2.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể a Khái niệm hộ kinh doanh cá thể - Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký kinh doanh thì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRỊNH PHƯƠNG LIÊN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ
CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
TRỊNH PHƯƠNG LIÊN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ
CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS CHU THỊ KIM LOAN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Phương Liên
Trang 4Tôi xin chân trọng gửi lời cảm ơn đến Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Quý thầy cô Khoa Kế toán và QTKD, Bộ môn Maketing đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện Luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ công chức thuế, các đồng nghiệp công tác tại chi cục thuế Thị xã Từ Sơn, các ban ngành địa phương cùng với các hộ kinh doanh trên địa bàn huyện đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn./
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Phương Liên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể 4
2.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 10
2.1.4 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 17
2.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh 35
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 37
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể của một số địa
Trang 62.2.2 Kinh nghiệm quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể ở một số nước trên
2.2.4 Bài học kinh nghiệm trong quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá
3.1.2 Giới thiệu khái quát về Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 56
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh
4.1 Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục
4.1.1 Quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 66
4.1.2 Kê khai, đăng ký thuế và phân loại hộ kinh doanh cá thể 68 4.1.3 Cấp mã số thuế, quản lý danh bạ hộ kinh doanh 71
4.1.4 Tính thuế và thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 72
4.1.7 Đánh giá công tác quản lý thu thuế của chi cục qua điều tra các nhóm hộ 88
4.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý thu thuế hộ KDCT 97
4.2.3 Nhân tố thuộc về bản thân thành phần kinh tế hộ cá thể 98
4.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu thuế các hộ kinh
Trang 74.3.1 Định hướng quản lý thu thuế của chi cục thuế TX Từ Sơn 100
4.3.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý thu thuế các hộ KDCT tại chi cục thuế
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ Chi cục thuế Thị xã Từ Sơn 53
3.2 Tổng hợp số thu tại Chi cục Thuế Thị xã Từ Sơn (2012-2014) 55
3.3 Tình hình quản lý hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thị Xã Từ Sơn 60
3.4 Số lượng mẫu theo ngành nghề kinh doanh năm 2014 63 4.1 Tình hình hộ kinh doanh cá thể trên địa bànThị xã Từ Sơn từ năm 2012 đến 2014 70
4.2 Tình hình cấp mã số thuế hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Từ Sơn 71
4.3 Doanh thu và mức thuế khoán đối với hộ kinh doanh cá thể 73
4.5 Doanh thu và mức thuế khoán bình quân của hộ kinh doanh năm 2014
theo ngành nghề KD 77
4.6 Tổng hợp dự toán thu ngân sách năm 2012-2014 trên địa bàn từ các hộ
4.8 Kết quả thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể năm 2012 - 2014 81
4.10 Phân loại tiền nợ thuế theo tuổi nợ đến năm 2014 84
4.11 Tổng hợp kết quả thu nợ đọng thuế hộ kinh doanh cá thể 85
4.14 Tỷ lệ các nhóm hộ đánh giá về việc tính và thu thuế của chi cục 90
4.15 Chênh lệch giữa doanh số bình quân/tháng theo điều tra và kê khai 93
4.16 Ý kiến đánh giá của hộ về tình trạng nợ đọng và kiểm tra thuế 95
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang
4.1 Quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 67
Số biểu đồ Tên biểu đồ Trang 3.1 Cơ cấu kinh tế thị xã Từ Sơn năm 2014 57
Trang 10SXKD : Sản xuất kinh doanh
CN-TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp THNVDT : Tổng hợp – Ngiệp vụ - Dự toán TTHT NNT : Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế KK-KTT : Kê khai kế toán thuế
CCNT : Cưỡng chế nợ thuế
KD : Kinh doanh
Trang 11I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời - phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Có thể thấy rằng thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước Song để biện pháp đó đạt hiệu quả sẽ rất cần đến một bộ phận chuyên trách, chất lượng trong quá trình quản
lý và hành thu
Trong những năm vừa qua, cùng với xu hướng phát triển chung của cả nước, khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn Thị Xã Từ Sơn đã phát triển khá nhanh gồm nhiều đối tượng thuộc diện nộp thuế khác nhau Thu nhập của người dân tăng nhanh kéo theo nhu cầu của người dân trên địa bàn tăng mạnh đặc biệt là nhu cầu về mua sắm, ăn uống, giải trí Vì vậy các hộ kinh doanh thuộc ngành nghề lĩnh vực này phát triển rất nhanh Đặt ra nhiều thách thức về quản lý thu thuế đối với ngành nghề kinh doanh này trên địa bàn thị xã Từ sơn còn nhiều bất cập Công tác quản lý thu thuế vẫn còn tồn tại những mặt còn hạn chế, thiếu sót như: vẫn còn tồn tại tình trạng người nộp thuế trốn, lậu thuế, thất thu thuế, khả năng khai thác nguồn thu chưa sát với tiềm năng, công tác quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh vực, chưa đẩy mạnh ứng dụng tin học vào công tác quản lý thuế Bên cạnh đó, ý thức về trách nhiệm đối với thuế của người nộp thuế nói riêng và người dân nói chung chưa tốt
Từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một số sắc thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước Tình hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị xã Từ Sơn những năm qua đã đạt được những thành tích nhất định Tuy nhiên công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn còn gặp nhiều điều bất cập, từ việc đăng ký thuế, xác định doanh thu, tính thuế đến việc thu thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, tình trạng thất thu, nợ đọng khá phổ biến, vẫn còn bỏ sót hộ chưa đưa vào quản lý, doanh thu chưa sát thực tế Trong khi đó hộ kinh doanh cá thể ngày càng phát triển nhanh cả về số lượng lẫn quy mô và là thành phần không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế của
Trang 12địa bàn nói riêng và trên nền kinh tế quốc dân nói chung Do đó, Chi cục thuế Thị
xã Từ Sơn cần tăng cường công tác quản lý thuế nhằm quản lý tốt các đối tượng này, không bỏ sót nguồn thu, hạn chế thấp nhất hiện tượng thất thu thuế
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế trên địa bàn Thị Xã
Từ Sơn sẽ là một cơ sở thực tiễn tốt để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thị xã
Xuất phát từ thực tế cũng như tính cấp thiết của việc kiểm soát nguồn thu từ các
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý
thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
để làm luận văn thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tình hình quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể
- Phản ánh và đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh
cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn
Trang 131.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý thu thuế
đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế đối với các hộ kinh
doanh cá thể trong 3 năm 2012, 2013 và năm 2014
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác
quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn trong
3 năm gần đây, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn trong những năm tới
Trang 14II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
2.1.1 Khái niệm và vai trò của thuế
2.1.1.1 Khái niệm về thuế
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đờiu và phát triển của Nhà nước Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy từ trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang quản lý, chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: An ninh – quốc phòng, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, các vần đề
về phục lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội ở hiện tại và lâu dài Để có nguồn tài chính đáp ứng các nhu cầu chi tiêu nói trên, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên, đó là: quyên góp của nhân dân; vay của nhân dân và dùng quyền lực của Nhà nước để bắt buộc nhân dân phải đóng góp Hình thức quyên góp và vay của nhân dân thường không ổn định, do đó để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước
Ở nước ta, cho đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo
từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học 1998) thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng gốc độ khác nhau, do đó chưa thật sự đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Mặc dù cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:
Trang 15Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ
giữa Nhà nước với các pháp nhân và các cá thể, không mang tính hoàn trả trực tiếp
Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách
khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản
thuế đã được Pháp luật quy định
Qua phân tích các những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quan về thuế như sau:
"Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội"
2.1.1.2 Vai trò của thuế
- Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Kích
thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong
từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung - cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh - một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng
+ Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất
ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất
+ Bằng việc giảm thuế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng + Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư,
có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội Song việc tăng thuế phải
Trang 16được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định
- Thu ế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng
xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước
Trang 17- Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì Nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động
- Thu ế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt
từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, Nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá
tiêu dùng xa xỉ
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế
Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách thuế khoá
Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu, lợi
Trang 18tức Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như người sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh 2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường (Tổng cục thuế, 2011)
2.1.2 Những nội dung cơ bản về quản lý thuế
+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,
+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý
là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Người bị quản lý là các tổ chức
và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người
có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý
Như vậy, ta có thể định nghĩa khái quát về quản lý thuế như sau: "Quản lý thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ." (Luật quản
lý thuế số 78/2006/QH11, 2006)
2.1.2.2 Nội dung quản lý thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì nội dung quản lý thuế bao gồm 8 nội dung và được phân thành 3 nhóm, cụ thể như sau: Nhóm 1: Các thủ tục hành chính thuế, đảm bảo các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm
thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt
Trang 19Nhóm 2: Giám sát việc tuân thủ pháp luật về thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, bao gồm: quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3: Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực, hiệu quả bao gồm: cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
2.1.2.3 Nguyên tắc quản lý thuế
Theo quy định tại Điều 4, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Luật số 21/2012/QH13, ngày 21/11/2012 Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật quản lý thuế, thì nguyên tắc quản lý thuế cụ thể như sau:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
- Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế
+ Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế;
+ Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế
- Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:
+ Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục
+ Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật
+ Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử
Trang 20+ Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê
+ Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định
2.1.2.4 Vai trò của quản lý thuế
+ Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế Với vai trò
kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm, đều phải
duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
+ Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế
Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót Mặt khác, xuất phát từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu thuế của nhà nước hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh
+ Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các luật thuế được nghiêm chỉnh
2.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
a) Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
- Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký kinh doanh thì “Hộ kinh doanh” được gọi là “Hộ kinh doanh cá thể” và được định nghĩa như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”
- Hiện nay theo quy trình 1688/QĐ-TCT ngày 06/10/2014 V/v ban hành quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh thì: “Hộ kinh doanh là hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân thực hiện sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế theo quy định tại các Luật thuế hiện hành hoặc có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân”
Trang 21Hộ kinh doanh cá thể là mô hình tổ chức kinh tế đơn giản, gọn nhẹ, sử dụng ít lao động, được phân bố rộng rãi trong các tầng lớp dân cư Về thời gian của hộ kinh doanh cá thể là đa thời gian, điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân trên địa bàn và có cầu ắt có cung, nhất là nhu cầu về ăn uống, dịch vụ, thương mại
Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán (hộ khoán): là cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh không đăng ký kinh doanh hoặc có đăng ký kinh doanh không đăng ký thuế; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ; cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh khai thác tài nguyên thủ công, phân tán lưu động không thường xuyên (theo quy định tại Khoản 1, Điều 21, Thông tư số 156/2013/TT-BTC, ngày 06/11/2013)
b)Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh dịch vụ cá thể mang tính chất của một hộ gia đình, thể hiện ở tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất đến phân phối tiêu thụ, do đó mang tính tự chủ cao, sử dụng lao động là những người trong gia đình (Phan Lưu Ngọc, 2012)
Quy mô nhỏ lẻ, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế, quản lý chủ yếu dựa theo kinh nghiệm
Số lượng hộ kinh doanh lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức hoạt động, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động
Ý thức tuân thủ pháp luật thuế còn thấp
Mặt khác, kinh tế hộ dịch vụ cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu
Kinh tế hộ cá thể đã tận dụng được lực lượng lao động dồi dào, giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia Do đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Trang 22c)Vị trí của hộ kinh tế cá thể
Sự tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan, bởi vì nền kinh tế ở các nước chậm và đang phát triển là nền kinh tế có lực lượng sản xuất kém phát triển với nhiều trình độ khác nhau Tương ứng với các trình độ đó là các hình thức sở hữu, tổ chức sản xuất thích hợp Chính việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế, từ đó khai thác tốt các tiềm năng nhằm phát triển lực lượng sản xuất cho đất nước
Từ cơ sở lý luận và thực trạng của nền kinh tế nước ta, đại hội Đảng toàn
Quốc lần thứ VII đã khẳng định "Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kì quá độ ở
nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân
và kinh tế tư bản Nhà nước"
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận thành phần kinh tế cá thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế, với chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện cho nền kinh tế cá thể phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác
d)Vai trò của hộ kinh tế cá thể
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thì kinh tế cá thể giữ vai trò hết sức quan trọng và chiếm một vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân
Trong thời gian vừa qua, thành phần kinh tế này đã có những bước phát triển mạnh mẽ Nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho sản xuất và đời sống Khu vực kinh tế này không chỉ cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm cho nhu cầu xã hội, mà còn đem lại nguồn thu cho NSNN, đồng thời hoạt động của thành phần kinh tế này đã tạo ra một khối lượng lớn công
ăn việc làm cho người lao động, giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp và nâng cao đời sống kinh tế xã hội Sự phát triển ngày càng cao của thành phần kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh vòng quay vốn trong nền kinh tế và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế cá thể dựa vào vốn, sức lao động của bản thân và hộ gia đình là chính nên quy mô nhỏ bé, tản mạn rời rạc, điều kiện áp dụng khoa học tiên tiến hạn chế Mặt khác tính tư hữu cao nên họ luôn tìm cách để tìm ra những sơ
Trang 23hở trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế gây khó khăn cho công tác quản lý Chính vì vậy cần tăng cường sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động hiệu quả
2.1.3.2 Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
a) Khái niệm quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
Quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật
về thuế nhằm động viên nguồn thu vào ngân sách nhà nước (Tổng cục thuế, 2011) Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình thủ tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc (Tổng cục thuế, 2011)
Hệ thống chính sách thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, động viên được các nguồn lực, thúc đẩy phát triển nhanh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Hệ thống chính sách thuế đã đảm bảo huy động đầy đủ các nguồn thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của Nhà nước và dành một phần cho tích lũy phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đối với hộ kinh doanh cá thể hệ thống chính sách thuế áp dụng chung các mức thuế suất đối với cùng ngành hàng, nhóm mặt hàng gồm các sắc thuế cơ bản là: Thuế Môn bài, Thuế GTGT, thuế TNCN, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế TTĐB Trong đó các sắc thuế có tác động nhiều nhất đến các hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế TNCN (thay thế thuế TNDN từ ngày 01/01/2009)
Đối với tất cả các thành phần kinh tế nhất là hộ kinh doanh phát triển, Nhà nước đã và đang có nhiều biện pháp cải tiến hệ thống và cách thức thu thuế nhằm một mặt thu đủ, thu đúng người cần thu, hợp lý hoá và giảm thuế suất (chẳng hạn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân), tăng diện thu, nuôi dưỡng nguồn thu về lâu dài, mặt khác đảm bảo việc thu thuế minh bạch công khai, dân chủ
