1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh

135 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện cả nước có khoảng 1,33 triệu hộ phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, thu từ các ngành nghề này cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân được cải thiện r

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THẮM

GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG HỘ

CÓ PHỤ NỮ LÀ CHỦ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS CHU THỊ KIM LOAN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô khoa Kế toán & Quản trị kinh doanh

đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa, đồng thời tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Chu Thị Kim Loan đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ quản lý cùng các bộ phận khác, các đồng nghiệp tại UBND huyện Lương Tài đã ủng độ, tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quán trình thu thập thông tin, dành thời gian đóng góp ý kiến và tham gia khảo sát phiếu điều tra giúp tôi có dữ liệu để hoàn thiện luận văn

Trân trọng

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắm

Trang 5

MỤC LỤC

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG THU NHẬP CHO

2.1.3 Quan điểm tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ 11 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ có chủ là nữ 14

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 47

4.1 Thực trạng thu nhập của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn

4.1.1 Đặc điểm cơ bản của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 52 4.1.2 Hình thức tổ chức hoạt động sản xuất của các nông hộ điều tra 55 4.1.3 Tổng thu của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 56 4.1.4 Chi phí cho sản xuất kinh doanh của nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ 59

4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 69

4.3 Một số giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là của hộ trên

4.3.1 Định hướng nâng cao thu nhập cho nông hộ ở huyện Lương Tài 86 4.3.2 Một số giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 89

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

2.1 Thu nhập của người dân nông thôn Trung Quốc từ các nguồn khác

2.2 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn 25 2.3 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu nông thôn chia theo 5

3.1 Tình hình đất đai của huyện Lương Tài 2012-2014 37 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2010 - 2014 38 3.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua các năm 2012-2014 40 3.4 Dân số và lao động huyện Lương Tài giai đoạn 2012 - 2014 44 3.5 Nguồn và nội dung thu thập thông tin thứ cấp 48

4.1 Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra là nữ giới 52 4.2 Thông tin cơ bản về nông hộ có chủ hộ là nữ 54

4.4 Chi phí sản xuất bình quân 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ 60 4.5 Thu nhập bình quân 1 nông hộ qua điều tra 62 4.6 Thu nhập bình quân 1 lao động trong hộ qua điều tra 68 4.7 Tình hình đất đai của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 70 4.8 Thực trạng về lao động và nhân khẩu của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 72 4.9 Vốn sản xuất BQ 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ qua điều tra 74 4.10 Giá trị máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất của hộ điều tra 76

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Cơ cấu nguồn thu nhập của các nông hộ có phụ nữ là chủ hộ 66 4.2 Thu nhập bình quân trên nhân khẩu hộ một tháng 66

4.4 Lượng mưa năm 2014 trên địa bàn huyện Lương Tài 82

Trang 9

CN - TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

CN& XDCB : Công nghiệp và xây dựng cơ bản

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 10

SXKD : Sản xuất kinh doanh

SXNN : Sản xuất nông nghiệp

TAGSGC : Thức ăn gia súc gia cầm

TM – DV : Thương mại - dịch vụ

VAC : Mô hình sản xuất Vườn - Ao - Chuồng

VietGap : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (viết tắt của

cụm từ Vietnamese Good Agricultural Practices)

Trang 11

I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta có khoảng 80% dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn thì phụ nữ chiếm tới 51,34%, trong sản xuất nông nghiệp lao động chiếm 72% Với truyền thống cần cù, chịu khó, nỗ lực vươn lên, phụ nữ đã tích cực học tập, ứng dụng tiến

bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, chăn nuôi Phụ nữ cũng là một lực lượng đông đảo tham gia thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi mang lại năng suất, chất lượng Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã xuất hiện nhiều điển hình phụ nữ làm kinh tế giỏi Người phụ nữ đang ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong việc phát triển kinh tế gia đình và đẩy mạnh hoạt động xã hội Phụ

nữ chính là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình Theo kết quả của một số nghiên cứu, hiện nay trên thế giới, 1/4 số hộ gia đình do nữ làm chủ hộ

và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ (Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003) Tuy nhiên thực tế hiện nay ở nông thôn vẫn còn số lượng không nhỏ phụ nữ làm chủ hộ gia đình đang sống trong cảnh nghèo đói Một trong những nguyên nhân sâu xa là do họ phải lo toan nhiều hơn cho thu nhập và cuộc sống gia đình, ít thời gian để giao tiếp và tham gia hội họp cồng đồng, ít tiếp cận thông tin để nâng cao hiểu biết, Họ còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình thi đua thực hiện phong trào Xây dựng Nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Do đó, nâng cao thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ là vấn đề quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Lương Tài là một huyện nằm ở cuối tỉnh Bắc Ninh, giáp với tỉnh Hải Dương nên không có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế Ở đây sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo trong chiến lược phát triển kinh tế của huyện Theo kết quả tổng điều tra dân số huyện năm 2014, phụ nữ chiếm 46% lực lượng lao động ở huyện Trong khu vực nông thôn lao động nữ làm nông nghiệp chiếm 68% lực lượng lao động nữ; trong đó lao động nữ làm chủ hộ chiếm 18,2% Họ giữ vai trò chính trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản Do vậy, muốn phát triển nông nghiệp để nâng cao thu nhập

Trang 12

cho nông hộ có chủ là nữ thì bằng mọi giá phải nâng cao giá trị thu hoạch và thu nhập ròng trên một ha đất nông nghiệp lên gấp nhiều lần Nhưng thực hiện điều này như thế nào vẫn là câu hỏi quan trọng cần được giải đáp? Song để nâng cao thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ không chỉ dựa vào nông nghiệp mà thêm vào đó, nên dựa vào hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp như chế biến nông sản, sản xuất công cụ phục vị cho nông nghiệp, kinh doanh vật tư nông nghiệp, Hiện cả nước

có khoảng 1,33 triệu hộ phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, thu từ các ngành nghề này cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ (Lê Đình Thắng, 1993)

Thực tế cho thấy, phụ nữ nói chung, phụ nữ làm chủ hộ nói riêng trên địa bàn huyện có một ưu điểm nổi bật là khéo léo, tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người nhưng hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ là trình độ học vấn thấp, không được tiếp xúc với những kỹ thuật tiến bộ Vài năm trở lại đây, nhiều cơ chế chính sách được mở rộng, nhiều chương trình dự án được phát triển trên địa bàn huyện như: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất trũng, quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, kiên cố hóa kênh mương, phối hợp tổ chức kinh tế - xã hội trong hoạt động khuyến nông, khuyến khích đầu tư phát triển nhiều doanh nghiệp tư nhân,… Nhưng do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, thu nhập bình quân đầu người một năm của nông hộ có phụ

nữ là chủ còn thấp, chỉ có 14,7 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo trong các nông hộ có chủ là

nữ là 15,8%, tỷ lệ thiếu việc làm cao (Nguyễn Ngọc Vinh, 2004).

Xuất phát từ các lý do trên, tác giả xin chọn " Giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh " làm

đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng thu nhập của nông hộ có chủ là nữ, để tìm ra những yếu

tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thu nhập của nông hộ có chủ là nữ, từ đó đề

Trang 13

xuất một số giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tăng thu

nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ

Thứ hai, đánh giá thực trạng thu nhập của nông hộ có có phụ nữ là chủ hộ

trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây; phát hiện những nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh

Thứ ba, đưa ra một số giải pháp chủ yếu để tăng thu nhập cho nông hộ có

phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn nghiên cứu trong những năm tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu nhóm phụ nữ làm chủ hộ trong các hộ gia đình nông thôn ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi về nội dung:

Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số nội dung cụ thể sau: Tổ chức hoạt động sản xuất; thu nhập và đời sống; những yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng thu nhập

cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 1.3.2.2 Phạm vi về không gian:

Nghiên cứu được thực hiện tại Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

1.3.2.3 Phạm vi về thời gian

+ Về thời gian thu thập số liệu:

Số liệu thứ cấp: Thu thập trong 3 năm 2012– 2014

Số liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế năm 2014

+ Thời gian thực hiện đề tài: 12 tháng, bắt đầu từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015

Trang 14

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG THU NHẬP

CHO NÔNG HỘ CÓ PHỤ NỮ LÀ CHỦ HỘ

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về nông hộ

Nông hộ (hộ nông dân) là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ và ngoài nông hộ Thu từ sản xuất trong nông hộ bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ bao gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu,

Theo Ellis (1988) định nghĩa "Nông hộ (hộ nông dân) là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao"

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà

khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" (Lê Đình Thắng,1993)

Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001) trong phân tích điều tra nông

thôn năm 2001 cho rằng: "Nông hộ (hộ nông nghiệp) là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về nông hộ của các tác giả và theo nhận thức của cá nhân tôi, tôi cho rằng:

- Nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, các nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như

