DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCTC Báo cáo tài chính BH Bán hàng CCDV Cung cấp dịch vụ CPXD Cổ phần Xây dựng ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông GTGT Giá trị gia tăng HĐKD Hoạt động kinh doanh HĐQT H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HOÀNG ANH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THỦY LỢI I THUỘC TỔNG CÔNG TY CƠ ĐIỆN – XÂY DỰNG
NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY LỢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN HOÀNG ANH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG THỦY LỢI I THUỘC TỔNG CÔNG TY CƠ ĐIỆN – XÂY DỰNG NÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp tôi đã được các thầy
cô và cán bộ Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các nhà khoa học cung cấp và hướng dẫn kiến thức cơ bản và chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế nói chung và kinh
tế xây dựng nói riêng; được lãnh đạo và cán bộ Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy Lợi I cung cấp số liệu, các bạn học cùng đóng góp ý kiến để hoàn thành Luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sau sắc tới PGS-TS Bùi Bằng Đoàn và các thầy
cô giáo viên Học viện Nông nghiệp đã tận tình truyền đạt kiến thức và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo và cán bộ nhân viên Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy Lợi I, các bạn học viên lớp cao học QTKD – 22C, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu nhưng do thời gian và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn mới chỉ nghiên cứu một số vấn
đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy Lợi I một số điều kiện và với mức độ nhất định
Với những nội dung nghiên cứu tuy đã có cố gắng cụ thể hóa nhưng nhiều vấn đề đưa ra mới chỉ dừng ở mức độ ý tưởng, giải pháp cụ thể cần được nghiên cứu sâu và chi tiết hơn nữa Do đó, sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp sẽ rất có ý nghĩa đối với kết quả của luận văn và
sự trưởng thành của bản thân tác giả
Trang 52 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sự dụng vốn 4 2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 12 2.1.3 Sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng 19 2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30 2.2.1 Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài 30 2.2.2 Một số đề tài nghiên cứu liên quan 33
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34 3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng thủy lợi I 34 3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 34 3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của công ty 36 3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty 37 3.1.4 Tình hình lao động, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 38 3.2 Phương pháp nghiên cứu 41 3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 41 3.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 42
Trang 64.1 Tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty 46 4.1.1 Các đơn vị trong công ty 46 4.1.2 Tổ chức thi công 47 4.1.3 Cơ chế quản lý tài chính 47 4.1.4 Các chính sách tài chính, kế toán chủ yếu 51 4.2 Thực trạng huy động và sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng
Bảng 4.3 Tổng hợp các chỉ tiêu kết quả SXKD của Công ty 66
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy Lợi I 37
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức đội, tổ thi công tại công trường 47
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
BH Bán hàng CCDV Cung cấp dịch vụ CPXD Cổ phần Xây dựng ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông GTGT Giá trị gia tăng HĐKD Hoạt động kinh doanh HĐQT Hội đồng quản trị SXKD Sản xuất kinh doanh TNDN Thu nhập doanh nghiệp TNHH Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ Tài sản cố định VCĐ Vốn cố định VLĐ Vốn lưu động
Trang 101.LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là phạm trù kinh tế hàng hóa, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sản xuất và lưu thông hàng hóa Chính vì vậy, các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải
có yếu tố tiền đề là vốn Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn liên tục vận động qua nhiều hình thái với những đặc điểm khác nhau Khi kết thúc hoạt động sản xuất kinh doanh, số vốn bỏ ra phải sinh sôi, nảy nở vì điều này liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trong cơ chế bao cấp, mọi nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được bao cấp qua nguồn cấp phát từ ngân sách nhà nước hoặc qua nguồn tín dụng với lãi suất ưu đãi Do đó, vai trò khai thác, sử dụng vốn có hiệu quả không được đặt ra như một nhu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với các doanh nghiệp Việc thu hút, khai thác đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh của doanh nghiệp trở nên thụ động Điều này một mặt thủ tiêu tính chủ động của doanh nghiệp, mặt khác đã tạo ra sự cân đối giả tạo cung cầu vốn trong nền kinh tế
Trong thời đại kinh tế hội nhập phát triến hiện nay, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển được thì điều kiện tất yếu là phải đảm bảo đủ
về vốn trong mọi thời điểm Vốn là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn là nhân tố chi phối hầu hết các nhân tố khác nên việc sử dụng và quản lý vốn hiệu quả mang ý nghĩa rất quan trọng Vốn được huy động từ nguồn bên ngoài và bên trong doanh nghiệp Tuy nhiên, để tận dụng nguồn vốn nội bộ trong đơn vị hay nguồn bên ngoài đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược, biện pháp hữu hiệu Theo xu hướng hiện nay, các doanh nghiệp ngày càng năng động tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh thì việc sử dụng vốn hiệu quả ngày càng chiếm một vị trí lớn trong quản lý tài chính doanh nghiệp, không những đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợi nhuận mà còn thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước
Bên cạnh đó tính hiệu quả không phải lúc nào cũng như mong muốn của
Trang 11doanh nghiệp, mà phụ thuộc vào chiến lược phát triển hoạt động và quản lý nguồn vốn Do đó bên cạnh những đơn vị kinh doanh có hiệu quả thì cũng có không ít những đơn vị kinh doanh thua lỗ dẫn đến hậu quả là sáp nhập hoặc buộc phải phá sản Điều này có lẽ là tất yếu trong nền kinh tế hiện nay Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh doanh của các đơn vị kinh doanh
Nhu cầu vốn quan trọng như vậy, tuy nhiên, do sự vận động phức tạp