Trang 24b) Những đặc điểm chủ yếu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Đặc điểm cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh dịch vụ cá thể là hướng tới sự minh bạch, rõ ràng, đơn giản, dễ tính toán trong việc thực hiện chính sách thuế Thông qua các chính sách thuế như ưu đãi thuế, miễn, giảm thuế, khuyến khích người nộp thuế tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật mở rộng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm của hộ kinh doanh dịch vụ cá thể là giản đơn, gọn nhẹ, trình độ quản lý thấp, đại bộ phận hộ kinh doanh cá thể không sử dụng hóa đơn mua, bán hàng, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật thuế của các hộ kinh doanh còn thấp điều này dễ dẫn đến gian lận trong việc kê khai thuế Kể từ năm 2012, Tổng cục Thuế ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định số 2248/QĐ –TCT ngày 28/12/2012 công tác quản lý thu thuế, cấp mã số thuế hộ cá thể tại cấp Chi cục đã được thực hiện một cách khá bài bản và dễ thực hiện.Tổng cục Thuế đã xây dựng và hoàn thiện Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, quy trình kiểm tra thuế, kể cả cơ chế thu thuế qua ngân hàng đối với hộ kinh doanh cá thể phù hợp với các thay đổi của chính sách thuế và yêu cầu quản lý hiện hành; Nâng cấp, hoàn thiện các ứng dụng quản lý thuế nhằm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu người nộp thuế, tạo thuận lợi cho quá trình quản lý, tra cứu, kiểm tra, xác định tính chính xác số tiền nợ thuế để có thể phân loại và áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế nợ phù hợp
Năm 2014, Tổng cục Thuế tiếp tục ban hành quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định số 1688/ QĐ- TCT ngày 06/10/2014 thay thế cho quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định số 2248/QĐ –TCT ngày 28/12/2012 cho phù hợp với việc quản lý thuế và tình hình kinh doanh thực tế của các hộ kinh doanh
Từ đó đến nay, nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý thuế đặc biệt
là quản lý người nộp thuế là doanh nghiệp, Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Tài chính liên tục ban hành các Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn công tác quản lý thuế cũng như cấp mã số thuế, điều này đã làm thay đổi một số quy định trong quy trình 1688 Mặt khác, do chính sách thay đổi thường xuyên nên không tránh khỏi việc quy định chồng chéo lẫn nhau dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý hộ kinh doanh
Trang 25Hộ kinh tế cá thể kinh doanh cố định là những hộ sản xuất kinh doanh dịch
vụ (những hoạt động kinh doanh mà pháp luật cho phép) có địa điểm kinh doanh cố định ở một nơi nào đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ
Do đặc điểm của kinh tế cá thể là tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, hoạt động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Kinh
tế cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh, tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế gây lộn xộn cho thị trường như: Kinh doanh trái phép, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế nhằm thu lợi nhuận cao
Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Khu vực kinh tế này không những chiếm một khối lượng sản phẩm tương đối trong tổng sản phẩm xã hội, đồng thời còn thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết Kinh tế cá thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào, nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư Phương pháp kinh doanh của hộ cá thể cũng rất phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia, do đó trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng
Hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và hoạt động kinh tế cá thể nói riêng là hoạt động tồn tại khách quan do đòi hỏi của sản xuất và đời sống xã hội Với quan điểm đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cả trong hiện tại và trong tương lai
Do đó việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế nói riêng và những ảnh hưởng của thành phần kinh tế này đối với xã hội nói chung, một mặt vừa động viên được nguồn thu vào
Trang 26NSNN, mặt khác vừa đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, cũng như tạo môi trường công bằng, bình đẳng cho các thành phần kinh tế phát triển trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như hiện nay
c) Mục tiêu, yêu cầu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Mục tiêu
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về kinh tế nói riêng
Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
+ Tăng thu cho ngân sách Nhà nước
Ở nước ta, số thu bằng thuế hàng năm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số thu của NSNN Số thuế thu được từ khu vực kinh tế cá thể tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập ngân sách nhưng đây lại là lĩnh vực phức tạp, khó quản lý
Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể sẽ có tác dụng động viên, tăng thu cho NSNN
+ Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này
Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Song, những vai trò
đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
+ Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ kinh doanh
Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật thuế cùng với việc tăng cường tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hành các luật thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làm việc theo pháp luật" trong mọi tầng lớp nhân dân
Trang 27+ Thu hết số thuế ghi thu, không để nợ đọng
+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ kinh doanh
+ Quản lý hết các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh (gồm cố định có cửa hàng - cửa hiệu và đối tượng kinh doanh vãng lai)
+ Quản lý sát doanh thu thực tế của đối tượng nộp thuế (thường xuyên kiểm tra sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ, rà soát điều chỉnh thuế hộ khoán ổn định) + Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của ngành đã đề ra cho từng loại đối tượng kinh doanh
2.1.4 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
2.1.4.1 Xây dựng quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Quy trình quản lý thuế là một bộ phận hợp thành các thủ tục hành chính thuế tương ứng với một phương thức quản lý thuế nhất định Mỗi cơ chế quản lý thuế đòi hỏi áp dụng một quy trình quản lý phù hợp với tư duy quản lý thuế, điều kiện kinh
tế - xã hội, trình độ quản lý, trình độ trang thiết bị của cơ quan thuế và trình độ nhận thức của đối tượng nộp thuế nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý (Lê Thị Bích, 2010)
Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở địa bàn nào cũng gặp những khó khăn, bởi các hộ kinh doanh luôn tìm mọi cách trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ nợ đọng thuế, đặc biệt trong cơ chế thị trường như hiện nay Do đó, việc áp dụng quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
là rất cần thiết, để từng bước hiện đại hóa công tác quản lý thuế và thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020, Ngày 06/10/2014 Tổng cục thuế tiếp tục ban hành Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo Quyết định số 1688/QĐ-TCT thay thế cho quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo quyết định 2248 để hướng dẫn các bộ phận tại Chi cục thuế thực hiện đầy đủ, đúng trình tự các bước công việc theo nội dung của Quy trình Trong đó, quy trình quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ của các cấp quản lý, các bộ phận phối hợp tham gia trong công tác quản lý thuế hộ cá thể, cụ thể Quy trình Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể bao gồm các nội dung sau: Quản lý công tác kê khai, đăng ký thuế
