1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương

124 504 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG 3.1 Kết quả thu chi NSNN qua KBNN Hải Dương giai đoạn 2010-2014 32 4.1 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương 4.2 Kết quả kiểm soát chi các khoản thanh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ ĐỨC HƯNG

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ ĐỨC HƯNG

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC TỈNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 60.34.04.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS NGUYỄN HỮU KHÁNH

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học

vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hưng

Trang 4

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng nghiệp công tác tại kho bạc Nhà nước tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Đức Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

2.1.3 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN 10 2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát chi ngân sách nhà nước 20

Trang 6

3.1.1 Vị trí, đặc điểm và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương 30

4.1 Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

4.1.1 Cơ sở pháp lý để thực hiện KSC thường xuyên 40 4.1.2 Chấp hành quy trình trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN 41 4.1.3 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN 43 4.1.4 Kết quả kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán 54 4.1.5 Kết quả kiểm soát phương thức chi trả thanh toán 57 4.2 Đánh giá tình hình thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN

4.2.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 62 4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác KSC thường xuyên NSNN qua

4.4 Giải pháp tăng cường công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

Trang 7

5.2 Kiến nghị 98

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Kết quả thu chi NSNN qua KBNN Hải Dương giai đoạn 2010-2014 32

4.1 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương

4.2 Kết quả kiểm soát chi các khoản thanh toán cá nhân 47 4.3 Kết quả kiểm soát chi các khoản chuyên môn nghiệp vụ 49 4.4 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối với các

4.5 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối với các

4.6 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối với các

4.7 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối với các

4.8 Kết quả thanh toán cá nhân qua tài khoản 58 4.9 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KSC thường xuyên của KBNN Hải Dương 60 4.10 Bảng chi tiết kết quả số tiền từ chối thanh toán do các yếu tố khác

4.11 Kết quả kiểm soát số chi so với dự toán được giao tại KBNN Hải

4.12 Kết quả đánh giá ý kiến của khách hàng về trình độ năng lực của cán

Trang 10

4.16 Tình hình điều chỉnh dự toán chi thường xuyên giai đoạn 2010-1014 75 4.17 Kết quả đánh giá ý kiến của khách hàng về dự toán và quy chế chi

4.18 Kết quả đánh giá ý kiến của cán bộ KSC về ý thức chấp hành chế độ,

tiêu chuẩn, định mức chi và tính chủ động của khách hàng 77 4.19 Kết quả đánh giá ý kiến của khách hàng về tạm ứng chi NSNN 78 4.20 Kết quả đánh giá ý kiến của cán bộ KSC về trình độ năng lực của kế

toán các đơn vị, những hồ sơ khó kiểm soát 78 4.21 Kết quả đánh giá ý kiến của khách hàng về lập hồ sơ chứng từ thanh toán 79

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Doanh số hoạt động tại KBNN Hải Dương, 1990-2014 34

Sơ đồ 4.1 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Tỉnh

Trang 12

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của nhà nước, lĩnh vực tài chính - ngân sách nói chung và quản lý quỹ ngân sách của kho bạc nhà nước (KBNN) nói riêng đã có sự đổi mới căn bản, nhờ

đó đã mang lại những kết quả đáng khích lệ Chi ngân sách nhà nước (NSNN) đã trở thành công cụ đắc lực trong điều hành vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Chi tiêu NSNN những năm qua, ngoài việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, ổn định đời sống kinh tế - xã hội, còn tạo tiền đề, những cơ sở vật chất quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tác động tích cực vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong từng khâu hoặc từng bộ phận của quy trình quản lý chi NSNN nói chung và kiểm soát chi qua KBNN nói riêng còn bộc lộ những khiếm khuyết, kém hiệu quả Năm 2013, kiểm toán Nhà nước đối với ngân sách 2012 cho thấy có 8.622,5 tỷ đồng thu, chi sai nguyên tắc phải xử lý, trong

đó có 2.339,5 tỷ đồng là tiền từ NSNN Trong lĩnh vực chi thường xuyên, Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện nhiều hình thức làm thất thoát, gây sai phạm như, lấy ngân sách cho vay, tạm ứng, tự chi các khoản vượt thu, tăng thu, sử dụng ngân sách dự phòng sai quy định, hỗ trợ không đúng chế độ, chi vượt tiêu chuẩn, định mức về mua sắm Riêng trong lĩnh vực chi tiêu hành chính, thất thoát lên đến 861,8 tỷ đồng Hầu hết các tỉnh được kiểm toán đều chi ngân sách thường xuyên vượt dự toán Cá biệt, có những tỉnh chi vượt dự toán rất cao, trên 100% (Kiểm toán nhà nước, 2010)

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Tất cả các bộ, ngành, địa phương và tổ chức đã tích cực triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Tuy nhiên, tình trạng buông lỏng quản lý, vi phạm các nguyên tắc quản lý tài chính, ngân sách, làm thất thoát tài sản của Nhà nước còn rất lớn KBNN với chức năng kiểm soát chi NSNN như “người gác cổng” giữ cho các chế độ về chi tiêu ngân sách không bị phá

Trang 13

vỡ, góp phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Đối với tỉnh Hải Dương, mặc dù sau nhiều năm thực hiện quản lý và kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo Luật NSNN, tỉnh Hải Dương đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động quản lý vốn NSNN trên địa bàn Cân đối thu, chi ngân sách tỉnh ngày càng vững chắc và ổn định, mọi khoản chi NSNN của các đơn vị đều được kiểm tra, kiểm soát và dần đi vào nề nếp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc quản lý, sử dụng các khoản chi NSNN ở tỉnh Hải Dương thông qua kiểm soát chi tại KBNN vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, hiệu quả các khoản chi ngân sách còn thấp, vẫn diễn ra tình trạng chi thường xuyên còn sai chế độ, sai định mức quy định, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung, khống khối lượng dẫn đến lãng phí, thất thoát ngân sách nhà nước Mặt khác cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN hiện hành tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng vẫn còn những tồn tại, làm hạn chế hoạt động của NSNN và tạo ra tình trạng lỏng lẻo, phá vỡ kỷ luật, kỷ cương tài chính của Nhà nước, bộ máy kiểm soát chi (KSC) NSNN vẫn chưa được hiện đại hoá, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước và thế giới

Để đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN, việc tăng cường công tác KSC là rất cần thiết thể hiện ở các khía cạnh sau (Luật NSNN, 2002):

Thứ nhất, luật NSNN và nhiều văn bản pháp luật sau đó đã có điều chỉnh,

sửa đổi rất căn bản đối với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng Đây

là cơ sở pháp lý quan trọng đối với kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói riêng Vì vậy, KBNN cũng đổi mới cơ chế kiểm soát chi nói chung và kiểm soát chi thường xuyên nói riêng cho phù hợp với luật NSNN sửa đổi và các văn bản pháp luật khác nhau có liên quan

Thứ hai, yêu cầu đặt ra là các chi NSNN phải đảm bảo đúng mục đích, tiết

kiệm và có hiệu quả Tăng cường kiểm soát chi thường xuyên sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế- xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia

Thứ ba, tăng cường kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc nhà

nước nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời những tiêu cực của các đơn vị sử dụng

Trang 14

ngân sách; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong quản lý để kiến nghị, sửa đổi, bổ sung kịp thời, làm cho cơ chế quản lý, kiểm soát chi NSNN ngày càng chặt chẽ hơn