Trang 15

tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, ) ở các mức độ khác nhau

- Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, nông hộ không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh

tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay

2.1.1.2 Khái niệm về chủ hộ

Theo khoản 1 Điều 107 BLDS: “Chủ hộ là đại diện của HGĐ trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã

thành niên có thể là chủ hộ”

Khái niệm “chủ hộ gia đình” gọi tắt là “chủ hộ” dùng để chỉ vị thế, vị trí

trung tâm, chủ đạo trong cơ cấu hộ gia đình với những vai trò tương ứng của nó ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò và vị thế của các thành viên trong hộ Vai trò của chủ hộ là tổ chức, chỉ huy sản xuất kinh tế và đời sống của các thành viên trong

hộ Chủ hộ là người đóng vai trò chính trong việc ra quyết định về mọi lĩnh vực của các thành viên trong hộ và đảm bảo thu nhập kinh tế và tăng thu nhập kinh tế của hộ Chủ hộ là người được các thành viên trong hộ thừa nhận và suy tôn như là người đứng đầu, trụ cột của hộ mà lợi ích kinh tế xã hội của các thành viên đó phụ thuộc vào Họ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ

Cần phân biệt khái niệm chủ hộ khẩu và khái niệm chủ gia đình Trong thực tế người đứng tên chủ hộ khẩu có thể không phải là người chủ gia đình Trong quan niệm truyền thống, chủ gia đình thường là người đàn ông mặc dù rất

có thể không đứng tên là chủ hộ (khẩu) trong các văn bản giấy tờ chính thức như

sổ hộ khẩu Mỗi hộ gia đình cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy

Trang 16

định về đăng ký, quản lý cư trú Trường hợp không có người từ đủ mười tám tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ

2.1.1.3 Khái niệm chủ hộ là nữ

Theo quan điểm của nghiên cứu này, chủ hộ là nữ là những người phụ nữ

đủ 18 tuổi trở lên, trực tiếp tổ chức, chỉ huy sản xuất kinh tế và đời sống của các thành viên trong hộ Các nữ chủ hộ này là người đóng vai trò chính trong việc ra quyết định về mọi lĩnh vực của các thành viên trong hộ và đảm bảo thu nhập kinh tế

và tăng thu nhập kinh tế của hộ Đồng thời là người được các thành viên trong hộ thừa nhận và suy tôn như là người đứng đầu, trụ cột của hộ mà lợi ích kinh tế xã hội của các thành viên đó phụ thuộc vào Họ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ

2.1.1.4 Khái niệm về nông hộ có chủ là nữ

Rút ra từ các quan điểm trên, áp dụng đối với trường hợp nông hộ có chủ là

nữ, có thể nói, nông hộ có chủ là phụ nữ mang đầy đủ các đặc điểm của hai khái

niệm "nông hộ" và "chủ hộ" Tuy nhiên, có sự khác biệt đó là chủ hộ được đề cập

đến ở đây là người phụ nữ nông thôn Như vậy, có thể nói nông hộ có chủ là phụ nữ

là những hộ có chủ là nữ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, họ tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, hay nói cách khác, là những hộ có chủ là nữ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của

hộ dựa vào nông nghiệp Trong đó, người phụ nữ chính là người chủ trong gia đình,

có vai trò chính trong việc tổ chức, chỉ huy sản xuất kinh tế và đời sống, ra quyết định về mọi lĩnh vực của các thành viên trong hộ và đảm bảo thu nhập kinh tế và tăng thu nhập kinh tế của hộ

Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong quản lý hộ

và việc điều hành sản xuất nhưng do phong tục tập quán, quan niệm và do nhận

Trang 17

thức của người dân nên việc ra quyết định cuối cùng trong gia đình chủ yếu là người chồng Vấn đề này phổ biến trong các hộ gia đình nông thôn Dẫn đến tỷ lệ phụ nữ tham gia điều hành sản xuất cũng như làm chủ hộ còn thấp mặc dù vai trò và công sức họ bỏ ra là rất lớn Ở nông thôn Việt Nam hiện nay, thông thường những nông hộ do phụ nữ là chủ thường là các gia đình có đặc điểm sau:

+ Phụ nữ đơn thân;

+ Phụ nữ có chồng nhưng chồng ốm đau, bệnh tật mà phụ nữ là lao động chính; + Phụ nữ đơn thân nuôi con một mình

2.1.1.4 Khái niệm về thu nhập nông hộ

Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống Chính vì vậy, khi nghiên cứu về hộ nông dân nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm đến thu nhập của nông dân Song do được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập hộ nông dân được nhìn nhận và khái niệm cũng khác nhau

Quan điểm của Chayanov về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện

không tồn tại thị trường sức lao động (Đỗ Văn Viện, Đặng Văn Tiến, 2000): Theo

ông thu nhập hộ nông dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong nông hộ không chỉ có tiền lãi kinh doanh mà còn bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy, thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất

Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện có tồn tại thị trường sức lao động (Đỗ Văn Viện, Đặng Văn Tiến, 2000): Theo các ông trong điều kiện tồn tại thị trường sức lao động thì thời gian lao động được phân chia thành thời gian lao động nghỉ ngơi, thời gian lao động làm việc nhà, thời gian làm sản xuất nông nghiệp và thời gian làm việc có tiền công (bao gồm lao động thuê ngoài và lao động đi làm thuê) Từ đó các ông khái niệm thu nhập hộ nông dân như sau: Thu nhập của nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi trừ đi các phần: Phần sản phẩm hộ đã tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng giá trị tiền lao động đi làm thuê Song ở đây các ông lại tính giá tiền công giống nhau, điều này không đúng Sau đó khái niệm

Trang 18

này được Allanlow nghiên cứu và bổ sung thêm với điều kiện tiền công là khác nhau cho các loại lao động, giá cả các sản phẩm cũng khác nhau

Quan điểm của một số nhà nghiên cứu của Việt Nam, khái niệm này còn đa dạng và phong phú nhiều Có người lấy giá trị sản phẩm hàng hoá để đánh giá thu nhập của hộ nông dân Đứng trên góc độ khác có người lấy chỉ tiêu tổng giá trị trên một ha diện tích để phân tích đánh giá thu nhập của nông hộ (Nguyễn Văn Cúc, Minh Hoài, 2003) Một số khác lại cho rằng thu nhập của hộ là tổng giá trị sản phẩm từ nông nghiệp, ngành nghề, chăn nuôi, thuỷ sản Song để đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về nông hộ nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá thu nhập của nông dân Thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định ) (Nguyễn Đình Hương, 2000) Như vậy, trong phần thu nhập của nông hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lói kinh doanh

Rút ra từ các quan điểm trên Đỗ Kim Chung đưa ra quan điểm về thu nhập của nông hộ như sau (dẫn theo Đỗ Kim Chung, 1997): Vẫn là thu nhập hỗn hợp song phần chi phí mà hộ tự sản xuất ra không qua trao đổi trên thị trường là khó hạch toán cho nên thu nhập của hộ nông dân vẫn bao gồm cả phần chi phí này Ngoài thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ thì nguồn thu từ các hoạt động ngoài nông hộ chiếm tỷ lệ không nhỏ

Xuất phát từ những quan điểm trên và đặc trưng về hộ nông dân ở Việt Nam Tác giả tổng quát về khái niệm thu nhập của hộ nông dân như sau:

+ Thu nhập của hộ nông dân bao gồm các khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông hộ, tiền công lao động gia đình (chủ hộ và các thành viên), bao gồm các khoản được trao đổi hay không được trao đổi trên thị trường

+ Ngoài nguồn thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, nông hộ có thể có thu nhập từ những công việc khác như đi làm thuê, thu từ tài sản bất động sản, tiền lương hưu, từ việc chuyển nhượng tài sản khác như quà biếu, tiền gửi

Nhìn chung, có thể nói rằng hộ nông dân có thu nhập là từ các hoạt động sản

Trang 19

xuất kinh doanh khác nhau như thu nhập theo sản xuất mùa vụ, từ sản xuất nông nghiệp khác, từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp và nguồn ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh Riêng thu nhập mùa vụ vẫn quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của hầu hết các hộ nông dân Thu nhập mùa vụ là tổng thu nhập từ các sản phẩm được sản xuất theo mùa vụ như thóc, ngô, rau

Như vậy, nếu so sánh với hoạt động sản xuất tư nhân thì thu nhập của hoạt động sản xuất tư nhân là phần thưởng cho người chủ các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hoá và dịch vụ Còn đối với nông hộ, thu nhập là phần thưởng chung cho cả chủ hộ và các thành viên trong nông hộ Nguồn thu nhập này không phân chia cho các thành viên mà để làm ngân quỹ chung cho nông hộ Ngân quỹ này được dùng vào hai mục đích đó là chi tiêu và tích luỹ