và do trình độ quản lý còn hạn chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vốn vẫn chưa được sử dụng, quản lý có hiệu quả dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao
Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi I với chức năng chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực xây dựng các công trình thủy lợi và các công trình dân dụng khác Hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nên vốn là yếu tố rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ thi công mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đặc thù của lĩnh vực hoạt động nhu cầu vốn của Công ty là rất lớn và khá đa dạng, cần phải được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là phải đi vay tín dụng Mặc dù Công ty luôn đổi mới công tác quản trị, nhất là quản trị về tài chính nhưng việc huy động và sử dụng vốn của Công ty trong thời gian qua còn nhiều bất cập và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của Công ty là hết sức cần thiết để tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động cho Công ty trong thời gian tới Với các nội
dung trên, tác giả chọn nội dung: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi I thuộc Tổng công ty Cơ điện – Xây dựng Nông nghiệp và Thủy lợi” làm đề tài cho luận văn của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trang 12pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn, hiệu quả sử dụng vốn, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Quản lý vốn và vấn đề hiệu quả sử dụng vốn đối với
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Xây dựng
Thủy lợi I
- Phạm vi thời gian: Thông tin, số liệu sử dụng để nghiên cứu đề tài từ năm
2011 đến năm 2014, thông tin điều tra tại thời điểm hiện tại
Trang 132.CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả sự dụng vốn
2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đó
là vốn Đây là một trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình và phát triển Đã có nhiều quan điểm khác nhau về vốn, như:
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục
đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ Nhưng suy cho cùng là
để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu Do đó vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng vốn, nhưng lại mang tính trừu tượng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích quản lý và sử dụng vốn
của doanh nghiệp (Lưu Thị Hương,2010)
Theo nghĩa hẹp: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp, mỗi quốc gia
Theo nghĩa rộng: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản
xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh
tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh
Trang 14Theo quan điểm của K.Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, Marx cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” Vốn là một đầu vào của quá trình sản xuất và nó vận
động theo công thức chung của tư bản: T - H - T’ Tuy nhiên Marx cũng phân biệt rõ mọi tư bản đều xuất hiện trước hết dưới hình thái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, tiền chỉ trở thành tư bản khi chúng được đưa vào quá trình sản xuất Định nghĩa của Marx về vốn có một mức độ khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như tài sản, nhà xưởng, tiền công… Tuy nhiên do hạn chế về trình độ phát triển kinh tế của nền kinh tế thời kỳ bấy giờ và do điều kiện lịch sử kinh tế lúc đó, Marx chỉ bó hẹp khái niệm vốn trong khu vực sản xuất vật chất Ông cho rằng chỉ có kinh doanh sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội
Theo quan điểm của một số nhà tài chính: “Vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần trong công ty đóng góp và họ được nhận phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty” Quan điểm này đã làm rõ cơ bản nguồn vốn
của doanh nghiệp, đồng thời cũng cho các nhà đầu tư thấy được lợi ích để khuyến khích họ tăng cường đầu tư vốn vào doanh nghiệp Tuy vậy, quan điểm này có hạn chế là không cho thấy rõ nội dung và trạng thái vốn của doanh nghiệp, do vậy đã làm giảm vai trò, ý nghĩa của vốn trong công tác quản trị
doanh nghiệp.(Trần Bình Trọng,2003)
Theo David Begg, Stanley Ficher, Rudiger Darnbusch trong kinh tế học:
“Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác Vốn tài chính là các giấy tờ có giá trị và các loại tiền của doanh nghiệp” (Trần Phú Thuyết,2007) Theo định nghĩa trên thì vốn đã được đồng nhất với các tài
sản của doanh nghiệp Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp dùng trong sản xuất kinh doanh Vốn của doanh nghiệp được thể hiện trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp
Trang 15Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, mua sắm vật tư, vật liệu, trả lãi vốn vay, trả công, thực hiện các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước… đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục, chi phí mua công nghệ, nghiên cứu và triển khai Do vậy, vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ trên thị trường Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau quá trình tiêu thụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra và đạt lãi mong muốn
Một số nhà kinh tế khác cho rằng: “Vốn có ý nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hy sinh tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư để đẩy mạnh sản xuất tăng tiêu dùng trong tương lai” (Hoàng Văn Hải,2006) Quan điểm này chủ
yếu phản ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn nguồn gốc và biểu hiện của vốn, do vậy quan điểm này không đáp ứng được nhu cầu về quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân tích về vốn
Các quan điểm trên về vốn một mặt thể hiện được vai trò, tác dụng của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên góc độ hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quản lý, phân tích đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tóm lại, dù có các khái niệm được tiếp cận theo các cách khác nhau, với mục đích khác nhau nhưng chúng đề có một điểm chung để chúng ta có thể hiểu
về vốn trên bốn vấn đề cơ bản sau:
(1) Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư, để phân biệt với vốn đất đai và vốn nhân lực
(2) Trạng thái của vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất là tài sản vật chất (TSCĐ và tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt, tín phiếu ) (3) Vốn luôn có mối liên hệ với các nhân tố khác của quá trình hoạt động
Trang 16sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đất đai, lao động…) điều này đòi hỏi nhà quản trị phải xem xét quá trình sử dụng vốn thế nào có hiệu quả