Thứ tư, tình trạng lãng phí và vi phạm chế độ chi tiêu NSNN còn phổ biến

Phần lớn các đơn vị hưởng kinh phí NSNN luôn có xu hướng xây dựng dự toán chi cao hơn nhu cầu thực tế và trong quá trình chấp hành dự toán luôn tìm cách sử dụng hết phần kinh phí đã được cấp mà không chú trọng đến tiết kiệm và hiệu quả trong

sử dụng kinh phí NSNN, từ đó dẫn đến các khoản chi sai chế độ, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức Thậm chí, một số đơn vị ngụy tạo chứng từ để hợp thức hóa các khoản chi sai chế độ Vì vậy, KBNN cần phải có giải pháp tăng cường kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN đảm bảo phát hiện và ngăn chặn kịp thời các khoản chi sai chế độ của đơn vị sử dụng ngân sách Đồng thời, cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị

có liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải

pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hải Dương” Với mong muốn đưa ra những giải pháp nhằm góp

phần giải quyết vấn đề thực tiễn cụ thể

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng và đánh giá những yếu tổ ảnh hưởng đến KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương, đề tài đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN tỉnh Hải Dương

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung, đề tài hướng tới bốn mục tiêu cụ thể:

- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận chung liên quan đến công tác

KSC thường xuyên NSNN

- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác KSC thường xuyên NSNN giai

đoạn 2010 – 2014 tại KBNN Hải Dương

- Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến công tác KSC thường xuyên NSNN

Trang 15

tại KBNN Hải Dương

- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm tăng cường công tác KSC

thường xuyên NSNN tại KBNN Hải Dương

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu cụ thể đề tài hướng tới giải quyết

ba câu hỏi nghiên cứu:

- Chi thường xuyên NSNN có vị trí như thế nào trong hệ thống KBNN?

- Công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương được thực hiện như thế nào? Những vấn đề xuất hiện trong thời gian qua là gì?

- Những giải pháp nào cần thực hiện để tăng cường công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Hải Dương?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến chế độ, cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 06/2014 đến tháng 06/2015

Trang 16

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái quát về ngân sách nhà nước

Thuật ngữ "Ngân sách Nhà nước" có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau Theo Luật NSNN được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002,

“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Tuy đa dạng, phong phú như vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung là gắn với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước

Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nước

Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trị tổng sản phẩm

xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Như vậy, chúng ta thấy rằng thu, chi của NSNN hoàn toàn không giống bất

kỳ một hình thức thu chi của một loại quỹ nào Thu của NSNN phần lớn đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của NSNN lại mang tính chất không hoàn lại Đây là đặc trưng nổi bật của NSNN trong bất cứ một Nhà nước nào Xuất phát từ

Trang 17

quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý

và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước Sự bắt buộc

đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước

Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất hoạt động của NSNN, nói lên bản chất của NSNN Mọi hoạt động của NSNN đều nhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước tạo lập thông qua NSNN (Luật NSNN, 2002) Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào NSNN và phần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có

để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa là thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội Do vậy muốn có NSNN đúng đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích cho các thành viên trong xã hội Một NSNN lớn mạnh phải đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dưỡng nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng tăng

Như vậy bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động

và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý

Trang 18

và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước

NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm Ở nước ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày

31 tháng 12 năm dương lịch NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Trong đó, Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền quyết định

dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN

2.1.2 Chi thường xuyên NSNN

2.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò

Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà Nhà nước vẫn phải cung ứng Hay nói cách khác, chi thường xuyên là các khoản chi gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước, có thời hạn tác động ngắn, thường dưới một năm (Luật NSNN, 2002)

Chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Một là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang tính

ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm

Hai là, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, những khoản chi thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra một môi trường kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng lao động thông qua các khoản chi cho giáo dục - đào tạo

Ba là, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì bảo đảm hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước

Trang 19

Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trục tiếp đến việc định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN

Chi thường xuyên NSNN có vai trò rất quan trọng Vai trò đó thể hiện trên các mặt cụ thể như sau:

Thứ nhất, chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức

năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước

Thứ hai, chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định

và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

Thứ ba, thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh

thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước

Thứ tư, chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an

ninh Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo ổn định, an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng

2.1.2.2 Phân loại chi thường xuyên ngân sách Nhà nước

Nội dung chi thường xuyên NSNN được phân biệt theo lĩnh vực chi, đối tượng chi và tính chất chi tiêu (Luật NSNN, 2002) Cụ thể như sau:

Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm 12 nội dung chi

theo luật định:

- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác

- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế

- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

- Hoạt động của các cơ quan nhà nước

- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam

Trang 20

- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước

- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước

- Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội

- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội

- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

Theo đối tượng chi trả, chi thường xuyên NSNN bao gồm các nội dung chủ

- Các khoản chi hỗ trợ và bổ sung nhằm thực hiện các chính sách xã hội hay thực hiện điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước

- Các khoản chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước

- Các khoản chi khác

Theo tính chất của từng khoản chi, nội dung chi thường xuyên NSNN bao

gồm các khoản như sau:

- Chi thanh toán cá nhân, là các khoản chi liên quan trực tiếp đến con người như, chi tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, chi học bổng, sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên, chi đóng bảo hiểm xã hội cho người hưởng lương từ NSNN, chi tiền thưởng, phúc lợi tập thể

- Chi nghiệp vụ chuyên môn, là các khoản chi đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị thụ hưởng NSNN như, chi mua văn phòng phẩm, chi trả dịch vụ công cộng, chi mua hàng hoá vật tư, công cụ dụng cụ dùng trong công tác chuyên môn của từng ngành, chi bảo hộ lao động, trang phục, đồng phục và các khoản khác

Trang 21

- Chi mua sắm, sửa chữa, chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác

- Chi khác gồm các khoản chi phí chung của mỗi đơn vị nhằm duy trì sự hoạt động, quản lý điều hành của mỗi đơn vị đó như thông tin, tuyên truyền, chi tiếp khách

2.1.3 Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

2.1.3.1 Khái niệm, đặc điểm

Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

KSC thường xuyên có những đặc điểm gắn liền với những khoản chi thường xuyên nên phần lớn công tác KSC diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định KSC thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực và rất nhiều nội dung nên rất đa dạng và phức tạp Chính vì thế, những quy định trong KSC thường xuyên rất phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng

có những tiêu chuẩn, định mức riêng

KSC thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như chi về tiền lương, tiền công, học bổng, gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, các khoản chi về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng Mặt khác, tất cả các đơn vị thụ hưởng NSNN đều có tâm lý muốn giải quyết kinh phí trong những ngày đầu tháng làm cho cơ quan KSC là KBNN luôn gặp áp lực về thời gian trong những ngày này KSC thường xuyên phải kiểm soát những khoản chi nhỏ nên cơ sở để KSC như hóa đơn, chứng từ, để chứng minh cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh thường không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu tính pháp lý, gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ KSC

Trang 22

2.1.3.2 Yêu cầu và nguyên tắc KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

Theo Luật NSNN 2002 thì tất cả các khoản chi thường xuyên NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi Các khoản chi phải được thực hiện trong năm ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà nước Các khoản chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều chỉnh thu nhập,

hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội

Các khoản chi phải được kiểm tra trước, trong và sau thanh toán Mọi khoản chi đều phải nằm trong dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đúng chế độ, đúng định mức và được thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người có thẩm quyền phê duyệt Các đơn vị sử dụng NSNN phải mở tài khoản tại KBNN chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, hạch toán, thanh toán, quyết toán NSNN, KBNN có trách nhiệm kiểm soát hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán các khoản chi đối với các khoản chi không đủ điều kiện chi, không đúng đối tượng, không đúng dự toán được duyệt

Mọi khoản chi được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách Nhà nước Các khoản chi bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Ngoài ra, tùy theo tính chất của từng khoản chi, các hồ sơ và chứng từ thanh toán cần thiết đối với từng loại chi như sau:

