ lao động vào các ngành trong nông thôn của huyện Văn Lâm theo nhóm hộ điều tra 62
4.1.5 Cơ cấu lao động phân theo giới tính theo nhóm hộ điều tra 63
4.2 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Văn Lâm 64
4.2.1 Công tác đào tạo nghề 64
4.2.2 Tình hình đầu tư 73
4.2.3 Thực trạng phát triển các làng nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Văn Lâm 76
4.2.4 Thực trạng hỗ trợ vay vốn và công tác giải quyết việc làm 77
4.2.5 Thực trạng xuất khẩu lao động hướng tới giải quyết việc làm 81
4.2.6 Kết quả và hạn chế trong công tác giải quyết việc làm tại huyện Văn Lâm 79
4.3 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 81
4.3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động 81
4.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động 84
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.4 Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động huyện Văn
Lâm 99
4.4.1 Định hướng 99
4.4.2 giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Văn Lâm 101
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
5.1 Kết luận 112
5.2 Kiến nghị 113
5.2.1 Đối với các đơn vị cấp tỉnh 113
5.2.2 Kiến nghị với chính quyền huyện 113
5.2.3 Đối với các doanh nghiệp sử dụng người lao động 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải nghĩa
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2005 – 2014 47
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất đai huyện Văn Lâm 49
Bảng 3.3 Dân số trung bình của huyện theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 50 Bảng 3.4 Lao động đang làm việc phân theo khu vực kinh tế và phân theo loại hình kinh tế 51
Bảng 3.5 Phương pháp thu thập các thông tin 55
Bảng 3.6 Số lượng mẫu điều tra 56
Bảng 4.1 Cơ cấu lao động theo ngành ở Văn Lâm giai đoạn 2012 – 2014 59
Bảng 4.2 Tình hình việc làm và thiếu việc làm của người lao động huyện Văn Lâm 62
Bảng 4.3 Tình hình việc làm của người lao động theo nhóm hộ điều tra 61
Bảng 4.4 Phân bổ lao động nông thôn theo các ngành 62
Bảng 4.5 Lao động nông thôn phân theo giới tính 63
Bảng 4.6 Số lượng lao động được đào tạo dài hạn 65
Bảng 4.7 Tình hình việc làm của lao động sau khi tham gia học nghề 65
Bảng 4.8 Số lượng LĐNT được tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT 5 năm 67
Bảng 4.9 Tình hình việc làm của lao động sau khi tham gia học nghề 69
Bảng 4.10 Nhu cầu học nghề của lao động được điều tra 70
Bảng 4.11 Số lao động sau khi tập huấn khuyến nông và chuyển giao KHKT biết cách áp dụng vào thực tế và có việc làm 71
Bảng 4.12 Số lượng doanh nghiệp đầu tư và liên kết với nông hộ trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn 75
Bảng 4.13 Các làng nghề truyền thống và công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Văn Lâm 76
Bảng 4.14 Số lao động được giải quyết việc làm sau khi vay vốn 78
Bảng 4.15 Tình hình người lao động đi XKLĐ giai đoạn năm 2012 – 2014 81
Bảng 4.16 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2005 – 2014 82
Bảng 4.17 Thực trạng tiếp cận khoa học kỹ thuật của lao động nông thôn huyện Văn Lâm 83
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
Bảng 4.18 Trình độ văn hóa của người lao động 88
Bảng 4.19 Trình độ chuyên môn của người lao động 90
Bảng 4.20 Trình độ văn hóa và chuyên môn của người lao động huyện Văn Lâm 89
Bảng 4.21 Mức sử dụng thời gian lao động của lao động nông thôn trong 1 năm 90
Bảng 4.22 Thời gian lao động phân theo mức thu nhập của lao động nông thôn huyện Văn Lâm 91
Bảng 4.23 Thời gian lao động phân theo hướng sản xuất của hộ 92
Bảng 4.24 Ý kiến của người lao động điều tra về ảnh hưởng của chất lượng Lao động tới vấn đề việc làm của người lao động 97
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Ảnh hưởng tiền lương tối thiểu đến cầu lao động 31
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Văn Lâm 46
Trang 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia
có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội Giải quyết việc làm cho người lao động bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh
và bền vững
Việt nam là một nước đang phát triển với lực lượng lao động rất dồi dào, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được
ấm no và được sống một đời hạnh phúc” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1995) Tư tưởng
của Người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho người lao động ở nước ta hiện nay đang được quan tâm một cách có hiệu quả, với trên 42 triệu lao động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 70%, khả năng tạo việc làm cho lao động nói chung và đăc biệt là lao động nông nghiệp rất khó khăn Lao động nông nghiệp ở nông thôn thiếu việc làm do bình quân ruộng đất sản xuất thấp cộng với tính thời
vụ của sản xuất nông nghiệp, ngành nghề chưa phát triển Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trở nên bức xúc
Để phát triển kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp thì đòi hỏi phải đổi mới căn bản và toàn diện, cụ thể là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp manh mún lạc hậu sang nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản Bằng nhiều biện pháp, tạo ra nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề… sớm xây
dựng và thực hiện chính sách trợ cấp cho người lao động thất nghiệp” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2006) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
tiếp tục khẳng định: “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỉ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc
Huyện Văn Lâm nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, là cửa ngõ phía Đông của thủ đô Hà Nội qua tuyến đường Quốc lộ 5 Trước đổi mới (trước năm 2000), trong cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Sau đổi mới, nhất là sau khi tái lập tỉnh, huyện xác định ưu tiên các ngành công nghiệp, dịch
vụ Nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn để chuyển sang xây dựng các các khu, cụm công nghiệp như khu công nghiệp Phố Nối A, cụm công nghiệp Như Quỳnh A, Như Quỳnh B, Tân Quang phục vụ cho phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ Các khu, cụm công nghiệp được hình thành và phát triển đã góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế của huyện, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp với tỷ lệ cao ở một số xã đã và
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
đang nảy sinh một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu giải quyết Đó là tình trạng thiếu việc làm và thu nhập của một bộ phận người nông dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng , tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông thôn, thu nhập thấp, đời sống khó khăn là nguyên nhân chủ yếu cản trở sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội Do vậy, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp của huyện là đòi hỏi rất cấp bách