2.1.2 Cách tính thu nhập của nông hộ

Do nông hộ là thành phần kinh tế đặc biệt Nông hộ có thể tham gia nhiều hoạt động sản xuất khác nhau song các hoạt động sản xuất của nông hộ hầu hết có quan hệ mật thiết với nhau nên việc hạch toán riêng từng ngành không thể chính xác Đất đai

và lao động gia đình là yếu tố cơ bản giúp nông hộ thực hiện quá trình sản xuất Do

đó, không phải mọi chi phí sản xuất có thể tính theo giá thị trường Chính vì vậy, việc hạch toán thu nhập cho hộ nông dân không giống các thành phần kinh tế khác, không tính theo công thức C + V + m mà được cụ thể như sau (Đỗ Kim Chung, 1997):

a Nội dung và phương pháp tính thu nhập cho nông hộ

Nội dung: Tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt động sản xuất khác

nhau trong nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác tạo ra Một số khác lại cho rằng việc kiếm được từ các công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương hưu, trợ cấp v.v cũng làm tăng nguồn thu cho hộ Như vậy, tổng thu của hộ có được từ 3 nguồn chính là thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp và thu nhập từ các khoản thu nhập khác

❖Phương pháp tính tổng thu nhập của hộ nông dân

Thu từ sản xuất nông nghiệp = ∑ Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán Thu từ chăn nuôi = ∑Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán

Thu từ hoạt động phi nông nghiệp = ∑ Số lượng hàng hoá x giá bán

Trang 20

Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm

b Nội dung và cách tính chi phí

Nội dung: Chi phí sản xuất thể hiện bằng tiền hoặc hiện vật các yếu tố

sản xuất được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất Thực chất, chi phí sản xuất bao gồm chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần phải chi khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với thời kỳ một năm Trong đó:

Phần không phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ giữ lại hay hộ tự có và

đưa vào quá trình sản xuất bao gồm công lao động gia đình, vật tư tự sản xuất, lãi suất của phần vốn tự có, sản phẩm tiêu dùng trong nông hộ, khấu hao tài sản cố định

Phần phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ phải bỏ ra để chi trả vào

quá trình sản xuất như tiền mua sắm máy móc, mua sắm vật tư, tiền thuê lao động, tiền trả lãi tiền vay, tiền đóng thuế

Việc phân biệt 2 loại chi phí này rất quan trọng bởi phần chi phí tự sản xuất chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí Song nó khó hạch toán một cách chính xác vì toàn bộ chi phí này không thể tính theo giá thị trường

Nếu theo lý thuyết kinh tế, dựa trên cách mà các chi phí tiến triển theo số lượng sản phẩm thì tổng chi phí sản xuất được chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi

Phương pháp tính chi phí

Tổng chi phí SX = CP biến đổi + CP cố định + CP chung khác

Trong đó:

Chi phí biến đổi bằng tổng các chi phí như chi phí vật tư, chi phí thuê lao

động và chi phí cơ hội Chi phí vật tư là số tiền thực tế để mua vật tư cho từng loại sản phẩm Chi phí vật tư bằng số lượng các loại vật tư được nông hộ dùng cho sản xuất nhân với giá thị trường của các loại vật tư đó Chi phí thuê lao động là

số tiền thực tế trả cho người làm thuê có thể là thuê thường xuyên có thể là thuê thời vụ, thuê theo công việc Chi phí cơ hội bằng tổng chi phí khả biến của từng ngành nhân với 1/2 thời gian thực hiện chu kỳ sản xuất nhân với lãi suất tính theo tháng của ngân hàng Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà chi phí khả biến

Trang 21

không liên tục vì vậy khi tính chi phí cơ hội thường chỉ tính cho một nửa thời gian thực hiện chu kỳ sản xuất Chi phí này được tính riêng cho từng loại sản phẩm, từng ngành sản xuất (Nguyễn Sinh Cúc, 2003).

Chi phí cố định bao gồm khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), thuế phải trả

Khấu hao tài sản cố định chính bằng nguyên giá của TSCĐ chia cho số năm có thể sử dụng cộng với phần chi phí sửa chữa lớn TSCĐ trong một năm điều tra Thuế là toàn bộ số tiền chi thực tế của nông hộ, nó có thể được tính theo tháng hay theo vụ Chi phí này được tính chung cho mọi hoạt động của nông hộ

Chi phí chung khác là toàn bộ khoản chi bằng tiền của nông hộ trong suốt

một năm Trong đó, trả lãi suất tiền vay được tính như sau: Trả lãi suất tiền vay bằng tổng số tiền vay từng nguồn nhân lãi suất/tháng (năm) của từng nguồn vay nhân số tháng (năm) vay Chi phí này cũng được tính chung cho mọi hoạt động

c Nội dung và phương pháp tính thu nhập

Nội dung: Thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi đã trừ hết

chi phí sản xuất Như vậy, thu nhập của hộ nông dân bao gồm lợi nhuận kinh doanh, tiền công của chủ hộ và các thành viên trong hộ, và các khoản thu nhập ngoài nông hộ Một phần thu nhập sẽ được sử dụng vào chi tiêu đời sống, sinh hoạt, một phần dùng để đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm

Phương pháp tính thu nhập

TN của hộ = Tổng thu của hộ - Tổng chi phí SX

Tổng TN của hộ = TN từ HĐSXNN + TN từ phi NN + TN khác

2.1.3 Quan điểm tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ

Nông hộ có chủ là nữ muốn nâng cao thu nhập theo hướng phát triển nông nghiệp hay chuyển sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp thì trước hết đều phải nâng cao trình độ cho bản thân chủ hộ Trình độ của chủ hộ bao gồm trình độ học vấn

và kỹ năng lao động Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỳ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài

ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh

Trang 22

Ở mỗi góc độ có quan điểm về tăng thu nhập cho nông hộ là khác nhau Cụ thể:

a Quan điểm phát triển nông nghiệp: Mở rộng diện tích đất canh tác và nâng cao doanh thu thu nhập ròng trên 1 đơn vị diện tích nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu trong hoạt động sản xuất nói chung và nông hộ nói riêng Để hộ nông dân mở rộng qui mô kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập trước hết phải dựa vào đất, nhất là những nơi tiềm năng để mở rộng diện tích đất đai còn nhiều trong đó đáng chú ý là trung du, miền núi và ven biển Song với điều kiện đất ít, người đông muốn nâng cao thu nhập các nông hộ phải bằng mọi cách nâng cao giá trị thu hoạch và thu nhập ròng trên 1 ha đất nông nghiệp lên gấp nhiều lần Để đạt được điều này, đối với nền nông nghiệp Việt Nam chỉ có thể là sản xuất vừa chuyên môn hoá, vừa đa dạng hóa, áp dụng công nghệ cao Như Donal Taylor khẳng định “Để tối đa hiệu quả sử dụng nguồn lực các nông

hộ phải cân đối giữa 2 hình thức chuyên môn hoá và đa dạng hoá Chuyên môn hoá

để giảm chi phí bằng khấu hao tài sản cố định và đa dạng hoá để giảm thiểu rủi ro

và không đánh mất cơ hội kiếm thêm nguồn thu nhập”( Lê Trọng, 1994). Như vậy,

hộ sản xuất nhiều sản phẩm song phải lựa chọn được đâu là sản phẩm chính có lợi thế nhất và đâu là sản phẩm phụ Mặt khác, việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến như tạo ra giống mới đối với cây trồng vật nuôi ngắn ngày có năng suất cao, kỹ thuật canh tác đất, tăng sự quay vòng của đất, nâng cao năng suất lao động cũng góp phần làm tăng thêm khối lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất đai với giá thành hạ, chất lượng cao Có thể nhìn nhận điều này qua phong trào thi đua sản xuất “cánh đồng 50 tr.đ/1ha” năm 2003, cho thấy nhiều nông hộ đã áp dụng cơ cấu sản xuất tổng hợp đạt hiệu quả cao như: huyện Yên Phong - Bắc Ninh, hiệu quả kinh tế của kiểu chuyên cá đạt giá trị sản xuất là 99,97 triệu đồng/ha, xét về thu nhập hỗn hợp trên một công lao động là 168.500 đồng/công(năm 2008) nhờ thực hiện đa canh phù hợp; mô hình HTX Yên Phong áp dụng công thức luân canh “Cà chua + rau đậu + dưa chuột”; " hành+ cà chua+ su hào"cho doanh số 137tr.đ/1ha - năm; Mô hình chuyển giao những giống đậu tương mới: ĐT 96, ĐT 84, ĐT12 với công thức luân canh: lúa xuân - đậu tương hè thu - ngô nếp - rau muộn ở An Thịnh;

Mô hình thâm canh dưa các loại: Dưa hấu Hắc Mỹ nhân 308, 508; An Tiêm 101, 102; An Tiêm 95, DV 6868; Dưa chuột dùng cho chế biến xuất khẩu: Đài Loan số