Chi thanh toán cá nhân, bao gồm chi tiền lương, chi học bổng và sinh hoạt phí của học sinh, tiền thuê người lao động cần có đủ hồ sơ, văn bản được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chẳng hạn, với các khoản chi tiền lương cho cá nhân cần có các văn bản, giấy tờ như bảng đăng ký biên chế quỹ lương đã được cơ quan Nhà nước có thẩm

Trang 23

quyền phê duyệt (gửi lần đầu), danh sách những người hưởng lương và phụ cấp lương (gửi lần đầu), bảng tăng, giảm biên chế và quỹ tiền lương được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (nếu có)

Chi nghiệp vụ chuyên môn đòi hỏi phải có các hồ sơ, chứng từ có liên quan như hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho kiêm hóa đơn bán hàng, các chứng từ gốc khác có liên quan của đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ khi giao hàng hoặc thực hiện hợp đồng dịch vụ

Chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản

cố định cần có các giấy tờ như dự toán chi quý về mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định được cấp có thẩm quyền duyệt, quyết định phê duyệt kết quả đầu thầu hoặc quyết định chỉ định đấu thầu của cấp có thẩm quyền, hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, phiếu báo giá của đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ, hóa đơn bán hàng, vật tư, thiết bị, các hồ sơ, chứng từ khác có liên quan

Các khoản chi khác đòi hỏi phải có bảng kê chứng từ thanh toán có chữ ký của thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được ủy quyền, các hồ sơ chứng từ khác có liên quan

2.1.3.3 Nội dung và quy trình KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

Theo Thông tư 161/2012-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài Chính, nội dung của KSC thường xuyên NSNN qua KBNN gồm kiểm soát việc lập dự toán chi thường xuyên ngân sách qua KBNN, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của bản dự toán

do đơn vị gửi đến Kho bạc trước khi thực hiện nhập vào chương trình

Kiểm soát việc chấp hành chi thường xuyên ngân sách của các đơn vị dự toán qua KBNN Khi có nhu cầu chi, ngoài các hồ sơ gửi KBNN một lần (dự toán chi NSNN, bản đăng ký biên chế quỹ lương, học bổng, sinh hoạt phí,) đơn vị sử dụng NSNN gửi KBNN nơi giao dịch các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan như, giấy rút dự toán NSNN, các hồ sơ khác phù hợp với tính chất của từng khoản chi đã quy định như bản dự trù, quyết toán tổ chức hội nghị, bản quyết toán công tác phí, quyết định chỉ định thầu, hóa đơn, phiếu thu, phiếu chi Chứng từ thanh toán gồm, giấy rút dự toán NSNN, bảng kê chứng từ thanh toán, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng Sau đó KBNN kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự

Trang 24

toán NSNN, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp có thẩm quyền phân bổ Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN, KBNN căn cứ vào dự toán NSNN đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân

bổ để kiểm soát và thanh toán cho đơn vị Sau khi kiểm soát hồ sơ, chứng từ chi của đơn vị, KBNN thực hiện, trường hợp có đầy đủ các điều kiện chi theo quy định, KBNN làm thủ tục chi trả, thanh toán cho đơn vị sử dụng NSNN theo quy định Kiểm soát phương thức chi trả thanh toán, việc chi trả, thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức, cấp tạm ứng và cấp thanh toán Cấp tạm ứng là các khoản chi hành chính như văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ, điện nước, hội nghị, tiếp khách và các khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa xây dựng nhỏ, sửa chữa lớn tài sản cố định chưa đủ điều kiện cấp phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng Mức cấp tạm ứng tùy thuộc vào tính chất của từng khoản chi theo đề nghị của đơn vị sử dụng NSNN, phù hợp với tiến độ thực hiện và tối đa không vượt quá dự toán NSNN được phân bổ

Trình tự, thủ tục tạm ứng, đơn vị sử dụng NSNN gửi KBNN các hồ sơ, tài liệu liên quan đến từng khoản chi và kèm theo giấy rút dự toán NSNN (tạm ứng) ghi rõ nội dung tạm ứng, KBNN kiểm tra, kiểm soát các nội dung hồ sơ, tài liệu, nếu đủ điều kiện theo quy định thì cấp tạm ứng cho đơn vị Thanh toán tạm ứng, khi thanh toán, đơn vị sử dụng NSNN có trách nhiệm gửi đến KBNN giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, kèm theo các hồ sơ, chứng từ có liên quan để KBNN kiểm soát, thanh toán Nếu đủ điều kiện thì KBNN thực hiện thanh toán tạm ứng cho đơn vị sử dụng NSNN

Nếu số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng thì căn cứ giấy đề nghị thanh toán của đơn vị, KBNN chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (số

đã tạm ứng) và yêu cầu đơn vị lập giấy rút dự toán NSNN để cấp thanh toán bổ sung cho đơn vị (số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng) Nếu số đề nghị thanh toán nhỏ hơn số đã tạm ứng thì căn cứ giấy đề nghị thanh toán của đơn vị,

Trang 25

KBNN làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (bằng số đề nghị thanh toán tạm ứng) Nếu số tạm ứng chưa đủ điều kiện thanh toán, các đơn vị sử dụng NSNN có thể thanh toán trong tháng sau, quý sau Tất cả các khoản đã tạm ứng để chi theo dự toán NSNN đến hết ngày 31 tháng 12 chưa đủ thủ tục thanh toán, được tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán và quyết toán vào niên độ ngân sách năm trước Trường hợp hết thời gian chỉnh lý quyết toán mà vẫn chưa đủ thủ tục thanh toán thì đối với phần kinh phí tự chủ, kinh phí thường xuyên đơn vị được chuyển sang mà không phải đề nghị cơ quan tài chính đồng cấp, đối với kinh phí không thực hiện tự chủ, kinh phí không thường xuyên thì phải đề nghị cơ quan tài chính đồng cấp xem xét cho chuyển tạm ứng sang năm sau

Nếu không đề nghị hoặc đề nghị không được chấp thuận thì KBNN thu hồi tạm ứng bằng cách trừ vào mục chi tương ứng thuộc dự toán chi NSNN năm sau của đơn vị Nếu dự toán chi NSNN năm sau không bố trí mục chi tương ứng hoặc

bố trí, nhưng thấp hơn số phải thu hồi tạm ứng, KBNN thông báo cho cơ quan tài chính biết và xử lý theo quyết định của cơ quan tài chính Riêng khoản tạm ứng bằng tiền mặt đến cuối ngày 31 tháng 12 chưa chi hết sẽ phải nộp trả NSNN và hạch toán giảm chi ngân sách năm hiện hành, ngoại trừ các khoản phải chi theo chế

độ nhưng chưa chi như tiền lương, trợ cấp, phụ cấp lương, học bổng Để đảm bảo đơn vị sử dụng NSNN có tiền mặt chi trong những ngày đầu năm, đơn vị sử dụng NSNN phải làm thủ tục với KBNN xin tạm ứng tiền mặt thuộc nguồn kinh phí NSNN năm sau

Các khoản cấp thanh toán bao gồm, lương, phụ cấp lương, học bổng, sinh hoạt phí, các khoản chi đủ điều kiện cấp thanh toán trực tiếp, các khoản tạm ứng

đủ điều kiện chuyển từ cấp tạm ứng sang thanh toán tạm ứng Mức cấp thanh toán, căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chi NSNN theo đề nghị của đơn vị sử dụng NSNN, mức cấp thanh toán tối đa trong năm không vượt quá nhu cầu chi dự toán NSNN năm được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân bổ (bao gồm cả chi tạm ứng chưa được thu hồi)

Trình tự, thủ tục cấp thanh toán, khi có nhu cầu cấp thanh toán, các đơn vị sử dụng NSNN gửi KBNN các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan theo

Trang 26

chế độ quy định, KBNN kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, chứng

từ, đối chiếu với dự toán NSNN được duyệt, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc chi trả qua đơn vị sử dụng NSNN