Với lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên thời gian qua Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp giải quyết việc làm, ổn định đời sống người dân trên địa bàn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về giải quyết việc làm cho các hộ nông dân của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả hơn vấn đề GQVL cho LĐNT trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 và những năm tiếp theo
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Văn Lâm,
tỉnh Hưng Yên
- Phạm vi về thời gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu từ tháng 10/2014-10/2015;
số liệu được sử dụng phân tích 3 năm (2012- 2014)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Lao động
Hiện nay có rất nhiều khái niệm hiểu về lao động theo nhiều khía cạnh khác nhau và được hiểu rõ hơn qua một số quan niệm sau: Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định
Lao động: Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua
đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích
nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người (Nguyễn Mậu Dũng, 2011)
Trong giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao Trường ĐH Kinh tế quốc dân viết: "Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng
động-thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người" (Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, 2001)
Khái niệm này lao động được hiểu thông qua nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người
Trong giáo trình: Kinh tế học chính trị Mác - Lênin viết: "Lao động là hoạt
động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các
nhu cầu của đời sống xã hội" (Bộ giáo dục và đào tạo, 2006)
Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người
Trong bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều
13, chương 3 viết: "Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội" (Quốc hội, 1994)
Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất
tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế
đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng
2.1.1.2 Sức lao động
Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong con người Thể lực, trí lực và tâm lực đó đem ra vận dụng trong quá trình lao động để tạo ra
của cải vật chất và những giá trị tinh thần của xã hội ( Đồng Văn Tuấn, 2011)
Sức lao động là năng lực tiềm ẩn trong mỗi người lao động, đánh giá năng lực đó là hết sức phức tạp Tuy nhiên, người ta thường dùng ba tiêu chí cơ bản sau
để đánh giá:
Một là thể lực, con người có sức khoẻ tốt thì mới có khả năng lao động với
năng suất cao và học tập đạt kết quả tốt ở các nước đang phát triển nói chung, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, người lao động thường có thể lực hạn chế do mức sống thấp Sức khoẻ kém dẫn đến năng suất lao động thấp, năng suất lao động
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
thấp lại dẫn đến mức sống thấp, mức sống thấp ảnh hưởng đến thể lực và khả năng học tập, điều đó lại làm cho năng suất lao động thấp đó là cái vòng luẩn quẩn cần phải phá bỏ Muốn phá bỏ cái vòng luẩn quẩn đó thì điều mấu chốt là phải tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đảm bảo cho người dân được tiếp cận với một nền giáo dục ngày càng cao và sự chăm sóc y tế ngày càng đầy đủ, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại
Hai là tâm lực, tâm lực là nhân cách, là đạo đức và lối sống của con người, là
phương thức cư sử của con người với cộng đồng và xã hội Hiện nay, tâm lực là yếu
tố được coi trọng hàng đầu vì đạo đức và lối sống là cái gốc của con người Con người có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với cộng đồng thì thông qua rèn luyện có thể nâng cao được thể lực và trí lực của mình Người có tâm lực kém thì chỉ có ảnh hưởng xấu đối với xã hội Thể lực càng tốt, trí lực càng cao mà tâm lực không có thì tác hại gây ra cho xã hội càng lớn Như Bác Hồ đã trong cuộc nói chuyện với sinh viên trường đảng Nguyễn Ái Quốc đã nói; “người có tài mà không có đức thì chỉ phá hoại” Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn lao động thì phải luôn quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức và lối sống, tác phong và nhân cách cho người lao động Tạo cho người lao động phong cách lao động cần cù sáng tạo, biết trân trọng những giá trị của lao động chân chính, biết thương yêu giúp đỡ nhau trong lao động, có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội Đó là điều kiện quan trọng nhất để phát triển nhanh chóng và toàn diện nền kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông thôn nói riêng
Ba là trí lực, trí lực là trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động, là
trình độ hiểu biết của con người được áp dụng trong quá trình lao động nhằm đạt năng suất lao động cao Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng lao động trực tiếp, khi hàm lượng chất xám ngày càng cao trong giá trị của sản phẩm thì trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao đông có vai trò hết sức quan trọng Người lao động có trình độ văn hoá và chuyên môn cao mới có thể tiếp cận và áp dụng có hiệu quả những tiến bộ của khoa học và công nghệ, từ đó sẽ tạo được hiệu quả cao trong lĩnh vực hoạt động của mình Như vậy, để có nguồn lao động có chất lượng cao cần phải bồi dưỡng người lao động một cách toàn diện cả về thể lực, tâm lực và trí lực Về cơ bản và lâu dài là phải xây dựng và phát triển một nền giáo dục
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
có chất lượng cao và đảm bảo cho toàn dân đều có khả năng được cung cấp dịch vụ giáo dục tiên tiến
2.1.1.3 Lao động nông thôn
a, Khái niệm về nông thôn
Qua nhiều nghiên cứu về nông thôn nhưng cho đến giai đoạn hiện nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi Nếu cho rằng nông thôn là địa bàn có mật độ dân số thấp hơn thành thị thì chưa thoả đáng vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các nước và ngay ở nước ta thì một số vùng nông thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số không thấp hơn
Nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sinh kế chủ yếu bằng nông nghiệp Đây là ý kiến có tính thuyết phục hơn nhưng chưa đầy đủ
vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư Đến nay, khái niêm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo (Bộ Nông nghiệp, 2009): "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở
là ủy ban nhân dân xã" Với những khái niệm trên ta có thể phân tích và hiểu rõ
hơn về sự khác biệt giữa lao động nông thôn và lao động thành thị:
Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu
là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò quan trọng (kể cả lâm và ngư nghiệp) Kể cả những vùng mà TTCN và dịch vụ, làng nghề phát triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng Bên cạnh đó, nông nghiệp còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn thành thị, có trình độ
tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá kém hơn Đối với mọi quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì chỉ tiêu này là khá rõ ràng Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, trình độ lao
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
động sản xuất thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cũng thấp hơn
Thứ ba, nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn
hoá, khoa học và công nghệ thấp hơn thành thị vì thành thị thường là trung tâm văn hoá và kinh tế của một vùng, do vậy cơ cấu kinh tế phát triển hơn, mức độ đầu tư cao hơn Hơn nữa do điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá - khoa học và kỹ thuật
mà thành thị tạo nên sức hút rất lớn đối với nguồn lao động tinh tuý, có trình độ cao
ở nông thôn ra lập nghiệp, điều đó cũng góp phần hình thành trung tâm văn hoá, khoa học và công nghệ ở thành thị
Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng
về quy mô và trình độ phát triển… giữa các vùng khác nhau thì tính đa dạng cũng khác nhau
Thứ năm, một đặc trưng khác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa
quan trọng trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng - xã - thôn - bản rất chặt chẽ Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành thị, do đó tính cộng đồng làng xã rất vững chắc Mỗi làng, mỗi thôn bản hay mỗi vùng nông thôn đều có phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng Điều đó giống như pháp luật bất thành văn mà mọi cư dân phải tuân theo Dân cư thành thị chủ yếu là từ nhiều nơi đến lập nghiệp nên phong tục tập quán và bản sắc văn hoá phong phú đa dạng, không đồng nhất, còn nông thôn, những bản sắc văn hoá của mỗi làng bản được duy trì vững chắc hơn Điều đó tạo nên truyền thống văn hoá của mỗi vùng, mỗi làng quê ở nông thôn, nó in đậm trong đời sống tâm hồn của mỗi con người sinh ra và lớn lên ở đó
Với những đặc điểm trên nông thôn có vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam nó thể hiện ở một số khía cạch như sau:
Thứ nhất, nông thôn là nơi cung cấp những sản phẩm tối cần thiết và không
thể thay thế cho cuộc sống của con người, do vậy nó đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội Mac đã từng nói: Con người ta trước hết cần ăn, uống, mặc và ở, trước khi lo đến làm chính trị, khoa học nghệ thuật hay tôn giáo Thiếu những điều
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
kiện ấy, mọi hoạt động xã hội sẽ bị rối loạn Nông thôn còn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển Hệ thống kinh tế nông thôn bao gồm Nông - Lâm - Ngư nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Dịch vụ tạo ra nguồn sản phẩm hàng hoá dồi dào phục vụ cho đời sống của nhân dân và cho xuất khẩu, nguồn tiềm năng chưa được khai thác trong nông thôn nước ta còn rất to lớn Đặc biệt, trong tương lai không xa, với sự tiến bộ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, nông nghiệp sẽ trở thành ngành sản xuất mang tính chất công nghiệp và phát triển dịch vụ hiện đại có năng suất và hiệu quả cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn Nông nghiệp sẽ trở thành một ngành quan trọng của nền kinh tế tri thức Như vậy, phát triển kinh tế nông thôn sẽ góp phần đảm bảo sự thắng lợi của
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Thứ hai, nông thôn nước ta với 70% lao động (Tổng cục thống kê, 2014)
sống và làm việc, chiếm phần lớn trong tổng lao động xã hội Vì vậy, nông thôn là nơi cung cấp nguồn lao động chủ yếu cho phát triển công nghiệp và các ngành khác Ngày nay, thời kỳ cả nước đang đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá, không chỉ các hoạt động trong nông thôn mà cả các ngành khác luôn đòi hỏi chất lượng của người lao động ngày càng cao Điều đó chỉ có thể được đáp ứng khi nông thôn được phát triển một cách toàn diện
Thứ ba, với 70% dân số sống ở nông thôn, Đây không những là thị trường
rộng lớn cho phát triển công nghiệp mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong củng cố an ninh và quốc phòng, giữ dìn trật tự và an toàn xã hội Trong chiến lược quốc phòng toàn dân, mỗi người dân là một người lính Hơn nữa, khả năng cung cấp hậu cần tại chỗ cũng có vai trò hết sức quang trọng trong củng cố an ninh và quốc phòng
Thứ tư, nông thôn chiếm giữ tuyệt đại bộ phận tài nguyên của đất nước, từ rừng
núi sông biển với các loại thuỷ hải sản, động thực vật tới các loại khoáng sản…Vì vậy, nông thôn có vai trò to lớn trong việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên để phát triển đất nước Bên cạnh việc quản lý và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nông thôn còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ dìn, bảo vệ môi trường sinh thái nhằm phát triển kinh tế một cách bền vững Như vậy,
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
nông thôn còn là nơi nghỉ ngơi lý tưởng, đưa con người về gần với tự nhiên trong lành, góp phần nâng cao sức khoẻ cho con người cả về thể chất và tinh thần
b, Lao động nông thôn
1- Khái niệm về Lao động nông thôn
Lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là số người trong độ tuổi (nam từ 18 đến 60 tuổi, nữ từ 18 đến 55 tuổi), có khả năng lao động làm việc thường xuyên trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong xã (bao gồm cả người tranh thủ lúc nông nhàn đi ra ngoài làm việc, đến thời vụ lại về sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp tại xã), theo (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)
2- Vai trò của lao động nông thôn
Lao động trong ngành nông nghiệp nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của kinh tế nông nghiệp nói riêng và của kinh tế xã hội nói chung Bởi vì nông nghiệp có vai trò và vị trí hàng đầu trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta Nguồn lao động nông nghiệp rất phong phú chiếm gần 70% tổng số lao động xã hội Với lực luợng lao động đông đảo như vậy lao động nông nghiệp đóng vai trò quyết định đối với kinh tế, họ là những người làm ra của cải vật chất cho khu vực nông nghiệp, đồng thời cũng là những người tạo lên sức mạnh để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp nước ta
3- Đặc điểm của lao động nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, mang tính chất thời vụ cao và không bao giờ xóa bỏ được tính chất
này vì sản xuất nông nghiệp luôn bị chi phối và ảnh hưởng của quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất dai ) do vậy quá trình sản xuất mang tính chất thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều Chính vì vậy tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn
Thứ hai, Lao động nông thôn rất dồi dào, đa dạng nhưng phân bổ không đều
giữa các vùng và các khu vực và có thích ứng lớn do đó việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp đòi hỏi phải có biện