(4) Phải thể hiện được mục đích quản lý sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội mà vốn đem lại Vấn đề này sẽ được định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn của doanh nghiệp nói riêng 2.1.1.2 Đặc trưng của vốn trong doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong doanh nghiệp Tùy thuộc vào mỗi loại hình, đặc điểm khác nhau mà vốn được hình thành khác nhau Đặc điểm mỗi doanh nghiệp khác nhau thì quá trình sử dụng và quản lý cũng khác nhau Tuy nhiên, vốn trong doanh nghiệp có những đặc trưng chủ yếu như sau:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Có nghĩa vốn là biểu
hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin,… Một lượng tiền phát hành đã thoát ly giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư, những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không được coi là vốn
- Vốn phải được tích tụ và tập trung với một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được gom thành món lớn
- Vốn là một loại hàng hoá đặc biệt có thể mua hoặc bán quyền sở hữu, quyền sử dụng vốn trên thị trường tạo nên sự hoạt động của thị trường vốn, thị trường tài chính Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn
sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn Khi đó quyền sở hữu vốn không di chuyển nhượng qua sự vay nợ Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, vốn khi bán
đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định Việc mua này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường
Trang 17- Vốn sau khi ứng ra và được sử dụng vào sản xuất kinh doanh, sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động sau Nó không bị tiêu mất đi như một số quỹ khác trong doanh nghiệp
- Vốn phải được vận động để sinh lợi Cách vận động và phương thức vận động - của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định
- Mục đích của sự vận động của vốn là để sinh lợi, trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị-là tiền Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn
2.1.1.3 Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên Đó là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh Nhưng vấn
đề đặt ra là chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh doanh lớn nhất Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vốn, phân loại vốn
có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Có nhiều cách phân loại vốn, tuỳ thuộc vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loại vốn khác nhau
a Xét theo quá trình hình thành vốn, thì vốn của doanh nghiệp được chia ra
thành vốn ban đầu và vốn bổ sung
Vốn ban đầu hay vốn điều lệ là số vốn mà chủ sở hữu bỏ ra khi mới thành lập
Số vốn này lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào loại hình, quy mô…của từng doanh nghiệp
Vốn bổ sung là vốn do doanh nghiệp huy động tăng thêm trong quá trình
Trang 18kinh doanh bằng nhiều nguồn khác nhau
b Xét theo nguồn hình thành vốn, thì vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn
chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu: là số vốn do chủ sở hữu doanh nghiệp đầu tư vào Nếu là
doanh nghiệp Nhà nước thì là số vốn do nhà nước đầu tư; nếu là công ty cổ phần thì là số vốn do các cổ đông đầu tư; nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn là số vốn
do các thành viên góp vào
Các khoản nợ phải trả: là số vốn do doanh nghiệp huy động bằng cách đi
vay hoặc phát hành trái phiếu và các khoản vốn chiếm dụng
c Nếu theo hình thái biểu hiện, vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn hữu
hình và vốn vô hình:
Vốn hữu hình là giá trị của những tài sản vật chất và tài sản tài chính (biểu
hiện bằng tiền của các máy móc, thiết bị, nhà cửa, vật kiến trúc, nguyên vật liệu, công cụ…) mà doanh nghiệp đang nắm giữ để sử dụng vào hoạt động kinh doanh
Vốn vô hình, là giá trị của những tài sản không tồn tại dưới dạng vật thể,
gồm: danh tiếng doanh nghiệp, nhãn mác sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp, tên thương mại, lợi thế kinh doanh, sự trung thành của khách hàng, tài năng của nhà quản lý, trình độ lành nghề của công nhân và các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp (hay còn được gọi là vốn quan hệ)
d Theo đối tượng đầu tư, thì vốn chia làm hai loại: vốn của doanh nghiệp bao
gồm: vốn đầu tư bên trong doanh nghiệp và vốn đầu tư bên ngoài doanh nghiệp
Vốn đầu tư bên trong doanh nghiệp tạo nên các tài sản cố định, tài sản lưu
động và các tài sản tài chính khác
Vốn đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, gồm các khoản đầu tư ngắn hạn và
đầu tư dài hạn như góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp khác hay của Nhà nước
e Theo công dụng kinh tế, thì vốn của doanh nghiệp thông thường bao
gồm: vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính
Trang 19- Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh
nghiệp Hay có thể nói tài sản cố định là hình thái vật chất của vốn cố định
- Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động của doanh
nghiệp Nó là một bộ phận của vốn kinh doanh được doanh nghiệp ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định
- Vốn đầu tư tài chính là một bộ phận của vốn kinh doanh của doanh
nghiệp được đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lợi
Hình 1.1: Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Nguồn: Xa Linh Tôn (2013)
Tóm lại, vốn của doanh nghiệp, như đã phân tích ở trên, là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà quy mô và cơ cấu
vốn cũng khác nhau Trong thực tế, cách phân loại theo công dụng kinh tế được
sử dụng khá phổ biến, biểu hiện tương đối rõ nét Theo đó, vốn của doanh nghiệp
Phân loại vốn trong doanh nghịêp
Theo quá trình
hình thành vốn
Theo nguồn hình thành
Theo hình thái biểu hiện Vốn
Theo công dụng kinh tế
Vốn đầu tư tài chính
Vốn lưu động
Vốn cố
định
Theo đối tượng đầu tư
Đầu tư bên trong
Đầu tư ra bên ngoài
Trang 20bao gồm ba thành phần: Vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính
2.1.1.4 Vai trò của vốn
Không một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển lại thờ ơ với việc tính toán làm sao để có vốn, quản lý và sử dụng vốn như thế nào để vốn mẹ đẻ vốn con, vốn nhỏ thành vốn lớn và thu được nhiều lợi nhuận Vai trò quan trọng của vốn đã được Các Mác khẳng định như sau: “Tư bản đứng ở vị trí hàng đầu vì
tư bản là tương lai” Để đảm bảo cho doanh nghiệp được vận hành một cách trơn tru thì vốn đóng một vai trò hàng đầu, là điều kiện tiên quyết