Trang 28và danh bạ hộ kinh doanh; Công tác thu thuế đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán (Tính thuế, lập sổ bộ thuế, công khai thuế, thông báo thuế, tổ chức thu nộp thuế); Quản lý nợ thuế đối với hộ kinh doanh; Công tác kiểm tra các hoạt động thu thuế
So với Quy trình Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể kèm theo Quyết định số 2248/QĐ-TCT thì Quy trình 1688 có thay đổi không đáng kể việc phối hợp của các bộ phận, các cơ quan ban ngành thực hiện các công việc quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh, làm rõ hơn trách nhiệm của từng bộ phận nhằm tiến tới mục tiêu quản
lý là: rõ ràng – công khai – dân chủ và minh bạch hơn, đặc biệt là công tác kiểm tra nhằm hạn chế tiêu cực trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, từng bước thực hiện chuyên môn hoá quản lý thuế theo chức năng, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thuế
2.1.4.2 Thủ tục kê khai, đăng ký thuế và phân loại hộ kinh doanh cá thể
a) Thủ tục kê khai, đăng ký thuế (Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
Đội thuế liên xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với chính quyền phường, xã điều tra nắm chắc số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, nắm diễn biến hoạt động của các hộ như: hộ mới ra kinh doanh, hộ nghỉ kinh doanh, hộ di chuyển địa điểm kinh doanh,
- Người nộp thuế kê khai đăng ký thuế có 2 trường hợp:
+ Hộ ra kinh doanh lần đầu (hộ mới ra kinh doanh)
Trước khi kinh doanh, hộ kinh doanh phải gửi giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và hồ sơ kèm theo đến phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện Trên giấy đề nghị đăng ký kinh doanh phải ghi đủ các thông tin về chủ hộ kinh doanh, địa chỉ kinh doanh, số chứng minh nhân dân, địa chỉ cư trú Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Định kỳ vào tuần đầu của tháng, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện gửi danh sách hộ kinh doanh đã đăng ký tháng trước cho cơ quan thuế cùng cấp Căn cứ vào đó, đội thuế cấp phát tờ khai đăng kư thuế và hướng dẫn cách kê khai để người nộp thuế kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế
Trang 29Hộ tạm ngừng kinh doanh
Hộ trước đó đã được cấp mã số thuế nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn sau đó lại ra kinh doanh vẫn phải đăng ký việc thực hiện nộp thuế với cơ quan thuế nhưng không cấp mã số thuế mới Trong trường hợp tạm ngừng kinh doanh từ 30 ngày trở lên, hộ kinh doanh thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trực tiếp quản lý ít nhất là 15 ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không quá một năm, sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu hộ kinh doanh vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho cơ quan đăng ký kinh doanh Ngoài ra, đối với hộ thay đổi nội dung kinh doanh, di chuyển địa điểm kinh doanh đã đăng ký thì hộ kinh doanh phải thông báo nội dung thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký
b) Phân loại hộ kinh doanh cá thể để quản lý (Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
Cơ quan thuế căn cứ vào mức độ và khả năng thực hiện việc ghi chép sổ sách kế toán, lưu giữ hoá đơn chứng từ khi mua bán hàng hoá dịch vụ của hộ kinh doanh để phân loại hộ kinh doanh và áp dụng phương pháp quản lý thuế cho phù hợp Việc phân loại hộ kinh doanh để quản lý thuế dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai là các hộ kinh doanh đã thực hiện đăng ký kinh doanh và được cấp mã số thuế, thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, lưu giữ đầy đủ hoá đơn, chứng từ khi mua, bán hàng hoá dịch vụ và xác định được doanh thu, chi phí; hoặc thực hiện lưu giữ đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và xác định được doanh thu nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ đầu vào, không xác định được chi phí và giá trị gia tăng Việc quản lý nghĩa vụ kê khai, xử lý tờ khai và kế toán thuế, đôn đốc thu nợ thuế của các hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thực hiện theo các quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế và quy trình quản lý nợ thuế của Tổng cục Thuế, tương tự như đối với doanh nghiệp, tổ chức
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là các hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh hoặc không phải đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế, không thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ, có mở sổ sách kế toán,
Trang 30nhưng thực hiện không đúng chế độ kế toán, không đúng quy trình về chế độ hoá đơn chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ; Không thực hiện nộp tờ khai, cơ quan thuế không thể căn cứ vào sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ để xác định số thuế phải nộp phù hợp với thực tế kinh doanh
- Căn cứ vào doanh thu kinh doanh, cơ quan thuế còn phân loại hộ kinh doanh nộp thuế khoán theo nhóm: Hộ kinh doanh thuộc diện không phải nộp thuế GTGT,
hộ kinh doanh thuộc diện nộp thuế khoán Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu quản lý thực
tế tại địa phương, có thể phân loại theo bậc môn bài, theo địa bàn kinh doanh hoặc theo các nhóm ngành nghề kinh doanh cho phù hợp
2.1.4.3 Cấp mã số thuế và quản lý danh bạ hộ kinh doanh cá thể
a) Cấp mã số thuế (Nghị định 43/2010/NĐ-CP, 2010)
Sau khi thực hiện việc rà soát hộ kinh doanh đưa vào quản lý, phân loại hộ mới ra kinh doanh, đội Kê khai - kế toán thuế thực hiện đăng ký cấp mã số thuế cho người nộp thuế Hộ kinh doanh phải làm thủ tục kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được cơ quan thuế cấp mã số thuế
để quản lý
Để quản lý hộ kinh doanh thông qua mã số thuế theo quy định, cơ quan thuế
đã thực hiện rà soát, xác định hộ thực tế đang kinh doanh để làm thủ tục cấp mã số thuế (kể cả cấp mã số thuế tạm đối với trường hợp không đủ giấy tờ), làm thủ tục đóng mã số thuế đối với hộ đã nghỉ, bỏ kinh doanh, nhưng các trường hợp hộ ra kinh doanh không đăng ký thuế hoặc nghỉ, bỏ kinh doanh không khai báo với cơ quan thuế vẫn thường xuyên xảy ra, dẫn đến việc quản lý chính xác số lượng hộ kinh doanh thông qua mã số thuế vẫn là vấn đề nan giải, phức tạp Đây cũng là những khó khăn ngay từ khâu ban đầu định dạng người nộp thuế để đưa thông tin quản lý người nộp thuế lên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế
b) Quản lý danh bạ hộ kinh doanh (Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
Danh bạ quản lý hộ kinh doanh là danh sách các hộ kinh doanh thuộc diện quản lý thuế được lập theo từng địa bàn xã, phường, thị trấn hoặc chi tiết theo từng đường, phố, ngõ xóm Danh bạ quản lý hộ kinh doanh được lập đầy đủ cho tất cả