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp
Thứ ba, Chất lượng lao động nông thôn: do những nguyên nhân lịch sử, kinh
tế sâu xa cùng với phương thức sản xuất lúa nước đã liên kết những người dân sống
ở nông thôn thành một cộng đồng theo kiểu “tập đoàn”, hình thành một lực lượng
lao động với bản sắc văn hoá độc đáo, với truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp
đỡ lẫn nhau, có phẩm chất cần cù, chịu khó, thông minh và gắn bó với Đảng, với đất nước…Đó là những tố chất quan trọng mà các nhà quản lý cần vận dụng và phát huy khi sử dụng nguồn lực này Bên cạnh đó nguồn nhân lực ở nông thôn cũng còn
có nhiều hạn chế chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thể hiện ở một số nét chủ yếu sau:
- Trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn còn thấp,
ít được đào tạo có bài bản và hệ thống Đây là yếu tố gây trở ngại rất lớn đến việc
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động và sử dụng hợp lý,
có hiệu quả nguồn lao động ở nông thôn nước ta hiện nay
- Thể lực của người lao động ở nông thôn đã được cải thiện nhưng còn thấp
so với yêu cầu Tình trạng dinh dưỡng của người lớn tính theo chỉ số cơ thể (BMI) của khu vực nông thôn cho thấy có 36,44% nam giới đạt mức bình thường, còn lại 62,5% ở mức gầy và quá gầy Ở nữ, các tỷ lệ tương ứng là 57,6% và 37% Chính thông qua tình trạng sức khoẻ của người lao động đã phản ánh rõ nét nhất mối liên
hệ chặt chẽ giữa mức thu nhập thấp và năng suất thấp (Tổng cục thống kê, 2014)
-Thu nhập của người lao động nông thôn còn thấp và đời sống còn khó khăn
4- Phân loại lao động nông thôn
Việc phân loại lao động nhằm đánh giá chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng và phân công lao động trong nông thôn một cách cụ thể, rõ ràng và hiệu quả:
Về trình độ văn hoá của người lao động có thể phân chia theo các mức độ sau: Chưa tốt nghiệp cấp I, cấp II, cấp III
Việc phân chia và tính được chính xác tỷ lệ lao động có trình độ văn hoá khác nhau là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng nguồn lao động nộng thôn
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
Trình độ THPT là trình độ cơ sở rất quan trọng tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tự học hỏi, tiếp thu và áp dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh Sự hiểu biết về pháp luật, việc xây dựng đời sống văn minh, hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ văn hoá của người lao động Vì vậy, việc đánh giá đúng trình độ văn hoá của lao động nông thôn
là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp đào tạo và chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người lao động Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn có thể được phân theo các mức độ sau: Trình độ sơ cấp & công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao
đẳng và đại học, trên đại học (Đồng Văn Tuấn, 2011)
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là phát triển theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN và có sự quản lý của nhà nước Như vậy, nông nghiệp cũng phải phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá với trình độ và hiệu quả cao Đặc biệt với
xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia sẽ hết sức gay gắt, điều đó tạo ra cho nông nghiệp nước ta những thách thức to lớn vì nông nghiệp nước ta phát triển còn thấp Trước thực tế đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng Bộ phận lao động trong nông thôn
có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật sẽ có vai trò như đầu tầu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và kinh doanh Từ đó, họ sẽ có tác động nhân rộng các mô hình sản xuất kinh doanh tiên tiến và thúc đấy sản xuất kinh doanh trong nông thôn phát triển có hiệu quả cao Vì vậy, cần có chiến lược đào tạo phù hợp nhằm nâng dần tỷ lệ nguồn lao động đã được qua đào tạo trong nông thôn Theo lứa tuổi: Phân chia lực lượng lao động theo nhóm tuổi có thể phân thành các nhóm như sau: Nhóm lao động trẻ gồm những người từ 15 đến 34 tuổi, nhóm lao động trung niên gồm những người từ 35 đến 54 tuổi, Nhóm lao động cao tuổi gồm những người từ 55 tuổi trở lên Việc phân chia lực lượng lao động theo nhóm tuổi như trên cho phép năm được cơ cấu về tuổi đời của lực lượng lao động, tình hình biến động của lực lượng lao động và tình hình việc làm của mỗi nhóm tuổi Từ đó tìm ra giải pháp giải quyết việc làm phù hợp
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
Phân theo giới tính nam và nữ, việc nghiên cứu tình hình việc làm theo giới tính cho ta biết thực trạng của lao động nữ, từ đó có những giải pháp cụ thể cho lao động nữ
Phân theo ngành hoạt động: Phân chia lao động theo ngành hoạt động sẽ gồm các ngành sau: Nông nghiệp, công nghiệp xây dựng, thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Việc nghiên cứu như vậy sẽ nắm được thực trạng việc làm và thu nhập của các ngành khác nhau, so sánh cụ thể thời gian lao động và thu nhập được tạo ra từ mỗi ngành, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp Trong nông thôn, việc phân chia lao động theo ngành như trên thực chất chỉ mang tính tương đối Việc phân chia như trên là dựa vào thu nhập và thời gian lao động được phân bổ cho các ngành Trong thực tế, mỗi hộ nông dân thường có cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản, ỉt nhất cũng có chăn nuôi và trồng trọt Vì vậy, trong gia đình một người có thể vừa làm trồng trọt, vừa làm chăn nuôi, vừa làm các việc khác Việc phân chia lao động theo ngành như trên cho phép đánh giá được cơ cấu kinh tế trong nông thôn và trình độ phân công lao động trong nông thôn Điều này có ý nghĩa quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của mỗi vùng nông thôn trong việc khai thác tối đa và hợp lý những thế mạnh của địa phương mình
2.1.1.4 Việc làm và thất nghiệp
a, Khái niệm về việc làm
“Việc làm” đối với mỗi người lao động, được làm việc gắn với từng công việc cụ thể, không chỉ tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ góp phần cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm
là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại và phát triển mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
Theo điều 13 của Bộ luật Lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”
(Quốc hội, 2012)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
Trong tác phẩm nổi tiếng “Phép biện chứng của tự nhiên” F Ăng ghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người,
và như thế đến một mức mà, trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động
đã sáng tạo ra chính bản thân con người” Điều đó có nghĩa là: nhân tố có tính chất quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là việc sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sản xuất lại có hai loại Một loại là sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt, tức là thức ăn, nhà ở, quần áo và các công cụ cần thiết cho việc đó; loại khác là việc sản xuất ra bản thân loài người, tức là việc phát triển giống nòi Trong phạm vi đề tài này, lao động được xem xét ở khía cạnh thứ nhất – lao động