Quy định về tạm cấp kinh phí NSNN, vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và phương án phân bổ dự toán NSNN chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, hoặc phải điều chỉnh dự toán ngân sách theo quy định, cơ quan tài chính và KBNN thực hiện tạm cấp kinh phí NSNN cho các nhiệm vụ chi sau:

- Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương

- Chi nghiệp vụ và công vụ phí, một số khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy, trừ các khoản chi mua sắm thiết bị, sửa chữa

- Chi dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia

- Chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới

Căn cứ vào mức chi do cơ quan tài chính thông báo (bằng văn bản), KBNN thực hiện tạm cấp kinh phí NSNN cho đơn vị sử dụng NSNN, tối đa không vượt quá mức chi bình quân 1 tháng của năm trước Sau khi dự toán và phương án phân bổ dự toán NSNN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, KBNN thực hiện thu hồi số kinh phí tạm cấp bằng cách trừ vào các mục chi tương ứng trong dự toán NSNN được phân bổ của đơn vị sử dụng NSNN

Kiểm soát và lưu giữ chứng từ tại KBNN, đối với những khoản chi KBNN thanh toán trực tiếp, đơn vị sử dụng NSNN phải gửi KBNN toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan để kiểm soát, KBNN kiểm tra các hồ sơ, chứng từ, đóng dấu “Đã thanh toán”

và trả lại đơn vị KBNN chỉ lưu dự toán NSNN được duyệt, bảng đăng ký biên chế- quỹ lương, học bổng, sinh hoạt phí, hợp đồng mua bán hàng hóa, thiết bị, sửa chữa tài sản, quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, quyết định chỉ định thầu, phiếu giá thanh toán, bảng kê thanh toán

Đối với những khoản thanh toán tạm ứng, trường hợp thanh toán tạm ứng các khoản mua sắm, sửa chữa nhỏ, các đơn vị sử dụng NSNN phải mang toàn bộ hồ

sơ, chứng từ liên quan đến KBNN theo quy định để KBNN kiểm soát và lưu giữ chứng từ như trường hợp KBNN thanh toán trực tiếp, trường hợp thanh toán tạm

Trang 27

ứng đối với những khoản chi thường xuyên khác, các đơn vị sử dụng NSNN căn cứ vào chứng từ gốc của từng khoản chi để lập 2 liên “Bảng kê chứng từ thanh toán” gửi KBNN KBNN kiểm tra, kiểm soát và lưu 1 liên vào hồ sơ kế toán (kiểm soát chi) Đơn vị sử dụng NSNN chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của Bảng kê chứng từ thanh toán

Quy trình kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN được thực hiện chủ yếu ở khâu kiểm soát trong khi chi, bao gồm các quy trình (Thông tư 161/2012/TT-BTC)

Thứ nhất, căn cứ theo dự toán được phân bổ, nhu cầu chi đã gửi KBNN và

theo yêu cầu nhiệm vụ chi, đơn vị sử dụng NSNN lập giấy rút dự toán ngân sách, kèm theo hồ sơ thanh toán gửi đến KBNN nơi giao dịch Trường hợp được cơ quan

có thẩm quyền thông báo điều chỉnh nhu cầu chi quý thì đơn vị chỉ được chi trong giới hạn điều chỉnh

Thứ hai, KBNN kiểm tra hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi theo quy định

và giấy rút dự toán ngân sách của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc của người được ủy quyền Trường hợp đủ điều kiện theo quy định thì thực hiện việc chi trả, thanh toán cho đơn vị thụ hưởng NSNN Trường hợp chưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua KBNN ở tất cả các khoản chi thì được phép cấp tạm ứng đối với một số khoản chi theo quy định của Bộ tài chính Sau khi hoàn thành công việc và có đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi Trường hợp các khoản chi chưa đủ điều kiện chi theo quy định (không có trong dự toán được duyệt, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, không đủ hồ sơ, chứng

từ hợp pháp, hợp lệ), KBNN từ chối chi trả và thông báo cho đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý Thủ trưởng cơ quan KBNN là người có quyền đưa ra quyết định từ chối và hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định từ chối của mình

2.1.3.4 Công cụ KSC thường xuyên NSNN qua KBNN

Công cụ KSC thường xuyên NSNN qua KBNN gồm có 5 công cụ kiểm soát (Thông tư 161/2012/TT-BTC):

Thứ nhất, kế toán NSNN là một trong những công cụ quan trọng gắn liền với

hoạt động quản lý NSNN của KBNN Công cụ này có vai trò tích cực trong việc

Trang 28

quản lý, điều hành và kiểm soát hoạt động thu, chi NSNN Kế toán NSNN phản ánh chính xác đầy đủ, kịp thời tình hình thu, chi NSNN Đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để các cơ quan chức năng điều hành ngân sách có hiệu quả cao Một trong những chức năng quan trọng của kế toán NSNN là hạch toán kế toán, kiểm tra tình hình cấp phát kinh phí NSNN, nó là công cụ chủ yếu để KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Kế toán NSNN cung cấp số liệu tồn quỹ NSNN, số liệu

về tình hình nhập, xuất, tồn dự toán chi của đơn vị sử dụng NSNN Đây là một trong những căn cứ quan trọng để KBNN xem xét các khoản chi của đơn vị có đủ điều kiện hay không từ đó đưa ra quyết định cấp phát hay từ chối cấp phát

Thứ hai, hệ thống mục lục NSNN là bảng phân loại các khoản thu, chi

NSNN theo hệ thống tổ chức Nhà nước, ngành kinh tế và các mục đích kinh tế - xã hội do Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công tác lập, chấp hành, kế toán, quyết toán NSNN và phân tích các hoạt động kinh tế tài chính thuộc khu vực Nhà nước Mục lục NSNN là một trong những công cụ không thể thiếu trong công tác KSC Nội dung, kết cấu và cách sử dụng công cụ mục lục NSNN là một trong những cơ sở đánh giá khả năng quản lý NSNN của một quốc gia Hệ thống mục lục NSNN có bao quát được các hoạt động kinh tế và các giao dịch kinh tế của Nhà nước thì việc thu thập, phân tích và

xử lý số liệu mới đầy đủ, qua đây cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho công tác lập

dự toán NSNN, điều hành, quản lý, kiểm soát NSNN

Thứ ba, định mức chi ngân sách là một chuẩn mực do cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền quy định đối với từng nội dung chi NSNN Định mức chi ngân sách là cơ

sở để tính toán khi lập dự toán và cũng là căn cứ để KBNN đối chiều với từng khoản chi của đơn vị sử dụng NSNN trong quá trình KSC NSNN Mức chi thực tế của từng nội dung chi không được vượt quá định mức chi đối với nội dung đó Định mức chi có định mức tuyệt đối và định mức tương đối Định mức tuyệt đối là mức chi đối với một nội dung cụ thể Định mức tương đối là tỷ lệ giữa các nội dung chi khác nhau

Thứ tư, hợp đồng mua sắm, sửa chữa tài sản là cơ sở để KBNN kiểm soát các

khoản chi về mua sắm tài sản, xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn tài sản cố định Giá trị hợp đồng, thời hạn hợp đồng, bản thanh lý hợp đồng, là căn cứ để KBNN thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ Những hợp đồng có giá trị lớn phải

Trang 29

thông qua các hình thức đấu thầu theo quy định

Thứ năm, thiết bị tin học là công cụ hỗ trợ cho công tác kiểm soát các khoản

chi Công tác KSC thường xuyên có thể thực hiện bằng các phương pháp thủ công, nhưng với sự hỗ trợ của thiết bị tin học, một số khâu của công tác KSC được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm thời gian hơn rất nhiều Ngoài

ra, thiết bị tin học còn có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác kế toán và công tác thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN

2.1.3.5 Kho bạc Nhà nước trong quá trình KSC chi thường xuyên NSNN

KBNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính1, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao theo quy định của pháp luật, thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu

Thực hiện và cụ thể hóa các chức năng trên, Chính phủ, Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng và nhiệm

vụ quản lý nội ngành gồm 5 nhiệm vụ, quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước, tổ chức hạch toán kế toán NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước, thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn, tổ chức huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, quản lý, cấp phát, cho vay với các chương trình mục tiêu của Chính phủ

Nhiệm vụ đầu tiên là quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước KBNN có trách nhiệm quản lý toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, tiền trên tài khoản của NSNN các cấp Với các quỹ tài chính khác của Nhà nước, KBNN các cấp được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm soát các quỹ dự trự tài chính của Trung ương, của các cấp chính quyền địa phương, quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nước và một số quỹ tài chính Nhà nước khác Đồng thời quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi lại KBNN, quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Nhiệm vụ thứ hai là tổ chức hạch toán kế toán NSNN và các quỹ tài chính

1

Trang 30

khác của Nhà nước Để thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính Nhà nước, KBNN các cấp tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán NSNN, kế toán các quỹ và tài sản do Nhà nước giao Trên cơ sở các số kiệu kế toán, định kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách cho cơ quan tài chính cùng cấp và

cơ quan Nhà nước có liên quan quy định

Nhiệm vụ thứ ba là thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn, KBNN thực hiện các nghiệp vụ thanh toán và điều hành vốn như một ngân hàng

Nhiệm vụ thứ tư là tổ chức huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển Đó là các việc huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư bảo đảm bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng nhu cầu phát triển Kinh tế - Xã hội của đất nước Đồng thời thông qua phát hành công trái, trái phiếu huy động nguồn vốn trong dân

cư để đầu tư cho các chương trình, dự án lớn của Nhà nước

Nhiệm vụ thứ năm là quản lý, cấp phát, cho vay đối với các chương trình mục tiêu của Chính phủ Để thực hiện nhiệm vụ này, KBNN phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan để tổ chức thẩm tra, thẩm định, cấp phát Cho vay các

dự án, chương trình, đảm bảo vốn cấp phát, cho vay đúng mục đích, hiệu quả

Trong quá trình thực hiện KSC NSNN, nếu phát hiện các vi phạm chính sách, chế độ quản lý tài chính, KBNN có quyền từ chối thanh toán KBNN chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của việc xuất tiền Vì vậy, KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ định mức chi tiêu của Nhà nước Công việc này được KBNN thực hiện thông qua việc xem xét các hồ sơ, các tài liệu chi thường xuyên NSNN trên các phương diện như dự toán ngân sách được duyệt thẩm quyền chuẩn chi, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi của Nhà nước Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh phí được NSNN cấp không đúng mục đích, không có hiệu quả hoặc không đúng chế độ, chính sách của Nhà nước thì KBNN từ chối cấp phát, thanh toán Qua đây, KBNN có thể đảm bảo tính chặt chẽ trong quá trình sử dụng công quỹ Nhà nước, đặc biệt là trong các khâu mua sắm, xây dựng và sửa chữa Do vậy, không những hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực mà còn đảm bảo cho việc sử dụng NSNN đúng mục đích, hợp pháp và tiết kiệm

Trang 31

Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi của NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng khoản chi chủ yếu Qua đây, rút ra được một số nhận xét về những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và nguyên nhân cùng cới các cơ quan phối hợp nghiên cứu nhằm cải tiến và hoàn thiện cơ chế cấp phát, thanh toán và KSC NSNN qua KBNN

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát chi ngân sách nhà nước

2.1.4.1 Các nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách

Trong những năm gần đây mặc dù Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến cải cách nền tài chính công, đặc biệt là tài chính - ngân sách, song việc thực hiện lộ trình cải cách còn chậm và chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tiên tiến và phù hợp với các mục tiêu cải cách chung Việc ban hành một số cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài chính- ngân sách chưa kịp thời, đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với nền kinh tế thị trường Luật NSNN mặc dù đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính- ngân sách song vẫn còn có những bất cập chưa phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NSNN nói chung và hoạt động kiểm soát chi của hệ thống KBNN nói riêng Tính lồng ghép của hệ thống NSNN đã làm phức tạp hoá các quy trình quản

lý thu- chi ngân sách, chưa có cơ chế thực hiện khuôn khổ tài khoá trung hạn và lập,

bố trí dự toán ngân sách theo chương trình, nhiệm vụ, dự án, quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, cơ chế quản lý, hạch toán kế toán chưa phản ánh đúng bản chất và không phù hợp với thông lệ quốc tế (Lương Ngọc Tuyền, 2005)

Chức năng nhiệm vụ của cơ quan KBNN về vấn đề kiểm soát chi chưa được rõ ràng, chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý cần thiết để KBNN thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ theo mục tiêu hiệu quả Công tác quản lý ngân quỹ tuy có mối quan hệ mật thiết với quản lý ngân sách song nó lại độc lập tương đối với công tác quản lý ngân sách (do phạm vi, bản chất, cơ quan quản lý, công cụ quản lý ngân quỹ khác với NSNN), vì vậy Luật NSNN chưa mang lại khung pháp lý đầy đủ cho công tác quản lý ngân quỹ Mặt khác, để quản lý ngân quỹ hiệu quả cần có văn bản pháp lý cao ở cấp độ luật nhằm quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị có liên quan trong việc quản quản lý ngân quỹ

Trang 32

2.1.4.2 Các nhân tố thuộc về đối tượng thụ hưởng NSNN

Việc chấp hành Luật NSNN của các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng nhất Các cấp, các ngành, các địa phương phải thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn, các tổ chức, cá nhân phải hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ về NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng theo quy định của Luật NSNN Các đơn vị cần thấy rõ kiểm soát chi là trách nhiệm của mình chứ không phải là trách nhiệm là công việc của riêng ngành tài chính, của cơ quan KBNN Các ngành, các cấp cần xác định rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN, từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán và quyết toán các khoản chi NSNN (Luật NSNN, 2002)

Trình độ quản lý tài chính của thủ trưởng các đơn vị thụ hưởng NSNN vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Trong thực tế thủ trưởng các đơn vị thường tập trung vào công tác chuyên môn theo lĩnh vực, ít đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu các chế

độ văn bản về công tác quản lý tài chính Mặt khác trình độ cán bộ làm công tác kế toán tại các đơn vị vẫn còn nhiều hạn chế bởi chất lượng đầu vào, không được đào tạo cơ bản và không được bồi dưỡng cập nhật kiến thức tài chính một cách thường xuyên Đặc biệt là đội ngũ cán bộ kế toán của các xã, phường, thị trấn, kế toán các trường học không được đào tạo qua trường lớp mà chủ yếu là kiêm nhiệm Từ đó dẫn đến việc hạch toán kế toán còn lúng túng, công tác tham mưu cho lãnh đạo còn hạn chế dẫn đến việc quản lý, sử dụng ngân sách còn chưa đúng mục đích, kém hiệu quả Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm chế độ làm mất cán bộ và thất thoát vốn, tài sản nhà nước

2.1.4.3 Các nhân tố thuộc về hệ thống tổ chức, bộ máy thực hiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước

Phân định chưa rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa cơ quan tài chính với cơ quan Kho bạc Hiện nay cơ quan tài chính vừa đóng vai trò giao dự toán vừa thẩm định và phê duyệt quyết toán đối với các đơn vị sử dụng ngân sách, trong quá trình đó cơ quan tài chính cũng thực hiện nội dung kiểm soát chi Như vậy, cơ quan tài chính là người vừa thực hiện cấp phát kinh phí vừa thực hiện quyết toán kinh phí (kiểm soát trước và sau) là không thực sự khách quan (Lương Ngọc Tuyền, 2005) Còn cơ quan Kho bạc chỉ đơn thần là người kiểm soát trong quá trình thanh toán mà thôi Trong thực tế cho