Trên phương diện toàn bộ nền kinh tế, vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm là do nguồn vốn có được đảm bảo cung ứng đủ hay không Xét trên góc độ từng doanh nghiệp, vốn được coi là máu của doanh nghiệp, thiếu nó cơ thể doanh nghiệp không thể vận hành được Sản xuất trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại một lượng vốn như một tiền đề bắt buộc, không có vốn sẽ không có bất kỳ một công việc sản xuất kinh doanh nào được tiến hành Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, có kết quả thì doanh nghiệp phải đủ vốn để đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì vốn đầu tư được bảo toàn và phát triển, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, phát triển cả bề rộng và chiều sâu
Đối với các doanh nghiệp xây dựng, nhận thức đúng vai trò, tác dụng của vốn giúp cho doanh nghiệp có biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả, tìm nguồn cấp vốn và hình thức huy động hợp lý, tiết kiệm chi phí sử dụng Điều này vô cùng quan trọng vì khi tham gia đấu thầu xây dựng các công trình, một trong các tiêu chuẩn đủ điều kiện tham gia đấu thầu là phải có đủ khả năng về mặt tài chính để thực hiện dự án Mặt khác vốn để xây dựng các công trình thường rất lớn, thời gian hoàn thành xây dựng dài Trên chặng đường dài như vậy đồng vốn luôn bị đe dọạ bởi những rủi ro hoặc những nguyên nhân chủ quan, khách quan làm thất thoát vốn như: lạm phát, hao mòn vô hình, quản lý
Trang 21sản xuất kinh doanh kém hiệu quả…
Có thể khái quát vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
- Vốn là điều kiện ban đầu cần thiết để hình thành doanh nghiệp
- Đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục
- Vốn là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động thực hiện các phương
án kinh doanh, thực hiện các dự án
- Vốn là phương tiện để đạt mục đích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người lao động
- Bảo toàn và phát triển vốn là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp
2.1.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế đề cập đến chất lượng của một hoạt động nào đó Bản chất của hiệu quả thể hiện qua việc so sánh giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Tùy thuộc vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu mà các chỉ tiêu kết quả hay chi phí sử dụng để nghiên cứu hiệu quả là khác nhau
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
vốn của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí về vốn thấp nhất Vốn trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có đặc điểm tham gia vào quá trình sản xuất khác nhau nên cần được nghiên cứu cho từng loại vốn riêng biệt
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chi tiết Các chỉ tiêu đó phản ánh được khả năng sử dụng và khả năng sinh lợi của từng loại vốn và phải thống nhất với công thức
Trang 22Kết quả đầu ra
Số vốn sử dụng bình quân
= Hiệu suất (hiệu quả) của vốn
Trong đó, kết quả đầu ra tuỳ thuộc vào quan điểm của từng đối tượng mà
sử dụng có thể là giá trị sản lượng thực hiện, doanh thu hay lợi nhuận Số vốn sử dụng tuỳ theo mục đích có thể là toàn bộ vốn kinh doanh hay tính riêng cho từng loại, như: vốn cố định, vốn lưu động, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn hay vốn chủ sở hữu… Hiệu suất hay hiệu quả của vốn càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại
Hiệu quả sử dụng vốn lại có thể tính bằng cách so sánh nghịch đảo theo chỉ tiêu suất hao phí của vốn:
Số vốn sử dụng bình quân Kết quả đầu ra
= Suất hao phí của vốn
Suất hao phí của vốn càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn thấp dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh càng giảm và ngược lại Đây là chỉ tiêu quan trọng thường được sử dụng để xây dựng các chỉ tiêu định mức sử dụng vốn khác nhau
Đã có nhiều công trình của nhiều nhà khoa học và tài liệu của nhiều tác giả đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Dựa vào các chỉ tiêu đó, các doanh nghiệp có thể đánh giá một cách chính xác hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, từ đó đưa ra được các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với môi trường kinh doanh thay đổi, điều kiện cạnh tranh một cách khốc liệt, hầu hết các doanh nghiệp chuyển sang loại hình công ty cổ phần, công ty TNHH thì nguồn hình thành vốn và quá trình quản lý vốn cũng có những điểm khác biệt Điều kiện đó đặt ra cho doanh nghiệp những cơ hội, thách thức mới Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngoài các chỉ tiêu tổng quát cần phải có một hệ thống chỉ tiêu bổ sung, thay đổi và phản ánh đầy đủ những mối liên hệ giữa các chỉ tiêu liên quan với nhau
Trang 23Về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện qua nhiều nội dung, ý nghĩa khác nhau, tùy theo mục đích quản lý sử dung khác nhau
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều mong đạt được mục tiêu của mình
và đạt được một cách tối đa nhất Song, để đạt được điều đó thì phải hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, một trong các yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có vị trí quan trọng hàng đầu trong doanh nghiệp, cụ thể:
Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho
doanh nghiệp Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề cao tính an toàn, đặc biệt là an toàn tài chính Đây là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triến của doanh nghiệp Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn tài trợ dễ dàng hơn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đảm bảo, doanh nghiệp có đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn và một
số rủi ro trong kinh doanh
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao
sức cạnh tranh Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, doanh nghiệp phải có vốn, trong khi đó vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được
mục tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao động, Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức sống của người lao động cũng ngày càng được cải thiện Điều đó giúp cho năng suất lao động của doanh nghiệp ngày càng nâng cao, tạo sự phát
Trang 24triến cho doanh nghiệp và các ngành liên quan Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách Nhà nước
Qua trên ta thấy rằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triến của cả nền kinh tế và toàn xã hội
Do đó, các doanh nghiệp phải luôn tìm ra các biện pháp phù họp đế nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