để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt (F Ăngghen,1963)
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Khoa Kinh tế Lao động và Dân số- trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu “là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư
liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó” (Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, 2001)
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về sức lao động (V) Quan hệ tỉ lệ biểu diễn sự kết hợp giữa sức lao động với trình độ công nghệ sản xuất Khi công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ
sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản cuất, vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao, nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỉ lệ thấp Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động
Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỉ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu
và sức lao động có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm Nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
có nghĩa là việc làm đầy đủ Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp
Trước đây chúng ta coi những người có việc làm là những người làm việc trong thành phần kinh tế nhà nước và trong các cơ quan nhà nước… Nhưng khái niệm việc làm hiện nay đã được mở rộng, phù hợp với nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho mọi người dân tham gia vào nhiều hoạt động mang lại thu nhập và tạo việc làm Điều đó được thể hiện chủ yếu qua hai góc độ sau:
Một là, thị trường việc làm đã được mở rộng, bao gồm tất cả các thành phần
kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và không bị giới hạn về không gian Người lao động được coi là có việc làm khi lao động trong các đơn vị kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cũng như kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình hoặc có thể hành nghề kinh doanh độc lập… Ý nghĩa thực tiễn của quan điểm này là rất lớn Hiện nay, nhiều học sinh, sinh viên ra trường có thể xin việc ở mọi thành phần kinh
tế từ kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân và nhiều người mở hoạt động kinh doanh độc lập Ngay trong nông thôn, người nông dân cũng mở mang kinh doanh các ngành nghề hết sức phong phú Với quan điểm như trên, Đảng và nhà nước ta đã tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong việc giải phóng lực lượng lao động xã hội, tính năng động của người lao động được nâng cao hơn nhiều so với những năm trước đây
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do thuê
mướn lao động theo luật pháp để tạo việc làm cho mình và xã hội Trong chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta luôn khảng định duy trì nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội cho phát triển kinh tế Do vậy, mọi
tổ chức, cá nhân cũng như hộ gia đình đều có thể phát huy mọi khả năng và nguồn lực cho phát triển kinh tế, thực hiện liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh với các đối tác kinh tế khác, cả trong và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập cho bản thân và xã hội theo quy định của pháp luật
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ khái niệm thiếu việc làm hay bán thất nghiệp Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, mà họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm để bổ xung Một khó khăn trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là do người nông dân chỉ quen làm nông nghiệp Đó là nghề nghiệp lâu đời của họ Muốn phát triển tiểu thủ công nghiệp thì cần có vốn và tay nghề kỹ thuật Đối với những ngành như sửa chữa cơ khí, sửa chữa đồ điện
và các đồ gia dụng khác, may mặc, dệt thảm…người lao động cần phải qua đào tạo Tuy nhiên ở nông thôn không có trường lớp, đến các trung tâm dạy nghề ở các thành phố thì với thu nhập của nông dân điều đó trở thành hết sức khó khăn
Vì vậy, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi phát triển rất yếu, quy mô nhỏ và hiệu quả thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng có thể khai thác
Thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm, cơ cấu kinh tế lạc hậu Vì vậy, hiệu quả lao động cũng thấp Điều đó ảnh hưởng đến thu nhập và mức sống của cư dân nông thôn
Từ phân tích trên ta thấy việc làm là vấn đề hết sức cần thiết cho lao động nông thôn, nhưng lao động phải có hiệu quả cao mới nâng cao được thu nhập và mức sống của người dân Vấn đề rất cần thiết là phải đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật cho lao động trẻ ở nông thôn bằng nhiều hình thức
Xu hướng có tính quy luật trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá là tỷ trọng về lao động và giá trị sản lượng nông nghiệp ngày càng nhỏ, trong khi tỷ lệ lao động và giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Điều này có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Vì phát triển cũng có nghĩa là quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng hợp lý, những ngành có năng suất và hiệu quả cao sẽ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Hơn nữa, khi thu nhập của dân cư càng tăng lên thì nhu cầu về các hàng hoá công nghiệp
và dịch vụ tăng nhanh hơn nhiều so với nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp Tuy
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
nhiên hiện nay xu hướng này ở nông thôn nước ta nói chung và ở miền núi nói riêng diễn ra rất chậm chạp Điều đó càng tạo nên sức ép về lao động và việc làm trong nông thôn
Vấn đề là phải tìm ra những biện pháp hỗ trợ và tác động làm cho chuyển dịch đó nhanh và hiệu quả hơn, có như vậy mới giảm được sức ép về lao động và việc làm trên địa bàn nông thôn, nhưng cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam là rất lạc hậu, về cơ bản vẫn là tự cung tự cấp, hệ số sử dụng ruộng đất bình quân đạt được 1,4 lần, nơi cao nhất cũng chỉ đạt 2 lần (Đồng bằng sông Hồng), 84,1% lao
động tập trung vào nông nghiệp, 70% thu nhập là từ nông nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2014)
Như vậy, muốn giải quyết việc làm cần phải thực hiện phân công lao động trong nông thôn, chuyển lao động từ nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tăng quy mô tích tụ ruộng đất theo hộ Có như vậy mới áp dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, lao động nông thôn sẽ ngày càng hiện đại hơn, trên cơ sở trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng cao hơn
Lao động thường xuyên gồm những người có việc làm ổn định, thường xuyên,