Trang 33

thấy, đơn vị được cấp bao nhiêu kinh phí sẽ thực hiện chi hết bấy nhiêu kinh phí đó bằng mọi cách, mặt khác, cơ quan đã phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị thì cũng sẽ quyết toán hết phần kinh phí đã cấp đó, nếu không sẽ mang tiếng là cấp không sát (thực

tế hầu như không có đơn vị nộp trả phần kinh phí không sử dụng lại ngân sách) Cho nên, trong tương lai gần chúng ta phải hạn chế tối đa sự can thiệp không cần thiết của

cơ quan tài chính vào quá trình chi tiêu của đơn vị Xoá bỏ dần việc cấp phát ngân sách bằng hình thức lệnh chi tiền của cơ quan tài chính

Chất lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát chi của cơ quan Kho bạc Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng Thực tế cho thấy cùng với sự phát triển của xã hội đòi hỏi người cán bộ phải không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt trong công tác chuyên môn mà còn phải ra sức rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay Cán bộ kiểm soát chi phải đảm bảo công tâm, khách quan và trung thực thì công tác kiểm soát chi mới được kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ, đúng chế độ quy định, loại bỏ được các hiện tượng cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu và tiêu cực trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Cơ sở vật chất- kỹ thuật, công tác kiểm soát chi không những đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ có đức có tài mà nó còn phải có các điều kiện về cơ sở vật chất-

kỹ thuật đầy đủ và đồng bộ Phải có một hệ thống trang thiết bị hiện đại và có một phần mềm tin học áp dụng cho công tác hạch toán cũng như công tác kiểm tra, kiểm soát số liệu và lưu trữ hồ sơ kiểm soát chi Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thì hiện đại hoá công nghệ thông tin không những đáp ứng được kịp thời, chính xác số liệu thu, chi NSNN cho các cấp chính quyền trong quá trình quản lý, điều hành mà còn phục vụ tốt cho công tác thanh toán liên ngân hàng và liên kho bạc trong toàn quốc

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Một số kinh nghiệm về KSC chi thường xuyên NSNN qua KBNN ở một số địa phương

2.2.1.1 Kinh nghiệm KSC thường xuyên của KBNN tỉnh Thái Bình

Qua thời gian thực hiện cơ chế KSC của KBNN tỉnh Thái Bình đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện

Trang 34

nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, kể từ khi Nghị định 432 của Chính phủ ban hành, cho thấy bước đầu đã phát huy vai trò của KBNN trong việc kiểm soát thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trên địa bàn, cụ thể:

KBNN Thái Bình đã kiểm soát tương đối chặt chẽ các khoản chi tiêu của các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính bằng việc yêu cầu các đơn vị phải chấp hành đầy đủ các điều kiện chi NSNN theo Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn hiện hành Qua kiểm soát của KBNN Thái Bình, kinh phí thường xuyên NSNN được sử dụng phần lớn đúng mục đích, đúng đối tượng, chấp hành đúng chế độ về hóa đơn, chứng từ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu Đặc biệt là việc mua sắm, sửa chữa của các đơn vị được quản lý chặt chẽ hơn bằng cơ chế đấu thầu, lựa chọn nhà thầu và việc kiểm tra, kiểm soát chứng từ chi của đơn vị

Theo báo cáo của KBNN tỉnh Thái Bình (Nguyễn Phương Mai, 2014), trong

9 tháng đầu năm 2014, KBNN Thái Bình thu NSNN ước thực hiện đạt 3.876 tỷ đồng, bằng 137% dự toán năm 2014, tăng 42% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó, thu nội địa ước thực hiện đạt 2.836 tỷ đồng, bằng 109% chỉ tiêu pháp lệnh năm

2014, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2013, thu hải quan ước đạt 648 tỷ đồng, bằng 272% so với dự toán và tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2013

Ngoài ra, tổng chi NSNN trên địa bàn tỉnh ước thực hiện kiểm soát đạt 6.166

tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ 2013 Qua kiểm soát các khoản chi thường xuyên, KBNN Thái Bình đã từ chối thanh toán 135 món, tổng số tiền 1,2 tỷ đồng KSC đầu

tư xây dựng cơ bản đã từ chối không thanh toán tổng số tiền là 1,5 tỷ đồng Trong quá trình kiểm soát của KBNN Thái Bình, đơn vị đã chủ động, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thu trên địa bàn thực hiện tốt công tác tập trung, quản lý thu NSNN Thực hiện tốt công tác phối hợp thu NSNN với các cơ quan Thuế, ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản tiền gửi tạo thuận lợi cho các đối tượng nộp thực hiện nghĩa vụ với NSNN nhanh chóng, đơn giản thủ tục Các nguồn thu của NSNN được tập trung nhanh chóng và điều tiết cho các cấp NSNN đúng tỷ lệ quy định

Tuy nhiên, trong quá trình KSC KBNN Thái Bình cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc nhất định dưới đây:

2 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ

Trang 35

Thứ nhất, do đặc thù là một đơn vị phục vụ nên KBNN tỉnh Thái Bình không

chủ động được về mặt thời gian phân bố công việc trong năm Áp lực chủ yếu dồn

về cuối năm, đặc biệt là thời gian cuối tháng 12 Khách hàng thường mang hồ sơ mua sắm, sửa chữa lớn đến thanh toán vào dịp này gây áp lực rất lớn về thời gian và sức lực của cán bộ KBNN Thái Bình

Thứ hai, các hồ sơ thanh toán những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức

hay những khoản chi tiêu chuẩn định mức lạc hậu so với thực tế đã gây không ít lúng túng cho cán bộ KSC KBNN Thái Bình Chẳng hạn, các khoản chi về công tác phí, chi hội nghị hay mua sắm tài sản, những khoản thanh toán này mất rất nhiều thời gian cho cán bộ kiểm soát do phải xin ý kiến lãnh đạo phòng, lãnh đạo cơ quan, thậm chí có trường hợp phải trình công văn xin ý kiến chỉ đạo của KBNN cấp trên, nên tính chủ động đối với công việc được giao bị ảnh hưởng rõ rệt

Thứ ba, trong những năm gần đây tình hình thanh toán trực tiếp qua KBNN

cho các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ từ đối tượng hưởng NSNN đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Đơn vị vẫn còn lạm dụng hình thức tạm ứng, tự chi tại đơn vị, thường tạm ứng nhiều hơn so với nhu cầu thực tế để chi tiêu và chưa quan tâm đúng mức tới việc thanh toán tạm ứng theo qui định, còn để số dư kéo dài và vẫn sử dụng kinh phí tạm ứng đó để chi trả cho những hoạt động không được thanh toán bằng tiền mặt

Thứ tư, năng lực, trình độ của một số cán bộ làm công tác KSC tại KBNN

Thái Bình chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu Trong những năm gần đây, khối lượng công việc do cán bộ làm công tác kiểm soát đảm nhiệm ngày càng lớn, phức tạp và sự gia tăng về cả số lượng và chất lượng cán bộ công chức cũng chưa tương xứng với sự gia tăng khối lượng công việc, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra

Thứ năm, công tác KSC căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị vẫn

còn một số hạn chế Qua thực tế khảo sát tại KBNN Thái Bình, quy chế chi tiêu nội

bộ của đơn vị được lập tương đối đầy đủ về nguồn thu, nhiệm vụ chi, định mức chi tiêu, từ đó quy chế chi tiêu nội bộ trở thành một căn cứ quan trọng để KSC cho KBNN Tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị lập quy chế chi tiêu nội bộ rất sơ sài, chưa thể hiện được loại hình đơn vị của mình, các định mức chi còn chung chung, chưa