Trang 23

266, ĐV-027 Với công nghệ che phủ nilon và kỹ thuật làm giàn trong cơ cấu : Lúa xuân - dưa hấu - rau vụ đông; lúa xuân - lúa mùa sớm - dưa ở Thị trấn Thứa, Tân Lãng đã cho thu nhập 100 - 120 triệu đồng/ha/năm.Trung Kênh đã cho thu nhập trên 90 triệu đồng/ha/năm Nhiều hộ nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long

áp dụng công thức luân canh “Nuôi tôm càng xanh (hè thu) + lúa đông xuân” cho doanh số 70tr.đ/ha/năm (Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích Hợp, 2004) Các mô hình này khẳng định nếu lựa chọn cây trồng vật nuôi phù hợp vùng đất và nhu cầu thị trường, có giá trị kinh tế cao, áp dụng phương thức sản xuất tiên tiến đều có thể đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích

b Quan điểm phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm góp phần tăng thu nhập cho nông hộ

Quan điểm này cho thấy đến một lúc nào đó phần của dân số phục vụ cho việc ăn uống tăng lên không phải trong khu vực nông nghiệp mà trong khu vực phi nông nghiệp như các sản phẩm được chế biến Do đó, giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến hay các ngành nghề khác sẽ tăng lên và vượt giá trị nông nghiệp khi đó để đáp ứng nhu cầu đồng thời với lợi ích kinh tế một số nông hộ sẽ chuyển sang sản xuất ngành nghề phi nông nhiệp Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp còn góp phần tạo khả năng nâng cao qui mô đất nông nghiệp của các nông

hộ lên mức cần thiết, giải quyết vấn đề thiếu việc làm nghiêm trọng trong nông thôn Thực tế ở Việt Nam cho thấy với mức bình quân ruộng đất chung của cả nước thấp: 0,8 ha/hộ nông dân Nếu như phấn đấu đạt doanh số 50 tr.đ/1ha, mỗi hộ 1 năm chỉ thu được từ nông nghiệp 40 tr.đ doanh số, trừ chi phí vật chất (50%) thu nhập ròng chỉ còn 20 tr.đ/hộ 1 năm ước đạt 333.000tr.đ/người/tháng, như vậy, nông thôn Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nghèo đói(Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích Hợp, 2004) Vì thế, muốn tăng thu nhập cho hộ nông dân không thể chỉ phát triển nông nghiệp mà còn phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và kinh doanh buôn bán - dịch vụ nông thôn

Tuy nhiên, hộ nông dân muốn nâng cao thu nhập theo hướng phát triển nông nghiệp hay chuyển sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp điều cần thiết là làm gì

để tăng được giá trị sản phẩm thu được và giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm hay tăng giá trị sản phẩm sao cho tốc độ tăng giá trị sản phẩm lớn hơn tốc độ

Trang 24

tăng của chi phí Như vậy, đòi hỏi người nông dân phải tự hạch toán kinh tế cho mình Khi đó họ sẽ lựa chọn sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? để có hiệu quả nhất

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ có chủ là nữ

2.1.4.1 Các yếu tố thuộc về nông hộ

a Ảnh hưởng của quy mô, chất lượng đất đai đến thu nhập

Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản xuất

mà hộ khai thác được Nếu hộ nào có điều kiện sản xuất trên quy mô rộng thì việc tăng quy mô diện tích sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, trang trại Ngược lại nếu hộ nào không có đủ điều kiện, không có khả năng sản xuất kinh doanh thì quy mô diện tích rộng sẽ không những không làm tăng thu nhập mà còn làm tăng chi phí, lãng phí đất đai, lãng phí sức lao động

Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ màu mỡ của đất Độ phì, độ mầu mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển Chất lượng của đất còn quy định lợi thế của từng vùng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm Chất lượng đất không những làm tăng khối lượng của sản phẩm mà còn làm giảm được chi phí sản xuất Thực tế cho thấy, ở cùng một diện tích giống nhau, muốn tạo ra cùng một lượng sản phẩm nơi nào đất đai mầu mỡ sẽ bỏ ra chi phí ít hơn, vì vậy thu nhập cũng lớn hơn

b Ảnh hưởng của lao động và nhân khẩu đến thu nhập

Quy mô lao động thể hiện ở số lượng lao động vào một công việc cụ thể Nếu đầu tư vào sức lao động cao hơn sẽ cho sản lượng cao hơn và thu nhập cao hơn và ngược lại Khi đánh giá vấn đề nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỷ số số lượng lao động và số lượng nhân khẩu Khi tỷ số giữa lao động trên nhân khẩu thấp nghĩa là tỷ lệ phụ thuộc cao, điều này gây bất lợi cho hộ, nó làm cho những hộ nghèo sẽ nghèo thêm

Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất Trong đó, kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường, ở các lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn Thông qua đó, người lao động hiểu biết được đặc điểm quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi từ đó lựa chọn phương án sản xuất tối ưu, đồng thời tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật, hiểu biết thị trường, nắm được các chính sách kinh tế của nhà nước

Trang 25

Như vậy, để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì kiến thức chuyên môn cho người lao động là rất cần thiết đặc biệt, đối với chủ hộ vì họ là người cuối cùng đưa ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết định của chủ hộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hộ trong sản xuất kinh doanh

Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích luỹ được trong cuộc sống Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, nó tuân theo quy luật của tự nhiên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn có thể bị thất bại nếu không có kinh nghiệm Vì vậy, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân

c Ảnh hưởng của quy mô vốn đến thu nhập

Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành tổ chức sản xuất, kinh doanh nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất Có vốn, có thể mở rộng quy mô sản xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, có vốn thì có thể mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất làm giảm chi phí, góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân

d Ảnh hưởng của sức khỏe

Yếu tố sức khỏe của bản thân chủ hộ là phụ nữ vô cùng quan trọng để nữ chủ

hộ tăng thu nhập cho nông hộ của mình Sức khỏe của con người, đặc biệt là đối với phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động như điều kiện dinh dưỡng, môi trường lao động, nghỉ ngơi, thói quen sinh hoạt, đặc thù giới nữ,… Nếu sức khỏe của họ yếu họ sẽ không đủ khả năng tham gia lao động, không có điều kiện để chăm lo cho gia đình, tham gia các hoạt động xã hội gây cản trở họ đóng góp công sức của mình cho phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn thì yếu tố sức khỏe của phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng thu nhập cho nông hộ

2.1.4.2 Các yếu tố bên ngoài

a Ảnh hưởng của chính sách Nhà nước

Chính sách của Nhà nước bao gồm các chính sách thuế, đất đai, tín dụng, khuyến nông, bảo hộ sản phẩm, trợ giá, giải quyết việc làm, trợ cấp …

Các chính sách trên có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế nông hộ Nếu chính sách phù hợp sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư mà đặc biệt là

Trang 26

chính sách về kinh tế nông nghiệp nông thôn, là môi trường thuận lợi để nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá với quy mô lớn

b Ảnh hưởng của thị trường

Trong cơ chế thị trường các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn sản xuất các sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí cơ hội thấp đối với từng hộ nông dân,

để đáp ứng nhu cầu thị trường nông sản, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau Thị trường là nơi mà giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất được hình thành nên thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân Trong giai đoạn hiện nay, xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân là sản xuất sản phẩm hàng hoá Hộ phải lựa chọn sản xuất các nông phẩm có giá trị kinh tế cao

mà xã hội đang có nhu cầu dựa trên khả năng các yếu tố sản xuất của mình và giá cả các yếu tố đầu vào hợp lý Cho nên nắm bắt tốt các thông tin của thị trường cũng góp phần làm tăng thu nhập cho hộ nông dân

c Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất

mà người nông dân canh tác như thời tiết, khí hậu Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi sẽ cho năng suất cao và ngược lại thiên tai, dịch bệnh sẽ làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi dẫn đến làm

giảm thu nhập của hộ nông dân

d Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật

Sản xuất của nông hộ không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt Cải tiến kỹ thuật làm tăng khối lượng và chất lượng hàng hoá và giảm được chi phí, cải tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và tăng thu nhập cho hộ nông dân

2.1.4.3 Ảnh hưởng của các yếu tố khác

Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như số người được hưởng trợ cấp, số người có lương hưu, số người đi làm việc ở các công

ty xí nghiệp, số người đi xuất khẩu lao động … Trong đó, trình độ của số người đi

Trang 27

làm việc ở ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong một đơn vị thời gian, thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở số tiền đóng góp vào ngân qũy của hộ khoản thu này tuy không lớn so với thành thị nhưng có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn

Ngoài ra, do ảnh hưởng của tư tưởng từ ngàn đời xưa để lại, chính bản thân người phụ nữ vẫn còn tư tưởng tự ti, an phận và thu động Điều này đã hạn chế sự độc lập suy nghĩ, sáng tạo, khả năng cống hiến của phụ nữ, đó chính là lực cản bên trong kìm hãm họ Nhiều phụ nữ ngại phát biểu ý kiến, không bộc bạch chính kiến, ngại tranh luận với nam giới, mặc dù ý kiến của họ có thể là chính xác Nhiều phụ nữ không muốn học tập để nâng cao trình độ, từ chối tham gia các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật… Tâm lý tự ti, mặc cảm, không vận động để tự mình thoát mình đã hạn chế vai trò của chính họ