Trang 31các hộ kinh doanh thực tế có phát sinh hoạt động kinh doanh (bao gồm hộ kinh doanh thuộc diện phải nộp hay không thuộc diện phải nộp thuế GTGT)
Công tác quản lý danh bạ hộ kinh doanh là khâu đầu tiên và quan trọng trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh Nội dung quản lý danh bạ hộ kinh doanh, bao gồm cả quản lý các hộ mới ra kinh doanh, hộ tạm ngừng kinh doanh, hộ kinh doanh nghỉ kinh doanh, hộ kinh doanh bỏ địa chỉ kinh doanh, đối với tất cả các
hộ kinh doanh đã được cấp mã số thuế và hộ kinh doanh không đủ điều kiện cấp mã
số thuế Để phù hợp với thực tế và bao quát được hết các đối tượng quản lý và hộ kinh doanh có phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh, cơ quan thuế đã phối hợp với các ngành trên địa bàn quận, huyện (phòng kinh tế, bộ phận cấp đăng ký kinh doanh của UBND quận/huyện) để thực hiện cấp mã số thuế cho các hộ mới đăng ký kinh doanh; phối hợp với UBND xã phường, thị trấn rà soát mới vào danh bạ quản
lý thu thuế và tăng cường các biện pháp quản lý đối với những lĩnh vực phức tạp, khó quản lý như hoạt động cho thuê cửa hàng, thuê nhà, hoạt động xây dựng tư nhân, vận tải tư nhân
2.1.4.4 Tính thuế và thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Việc quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh thực hiện theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế, hộ kinh doanh nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trong thực tế rất phức tạp, do trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của phần lớn các hộ kinh doanh còn chưa cao, hoạt động kinh doanh thường không ổn định Vì vậy, cùng với việc đôn đốc, tiếp nhận tờ khai thuế, lập bộ, tính thuế, thông báo thuế, cơ quan thuế cần thực hiện niêm yết công khai tiền thuế dự kiến của hộ kinh doanh, tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường về tiền thuế phải nộp của hộ kinh doanh để đảm bảo
sự công bằng, khách quan
a) Xây dựng căn cứ tính thuế (Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
Vấn đề quan trọng nhất trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh là xác định hợp lý doanh thu bình quân tháng trong năm của các hộ kinh doanh để làm căn cứ xác định mức thu nhập tính thuế Từ đó, xác định được hộ thuộc đối tượng không phải nộp thuế khoán và tiền thuế GTGT, thuế TNCN phải nộp của các hộ kinh doanh thuộc diện phải nộp thuế khoán theo quy định
Trang 32- Xác định mức doanh thu không phải nộp thuế theo phương pháp khoán
Cơ quan thuế căn cứ vào chính sách thuế và các quy định hiện hành để xác định mức doanh thu hàng tháng không phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán Việc xác định mức doanh thu tháng không phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán được lãnh đạo Chi cục thuế phê duyệt thực hiện chậm nhất vào ngày 30/11 của năm trước để làm căn cứ xác định các hộ kinh doanh không phải nộp thuế khoán khi lập bộ, tính thuế năm sau
Chi cục thuế thực hiện niêm yết công khai mức doanh thu theo tháng không phải nộp thuế theo phương pháp khoán cùng với việc niêm yết dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp của các hộ kinh doanh
- Tổ chức điều tra doanh thu thực tế
Việc điều tra doanh thu là một biện pháp nghiệp vụ của cơ quan thuế nhằm đánh giá sự sai lệch của việc xác định doanh thu và mức thuế khoán ổn định với thực tế kinh doanh của hộ kinh doanh; làm căn cứ để xây dựng cơ sở dữ liệu giúp cho việc xác định mức thuế khoán kỳ sau đựơc sát đúng hơn
Để thực hiện điều tra doanh thu, chi cục thuế thực hiện các bước công việc sau: + Lập kế hoạch điều tra doanh thu thực tế: Đội tổng hợp nghiệp vu dự toán căn cứ vào nguồn lực quản lý thực tế, lập kế hoạch điều tra doanh thu thực tế của các ngành nghề kinh doanh trọng điểm tại địa phương trong năm, trình lãnh đạo Chi cục Thuế phê duyệt trước ngày 15/2 hàng năm Kế hoạch điều tra doanh thu thực tế được lập chi tiết cho từng quý, đối với từng nhóm ngành nghề kinh doanh, số lượng
hộ kinh doanh trong mỗi nhóm ngành nghề trên địa bàn phải thực hiện điều tra doanh thu, số ngày điều tra doanh thu thực tế
+ Lựa chọn danh sách hộ kinh doanh thực hiện điều tra doanh thu: Căn cứ vào
kế hoạch điều tra doanh số đã được phê duyệt, Đội tổng hợp nghiệp vu dự toán chủ trì phối hợp với đội Kê khai - kế toán thuế lựa chọn ngẫu nhiên các hộ kinh doanh theo các địa bàn, quy mô kinh doanh, để lập danh sách hộ kinh doanh thực hiện điều tra doanh thu thực tế theo từng quý trình lãnh đạo chi cục thuế phê duyệt
+ Thực hiện điều tra doanh thu thực tế: Đội tổng hợp nghiệp vụ dự toán chủ trì
tổ chức thực hiện điều tra doanh thu thực tế của hộ kinh doanh Mỗi tổ công tác
Trang 33điều tra doanh thu bao gồm ít nhất ba (03) cán bộ thuộc các Đội tổng hợp nghiệp vụ
dự toán, đội Kê khai - kế toán thuế và đội thuế Liên xã phường quản lý địa bàn có
hộ kinh doanh thực hiện điều tra Số ngày thực hiện điều tra doanh thu thực tế đối với một hộ kinh doanh ít nhất là trong năm (05) ngày liên tục
+ Việc điều tra có thể thực hiện trực tiếp thông qua việc ghi chép, quan sát các hoạt động kinh tế phát sinh của hộ kinh doanh, số lượng khách hàng, số lượng hàng hoá dịch vụ mua vào, bán ra trong một khoảng thời gian của hộ kinh doanh; hoặc có thể thực hiện gián tiếp thông qua việc trao đổi với chủ hộ kinh doanh, trao đổi với người làm công hoặc khách hàng hoặc thông qua việc tìm hiểu, đánh giá các chi phí
cố định tối thiểu của hoạt động kinh doanh như các chi phí điện, nước, tiền lương, thuê nhà Trên cơ sở đó, tổ công tác ước lượng doanh thu thực tế của hộ kinh doanh trong thời gian một (01) tháng, một (01) năm Kết quả điều tra doanh thu thực tế phải được lập thành biên bản có chữ ký của các thành viên tổ công tác và xác nhận của chủ hộ kinh doanh (nếu có)
+ Tổng hợp kết quả điều tra: đội tổng hợp nghiệp vu dự toán tổng hợp kết quả điều tra trên cơ sở các biên bản điều tra doanh thu thực tế và xác định tỷ lệ sai lệch giữa doanh thu điều tra thực tế và doanh thu xác định mức thuế khoán bình quân theo tình nhóm ngành nghề trên địa bàn Việc tổ chức điều tra doanh thu thực tế và tổng hợp kết quả điều tra được hoàn thành trước ngày 30/11 hàng năm
+ Mức sai lệch giữa số liệu khoán thuế trên sổ bộ với số liệu điều tra doanh thu thực tế là một căn cứ để Chi cục thuế xem xét, xác định doanh thu và tiền thuế khoán ổn định của các hộ kinh doanh trong cùng ngành nghề trong năm sau
- Tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn
Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn là cơ quan tư vấn giúp cho cơ quan thuế xác định mức thuế của các hộ, gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý
Thành phần của hội đồng tư vấn thuế xã, phường bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn – Chủ tịch Hội đồng và các thành viên gồm (01) cán bộ phụ trách về tài chính, (01) cán bộ thuộc Mặt trận tổ quốc, (01) cán bộ thuộc