còn lao động thiếu việc làm là những người không có việc làm thường xuyên, thường có những thời gian không lao động vì hết việc Theo Bộ Lao động, Thương
binh và Xã hội Việt Nam 2014 "Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần
lễ tính đến thời điểm điều” Như vậy, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận
dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp Trong nông thôn, lao động trồng trọt có tính thời vụ rất rõ rệt, do đó hiện tượng thiếu việc làm thể hiện rất rõ Để hạn chế vấn đề này, cần phải đẩy mạnh thầm canh tăng vụ, lựa chọn công thức luân canh hợp lý và đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, điều đó cũng chỉ hạn chế tính thời vụ chứ không thể khắc phục được hoàn toàn Vì vậy, cần phải có sự bổ xung của ngành chăn nuôi và các nghành nghề phi nông nghiệp Ngành chăn nuôi sử dụng lao động đều đặn hơn trồng trọt, tuy nhiên các hộ nông dân có quy mô chăn nuôi lớn mang tính hàng hoá còn rất ít, do đó hoạt động chăn nuôi trong các nông hộ chủ yếu là sử dụng thời gian làm tranh thủ trong ngày Trong những ngày nhàn rỗi, lao động dành cho chăn nuôi
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
cũng chỉ chiếm rất ít thời gian lao động trong ngày Ở Hưng Yên đây là hiện tượng phổ biến do sản xuất hàng hoá ở trình độ thấp, quy mô chăn nuôi nhỏ và chủng loại vật nuôi nghèo nàn
Vấn đề có ý nghĩa to lớn trong phát triển các ngành phi nông nghiệp trong nông thôn là tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của cơ giới hoá nông nghiệp Phát triển các ngành phi nông nghiệp tạo ra nhu cầu cần thiết cho phát triển cơ giới hoá nông nghiệp, vì khi có việc làm phi nông nghiệp, người nông dân sẽ sắm máy móc
để nâng cao năng suất lao động nông nghiệp nhằm tiết kiệm thời gian dành cho hoạt động phi nông nghiệp hoặc sẵn sàng thuê máy móc làm một số khâu trong nông nghiệp nếu thu nhập tạo ra từ hoạt động phi nông nghiệp cao hơn Do đó, cơ giới hóa nông nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn có tác động hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển Vì vậy, để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì hướng quan trọng là phải bằng nhiều biện pháp phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp
b, Khái niệm về thất nghiệp
Theo bộ luật lao động sửa đổi và bổ sung của Việt Nam năm 2002 quy định:
“Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.” Thất nghiệp chỉ tình trạng không có việc làm mang lại thu nhập Một người được coi là thất nghiệp nếu người đó tạm thời nghỉ việc, đang tìm việc
hoặc đang đợi ngày bắt đầu làm việc (Quốc hội, 2012)
Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế thì thiếu việc làm tồn tại khi làm việc không đủ với tiêu chuẩn đặc trưng hoặc so với việc làm liên tục Người ta phân biệt hai loại thiếu việc làm là thiếu việc làm hữu hình và thiếu việc làm vô hình Thiếu việc làm hữu hình là người làm việc ít hơn tiêu chuẩn, đang tìm hoặc đang có việc làm phụ thêm Thiếu việc làm vô hình là có việc làm nhưng năng suất lao động thấp, khó xác định được hiệu quả, trình độ công việc như việc làm không phù hợp với khả năng và trình độ…
Trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cung cầu lao động được điều chỉnh và vận hành rất hiệu quả Tuy nhiên, trên thực tế ít xảy ra sự hoàn hảo trên thị trường Nếu có chăng chỉ là ở một thời điểm nào đó mà thôi Cái mà thị trường luôn
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
diễn ra là sự dao động, không hoàn hảo của nó Vì vậy, chắc chắn sẽ xảy ra tình trạng thất nghiệp Có thể khẳng định, thất nghiệp là một vấn đề chung và mang tính toàn cầu, thường xuyên xảy ra kể cả ở các nước công nghiệp phát triển Nó cũng xuất hiện ở các nước đang phát triển hoặc những nước phát triển với trình độ thấp Xét dưới góc độ vĩ mô, có hai loại thất nghiệp là thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chuyển tiếp
Tình trạng thất nghiệp cơ cấu xảy ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển vì nó gắn liền với những biến đổi về cơ cấu kinh tế trong điều kiện phát triển của khoa học và công nghệ mới Cách mạng khoa học - kỹ thuật và sự tiến bộ không ngừng của công nghệ mới đã và đang làm phức tạp thêm vấn đề thị trường lao động Bởi vì, máy móc đã và đang thay thế phần lớn những công việc nặng nhọc và cần nhiều sức lao động cơ bắp của con người, thay vào đó là sự chuyển dịch lao động sang những công việc trí óc hoặc những việc đòi hỏi sự khéo léo của con người
Sự xuất hiện của loại thất nghiệp cơ cấu cũng xuất hiện khi có sự ưu tiên phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn của chính phủ có thể dẫn đến sự giảm sút công nhân ở ngành này nhưng lại thu hút nhiều lao động ở những ngành khác Mặt khác, quá trình CNH, đô thị hoá và việc xây dựng các KCN, KCX sẽ đòi hỏi một bộ phận dân cư phải di chuyển đi nơi khác, hay một bộ phận nông dân bị mất đất canh tác dẫn đến một lực lượng lao động sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp không tự nguyện Đây chính là dạng thất nghiệp mang tính cơ cấu, là đặc trưng của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cùng với tình trạng thất nghiệp cơ cấu, gần đây đã xuất hiện nạn thất nghiệp chuyển tiếp ở những nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Không bàn luận về tính tự nhiên của quá trình chuyển tiếp, nhưng đối với những nước có dân số đông tất yếu sẽ diễn ra việc dư thừa lao động
và giải quyết nó không phải là dễ
Khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, điều đó có nghĩa là sự đóng góp của ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế lớn Thất nghiệp có thể sẽ tăng
do một bộ phận lao động không theo kịp với trình độ phát triển của ngành về kỹ
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
thuật, công nghệ trong điều kiện mới Có thể thấy một số đặc trưng chủ yếu của thị trường lao động nước ta trong quan hệ với tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu như sau:
- Thất nghiệp hữu hình tăng do người có sức lao động trong độ tuổi lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không được đáp ứng trên thị trường
- Thất nghiệp trá hình dưới nhiều hình thức, thể hiện ở những việc làm có năng suất lao động thấp, không góp phần hoặc tạo ra sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân rất nhỏ (không đáng kể) mà chỉ được tham gia vào quá trình phân phối lại thu nhập
- Thiếu việc làm trong khu vực nông thôn do sự mất cân đối nghiêm trọng giữa sự gia tăng nhanh của nguồn nhân lực với sự hạn hẹp của đất canh tác (bình quân đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm) và sự thiếu hụt của nguồn vốn
- Khả năng tạo ra cầu về lao động của các ngành công nghiệp còn yếu (trừ các vùng kinh tế trọng điểm, những vùng có mức thu hút đầu tư lớn), như vậy cung lao động luôn ở mức cao Đây là cơ sở dẫn đến vấn đề thất nghiệp
2.1.1.5 Khái niệm về giải quyết việc làm
“Giải quyết việc làm là nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động