2.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
a Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu suất sử dụng tổng vốn (H TV ): Đo lường một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Trị số của chỉ tiêu này cho biết mức độ sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng cao hay thấp Nếu cao thì tốt nhưng nó cũng cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động gần hết công suất và rất khó mở rộng hoạt động nếu không đầu tư thêm vốn
Dt
VBQ
=
HTV
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu ( Hệ số lợi nhuận ròng )
Hệ số này phản ánh khoản thu nhập ròng (Thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp so với doanh thu của nó
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu
=
Hệ số lợi nhuận ròng
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỉ số này phản ánh mức lợi nhuận của một Công ty so với tài sản của nó, ROA được tính theo một trọng hai cách sau:
Trang 25Cách thứ nhất:
Lợi nhuận trước thuế Tổng tài sản bình quân
= ROACách thứ hai:
EBIT Tổng tài sản bình quân
= ROA(E)
Tài sản của Công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu, cả hai nguồn vốn này được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA Chỉ tiêu ROA càng cao thì càng tốt vì Công ty đang kiếm được nhiều tiền trên lượng đầu tư ít hơn
Trong hai cách tính trên, ta thấy cách tính ROA theo EBIT - ROA(E) sẽ phản ánh tốt hơn khi đánh giá về sức sinh lời của tổng tài sản Công ty Bởi vì EBIT là toàn bộ kết quả mà doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản của mình để tạo ra, không phân biệt đối tượng được hưởng kết quả này là ai: Chủ doanh nghiệp, ngân hàng cho vay hay Nhà nước Khi ROA(E) lớn hơn lãi suất đi vay của doanh nghiệp, doanh nghiệp càng vay nhiều thì chủ sở hữu doanh nghiệp càng có lợi
Tỷ Suất sinh lời vốn chủ sở hữu(Return on equity -ROE)
Đây là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, nó cho
biết doanh nghiệp sử dụng vốn của các chủ sở hữu góp vào tốt hay không
Hệ số sinh lợi trên vốn cổ phần:
LrVCPBQ
=
H pvcp
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cổ phần trong kỳ làm ra được bao
Trang 26nhiêu đồng lợi nhuận ròng Là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần (H VCP ):
Là chỉ tiêu hữu ích sử dụng để đánh giá mức độ sử dụng vốn cổ phần của doanh nghiệp Cho biết một đồng vốn cổ phần trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu:
DtVCPBQ
=
H vcp
Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS):
Chỉ tiêu này cho biết mức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần của doanh nghiệp Trị số của chỉ tiêu càng cao thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trên thị trường càng thuận lợi, được tính theo công thức:
Tổng thu nhập ròng cổ đông thường
Số lượng cổ phần thường
= EPS
b Các chỉ tiêu đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được thể hiện qua hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay vốn lưu động) và kỳ luân chuyển vốn lưu động (độ dài
của một vòng luân chuyển vốn lưu động)
- Số lần luân chuyển vốn lưu động (K), thể hiện số vòng quay vốn lưu động
được thực hiện trong một thời kỳ nhất định (thường tính trong một năm), được xác định theo công thức sau:
Trang 27- Kỳ luân chuyển vốn lưu động (n), là số ngày bình quân cần thiết để vốn
lưu động thực hiện được một vòng quay trong kỳ
Công thức tính:
360 K
= n
Chỉ tiêu này cho biết, để một đồng vốn lưu động quay được một vòng thì cần bao nhiêu ngày
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động (H VLĐ ), được xác định bằng doanh thu đạt
được trong kỳ (D t ) chia cho vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ (VLĐ bq):
D tVLĐbq
=
P vld
Lợi nhuận ở đây có thể là lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế
c Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định (H VC§ ):
DtVCĐbq
=
HVCĐChỉ tiêu phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (H Tài sản cố định ):
DtNG
=
HTSCĐ
Trang 28Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tham gia sản xuất kinh
doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
- Hàm lượng vốn cố định (suất hao phí vốn cố định -F VCĐ ):
- Hệ số sinh lợi của vốn cố định (P vcđ) :
Chỉ tiêu này phản ánh với một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) thu nhập doanh nghiệp:
L VCĐbq
làm ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất đầu tư tài sản cố định: là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ giữa tổng
nguyên giá Tài sản cố định (NGtài sản cố định) với tổng tài sản:
NGTSCĐTổng tài sản
HTSCĐ
2.1.3 Sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng
2.1.3.1 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp xây dựng
Hoạt động xây lắp có nhiều đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực hoạt động
khác, chính vì vậy việc nghiên cứu các đặc điểm này, nhất là đặc điểm liên quan đến
việc huy động, sử dụng vốn có ý nghĩa đối với nhà quản trị thể hiện qua một số nội
dung sau:
Trang 29- Là thông tin giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định có liên quan một cách đúng đắn, kịp thời
- Xác lập được một cơ cấu vốn hợp lý
- Giúp cho các nhà quản trị đánh giá được tình hình thực tế về vấn đề sử dụng vốn
- Từ đó tìm ra những mặt yếu kém, chưa có hiệu quả phát hiện ra những nguyên nhân để tìm ra những biện pháp khắc phục
Tuy nhiên để đáp ứng được các nội dung trên thì cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, cần thu thập đầy đủ thông tin Thông tin thu thập để phân tích được
lấy từ các báo cáo tài chính, báo cáo thực hiện kế hoạch, của doanh nghiệp và nguồn thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp như báo cáo về tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp khác đặc biệt cùng ngành
Thứ hai, Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thích hợp
Tất cả các thông tin thu thập và việc xây dựng các chỉ tiêu phân tích trước hết phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động trong xây lắp, bao gồm đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sự tác động của đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất xây dựng để tạo nên những đặc điểm riêng của nó
Đặc điểm hoạt động trong xây lắp bao gồm những nội dung sau:
a Điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng
Cụ thể trong xây dựng con người và công cụ lao động luôn phải thay đổi theo địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang thiết bị, tài sản cố định, lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, giảm chi phí liên quan đến vận chuyển, lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu Đặc điểm này cũng đòi
Trang 30cho thuê máy,sản xuất vật liệu xây dựng, cung ứng vận tải…
b Chu kỳ sản xuất dài
Đặc điểm này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu tại các công trình đang được xây dựng, các doanh nghiệp xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án, có chế độ thanh toán và kiểm tra thích hợp
c Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường hợp
cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu
Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu phải xác định giá cả của sản phẩm trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu xây dựng cho từng công trình cụ thể trở nên phổ biến trong sản xuất xây dựng
d Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc
Ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng không được sử dụng điều hoà theo bốn quý, gây khó khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn… Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý, áp dụng cơ giới hoá, chú ý đến nhân tố rủi ro vì thời tiết khi tranh thầu, xác định lượng vật tư dự trữ hợp lý để tránh ứ đọng vốn
e Kỹ thuật thi công phức tạp
Hiện nay trong lĩnh vực xây dựng có nhiều biện pháp thi công và công nghệ mới, đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tìm tòi, nghiên cứu nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên và đưa những máy móc hiện đại vào sản xuất kinh doanh
f Lĩnh vực xây dựng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn
Phần lớn công trình xây dựng cần lượng vốn đầu tư lớn và được xây dựng dự toán nghiêm ngặt theo đúng các quy định Nhu cầu vốn lớn lại phải đáp ứng theo đúng tiến độ, phù hợp với tính chất của từng loại công trình Với điều kiện công
Trang 31trình thi công trực tiếp ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nên việc quản lý, sử dụng vốn khá phức tạp
Những đặc điểm trên của hoạt động xây dựng chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh có liên quan như: khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu và kiến trúc công trình, điều kiện mặt bằng thi công và
cả về phương pháp tổ chức quản lý, tổ chức lao động, xác định nhu cầu vốn và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn đó cho nên việc nắm vững những đặc điểm của sản
phẩm do mình tạo ra là cần thiết đối với các doanh nghiệp xây dựng
Tất cả các đặc điểm trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuất kinh doanh, kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất, trình độ kinh doanh,
tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo trang bị vốn cố định, chế độ thanh toán, chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩm, chính sách đối với lao động, chính sách giá cả…
2.1.3.2 Đặc điểm sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng cần lượng vốn rất lớn và tập chung tại các thời điểm khác nhau Vốn đáp ứng cho nhu cầu thi công các công trình cũng có nhiều điểm khác biệt bao gồm nhiều loại như máy móc thiết bị, vật tư và các chi phí bằng tiền khác Việc quản lý, sử dụng từng loại vốn, tài sản trên cũng có nhiều điểm đặc thù khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất khác
Đối với vốn tài sản: Do đặc thù của doanh nghiệp xây dựng là xây dựng các
công trình ở những địa điểm khác nhau nên không nhất thiết phải huy động tài sản của doanh nghiệp mà có thể đi thuê sử dụng sẽ có hiệu quả hơn Đối với vật tư, do không cần xây dựng kho chứa vật tư vì vật tư được tập kết ở ngay công trường nên việc quản lý, bảo quản để tránh hư hao, tổn thất, hư hỏng là hết sức quan trọng cần phải được đặc biệt chú ý
Vì tài sản trong xây dựng phần lớn là máy móc lưu động không có nhà xưởng kiên cố bao che nên ngoài hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình các tài sản dễ bị hư hỏng do trực tiếp ảnh hưởng của thiên nhiên, dễ đưa đến khác biệt
Trang 32Hao mòn hữu hình của tài sản phụ thuộc mức độ sử dụng máy móc và các điều kiện khác như: Hình thức và chất lượng máy móc, cách thức sử dụng, chế độ bảo dưỡng, sửa chữa, điều kiện tự nhiên…Điều này đỏi hỏi doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao trình độ kỹ thuật, tình thần trách nhiệm của người sử dụng, có chế độ quản lý máy móc thích hợp, thường xuyên bảo dưỡng, sửa chữa theo định kỳ
Hao mòn vô hình chủ yếu do tiến bộ khoa học – công nghệ và năng suất lao động xã hội quyết định
Vì vậy doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ trước khi đầu tư mua sắm tài sản sao cho việc đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả Máy móc trong xây dựng thường phải di chuyển theo từng công trình vì vậy song song với việc mua sắm thiết bị doanh nghiệp nên lựa chọn thêm hình thức thuê máy xây dựng tại chỗ để giảm chi phí di chuyển máy móc, thiết bị và có thể sử dụng những loại máy móc với công nghệ tiên tiến giúp tăng hiệu quả sử dụng Tuy nhiên hình thức thuê máy móc chỉ đạt hiệu quả khi doanh nghiệp lập được biện pháp thi công khả thi nhất, tiến độ thi công luôn phải đảm bảo, giảm thiểu tối đa thời gian máy móc ngừng nghỉ nhằm giảm thiểu chi phí thuê máy móc
Vốn cố định là sự biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Vì vậy, đặc điểm của vốn cố định phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản cố định Các đặc điểm đó là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất – kinh doanh và chỉ hoàn thành một chu kỳ luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất, đến khi tài sản cố định hết niên hạn sử dụng:
Khi vào quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị của vốn cố định được chuyển dần vào trong giá thành sản phẩm mà chính vốn cố định đó sản xuất ra thông qua hình thức khấu hao tài sản cố định, giá trị chuyển dần đó tương ứng với mức độ hao mòn thực tế của tài sản cố định
Qua các đặc điếm trên cho thấy việc quản lí vốn cố định phải đi đôi với việc quản lí tài sản cố định
Trang 33Doanh nghiệp xây dựng có chu kỳ sản xuất dài nên vốn lưu động trong xây dựng công trình luân chuyển chậm Khối lượng xây lắp dở dang lớn nên thường
bị ứ đọng vốn, dễ thất thoát nên cần phải có biện pháp để bảo toàn vốn Phải phân