Trang 34Công an xã, phường, thị trấn; (02) chủ hộ kinh doanh đại diện cho các hộ kinh doanh, (01) công chức thuế của Chi cục thuế quản lý địa bàn xã, phường, thị trấn
Việc lập bộ, tính thuế khoán ổn định hàng năm: Đội thuế liên xã phuờng họp xin ý kiến tham vấn hội đồng tư vấn thuế xã phường về doanh thu, tiền thuế phải nộp của các
hộ kinh doanh cùng với việc niêm yết công khai doanh thu, tiền thuế phải nộp
b) Quy trình lập bộ tính thuế, thông báo thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
(Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
- Lập bộ tính thuế khoán ổn định năm
Lập bộ thuế là việc tính toán, xác định số thuế phải nộp dự kiến của các hộ kinh doanh trong kỳ và ghi chép vào sổ bộ thuế Để xác định được tiền thuế phải nộp trong năm của hộ kinh doanh nộp thuế khoán ổn đinh, cơ quan thuế phải thực hiện các bước công việc bao gồm:
+ Đôn đốc, tiếp nhận tờ khai thuế khoán: Hàng năm từ ngày 20/11 đến ngày 5/12, các đội thuế liên xã phường thuộc các Chi cục thuế tổ chức phát tờ khai và hướng dẫn các hộ kinh doanh kê khai, đôn đốc hộ kinh doanh nộp tờ khai Trên cơ sở số liệu kê khai của hộ kinh doanh, cán bộ đội thuế liên xã phuờng tiến hành kiểm tra, đối chiếu số liệu, thông tin trên tờ khai thuế như sản lượng, doanh thu, khai giảm trừ gia cảnh, với
số liệu tính thuế trên Sổ bộ thuế của tháng (quý) cuối cùng trong năm
+ Dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp: Chi cục thuế dự kiến doanh thu và tiền thuế phải nộp của các hộ kinh doanh, xác định các hộ kinh doanh không thuộc diện phải nộp thuế theo từng địa bàn, từng nhóm ngành nghề dựa trên cơ sở số liệu
kê khai thuế của hộ kinh doanh, thông tin từ cơ sở dữ liệu của ngành thuế, kết quả điều tra doanh thu thực hiện, mức biến động về giá cả theo từng ngành nghề, mặt hàng; dự báo mức tăng trưởng kinh tế trong khu vực và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nộp ngân sách trong năm sau
Tham vấn ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường và công khai doanh thu, mức thuế phải nộp của hộ kinh doanh: Cơ quan thuế niêm yết công khai dự kiến doanh thu, mức thuế phải nộp/hoặc không phải nộp của từng hộ kinh doanh tại những nơi công cộng, thuận lợi cho hộ kinh doanh biết và góp ý (trụ sở UBND xã, phường, trụ sở đội thuế, tại Ban quản lý chợ) trong thời gian từ ngày 02/01 đến ngày 10/01 hàng năm
Trang 35- Tài liệu niêm yết công khai bao gồm:
Danh sách hộ kinh doanh thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN; Danh sách hộ kinh doanh và mức thuế phải nộp;
Địa chỉ nhận thông tin phản hồi, góp ý về nội dung niêm yết công khai
- Duyệt bộ thuế và thông báo thuế
Duyệt số bộ thuế ổn định trong năm: Là việc lãnh đạo Chi cục thuế ký phê duyệt số thuế phải nộp của các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên
sổ bộ thuế sau khi đã họp xin ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường và xem xét
ý kiến phản hồi của các hộ kinh doanh Số liệu sau khi được lãnh đạo chi cục thuế duyệt được ghi vào sổ bộ thuế và làm căn cứ để thông báo số thuế phải nộp cho hộ kinh doanh Thời gian duyệt sổ bộ thuế được thực hiện trước ngày 15/1 hàng năm Căn cứ vào sổ bộ thuế đã được, cơ quan thuế gửi thông báo nộp thuế ổn định năm Thông báo hộ kinh doanh không thuộc diện nộp thuế khoán cho hộ kinh doanh
để làm căn cứ nộp thuế hàng tháng, hàng quý Việc gửi thông báo thuế được thực hiện chậm nhất là ngày 20/01 hàng năm
c) Lập dự toán và đôn đốc thu nộp (Quyết định1688/QĐ-TCT, 2014)
Công tác lập dự toán thu là công việc khá khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp giữa các ban ngành địa phương, sự cân đối giữa chỉ tiêu giao và kết quả dự kiến thực hiện, sự nhận định sát tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương và dự kiến thu - chi Ngân sách cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trên địa bàn
Để công tác lập dự toán thu được tốt, hàng năm vào cuối quý III đầu quý IV, Chi cục thuế huyện tiến hành rà soát các đối tượng nộp thuế trên địa bàn quản lý, rà soát bộ thuế của năm trước, đồng thời căn cứ vào khung hướng dẫn của Tổng Cục thuế và Cục thuế tỉnh để tiến hành lập dự toán thu ngân sách trên địa bàn huyện, báo cáo về cục thuế và sở tài chính tỉnh Căn cứ quyết định giao dự toán của UBND tỉnh, Chi cục thuế tham mưu UBND huyện phân chia dự toán và trình Hội đồng nhân dân huyện xem xét phê chuẩn Căn cứ Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện, Phòng Tài chính và Chi cục thuế phối hợp tham mưu UBND huyện ban hành quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện UBND các xã, thị trấn và các đơn vị
Trang 36được giao dự toán thu có trách nhiệm xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu dự toán thu ngân sách được giao
Việc đôn đốc công tác thu nộp thuế là nhiệm vụ chủ yếu của các cán bộ thuế thuộc Chi cục Thuế Do các hộ kinh doanh có số tiền thuế phát sinh nhỏ, chủ yếu sử dụng tiền mặt (thu thuế bằng biên lai) mà địa điểm lại phân tán khắp nơi nên cơ quan thuế phải tổ chức thu nộp thuế theo các hình thức đa dạng, phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn
- Đối với khu vực trung tâm: Hộ kinh doanh có thể nộp thuế trực tiếp tại các điểm thu của Ngân hàng, kho bạc, cơ quan thuế hướng dẫn, đôn đốc hộ kinh doanh nộp thuế đúng thời hạn quy định
- Đối với hộ kinh doanh tại các xã xa khu vực trung tâm thì cán bộ thuộc đội thuế liên xã phường trực tiếp thu thuế bằng biên lai Cán bộ thuế phải nộp tiền thuế vào Ngân sách tại KBNN trong thời hạn năm (05) ngày kể từ ngày thu tiền thuế đối với địa bàn thu
là các xã vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn; không quá tám giờ làm việc ngày đối với các địa bàn khác Trường hợp số tiền thuế thu được vượt quá mười (10) triệu đồng thì nộp vào NSNN ngay trong ngày hoặc chậm nhất là sáng ngày làm việc tiếp theo
2.1.4.5 Theo dõi và đôn đốc thu nợ đọng thuế
Căn cứ vào quy trình quản lý nợ thuế số 1395/QĐ-TCT ngày 14 tháng 10 năm
2011 của Tổng cục thuế, quản lý nợ thuế bao gồm những nội dung sau:
- Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ; bao gồm:
Phân công quản lý nợ thuế
Phân loại tiền thuế nợ
Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ
Đối chiếu số liệu
Thực hiện đôn đốc thu nộp
- Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp, trình lãnh đạo cơ quan thuế phê duyệt và gửi thông báo cho người nộp thuế theo mẫu số 07/QLN
- Sau khi phát hành Thông báo 07/QLN mười (10) ngày làm việc, nếu người nộp thuế chưa nộp tiền thuế nợ vào NSNN thì phải mời người nộp thuế đến làm việc tại trụ sở cơ quan thuế, sau thời hạn mời làm việc một (01) ngày mà người nộp
Trang 37thuế không đến cơ quan thuế hoặc đã đến nhưng không giải trình đầy đủ hoặc không bổ sung thông tin, tài liệu thì tổ chức làm việc trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế;