2.1.5 Đặc điểm của nữ chủ hộ ở nông thôn

Lao động nữ chủ hộ ở nông thôn là dạng lao động đa năng (có thể đồng thời làm tốt ở nhiều lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc người già, người ốm, tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội và cộng đồng…); có mặt ở mọi loại hình lao động trong đời sống xã hội nông thôn; lao động nữ vượt trội về sự dẻo dai, bền bỉ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn; nhiều sáng tạo, năng động, khéo léo và luôn tuân thủ, phục tùng các nguyên tắc, các qui định của người sử dụng lao động

và của đặc trưng ngành nghề; phù hợp với những việc làm ổn định có thu nhập chắc chắn, đều đặn;…

Lao động nữ chủ hộ nông thôn có nhiều bất lợi không chỉ so với lao động nam giới mà cả lao động nữ ở các đô thị, các vùng công nghiệp Mặc dù, đối với lao động

nữ thời gian lao động kéo dài, cường độ lao động cao, môi trường lao động nhiều ô nhiễm, môi trường văn hóa thấp kém… nhưng nhìn chung thu nhập của họ thường thấp, không ổn định, bị phân biệt đối xử, chịu nhiều áp lực và thường không được bảo hiểm Hơn thế, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tính chất thường phải gắn liền với gia đình của lao động nữ nông thôn nên họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời cơ để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở các đô thị hay các thị trường lao động quốc tế

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phụ nữ nông thôn nước ta có một số đặc điểm sau: là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động ở nông

Trang 28

thôn; là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn; là người gánh chịu nặng nề nhất những mất mát, tai họa do hậu quả của các cuộc chiến tranh mấy chục năm qua; vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội trợ trong gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng; là người sinh đẻ, chăm sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình

độ học vấn thấp, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ; ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới trong việc tiếp cận

và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình

Phải nói là chị em nữ bao giờ cũng chỉnh chu hơn, cẩn trọng hơn, ít mạo hiểm hơn nam giới Họ cũng nhạy cảm hơn việc rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh Cùng với sự tiết kiệm, chắt chiu, sức chịu đựng tất cả cái đó làm cho các nông hộ do

nữ làm chủ hộ có khả năng phát triển bền vững hơn

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của nông hộ ở một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình thu nhập của nông hộ ở một số nước trên thế giới

a Đài Loan

Từ năm 1985, Đ à i Loan đã tiến hành thông qua kế hoạch nâng cấp nông nghiệp và phương án cải thiện cơ cấu nông nghiệp, nâng cao thu nhập của nông dân, với mục tiêu: phát triển một nền nông nghiệp tinh xảo, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp Năm 1991, đài Loan tiếp tục đề ra phương án “điều chỉnh tổng hợp nông nghiệp”, nhấn mạnh tầm quan trọng của “nông nghiệp tam sinh” Phương án này đã thúc đẩy sự phát triển hoàn chỉnh các chính sách về nhân lực, ruộng đất, thị trường, kỹ thuật, tổ chức, ngư nghiệp, phúc lợi và sinh sản con người Năm 1996, ban bố “sách trắng chính sách nông nghiệp”, tập trung nêu rõ các mục tiêu đài Loan cần đạt tới là: nâng cao hiệu suất kinh doanh nông nghiệp, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh xây dựng nông thôn, tăng phúc lợi của nông dân Năm 1998, tiếp tục đề ra và thực thi “phương án xây dựng nông nghiệp xuyên thế

Trang 29

kỷ” đồng thời tiếp tục thực hiện “phương án điều chỉnh tổng hợp nông nghiệp” giai đoạn hai kéo dài trong 4 năm Năm 1995 tổng giá trị sản phẩm quốc dân bình quân đầu người đài Loan đột phá ở mức 12.686 USD, năm 1997 đạt 13.592 USD, năm

2000 vượt lên 14.188 USD (Nguyễn Đình Liêm, 2006)

b Hàn Quốc

Năm 1950, Nhà nước mua lại ruộng đất của những chủ ruộng có trên 3 ha

để bán cho nông dân Chính sách trên đã khuyến khích nông hộ phấn khởi và yên tâm đầu tư cho sản xuất, các nguồn lực trong nước được sử dụng có hiệu quả Là nước có trên 300.000 người là dân tộc thiểu số sống ở vùng cao nhưng Nhà nước

đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện và nhà ở Bên cạnh đó Chính phủ cũng khuyến khích đầu tư, nghiên cứu để áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, tạo điều kiện để việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện dễ dàng Nhờ các chính sách trên mà ngày nay đời sống của nông dân ở đây thuộc loại cao trong khu vực và trên thế giới, phần lớn các hộ gia đình đều có ô tô để phục vụ sản xuất và sinh hoạt

c.Trung Quốc

Thu nhập của người nông dân Trung Quốc được tăng lên đáng kể từ năm

1978 đến nay: năm 1978 thu nhập thuần tuý bình quân mỗi nông dân Trung Quốc

là 134 nhân dân tệ (NDT), năm 1990 đạt 630 NDT Nếu trừ yếu tố giá cả thì thu nhập tăng 2,2lần, bình quân hàng năm (từ năm 1978 - 1990) tăng 10,7%( Ban Nông nghiệp Trung ương, 1991) Thu nhập của hộ nông dân Trung Quốc giai đoạn 1997

- 2000 được thể hiện bảng 2.1:

Bảng 2.1 Thu nhập của người dân nông thôn Trung Quốc

từ các nguồn khác nhau giai đoạn 1997 - 2000

Trang 30

Việc tăng thu nhập cho hộ nông dân đã và đang được Nhà nước Trung Quốc rất quan tâm Vào tháng 11/2000 tại Hội nghị kinh tế Quốc gia đã nhấn mạnh việc tăng thu nhập cho người nông dân phải là mục tiêu chính trong toàn thể chương trình hoạt động kinh tế Năm 2001 mục tiêu cơ bản được đặt ra tại Hội nghị TW thường kỳ là phấn đấu tăng thu nhập cho nông dân Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI Đảng cộng sản Trung Quốc (11/2002) đã nêu rõ: “Hoạch định thống nhất sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành thị và nông thôn, xây dựng nông nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế nông thôn tăng nhanh thu nhập cho nông dân là nhiệm vụ

to lớn trong công cuộc xây dựng toàn diện xã hội khá giả ”(Nguyễn Dương Đán, Ngô Đức Cát, 1998) Trung Quốc có nhiều chính sách giúp nông dân tự khẳng định vai trò của mình như: thực hiện chế độ khoán đến từng hộ, ruộng đất, tư liệu sản xuất đã giao cho nông dân Chính phủ khuyến khích mở mang ngành nghề và dịch

vụ, khuyến khích sản xuất hàng hoá và các thành phần kinh tế trong nông thôn cùng phát triển Cải cách giá cả thu mua nông sản, đồng thời tăng cường cho nông dân vay vốn tín dụng nhằm sản xuất để tăng thu nhập Ngày càng quan tâm tới việc nâng cao chất lượng và đa dạng hoá mặt hàng nông sản xuất khẩu Tăng cường vai trò giúp đỡ và bảo hộ của Nhà nước đối với nông nghiệp bằng cách đầu tư trực tiếp cho khoa học công nghệ mới trong nông nghiệp đào tạo nhân tài khoa học kỹ thuật, tạo

ra các loại giống mới, cải tiến các loại giống truyền thống, tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh đầu tư cho máy móc nông nghiệp phân bón hoá học và các tư liệu sản xuất khác; xây dựng các công trình và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường; tăng cường giúp đỡ về giáo dục cho nông dân Mặt khác, Trung Quốc còn thực hiện các chính sách xã hội nhằm xoá đói giảm nghèo giảm gánh nặng cho nông dân, cải cách chế độ thu thuế và thu phí ở nông thôn

2.2.1.2 Một số bài học kinh nghiệm nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân ở một số nước trên thế giới

Trong phát triển kinh tế của các nước, phát triển kinh tế nông thôn luôn là nhiệm vụ hàng đầu Các nước đều nhận thấy vai trò quan trọng của nông dân Các nước đều xác định kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế tự chủ Để tăng thu nhập cho nông dân các nước đều tập trung vào một số chính sách và giải pháp sau:

Trang 31

Chính sách ruộng đất, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân Chính sách đầu

tư cho nông nghiệp, hầu hết các nước đều đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bên cạnh đó còn tăng cường đầu tư tài chính mở mang nhiều hình thức tín dụng để nông dân có điều kiện vay vốn phát triển sản xuất Coi trọng việc chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt công nghệ sinh học Một số nước, chính phủ lại quan tâm đến việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản nhằm nâng cao và ổn định thu nhập cho nông dân Có chính sách hỗ trợ cho những hộ nông dân nghèo không đủ điều kiện chăm lo cuộc sống tối thiểu của mình Quam tâm tới việc bảo trợ một số hàng nông sản mũi nhọn Hầu hết các nước đều tiến hành thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Phát triển kinh tế nông thôn đa ngành đa nghề dần dần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng dịch vụ - công

nghiệp - nông nghiệp

2.2.2 Thực trạng thu nhập và chính sách hỗ trợ nâng cao thu nhập cho nông hộ

+ Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn: Tiếp tục đường lối đổi mới Đại hội Đảng lần IX (2001) đã khẳng định đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước giai đoạn 2001 - 2010 là đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích ” (Nguyễn Sinh Cúc, 2003)

Trang 32

+ Khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng hộ khá, giàu

Các làng nghề truyền thống phát triển nhiều ngành nghề mới sẽ góp phần đắc lực vào việc phát triển công nghiệp Phát triển ngành nghề nông thôn có ưu điểm là tạo việc làm, giá thuê nhân công thấp, gắn nguồn nguyên liệu, gắn thị trường tiêu thụ Mặt khác, đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp trên địa bàn nông thôn, làm giảm sự dư thừa lao động nông nghiệp tạo thêm thu nhập cho nông dân

+ Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá

Trong Nghị quyết 06/NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã nêu rõ: “Tiếp tục khuyến khích kinh

tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, ”(

Nguyễn Sinh Cúc, 2003).

+ Phát triển trang trại gia đình nhằm khai thác nguồn lực sẵn có trong nông

hộ tạo thu nhập cao cho hộ nông dân

Một trong những hướng đi quan trọng trên con đường làm giàu ở nông thôn nước ta là con đường phát triển kinh tế trang trại trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Nghị quyết 06 cũng đã chỉ rõ “Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển hình thức trang trại gia đình như các hình thức khác của hộ gia đình ’’(Bùi Sỹ Quỳ, 2003) Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định: “ kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”(

Huỳnh Xuân Hoàng, 1997)

+ Xây dựng phong trào thi đua sản xuất cho hộ nông dân (Nguyễn Hữu Mai, 2003) Chủ trương phát động phong trào khuyến khích hộ nông dân làm giàu của

Trang 33

Bộ Nông nghiệp cùng Hội nông dân đề xướng nếu được các địa phương hưởng ứng thì đó là môi trường tốt để Nhà nước thông qua đó chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và các nông dân có thể phổ biến kinh nghiệm và học tập lẫn nhau

+ Xây dựng các dự án phát triển nông thôn toàn diện theo các vùng

Đảng và Nhà nước ta chủ trương “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo Coi việc một bộ phận dân cư giàu trước, là cần thiết cho sự phát triển Đồng thời có chính sách ưu đãi về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp

để tạo điều kiện cho người nghèo có thể tự mình vươn lên làm ăn đủ sống và phấn đấu trở thành khá giả Các vùng giàu, vùng phát triển trước cùng Nhà nước giúp đỡ, lôi cuốn các vùng nghèo vùng phát triển sau cùng vươn lên”(Đặng Đình Đào, 2003)

Đi kèm với các chủ trương là những chính sách nhằm hỗ trợ nông dân sản xuất có hiệu quả nâng cao thu nhập bao gồm:

+ Chính sách đất đai: Đưa ra năm quyền như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp giúp hộ nông dân yên tâm sản xuất Tiếp theo là Luật thuế đất ra đời góp phần giảm đóng góp cho nông dân, khuyến khích nông hộ đầu

tư vào nông nghiệp có hiệu quả hơn Nhờ đó mà người nông dân đã có cơ hội đầu

tư tích tụ ruộng đất, dần hình thành các trang trại sản xuất hàng hoá(Nguyễn Dương Đán, Ngô Đức Cát, 1998)

+ Chính sách tín dụng: Cho hộ nông dân vay vốn là 10 triệu đồng không phải thế chấp Đặc biệt là đầu năm 2003 Ngân hàng Nhà nước ra thông tư 03/NHNN với nội dung các HTX sản xuất hàng xuất khẩu, làm ngành nghề truyền thống, các HTX làm dịch vụ vật tư, hộ gia đình, chủ trang trại được vay từ 30 - 100 triệu đồng (Trịnh Nguyễn, 2003) Nhiều chương trình dự án lớn của Chính phủ đầu tư vào nông thôn, nông nghiệp được thực hiện với nguồn vốn ngân sách, vốn vay, vốn viện trợ quốc tế như phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xoá đói giảm nghèo, kiên cố hoá kênh mương

đã khuyến khích xuất khẩu và mở rộng thị trường

+ Chính sách giá cả: Thông qua quỹ bình ổn giá và hệ thống chính sách giá trần, giá sàn của Nhà nước đảm bảo hỗ trợ vật tư, ổn định giá đầu ra nhằm khắc phục lớn nhất sự rủi ro do thị trường gây lên

Trang 34

+ Chính sách khoa học kỹ thuật: Để tiến tới một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, Nhà nước có chủ trương đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào phục vụ sản xuất Thực hiện điều đó Nhà nước chú trọng đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học đồng thời mở rộng hệ thống khuyến nông từ địa phương tới cơ sở tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nông dân đầu tư sản xuất

Bên cạnh đó, Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/11/2009 về đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Theo chương trình này, từ nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Đây là chương trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động nông thôn trong những năm tới nhằm nâng cao trình độ cho nông hộ đồng thời tăng thêm thu nhập cho người dân một cách bền vững

Đặc biệt, Quyết định 295/QT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/2/2010

về đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015 Theo chương trình này, mục tiêu đề án Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển sinh học nghề đạt 40%, trong đó tăng nhanh tỷ lệ lao động nữ được đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng nghề; tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 70%; Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo việc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động nữ được đào tạo nghề

Bộ luật Lao động cũng dành hẳn chương X gồm 10 Điều (Điều 109 đến Điều 118) quy định riêng cho LĐN nhằm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với nam giới Người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử trong việc tuyển chọn, nâng bậc lương, xử lý kỷ luật…và đảm bảo những ưu đãi nhất định cho LĐN để họ thực hiện tốt chức năng của mình

Ngoài ra, cũng có các chính sách như Chính sách ưu đãi đối với DN sử dụng nhiều LĐN: Trường hợp gặp khó khăn đặc biệt có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì được vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia về việc làm DN được ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của DN để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho LĐN Một số quy định về ưu đãi đối với LĐN được thể hiện trong luật Lao động Nhà nước đảm bảo quyền làm việc của phụ

Trang 35

nữ, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để LĐN có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt làm việc không trọn ngày trọn tuần hoặc giao việc tại nhà Được từng bước cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ chuyên nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho LĐN Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho LĐN để ngoài nghề đang làm, LĐN còn có thêm nghề dự phòng Các quy định cũng quan tâm đến tâm sinh lý phụ nữ, ưu đãi

dành cho phụ nữ có thai, người LĐN trong thời kỳ có kinh và thời kỳ sinh đẻ…

Nhờ có chủ trương, đường lối và chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước

về nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua, đời sống của hộ nông dân đã tăng lên đáng kể

2.2.2.2 Thực trạng thu nhập của nông hộ ở Việt Nam

Từ sau khi có chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới Thời kỳ này Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách đổi mới để giúp nông hộ khẳng định đúng vai trò của mình, từ đó kinh tế nông hộ có bước phát triển đáng mừng Đặc biệt, sau quyết định

số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013, thu nhập của nông hộ tăng lên đáng kể

Bảng 2.2 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn

ĐVT: Nghìn đồng/người/tháng

2010/2008 2012/2010 Chung cả nước 762,46 1071,06 1579,88 140,47 147,51

1 Miền núi phía bắc 603 847 1.250 140,47 147,51

2 Đồng bằng sông Hồng 941 1.322 1949,7 140,47 147,51

4 Duyên hải Nam Trung bộ 724 1.017 1500,0 140,47 147,51

5 Đồng bằng sông Cửu Long 941 1.322 1.949,71 140,47 147,51

Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình - Tổng cục Thống kê

Số liệu bảng 2.2 cho thấy, các tỉnh miền núi phía bắc luôn có thu nhập thấp hơn các vùng khác; vùng Đồng bằng Nam Bộ có thu nhập cao nhất và tăng nhanh nhất Nhìn chung, thu nhập của nông hộ còn thấp, song thu nhập tất cả các vùng đều

Trang 36

có xu hướng tăng

Theo kết quả điều tra nông thôn năm 2012 của Tổng cục Thống kê công bố tháng 8/2012 cho thấy thu nhập của dân cư nông thôn như sau:

Bảng 2.3 Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu nông thôn chia

theo 5 nhóm thu nhập của thời kỳ 2008 -2012

Nguồn: Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình - Tổng cục Thống kê