bổ vốn theo từng giai đoạn, từng hạng mục công trình sao cho hợp lý, giảm tới mức thấp nhất khối lượng xây lắp dở dang Quá trình thanh toán, thu hồi, luân chuyển vốn căn cứ theo tiến độ công trình nên việc thiếu vốn để mua sắm vật tư, thuê máy móc, thuê nhân công sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ thi công, làm ảnh hưởng tới khâu thanh toán với chủ đầu tư dẫn tới việc thu hồi và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị chậm Do vậy doanh nghiệp xây dựng cần lượng vốn lớn và phải chú trọng đẩy nhanh tiến độ thi công, nhanh chóng hoàn thiện thủ tục thanh toán
Vốn của doanh nghiệp xây dựng phần lớn là vốn vay chịu lãi suất của ngân hàng Điều này làm cho chi phí sử dụng vốn cao dẫn đến lợi nhuận còn lại thấp Ngoài ra Doanh nghiệp xây dựng thường xuyên chiếm dụng vốn của nhà cung cấp hay của các đội sản xuất Đây là những khoản vốn không phải chịu lãi xuất nhưng cũng ảnh hưởng tới tâm lý của người lao động cũng như uy tín của doanh nghiệp đối với các nhà cung cấp
2.1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng
Từ đặc điểm hoạt động và đặc điểm quản lý, sử dụng vốn trong xây lắp sẽ
có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp này Cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác, vốn trong quá trình hoạt động sản xuất xây lắp cũng vận động liên tục, chuyển từ hình thái này sang hình thái khác Tại một thời điểm vốn cũng tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau Trong quá trình vận động đó, vốn sản xuất kinh doanh chịu sự tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, tuy nhiên có thể khái quát qua hai yếu tố chủ yếu ảnh hưởng chính, đó là ảnh hưởng do yếu tố chủ
Trang 34a Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây lắp
Các yếu tố chủ quan cũng chính là các yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tình hình tài chính cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được thể hiện gồm:
Quy mô, cơ cấu tô chức, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp càng phức tạp
Doanh nghiệp quản lý sản xuất theo quy củ sẽ tiết kiệm được chi phí và thu lợi nhuận cao
Công cụ chủ yếu đế theo dõi quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
là hệ thống kế toán tài chính
Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó dưa ra các quyết định đúng đắn
Ngành nghề kinh doanh
Đây là điểm xuất phát của doanh nghiệp, có định hướng phát triển trong suốt quá trình tồn tại Một ngành nghề kinh doanh đã được lựa chọn buộc người quản lý phải giải quyết những vấn đề như:
- Cơ cấu tài sản, mức độ hiện đại của tài sản
- Cơ cấu vốn, quy mô vốn, khả năng tài chính của doanh nghiệp
- Nguồn tài trợ cũng như lĩnh vực đầu tư
Trình độ quản lý tổ chức sản xuất
- Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo:
Vai trò của người lãnh đạo trong sản xuất kinh doanh là rất quan trọng, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu, hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm giảm những chi phí không cần thiết, đồng thời biết nắm bắt các
Trang 35cơ hội góp phần cho sự tăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp
- Trình độ tay nghề của người lao động:
Công nhân có trình độ tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc sẽ tốt hơn, khai thác được tối đa công suất thiết bị làm tăng năng suất lao động, tạo ra chất lượng sản phẩm cao Điều này làm tình hình tài chính của doanh nghiệp ôn định hơn
Mặt khác, trình độ tay nghề của người lao động thể hiện ở khả năng tự tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suất lao động Đây là đối tượng trực tiếp
sử dụng vốn của doanh nghiệp quyết định phần lớn hiệu quả trong sử dụng vốn
- Trình độ tổ chức hoạt động kinh doanh:
đây cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp Chỉ trên cơ sở tổ chức hoạt động kinh doanh có hiệu quả mới đem lại những kết quả đáng khích lệ
- Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn:
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Công cụ chủ yếu để quản lý các nguồn tài chính là hệ thống kế toán tài chính Nếu công tác kế toán được thực hiện không tốt sẽ dẫn đến mất mát, chiếm dụng, sử dụng không đúng mục đích gây lãng phí tài sản đồng thời có thể gây ra các tệ nạn tham ô, hối lộ, tiêu cực là các căn bệnh xã hội thường gặp trong cơ chế hiện nay
Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp:
Bất cứ một doanh nghiệp nào đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông qua các chiến lược Tài chính của doanh nghiệp muốn phát triển ổn định thì các chiến lược kinh doanh phải đúng hướng, giảm thiểu rủi rõ cũng như hao phí không cần thiết trong xây dựng
Tính khả thi của dự án đầu tư
Việc lựa chọn dự án đầu tư có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư khả thi, sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ
có chất lượng tốt, giá thành thấp thì doanh nghiệp sẽ sớm thu hồi được vốn và có
Trang 36lãi Ngược lại khi không tiêu thụ được sản phẩm, doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Cơ cấu vốn đầu tư
Việc đầu tư vào những tài sản không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng vốn bị ứ đọng, gây ra tình trạng lãng phí vốn, giảm vòng quay của vốn, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp rất thấp
b Các nhân tố khách quan
Thị trường:
Ngành xây dựng là một trong những ngành đặc thù không thể thiếu trong
xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ hiện đại hóa ngày nay Thị trường này phát triển ổn định làm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần
Thị trường theo nghĩa đen là nơi mua bán hàng hoá Theo nghĩa rộng thị trường là nơi hay còn là một quá trình trong đó người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá cần mua bán
Trong xây dựng thị trường tồn tại chủ yếu dưới dạng đấu thầu, đàm phán và một số hình thức khác
Cung và cầu đóng vai trò chủ yếu trong thị trường sản xuất xây dựng là các doanh nghiệp xây dựng (bên cung) và các chủ đầu tư (bên cầu) Các doanh nghiệp xây dựng có nhiệm vụ dùng năng lực sản xuất của mình để xây dựng các công trình theo nhu cầu và đơn đặt hàng (hợp đồng) của chủ đầu tư
Tham gia vào thị trường xây dựng còn có các tổ chức dịch vụ, tư vấn, thiết
kế đóng vai trò cung cho các chủ đầu tư và các tổ chức cung cấp thiết bị máy móc, vật tư dịch vụ đóng vai trò cung cho các doanh nghiệp xây dựng
Khi nghiên cứu thị trường xây dựng cần chú ý các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng có tính chất cá biệt cao, giá trị lớn, được sản xuất theo đơn đặt hàng nên không thể sản xuất hàng loạt, không có thời gian lưu kho, chưa được xây dựng khi chưa có đơn đặt hàng và chào hàng
Trang 37- Quá trình mua bán xảy ra trước lúc bắt đầu giai đoạn sản xuất (giai đoạn xây dựng công trình) thông qua việc đấu thầu và ký kết hợp đồng xây dựng và còn tiếp diễn thông qua các đợt thanh toán trung gian cho đến khi bàn giao công trình và quyết toán cuối cùng