- Sau khi làm việc, lập biên bản ghi nhận kết quả, đồng thời, tại biên bản phải yêu cầu người nộp thuế cam kết thực hiện nộp thuế trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế
- Đối với nhóm tiền thuế đã nộp NSNN đang điều chỉnh không ban hành thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp
Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ
Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu (trừ trường hợp
đã được xóa nợ tại điểm 6) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ
Đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ
Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
2.1.4.6 Kiểm tra hoạt động thu thuế
Tổ chức quản lý thu thuế là khâu quan trọng của quá trình quản lý thuế với mục tiêu là thu đúng, đủ thuế Để đảm bảo việc thu đúng, đủ thuế, đòi hỏi công tác kiểm tra việc kê khai thuế của người nộp thuế phải chặt chẽ, phù hợp với thực tế kinh doanh Cơ quan thuế đã xây dựng được cơ chế kiểm tra, giám sát hồ sơ kê khai thuế nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế, ngăn chặn và xử lý kịp thời những
vi phạm về thuế nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế trong việc thực hiện
kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Mục đích và tác dụng của việc kiểm tra là: thông qua kiểm tra sẽ nắm rõ hơn doanh thu kinh doanh thực tế của hộ, từ đó xác định được chính xác số thuế phải nộp, hạn chế được thất thu thuế, tạo công bằng xã hội trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế của hộ kinh doanh cá thể và cũng hạn chế được tiêu cực trong việc cán bộ thuế thông đồng với hộ kinh doanh để chia thuế, hưởng lợi bất chính
Trang 38Về công tác kiểm tra hoạt động thu thuế chủ yếu được thực hiện tại cơ sở kinh doanh của hộ, bao gồm: Kiểm tra theo đơn xin nghỉ kinh doanh của hộ kinh doanh, giám sát việc kê khai doanh thu, đôn đốc và xử lý các hộ không chấp hành việc kê khai, nộp thuế
- Tập trung kiểm tra những hộ kinh doanh cá thể có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, những hộ kinh doanh cá thể không có doanh số bán ra nhiều tháng trong năm
- Tăng cường kiểm tra việc quản lý hộ, quản lý doanh thu, khai thác nguồn thu, đảm bảo 100% số hộ có kinh doanh phải được quản lý thu thuế, mức thuế sát với thực tế kinh doanh
- Thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra nội bộ ngành về việc chấp hành các quy trình nghiệp vụ trong công tác thuế ở các đội thuế xã, phường, chợ trong việc chấp hành 10 điều kỷ luật của cán bộ thuế Xử lý thích đáng đối với cán bộ công chức không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc có những vi phạm chính sách thuế, vi phạm quy định của ngành
2.1.5 Các sắc thuế hiện hành đối với hộ KDCT
Kể từ ngày 01/01/1999, sau khi thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, hệ thống thuế nước ta bao gồm 10 sắc thuế, trong đó đối với các hộ KDCT trên địa bàn Thị Xã Từ Sơn áp dụng 3 sắc thuế chủ yếu và nội dung cơ bản của các sắc thuế này đối với hộ KDCT trên địa bàn Thị xã Từ Sơn như sau:
2.1.5.1 Thuế môn bài đối với hộ kinh doanh cá thể
Khái niệm
Thuế môn bài là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm Mức thuế được áp dụng theo số tuyệt đối căn cứ vào loại hình doanh nghiệp hoặc mức thu nhập/ tháng của hộ kinh doanh
Theo quy định tại thông tư 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính thì cá nhân, hộ kinh doanh cá thể nộp thuế Môn bài theo 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng/năm căn cứ vào vốn đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư
Trang 39Thời gian nộp thuế môn bài: Cơ sở kinh doanh đang kinh doanh hoặc mới
thành lập được cấp đăng ký thuế và MST trong thời gian của 6 tháng đầu năm thì nộp mức môn bài cả năm Nếu thành lập, được cấp đăng ký thuế, MST trong thời gian 6 tháng cuối năm, thì nộp 50% mức thuế môn bài cả năm Đối với người nộp thuế đang hoạt động kinh doanh đã khai, nộp thuế Môn bài thì không phải nộp hồ
sơ khai thuế Môn bài cho các năm tiếp theo nếu không thay đổi các yếu tố làm thay đổi mức Môn bài phải nộp
Tuy số thu hàng năm của thuế môn bài luôn giữ một địa vị khiêm nhường so với số thu các loại thuế khác nhưng đây lại là một tài nguyên tương đối vững chắc cho NSNN, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngay từ đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa phát sinh hoặc có phát sinh nhưng chưa nhiều Một ưu điểm quan trọng nhất của thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho thuế TNCN và thuế GTGT, thuế TTĐB Vì thế, thuế môn bài có tác dụng kiểm kê, kiểm soát, các
cơ sở kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc hành thu các loại thuế có số thu cao như thuế TNCN và thuế GTGT nói chung và công tác rà soát hộ mới ra kinh doanh đưa vào quản lý nói riêng
2.1.5.2 Thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh cá thể
Khái niệm
Thuế GTGT đối với hộ KDCT là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng
thêm của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng
Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các hộ, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
Phương pháp tính thuế: Bao gồm phương pháp khấu trừ thuế và phương
pháp tính trực tiếp Trong đó, đối với các hộ KDCT trên địa bàn Thị xã Từ Sơn chỉ
áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp
Theo quy định tại Luật số 31/2013 QH13, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, quy định về ngưỡng doanh thu nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014, thì việc xác định thuế GTGT phải nộp của hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu theo công thức sau:
Trang 40Trường hợp cơ sở kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thì không áp dụng tỷ
lệ phần trăm trên doanh thu
Trường hợp hộ, cá nhân nộp thuế theo phương pháp khoán kinh doanh nhiều ngành nghề thì cơ quan thuế xác định số thuế phải nộp theo tỷ lệ của hoạt động kinh doanh chính
* Danh mục ngành nghề tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu
1 Phân phối, cung cấp hàng hoá: tỷ lệ 1%
- Hoạt động bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa (trừ giá trị hàng hóa đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng)
2 Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ 5%
- Dịch vụ lưu trú, kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ;
- Dịch vụ cho thuê nhà, đất, cửa hàng, nhà xưởng, cho thuê tài sản và đồ dùng cá nhân khác;
- Dịch vụ cho thuê kho bãi, máy móc, phương tiện vận tải; Bốc xếp hàng hoá và hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải như kinh doanh bến bãi, bán vé, trông giữ phương tiện;
- Dịch vụ bưu chính, chuyển phát thư tín và bưu kiện;
- Dịch vụ môi giới, đấu giá và hoa hồng đại lý;
- Dịch vụ tư vấn pháp luật, tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán; dịch vụ làm thủ tục hành chính thuế, hải quan;