Bảng 2.3 cho thấy, thu nhập của nông hộ cao hơn trước khá nhiều, cụ thể: thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2012 đạt khoảng 1579,88 triệu đồng/tháng/người, gấp 2,08 lần so với năm 2008 Nếu loại trừ yếu tố trượt giá thì thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2012 tăng 207,21% so với năm

2008 Trong đó, mức tăng cao nhất là nhóm nông hộ khá, tăng 215,87% so với năm 2008; thấp nhất là nhóm nông hộ nghèo, thu nhập năm 2012 bằng 179,12% thu nhập năm 2008

Tuy nhiên, bảng 2.4 cho thấy, có sự chênh lệch lớn giữa nhóm thu nhập: năm

2008, hộ giàu là 1733,9 nghìn đồng/tháng/người nhưng hộ nghèo chỉ có 251,2 nghìn đồng/tháng/người, chênh nhau 6,9 lần năm 2008 Đến năm 2012, sự chênh lệch tăng lên 8 lần, hộ giàu đạt 3614,8 nghìn đồng/tháng/người, hộ nghèo đạt 450,2 nghìn đồng/tháng/người Sở dĩ như vậy vì điểm xuất phát của kinh tế hộ rất thấp, nền kinh tế nước ta đang nặng về thuần nông, là một nước đất ít người đông, ví dụ

Trang 37

bình quân một hộ chỉ có 0,8 ha (ĐBSH chỉ có 0,2 ha) (Vũ Trọng Khải, 2004), đất đai manh mún, chăn nuôi chưa phát triển, các ngành nghề phi nông nghiệp tăng chậm Với quy mô nhỏ và manh mún như vậy đã trở thành lực cản đối với nền sản xuất hàng hoá đang từng bước hiện đại hoá Từ năm 2008 trở lại đây, Đảng ta đã không ngừng đổi mới đường lối, chủ trương và chính sách phù hợp với điều kiện của đất nước, từ đó đời sống của dân cư nông thôn được cải thiện rõ rệt

Mức thu nhập của hộ nông dân Việt Nam tăng lên theo xu hướng sau:

- Xu hướng tăng thu nhập do hình thành các trang trại gia đình

Kinh tế hộ nông dân ngày càng phát triển đa dạng với những mô hình khác nhau như: hộ sản xuất nông nghiệp, hộ nông nghiệp kết hợp kinh doanh dịch vụ, hộ chuyên ngành nghề để phù hợp điều kiện sản xuất của hộ Sự phát triển này đã góp phần khai thác tốt tiềm năng của hộ, lợi thế của vùng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ra sự phong phú trong nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá kinh tế hàng hoá để nâng cao thu nhập cho hộ Chính vì điều này

đã hình thành nên các trang trại gia đình

- Xu hướng tăng thu nhập do phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn Trong quá trình tiến hành sản xuất một số hộ thấy rằng khả năng phát triển ở một số ngành nghề lại có hiệu quả hơn trong khi họ có khả năng đáp ứng được vốn để phát triển Từ đó họ đầu tư vào sản xuất chuyên môn hoá theo ngành nghề thế mạnh của họ

- Xu hướng tăng thu nhập do phát triển sản xuất của nông hộ theo kiểu liên minh liên kết Sản xuất của hộ nông dân thường có quan hệ với nhau Sản phẩm của ngành này là nguyên liệu của ngành kia, mặt khác khi sản xuất phát triển ở mức độ cao để tạo ra sức mạnh trong cạnh tranh thị trường hay hạn chế những thiệt hại do chủ quan, khách quan mang lại các hộ có xu hướng liên kết lại với nhau

2.2.2.3 Kinh nghiệm tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ ở một số tỉnh

a Thái Bình

Hoạt động dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ được các cấp hội phụ nữ ở tỉnh tập trung chỉ đạo theo hướng thiết thực, hiệu quả, tập trung vào các nghề truyền thống có thu nhập cao, tích cực khai thác du nhập nghề mới nhằm giải quyết việc

Trang 38

làm tại chỗ cho phụ nữ Hằng năm, Hội Phụ nữ tỉnh phối hợp Hội Phụ nữ các huyện, thành phố, các cơ sở, DN, trung tâm học tập cộng đồng các xã, phường, thị trấn tổ chức dạy nghề và cấp chứng chỉ, tạo việc làm cho hàng nghìn phụ nữ nông thôn, giúp phụ nữ nông thôn có tay nghề và việc làm thường xuyên ở địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống cho hội viên phụ nữ trong tỉnh Nhiều chị đã truyền nghề cho cả gia đình và kinh tế gia đình từ khó khăn đã vươn lên khá Tổ chức hội

đã khuyến khích, hỗ trợ cho chị em vay vốn, thuê địa điểm sản xuất và phối hợp với các DN tổ chức dạy nghề cho phụ nữ Hằng năm, hội phụ nữ cơ sở đã tổ chức dạy nghề, tạo việc làm cho hàng chục nghìn hội viên, gồm các nghề: mây tre đan, mi mắt giả, đệm ghế cói, thêu ren, làm lưỡi câu, dệt chiếu, đan làn nhựa, đính hạt cườm, móc hộp Sau lớp học chị em có tay nghề làm ra sản phẩm thu nhập bình quân từ 300 đến 400 nghìn đồng/tháng, số chị em có tay nghề cao từ 600 đến 700 nghìn đồng/tháng Đến nay, 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh, Hội Phụ nữ đã

tổ chức dạy nghề cho chị em Nổi bật là: Hội Phụ nữ huyện Kiến Xương, tín chấp hơn 80 tỷ đồng cho hội viên vay, trong đó, hơn 20 tỷ đồng dành cho các hoạt động dạy nghề, phát triển nghề thủ công và 450 triệu đồng hỗ trợ các DN nữ vay, phát triển sản xuất, năm năm qua đã dạy nghề, tạo việc làm cho hơn 17.000 LĐN có việc làm, 276 chị đã mạnh dạn thành lập DN và các tổ hợp sản xuất, tạo việc làm cho nhiều LĐN Đã có nhiều xã mạnh dạn tìm nghề mới về địa phương, duy trì nghề truyền thống, tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ, góp phần tích cực trong việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở địa phương, như: Hội Phụ nữ xã Nam Hà, huyện Tiền Hải, năm năm qua đã phối hợp với các nữ chủ DN mở 28 lớp cho 1.892 lao động học nghề mây tre đan, móc hộp sợi, rút nhựa, nón lá góp phần tạo việc làm cho hơn 3.000 lao động, thu nhập bình quân của chị em từ 450 đến 600 nghìn đồng/ người/tháng Hội Phụ nữ xã Thái Giang (Thái Thụy) được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo điều kiện, đã mạnh dạn đi tìm nghề mới về địa phương, với nhiều loại nghề khác nhau: Thêu, mây tre đan, móc sợi, do bảy chị em đứng lên thành lập DN, tổ sản xuất, tạo việc làm cho hơn 1.000 phụ nữ Hội Phụ nữ tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo thành lập câu lạc bộ (CLB) nữ chủ DN cấp tỉnh, huyện, thành phố Đến nay, đã thành lập được CLB nữ chủ DN cấp tỉnh và tám CLB nữ chủ DN huyện,

Trang 39

thành phố với hàng trăm nữ chủ DN tham gia Các CLB nữ chủ DN xây dựng được quy chế hoạt động, tham gia tổ chức hội chợ xúc tiến thương mại do TW hội LHPN Việt Nam, Bộ Công thương và các cấp trong tỉnh tổ chức Nhiều nữ chủ DN tham gia tích cực trong hoạt động hội chợ, xúc tiến thương mại ( Báo nhân dân, 2007)

b Ninh Bình

Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng trong kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ của tỉnh Ninh Bình Với vai trò là đoàn thể thu hút, tập hợp hội viên phụ nữ, Hội LHPN tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo các cấp Hội tập trung hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu chính đáng thông qua việc hướng dẫn KHKT, tạo vốn, dạy nghề, tạo việc làm cho hội viên, phụ nữ Hàng năm, 70% số chi hội ở 100% xã, phường, thị trấn tổ chức chuyển giao KHKT, tích cực góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Để giúp phụ nữ phát triển kinh tế, Hội phụ nữ các cấp đứng ra tín chấp giúp cho gần 56.000 lượt hộ vay 425,5 tỷ đồng, trong đó có 21.000 hộ nghèo, 3.905 hộ nghèo do phụ nữ đứng chủ để đầu tư sản xuất, kinh doanh Hội phụ nữ tỉnh đã phối hợp với các ngành, các cấp đẩy mạnh việc dạy nghề truyền thống như: thêu ren, chế biến cói, đan mây, bèo bồng