- Việc tiêu thụ sản phẩm xây dựng được tiến hành trực tiếp giữa người bán (doanh nghiệp xây dựng) và người mua (chủ đầu tư), không qua khâu trung gian
- Quy luật cạnh tranh trong thị trường xây dựng xảy ra phổ biến dưới hình thức đấu thầu
- Thị trường xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường đầu tư và định hướng phát triển của ngành, của đất nước
- Trong xây dựng không có giá cả thống nhất cho một công trình toàn vẹn
- Marketing trong xây dựng được tiến hành cá biệt cho từng trường hợp tranh thầu Quảng cáo tiến hành chủ yếu thông qua các thành tích đã đạt được của doanh nghiệp trong việc xây dựng các công trình
- Vai trò của Nhà nước đối với xây dựng lớn hơn so với các ngành khác, vì xây dựng có liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường và nguồn vốn đầu tư của Nhà nước
Do sự cạnh tranh thị trường cao, yêu cầu của các khách hàng ngày một lớn nên doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu tư vào công nghệ Với những máy móc
Trang 38hiện đại không những tiết kiệm được sức lao động của con người mà còn tạo ra được khối lượng sản phấm cao với giá thành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt hơn
Cơ chế chính sách kinh tế
Các cơ chế, chính sách của nhà nước có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Ví dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế ( thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ), chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhập khấu công nghệ đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới tình hình tài chính Vì vậy doanh nghiệp luôn nắm bắt những thay đổi nhỏ về công tác quản lý của nhà nước
Phụ thuộc nhà cung cấp
Vật tư, thiết bị phục vụ thi công các công trình xây dựng thường phải mua ngoài và chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường cung cấp Do nhu cầu vật tư lớn nên nhu cầu vốn thanh toán cho nhà cung cấp cũng rất lớn Trong điều kiện khó khăn về huy động vốn thì sự phụ thuộc vào nhà cung cấp cũng ảnh hưởng lớn đến tiến độ cung cấp vật tư, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ thi công và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Quá trình thi công, sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện tự nhiên Khác với lĩnh vực sản xuất khác, máy móc thiết bị sử dụng trong xây dựng vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp bở điều kiện thời tiết nên dễ bị hao mòn hư hỏng Mặt khác, do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết nên quá trình thi công thường gián đoạn, không liên tục cũng ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng máy, từ
đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn nói chúng Cũng do chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện thời tiết nên hao tổn vật tư cũng dễ xảy ra khi gặp bất lợi Đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng nói riêng, ảnh hưởng đến
Trang 39hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn
và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây lắp Nắm bắt được đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng này sẽ giúp cho doanh nghiệp kịp thời đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của chúng tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Kinh nghiệm từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
Obayashi, một trong những tập đoàn xây dựng lớn nhất tại Nhật Bản, bao gồm 86 công ty con và 26 công ty liên doanh, với hơn 13.000 nhân viên và tổng doanh thu ròng hàng năm lên đến 1.400 tỉ Yên Các hoạt động chủ yếu của tập đoàn
là xây dựng các công trình và kinh doanh bất động sản; các công ty thuộc tập đoàn cũng tham gia vào những hoạt động liên quan đến hai lĩnh vực chính này
Công ty Obayashi được thành lập vào năm 1892 tại Osaka, Nhật Bản, bởi ông Yoshigoro Obayashi Sau khi hoàn thành các dự án xây dựng Cảng Osaka, trung tâm triển lãm công nghiệp quốc gia thứ năm, vào năm 1914, công ty Obayashi tiến hành xây dựng nhà ga trung tâm Tokyo (nhà ga Tokyo ngày nay), là biểu tượng cho sự phát triển công nghệ kĩ thuật của công ty vươn lên tầm quốc gia Khi cơn động đất Kanto tàn phá Tokyo vào năm 1923, nhà ga Tokyo vẫn còn nguyên vẹn; điều này càng làm tăng thêm sự tin cậy của khách hàng đối với công ty
Sau nhiều năm hoạt động, Obayashi đã phát triển vượt bậc thông qua các
dự án, như xây dựng Bảo tàng Hoàng Gia Tokyo (Bảo tàng Quốc Gia ngày nay), trùng tu Lâu đài Osaka, và xây dựng đường xe điện ngầm Osaka đầu tiên, chạy từ Yodoyabashi đến Kitakyutaro-machi
Năm 1991, kỉ niệm 100 năm thành lập, Obayashi tiếp tục tham gia vào nhiều công trình trọng điểm Công ty Obayashi đóng vai trò quan trọng trong các
dự án cơ sở hạ tầng như xây dựng sân bay quốc tế Kansai, đường cao tốc xuyên
Trang 40hội nghị Tokyo, tòa nhà trung tâm Shinagawa, cao ốc Marunouchi, tháp Roppongi Hills Mori, và tháp phát thanh truyền hình Tokyo Skytree
Năm 2012 đánh dấu 121 năm hoạt động của công ty Obayashi Kể từ ngày thành lập, công ty luôn quan tâm đến từng nhân viên cùng tham gia vào các công trình xây dựng Công ty vẫn tiếp tục mang sự trung thực, sự trân trọng, sự quan tâm và lòng nhiệt huyết vào trong mỗi công trình xây dựng
Sự thành công của công ty Obayashi có đóng góp rất quan trọng của công tác quản lý vốn, trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn với một số biện pháp như:
- Khai thác, sử dụng các nguồn nhân lực một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi;
- Nâng cao năng lực người quản lý tài chính; sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả;
- Quản lý vốn chặt chẽ đúng mục đích, không để thất thoát, tính toán sử dụng các nguồn vốn để đưa vào sản xuất kinh doanh;
- Đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ và nâng cao tay nghề cho người lao động;
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ;
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý;
- Mạnh dạn đầu tư vào công nghệ cao, máy móc hiện đại để nâng cao hiệu suất lao động;
- Mạnh dạn đầu tư phát triển thị trường mới;
- Luôn đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công các công trình mang lại sự tin cậy cho khách hàng và các chủ đầu tư Điều này có rất có lợi cho việc huy động vốn từ các nhà đầu tư vào vào công ty
Với những kinh nghiệm quản lý trên có thể làm bài học kinh nghiệm tốt cho các doanh nghiệp ở Việt Nam
Công ty Xây dựng Sông Đà 8 là doanh nghiệp thành viên của Tổng công