Trang 36

cụ thể, cá biệt có đơn vị còn lập sai định mức, vượt định mức cho phép

Nắm bắt được những khó khăn đó, KBNN Thái Bình đã chủ động rà soát lại các quy trình nghiệp vụ gắn với tình hình thực tế tại địa phương để kịp thời điều chỉnh nhằm khắc phục những tồn tại, nâng cao vị thế của KBNN, với các biện pháp

cụ thể

Quy định cụ thể về thời gian giải quyết công việc nhưng cần linh hoạt hơn, không nên quá gò bó, cứng nhắc Tăng cường kiểm soát, đối chiếu các định mức, chế độ mà các đơn vị xây dựng trong quy chế chi tiêu Bố trí cán bộ có đủ năng lực và kinh nghiệm công tác làm việc tại bộ phận một cửa tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả

Ban hành quy chế trách nhiệm đối với cán bộ làm tại bộ phận một cửa nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm đối với cán bộ công tác tại bộ phận này Cán bộ một cửa là người trực tiếp giao dịch với khách hàng cần có năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cũng đồng thời phải thể hiện được nét văn minh, văn hóa nghề kho bạc

2.2.1.2 Kinh nghiệm KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Nghệ An

Theo KBNN Nghệ An, công tác khóa sổ quyết toán năm 2013 của ngành KBNN Nghệ An đã được hoàn tất và đảm bảo an toàn, hiệu quả và giải quyết kịp thời các khoản chi thường xuyên liên quan đến vốn đầu tư xây dựng cơ bản, phúc lợi xã hội của tỉnh

Trong năm 2013, để tập trung thu nộp các khoản thuế vào NSNN, KBNN Nghệ An đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thuế và hải quan triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thu NSNN Qua đó, đã cung cấp, trao đổi kịp thời thông tin về kết quả thu nộp của các đối tượng nộp thuế, tạo sự công khai minh bạch trong công tác thu nộp, giúp cho cơ quan thu có các giải pháp chỉ đạo điều hành kịp thời

Cũng trong năm 2013, KBNN Nghệ An đã thực hiện KSC thường xuyên qua KBNN ước đạt 18.000 tỷ đồng Qua công tác KSC, KBNN Nghệ An đã từ chối thanh toán gần 3,8 tỷ đồng; đã thực hiện giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn chương trình mục tiêu ước đạt 85% kế hoạch Thông qua công tác KSC vốn

Trang 37

đầu tư, KBNN Nghệ An đã từ chối thanh toán 13 tỷ đồng (Hoàng Thọ, 2014) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đảm bảo chặt chẽ và kiên quyết từ chối hoặc tạm dừng thanh toán các khoản chi không đủ điều kiện như, dự toán chi thường xuyên chưa có phương án tiết kiệm 10%, mới bổ sung dự toán mua sắm ô

tô, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chưa thực hiện theo đúng quy định quản lý vốn đầu

tư Đồng thời, đơn vị tổ chức thanh toán, chi trả kịp thời những khoản chi có tính chất tiền lương và các khoản chi chính sách xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn

Ngoài ra, KBNN Nghệ An đã tập trung rà soát, đánh giá tình hình quản lý vốn của các dự án đầu tư theo chỉ đạo của Bộ Tài chính Trong năm 2013, KBNN Nghệ

An đã thu hồi tạm ứng vốn kế hoạch năm 2012 trở về trước với số tiền ước đạt 899 tỷ đồng Đơn vị còn phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính triển khai thực hiện quản

lý, KSC theo lộ trình thực hiện dự án TABMIS; phối hợp với các ngân hàng trong quản lý, cung ứng tiền mặt, tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt và triển khai thực hiện thanh toán song phương điện tử

2.2.1.3 Kinh nghiệm KSC thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Đồng Tháp

KBNN tỉnh Đồng Tháp thành lập và đi vào hoạt động luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trong đó một nhiệm vụ trọng tâm là quản lý quỹ NSNN và KSC thường xuyên NSNN

Theo báo cáo của KBNN Đồng Tháp, công tác thu ngân sách nhà nước tháng 4/2014 (từ ngày 13/3 đến 11/4/2014) ước đạt 266 tỷ/3.975 tỷ đồng, lũy kế 886 tỷ đồng, đạt 22% dự toán năm Công tác phối hợp thu NSNN luôn được duy trì ổn định và thực hiện tốt Việc triển khai vận hành chương trình thanh toán song phương điện tử giữa KBNN và các ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác thanh toán

Trong tháng 4/2014, công tác chi NSNN ước đạt 710 tỷ đồng, lũy kế 3.092 tỷ đồng, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước Công tác KSC thường xuyên qua hệ thống KBNN thực hiện việc kiểm soát các khoản chi thường xuyên theo đúng quy định của Luật NSNN, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, quy trình nghiệp vụ, đôn đốc các đơn vị thanh toán kịp thời các khoản tạm ứng Công tác kiểm soát chi thường

Trang 38

xuyên qua Kho bạc Nhà nước là 340 tỷ đồng, lũy kế 1.575 tỷ đồng, từ chối thanh toán số tiền 970,3 triệu đồng do thiếu hồ sơ thanh toán, thiếu dự toán, sai hình thức chứng từ (Nguyễn Lan Phương, 2014)

Trong công tác thu, chi tiền mặt, KBNN Đồng Tháp đã chấp hành nghiêm quy trình thu, chi tiền mặt, tiền thu vào được kiểm đếm, chọn lọc, đóng gói, niêm phong đúng quy định, các loại tiền chi cho khách hàng đảm bảo đủ tiêu chuẩn lưu thông Trong tháng, tổng thu tiền mặt là 165.169 triệu đồng và tổng chi tiền mặt 163.752 triệu đồng Đồng thời, Kho bạc Đồng Tháp đã trả lại tiền thừa của khách hàng 13 món với số tiền là 18,9 triệu đồng (Nguyễn Lan Phương, 2014)

Bên cạnh đó, công tác kế toán thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ điện tử được thực hiện đúng quy trình Chi trả công trái, trái phiếu cho khách hàng nhanh chóng, thực hiện ghi chi NSNN, báo nợ các khoản thanh toán hộ cho các Kho bạc khác kịp thời, đúng quy định

Tổ chức thực hiện tốt các biện pháp quản lý an toàn kho quỹ, kiểm kê kho tiền định kỳ hàng tháng đảm bảo khới đúng giữa thực tế với số liệu kế toán Phối hợp tốt trong công tác cân đối vốn, đảm bảo nhu cầu chi tiền mặt kịp thời cho các đơn vị giao dịch Chấp hành chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất gửi các cấp theo đúng quy định Thông qua công tác KSC thường xuyên NSNN, KBNN tỉnh Đồng Tháp đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Để đạt được kết quả trên, KBNN Đồng Tháp đã tập trung làm tốt một số công tác sau:

Thứ nhất, nâng cao hiểu biết về pháp luật liên quan đến quản lý NSNN và

các quy định trong công tác KSC thường xuyên NSNN Ngay từ khi Luật NSNN có hiệu lực và các chế độ về quản lý chi được ban hành, KBNN Đồng Tháp đã tổ chức triển khai đến toàn thể cán bộ công chức thuộc KBNN tỉnh Đồng Tháp Đồng thời, Kho bạc phối hợp với cơ quan tài chính tham mưu cho tỉnh ban hành các chế độ về chi NSNN tại địa phương, tổ chức triển khai Luật NSNN và các văn bản liên quan cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN trên địa bàn

Thứ hai, nghiên cứu ứng dụng tin học vào công tác chi và KSC chi thường

xuyên Công tác tin học được KBNN tỉnh Đồng Tháp phát triển rất sớm và đã hỗ trợ đắc lực cho công tác chi ngân sách và kiểm soát chi thường xuyên NSNN Tại kho