Trong hơn 2 năm qua, Hội đã tổ chức được 546 lớp dạy nghề cho 20.851 lượt phụ nữ, hỗ trợ và giới thiệu việc làm cho gần 20.340 phụ nữ Đối với hộ nghèo, hàng năm các cấp Hội phụ nữ tổ chức khảo sát, thống kê, phân loại, xác định nguyên nhân, phân công người giúp đỡ Do đó, 100% hộ nghèo do phụ nữ đứng chủ được các chi hội nhận giúp đỡ, được hỗ trợ vốn, kiến thức, dạy nghề, giới thiệu việc làm Hơn 2 năm qua, các cấp Hội đã giúp hơn 2.000 hộ nghèo thoát nghèo Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ DN do phụ nữ làm chủ là một hoạt động mới được các cấp Hội phụ nữ quan tâm triển khai có hiệu quả Hội phụ nữ tỉnh đã tổ chức tập huấn cho 420 nữ chủ DN, chủ tổ hợp về kiến thức khởi sự và quản lý DN, hướng dẫn thành lập các CLB nữ doanh nhân Đến nay, toàn tỉnh đã thành lập được 5 CLB

nữ doanh nhân với 327 thành viên tham gia, tạo môi trường thuận lợi cho nữ chủ

DN trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và liên kết trao đổi sản phẩm Qua đó góp phần

hỗ trợ các DN nữ phát triển, tạo thêm việc làm cho phụ nữ Nhận thức đúng về sự

Trang 40

cần thiết của công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho phụ nữ, nhất là lao động ở vùng nông thôn, khu vực thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu du lịch những năm qua các cấp, các ngành đã triển khai thực hiện tốt việc hỗ trợ trong phát triển kinh tế, tìm việc làm, dạy nghề để ổn định cuộc sống

Sở Lao động, thương binh và xã hội đã hướng dẫn và thẩm định các đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, thành lập mới 2 trường dạy nghề tư thục và thành lập 18 trung tâm dạy nghề, thẩm định và cấp phép hoạt động cho 30 cơ sở dạy nghề Với việc hình thành các trường, trung tâm và cơ sở dạy nghề ở 8/8 huyện, thành phố, thị

xã trong tỉnh đã góp phần thực hiện hiệu quả kế hoạch dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động nói chung, phụ nữ nói riêng Đồng thời, hàng năm Sở Lao động, thương binh và xã hội đã phối hợp với Liên đoàn Lao động Ninh Bình tổ chức hướng dẫn các DN thực hiện một số quy định của Bộ luật Lao động, trong đó có các quy định đối phụ nữ với các chế độ, chính sách, quyền lợi của phụ nữ khi ốm đau, thai sản Phối hợp với các ngành hữu quan kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với lao động nói chung, phụ nữ nói riêng Phần lớn các DN Nhà nước và các loại hình DN khác ở những nơi đã thành lập tổ chức công đoàn thực hiện tương đối tốt các chế độ, chính sách về: Tuyển dụng lao động, đào tạo, nâng bậc lương, bảo hiểm y tế, BHXH, an toàn lao động và các chế độ phúc lợi, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ

Hàng năm, Sở Lao động - thương binh và xã hội tiến hành khảo sát, lập kế hoạch đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó quan tâm đặc biệt đến đối tượng nữ giới Đặc biệt, thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền

về xuất khẩu lao động, hơn 2 năm qua Sở Lao động- thương binh và xã hội đã 4.102 người đi xuất khẩu lao động, trong đó có 2.103 phụ nữ Nhiều phụ nữ thuộc 23 xã có

tỷ lệ hộ nghèo cao trong tỉnh được tạo điều kiện, giúp đỡ về kinh phí, thủ tục đã tham gia xuất khẩu lao động để thoát nghèo Với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, địa phương trong việc giúp đỡ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu

chính đáng, ổn định cuộc sống đã góp phần tăng cường sự bình đẳng của phụ nữ

c Vĩnh Phúc ( Đồng Văn Tuấn, 2011)

Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng Những làng

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Phạm Đại Đồng, Nguyễn Thị Huệ (2015). Phân hóa giàu nghèo khu vực thành thị, nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Quốc tế"http://www.khoathongke.neu.edu.vn/ViewNCKH.aspx?ID=44 Link
1. Ban Nông nghiệp Trung ương (1991). Kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay, NXB Tư tưởng - Văn hoá, Hà Nội Khác
3. Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, Giới và công tác giảm nghèo (2003). NXB khoa học xã hội, Hà Nội Khác
4. Đỗ Kim Chung (2003). Cánh đồng 50 triệu, cơ sở khoa học và tiêu chí đánh giá, Tạp chí Tài chính, tháng 9/2003, tr.26 - 29 Khác
5. Đỗ Kim Chung (2003). Tiêu chí cánh đồng có thu nhập cao, Thời báo Kinh tế, 131 (16). tr.3 - 4 Khác
6. Nguyễn Sinh Cúc (2003). Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 - 2002). NXB Thống kê, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Sinh Cúc (2003). Bàn về phương pháp tính chi tiêu, thu nhập/1 ha diện tích đất nông nghiệp. Tạp chí Nông thôn mới, Số 98(10) Khác
8. Nguyễn Sinh Cúc (2001). Phân tích điều tra nông thôn năm 2000 Khác
9. Đặng Đình Đào (2003). Vấn đề xoá đói giảm nghèo hiện nay ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 4 Khác
10. Nguyễn Dương Đán, Ngô Đức Cát (1998). Nguyên lý cơ bản về chính sách nông nghiệp, nông thôn, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
12. Frank Ellis (1993). Kinh tế hộ gia đình nông dân & phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, TP.HCM Khác
13. Huỳnh Xuân Hoàng (1997). Một vài ý kiến nông nghiệp và phát triển nông thôn trong giai đoạn CNH-HĐH kinh tế Việt Nam, Hội thảo về chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
14. Minh Hoài (2003). Phương pháp tính chỉ tiêu 50 triệu đồng/ha/năm và 50 triệu đồng/hộ/năm, Tạp chí Tài chính, số 10/2003 Khác
15. Nguyễn Văn Huân (1993). Kinh tế hộ, khái niệm vị trí, vai trò, chức năng, Tạp chí nghiên cứu kinh tế Khác
16. Nguyễn Đình Hương (2000). Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH - HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Đình Liêm (2006). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Khác
20. Nguyễn Hữu Mai (2003). Xây dựng các mô hình kinh tế ở nông thôn để tạo ra những cánhđồng 50 triệu/ha, Tạp chí Nông thôn mới, Số 103/10/2003 Khác
21. Trịnh Nguyễn (2003). Phong trào nông dân thi đua sản xuất qua các thời kỳ Đại hội, Tạp chí Nông thôn mới, số 99/10/2003 Khác
22. Bùi Sỹ Quỳ (2003). Nông nghiệp, nông thôn Thái Bình thực trạng và giải pháp, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
23. Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hoà (2002). Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn. NXB thống kê Hà NộiĐỗ Kim Chung (1997). Bài giảng Kinh tế hộ, ĐHNNI, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu nông thôn chia - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 2.3. Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu nông thôn chia (Trang 36)
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của huyện Lương Tài 2012-2014 - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Lương Tài 2012-2014 (Trang 47)
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2010 - 2014 - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2010 - 2014 (Trang 48)
Bảng 3.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua các năm 2012-2014 - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua các năm 2012-2014 (Trang 50)
Bảng 3.4: Dân số và lao động huyện Lương Tài giai đoạn 2012 - 2014 - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4 Dân số và lao động huyện Lương Tài giai đoạn 2012 - 2014 (Trang 54)
Bảng 4.1 Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra là nữ giới - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.1 Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra là nữ giới (Trang 62)
Bảng 4.2. Thông tin cơ bản về nông hộ có chủ hộ là nữ - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2. Thông tin cơ bản về nông hộ có chủ hộ là nữ (Trang 64)
Bảng 4.3. Tổng thu từ các hoạt động của nông hộ - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.3. Tổng thu từ các hoạt động của nông hộ (Trang 68)
Bảng 4.4. Chi phí sản xuất bình quân 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4. Chi phí sản xuất bình quân 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ (Trang 70)
Bảng 4.5.  Thu nhập bình quân 1 nông hộ qua điều tra - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.5. Thu nhập bình quân 1 nông hộ qua điều tra (Trang 72)
Bảng 4.6.  Thu nhập bình quân 1 lao động trong hộ qua điều tra - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6. Thu nhập bình quân 1 lao động trong hộ qua điều tra (Trang 78)
Bảng 4.7. Tình hình đất đai của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ  Chỉ tiêu - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7. Tình hình đất đai của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ Chỉ tiêu (Trang 80)
Bảng 4.8. Thực trạng về lao động và  nhân khẩu của nông hộ có phụ nữ - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8. Thực trạng về lao động và nhân khẩu của nông hộ có phụ nữ (Trang 82)
Bảng 4.9. Vốn sản xuất BQ 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ qua điều tra - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9. Vốn sản xuất BQ 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ qua điều tra (Trang 84)
Bảng 4.10. Giá trị máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất của hộ điều tra - giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện lương tài tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10. Giá trị máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất của hộ điều tra (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w