đều có cơ hội có việc làm” (Quốc hội, 2012)
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu
Trong khái niệm trên, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được công ăn việc làm mới cho người lao động Ở đây là tạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao động mang tính chất là người lao động đang không có việc làm nay
có việc làm chứ không phải là người lao động đang đi làm có thêm được việc làm khác nữa Với khái niệm như vậy, theo cách hiểu trên thì giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của Nhà nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các doanh nghiệp
Ngoài ra, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất Ở đó thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của Nhà nước, thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc
mà người lao động có thể vận dụng sức lao động của mình mà sản xuất của cải cho xã hội
2.1.2 Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
2.1.2.1 Công tác đào tạo nghề
Thực tế cho thấy phần lớn lao động nông thôn có trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, sự hiểu biết vẫn còn rất hạn chế Do vậy, công tác giải quyết, tạo việc làm cho lao động nông thôn muốn đạt kết quả tốt thì một trong những vấn
đề cần đặc biệt quan tâm, giải quyết đó là công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn Việc tổ chức tốt các cơ sở đào tạo, quan tâm đầu tư thỏa đáng về trang thiết bị cũng như cho đội ngũ cán bộ đào tạo ở cơ sở, song song với nó là nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết giữa đào tạo với sử dụng lao động qua đào tạo với cơ sở
sử dụng lao động có ý nghĩa quan trọng giúp lao động nông thôn tìm kiếm, có việc làm phù hợp, ổn định
2.1.2.2 Thu hút đầu tư
Trong quá trình hội nhập, mở cửa, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài được coi là một trong những biện pháp khai thác ngoại lực nhằm thúc đẩy nội lực để phát triển kinh tế-xã hội Đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
trong chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài là nhiệm vụ có tính lâu dài, gắn liền với công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cũng như giải quyết được việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nông nghiệp bị thu hồi đất để giải quyết được vấn đề này thì chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ
để nhận được sự đầu tư từ các tổ chức kinh tế thế giới, từ các tập đoàn thì việc tạo môi trường pháp lý nhanh và đơn giản khi đầu tư tại tỉnh, chải thảm đỏ cho các
doanh nghiệp… Xây dựng các khu công nghiệp, cụm, điểm công nghiệp và xây
dựng chính sách cởi mở để thu hút các nhà đầu tư vào xây dựng các nhà máy, giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương Chính sách quy định, các nhà đầu tư vào Hưng yên không phải san lấp mặt bằng sản xuất (Ngân sách tỉnh đầu tư san lấp mặt bằng, đầu tư hệ thống điện, nước đến cổng rào của công ty), được thuê đất thời hạn đến 49 năm; 7 năm đầu được miễn hoàn toàn tiền thuê đất và được miễn 50% tiền thuê đất kể từ năm thứ 8 đến năm thứ 15 Được ưu tiên tuyển dụng lao động ở địa phương
2.1.2.3 Phát triển các làng nghề
Phát triển các làng nghề và ngành nghề nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cũng là thực hiện mục tiêu “ly nông bất ly hương” đang diễn ra mạnh mẽ tại các vùng nông thôn ở tỉnh Hưng Yên Phát triển làng nghề nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỉ trọng làng nghề TTCN trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn
Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
* Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội
- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CN-HĐH
- Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
- Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do
- Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa
- Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Về việc thực hiện chính sách vay vốn đi lao động nước ngoài ở địa phương quy định: người lao động có nhu cầu đi lao động nước ngoài sau khi đảm bảo các điều kiện về sức khoẻ, kiến thức, kỹ thuật theo yêu cầu ngành nghề của đối tác nước ngoài, được công ty đưa người đi lao động nước ngoài, cùng tổ chức chính trị
xã hội tín chấp bảo đảm thì người lao động được vay tối đa 30.000.000 đồng/lao động, lãi suất 0,65% /tháng, thời hạn vay bằng với thời gian lao động đi làm việc ở nước ngoài và trả lãi, gốc vay sau khi có thu nhập ở nước ngoài theo thoả thuận Số vốn được vay tuỳ thuộc vào thị trường lao động, ngành nghề mà người lao động sẽ đến và làm
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
Chính sách vay vốn học nghề: Chính sách về việc cho học sinh, sinh viên
vay vốn ưu đãi đi học nghề Chính sách quy định: Mỗi học sinh, sinh viên theo học
ở các trường Đại học, cao đẳng, THCN thuộc đối tượng con gia đình hộ nghèo được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi Được vay 8.000.000 đồng/01 năm học (4.000.000đồng/01 kỳ) Thời gian trả gốc vay sau khi sinh viên tốt nghiệp ra trường có việc làm và thời gian hoàn thành trả nợ gốc vay bằng với thời gian học sinh, sinh viên đó theo học tại các trường Năm 2011, Nhà nước lại có chính sách tạm thời không thu lãi suất tiền vay đối với học sinh, sinh viên con gia đình hộ nghèo vay để học nghề
2.1.2.5 Xuất khẩu lao động
xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện chương trình mục tiêu giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững; xuất khẩu lao động không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua trình
độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, tư duy kinh tế… Với vai trò là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo xuất khẩu lao động tỉnh, Sở LĐ - TB&XH kịp thời tham mưu các chính sách hỗ trợ lao động
đi xuất khẩu lao động phù hợp với từng giai đoạn cụ thể, coi đây là một kênh giải quyết việc làm có ý nghĩa chiến lược
Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động, các TTGTVL và các cơ quan ban ngành liên quan cần tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho người lao động về chính sách xuất khẩu lao động của tỉnh, làm rõ lợi ích của việc xuất khẩu lao động đối với vấn đề giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân Đồng thời, chuẩn bị đủ nguồn lao động đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu, đồng thời nguồn lao động cần có khả năng cạnh tranh với các địa phương khác để đẩy mạnh XKLĐ trong thời gian tới Tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp tham gia XKLĐ Cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho người lao
động và doanh nghiệp
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động thôn
a, Nhóm nhân tố về cung lao động
Các nhân tố ảnh hưởng tới cung lao động được xem xét ở hai khía cạnh: số lượng và chất lượng cung lao động