Trang 39

bạc tỉnh và tất cả các KBNN huyện trực thuộc đều có hệ thống mạng nội bộ và nối mạng về KBNN tỉnh Các chương trình ứng dụng phục vụ cho công tác chi và kiểm soát chi được triển khai trong toàn hệ thống như chương trình kế toán Kho bạc phục vụ cho công tác kế toán và KSC thường xuyên, chương trình kế hoạch Kho bạc phục vụ KSC vốn sự nghiệp kinh tế và vốn chương trình mục tiêu quốc gia Đặc biệt, chương trình thanh toán điện tử đã giúp cải thiện công tác thanh toán trong hệ thống KBNN Những khoản thanh toán trước đây khi thực hiện bằng phương pháp thủ công phải mất vài ngày thì hiện nay chỉ mất vài phút với sự hỗ trợ của chương trình thanh toán điện tử

Thứ ba, chú trọng công tác tổ chức cán bộ, KBNN tỉnh Đồng Tháp xem

cán bộ là nhân tố quyết định trong việc mang lại những thành quả to lớn của đơn

vị Do đó, đơn vị đã chọn lọc, sắp xếp quy hoạch đội ngũ cán bộ công chức vào những vị trí phù hợp, đảm bảo công việc được hiệu quả

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về KSC thường xuyên NSNN đối với KBNN tỉnh Hải Dương

Từ những kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại các KBNN ở các địa phương nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với KBNN tỉnh Hải Dương như sau:

Một là, KBNN tỉnh phải nhận thức được và tuyên truyền đến các cơ quan liên

quan và các đơn vị sử dụng NSNN thấy rằng, công tác KSC không phải chỉ đơn thuần là công việc của KBNN mà nó bao gồm nhiều khâu liên quan đến nhiều cấp, ngành và nhiều cơ quan, đơn vị Vì vậy, để thực hiện tốt công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN, Kho bạc phải phối kết hợp tốt với các cơ quan đơn vị trên địa bàn, tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp ủy, chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý quỹ NSNN, chủ động tham mưu cho UBNN, HĐND các cấp trong việc ban hành nhanh chóng và đầy đủ các văn bản thuộc lĩnh vực ngân sách

để Kho bạc có cơ sở pháp lý thực hiện kiểm soát các khoản chi ngân sách do địa phương quản lý

Hai là, con người luôn là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, do đó cần nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố con người trong công tác quản lý NSNN và KSC

Trang 40

thường xuyên NSNN Để công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN ngày càng hoàn thiện hơn thì trước hết đội ngũ cán bộ công chức KBNN nói chung và cán bộ KSC thường xuyên NSNN nói riêng cũng phải được hoàn thiện, không ngừng nâng cao năng lực trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và phong cách giao dịch, tiếp xúc với khách hàng Để làm được điều đó, KBNN phải tăng cường công tác cán bộ trong tất cả các khâu từ tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng Việc bố trí cán bộ làm công tác KSC, không chỉ chú trọng khả năng chuyên môn mà còn phải chọn người có đạo đức tốt, tận tuỵ với công việc, liêm khiết, công minh

Ba là, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng kỹ thuật truyền thông, nhằm tăng cường ứng dụng tin học vào các hoạt động nghiệp vụ KBNN, đặc biệt là công tác quản lý và KSC NSNN

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực KSC thường

xuyên Nghiên cứu và áp dụng quy trình giao dịch “một cửa” trong KSC với mô hình tiên tiến sao cho vừa tạo thuận lợi cho khách hàng vừa nâng cao hiệu quả công tác KSC

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Lan Phương (2014). "KBNN Đồng Tháp: Tổ chức thực hiện tốt các biện pháp quản lý an toàn kho quỹ." Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: KBNN Đồng Tháp: Tổ chức thực hiện tốt các biện pháp quản lý an toàn kho quỹ
Tác giả: Nguyễn Lan Phương
Năm: 2014
15. Hoàng Thọ (2014). "KBNN Nghệ An: Công tác kiểm soát thu, chi ngân sách đảm bảo an toàn, hiệu quả." Citinews Sách, tạp chí
Tiêu đề: KBNN Nghệ An: Công tác kiểm soát thu, chi ngân sách đảm bảo an toàn, hiệu quả
Tác giả: Hoàng Thọ
Năm: 2014
1. Hoàng Anh (2006), Các quy định mới về quản lý thu chi ngân sách mua sắm và sử dụng tài sản Nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Khác
2. Bộ tài chính (2008), quyết định ban hành chế độ kế toán ngân sách Nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà nước, Nxb Tài chính Hà Nội Khác
3. Bộ tài chính (2003), Luật ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nxb Tài chính, Hà Nội Khác
4. Bộ tài chính, Thông tư 161 ngày 02/10/2012 quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN Khác
5. Bộ Tài chính, Thông tư 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007 và Thông tư 131/2007/TT- BTC ngày 05/11/2007 về hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước bằng vốn nhà nước Khác
6. Bộ Tài chính, Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21 tháng 3 năm 2007 quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập Khác
7. Bộ Tài chính, Thông tư số 59/2003/TT- BTC ngày 23/6/2003 về việc hướng dẫn thực hiện Luật NSNN Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước 9. Lâm chí Dũng (2008), Nghiệp vụ kho bạc nhà nước, Nxb Tài chính, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Ngọc Hùng (2006), Quản lý ngân sách Nhà nước, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
11. Kho bạc Nhà nước, Quyết định 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009 về quy trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước Khác
12. Nguyễn Phương Mai (2014), KBNN Thái Bình: Tăng cường công tác kiểm soát thu, chi NSNN, Bộ Tài chính Khác
14. Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Khác
16. Lương Ngọc Tuyền (2005), Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên của ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Khác
17. Sông Trà (2013), Kiểm soát chi ngân sách Nhà nước chặt chẽ, hiệu quả, Báo Nhân dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương (Trang 41)
Bảng 3.2 Nhân sự của KBNN Hải Dương - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 3.2 Nhân sự của KBNN Hải Dương (Trang 46)
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy KBNN Hải Dương - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy KBNN Hải Dương (Trang 47)
Sơ đồ 4.1: Quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Sơ đồ 4.1 Quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN (Trang 53)
Bảng 4.1 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương giai đoạn 2010-2014 - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.1 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Hải Dương giai đoạn 2010-2014 (Trang 55)
Bảng 4.2 Kết quả kiểm soát chi các khoản thanh toán cá nhân - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.2 Kết quả kiểm soát chi các khoản thanh toán cá nhân (Trang 58)
Bảng 4.3 Kết quả kiểm soát chi các khoản chuyên môn nghiệp vụ - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.3 Kết quả kiểm soát chi các khoản chuyên môn nghiệp vụ (Trang 60)
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán (Trang 66)
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối  với các - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán đối với các (Trang 67)
Bảng 4.8 Kết quả thanh toán cá nhân qua tài khoản - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.8 Kết quả thanh toán cá nhân qua tài khoản (Trang 69)
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KSC thường - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KSC thường (Trang 71)
Bảng 4.11 Kết quả kiểm soát số chi so với dự toán được giao - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.11 Kết quả kiểm soát số chi so với dự toán được giao (Trang 73)
Bảng 4.16 Tình hình điều chỉnh dự toán chi thường xuyên - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
Bảng 4.16 Tình hình điều chỉnh dự toán chi thường xuyên (Trang 86)
Phụ lục 3: BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI KHẢO SÁT Ý KIẾN CỦA KHÁCH - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
h ụ lục 3: BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI KHẢO SÁT Ý KIẾN CỦA KHÁCH (Trang 120)
Phụ lục 4: BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI KHẢO SÁT - giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước tỉnh hải dương
h ụ lục 4: BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI KHẢO SÁT (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w