1- Nhân tố ảnh hưởng đến số lượng cung lao động gồm:
Dân số: Quy mô lực lượng lao động của mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô dân số của mỗi quốc gia đó Quy mô dân số càng lớn sẽ tạo ra nguồn nhân lực sẵn sàng cung cấp sức lao động cho xã hội Tốc độ tăng dân số quyết định quy mô dân
số, và quyết định quy mô nguồn lao động sau khoảng thời gian 15 năm sau Tốc độ tăng dân số lại được quyết định bởi tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (tỷ lệ sinh so với tỷ lệ chết) và di dân thuần túy
Quy định giới hạn dưới của độ tuổi lao động cũng tác động đến quy mô lực lượng lao động tiềm năng của quốc gia (số người đủ tuổi lao động trở lên sẽ phụ thuộc vào quy định giới hạn này) Nâng cao hay hạ thấp giới hạn này sẽ tạo nên lực lượng lao động tiềm năng giảm đi hay tăng lên Mặt khác cơ cấu dân số trẻ hay già
sẽ cho ta đội ngũ lao động đủ tuổi lao động trở lên ít hay nhiều Điều đó quyết định cung lao động nhỏ hay lớn
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: Rõ ràng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quyết định cung lao động về số lượng Tạo việc làm càng nhiều và thu hút nguồn nhân lực càng lớn tức là làm cho tỷ lệ tham gia LLLĐ càng gần tới 100% chính là tạo ra cung lao động càng lớn Tuy nhiên, phần lớn những người có việc làm (làm công việc được trả tiền công) đều được tính trong LLLĐ mà không cần biết họ làm việc bao nhiêu giờ trong ngày hoặc trong năm
Thời gian làm việc của những người lao động khác nhau có thể không giống nhau,
vì thế cung về số lượng lao động và cung thời gian lao động là có thể khác nhau Quy mô của LLLĐ chưa nói lên được mức độ tham gia và cường độ lao động Sự thay đổi tỷ lệ tham gia LLLĐ do nhiều yếu tố chi phối, trong đó có thể kể đến các yếu tố làm tăng và yếu tố làm giảm Những yếu tố làm tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động gồm: tăng lương và thu nhập thực tế trên thị trường, sự thay đổi sở thích, hành vi, nghề nghiệp và hoàn cảnh gia đình, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ trong công việc nội trợ làm giảm thời gian làm việc nhà, tạo điều kiện tham gia thị trường lao động nhiều hơn nhất là phụ nữ,
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
xã hội phát triển nhiều ngành nghề mới xuất hiện, khủng hoảng kinh tế làm cho người lao động chính trong gia đình bị mất việc và các thành viên khác trong gia đình tích cực tìm việc làm, các chương trình phúc lợi của nhà nước (Nguyễn Trần Dương, 2006) 2- Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cung lao động bao gồm:
Chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực: Quan điểm chiến lược phát triển con người và nguồn nhân lực trong từng giai đoạn lịch sử có tác động rất lớn đến chất lượng của nguồn nhân lực Nhà nước có quan tâm, chăm lo xây dựng và phát triển con người và nguồn nhân lực thể hiện qua chiến lược phát triển con người
và nhân lực nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài thông qua hệ thống pháp luật bảo
vệ các quyền cơ bản của con người như Luật Giáo dục, Luật Lao động và các chế
độ chính sách như chính sách phát triển kinh tế, giáo dục, tiền lương
Hệ thống giáo dục đào tạo: Hệ thống giáo dục từ các cấp mầm non cho đến đại học, đào tạo nghề là nhân tố quyết định đến chất lượng cung lao động Hệ thống được phân ban hợp lý, chương trình giáo dục đào tạo được xây dựng khoa học, phương pháp hiện đại và phù hợp, đội ngũ giáo viên có chất lượng, cơ sở vật chất đầy đủ đều tác động đến trình độ học vấn, chuyên môn của người lao động hay tác động đến cung lao động
Điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, trong nền kinh tế thị trường về nguyên tắc mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, theo đó những ngành nào cho lợi nhuận cao, tạo được nhiều việc làm và thu hút được nhiều lao động, ngược lại những ngành có lợi nhuận thấp, số việc làm được tạo ra sẽ ít đi
và số lao động làm việc trong các ngành này sẽ giảm nhiều Do vậy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường sẽ có sự di chuyển lao động từ ngành này sang ngành khác và cung lao động cho ngành có lợi nhuận và thu nhập cao sẽ tăng lên
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nguy cơ và thách thức lớn đối với tình trạng việc làm của các nước trên thế giới Số lượng việc làm ở khu vực, quốc gia này có thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực, quốc gia khác, một số việc làm truyền thống sẽ mất đi và một số việc làm mới lại xuất hiện cụ thể là: Dòng vốn di chuyển giữa các khu vực và quốc gia, khu vực và quốc gia nào thu hút được nhiều vốn thì sẽ tạo được việc làm nhiều hơn và ngược lại
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
Dòng lao động di chuyển giữa các quốc gia dẫn tới một số quốc gia có giá nhân công rẻ, chất lượng nhân công cao sẽ xuất khẩu lao động ra nước ngoài và đây cũng là một biện pháp giải quyết việc làm hiệu quả Đối với Việt Nam là một nước đông dân, thu nhập trung bình thấp, khả năng tạo việc làm có hạn, xuất khẩu lao động là một hướng đi quan trọng để giải quyết việc làm
Ngoài ra quá trình hội nhập còn tác động đến đào tạo quốc tế, tác động tích cực đến chất lượng cung lao động, giúp cho nguồn nhân lực nâng cao tri thức, học tập và tiếp thu khoa học công nghệ, trình độ quản lý của nước khác
b, Nhóm nhân tố thuộc về cầu việc làm
Trong nền kinh tế thị trường, có hàng loạt yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động như tài nguyên thiên nhiên, tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế, khả năng phát triển của doanh nghiệp, sự thay đổi mức lương Đặc biệt, cầu lao động phụ thuộc vào mức cầu của hàng hóa do lao động sản xuất ra và giá cả của hàng hóa đó trên thị trường
+ Khí hậu thời tiết:
Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu Hàng năm chúng ta phải hứng chịu hậu quả của sự biến đổi khí hậu ảnh hưởng trên tất cả các lĩnh vực Biến đổi khí hậu ngày càng tác động xấu đến nền kinh tế Việt Nam đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Các hiện tượng thời tiết như mưa, bão gây ra ngập lụt làm thiệt hại tới sản lượng của các cây cây lương thực Ngoài ra, nước biển dâng cao cũng làm mặn xâm nhập sâu hơn vào nội địa Bên cạnh đó, hạn hán cũng là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại cho nông nghiệp Các yếu
tố khí hậu biến đổi cũng gây ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi và đánh bắt thủy sản Biến đổi khí hậu đang ngày càng tác động đến các hệ sinh thái biển, làm giảm nguồn lợi hải sản ven bờ Suy thoái môi trường nước cùng sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu đã dẫn đến bùng phát nhiều dịch bệnh thủy sản nguy hiểm Điều đó làm ảnh hưởng tới việc làm cũng như thu nhập của từng hộ nông dân, dẫn đến LĐNT đang ở mức dư thừa nay lại càng thêm phức tạp, do vậy bài toán để GQVL cho LĐNT như thế nào là một câu hỏi cần chúng ta tìm lời giải đáp