Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn những bất cập và hạn chế đó là: tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp so với yêu cầu của huyện; chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao; đào tạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ TNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lương Thị Phương
Trang 4đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo UBND huyện, phòng Kinh tế huyện Quỳnh Phụ; UBND, các tổ chức, ban ngành đoàn thể, lao động nông thôn các xã Quỳnh Côi, Đông Hải, Quỳnh Hội, các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên, chia sẻ khó khăn, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lương Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục đồ thị viii
Danh mục hộp ix
PHẦN IMỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Phạm vi về nội dung 4
1.4.2 Phạm vi về không gian 4
1.4.3 Phạm vi về thời gian 4
PHẦN IICƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 5
2.1.2 Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn 7
2.1.3 Sự cần thiết đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế 8
2.1.4 Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn 11
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động ở một số quốc gia trên thế giới và khu vực 18
2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương của Việt Nam 23
PHẦN IIIPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 42
3.2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu 44
3.2.3 Phương pháp phân tích 45
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 45
PHẦN IVKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 47
Trang 64.1.1 Khái quát tình hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa
bàn huyện Quỳnh Phụ 47
4.1.2 Khái quát chung về các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 56
4.1.3 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 60
4.1.4 Đánh giá mức độ phù hợp của chương trình, nội dung đào tạo nghề 61
4.1.5 Khả năng tìm kiếm việc làm và vận dụng kiến thức, vào công việc của người lao động 67
4.1.6 Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh huyện Quỳnh Phụ 71
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Quỳnh Phụ 73
4.2.1 Yếu tố chủ quan 73
4.2.2 Yếu tố khách quan 84
4.3 Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ đến năm 2020 89
4.3.1 Quan điểm, định hướng đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn 89
4.3.2 Một số giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho người lao động ở huyện Quỳnh Phụ 93
PHẦN VKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
5.1 Kết luận 102
5.2 Kiến nghị 103
5.2.1 Với Nhà nước 103
5.2.2 Với chính quyền địa phương huyện Quỳnh Phụ 104
5.2.3 Với cơ sở đào tạo nghề 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108
Trang 7CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Số lượng và phân bố lực lượng lao động, năm 2014 7
3.1 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2014 34
3.2 Tình hình dân số lao động của huyện Quỳnh Phụ giai đoạn 2012- 2014 35
3.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế của huyện Quỳnh Phụ 2012 – 2014 41
3.4 Phân bổ mẫu điều tra 44
4.1 Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ 49
4.2 Số lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 57
4.3 Năng lực đào tạo, dạy nghề và ngành nghề đào tạo của các CSDN trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ năm 2014 59
4.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của một số cơ sở dạy nghề huyện Quỳnh Phụ năm 2014 81
4.5 Chi phí đầu tư đào tạo nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 2012 – 2014 86
4.6 Cán bộ công nhân viên chức dạy nghề ở huyện Quỳnh Phụ 2014 76
4.7 Cơ cấu giảng dạy nghề 61
4.8 Kết quả đào tạo nghề cho LĐNT ở huyện Quỳnh Phụ 2012 – 2014 61
4.9 Đánh giá về hình thức, nội dung chương trình đào tạo 63
4.10 Đánh giá của người lao động về thời gian đào tạo nghề 66
4.11 Việc làm của người lao động sau khi học nghề 67
4.12 Đánh giá của người lao động về tác dụng của việc tham gia học nghề 68
4.13 Đánh giá của các cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ 69
4.14 Nhu cầu học thêm để nâng cao nghề của các đối tượng điều tra 74
4.15 Đánh giá của người lao động về giáo viên và phương pháp giảng dạy 78
4.16 Đánh giá chất lượng trang thiết bị dạy nghề 83
4.17 Nhu cầu đào tạo cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ đến năm 2020 91
4.18 Liên kết giữa trung tâm dạy nghề, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp 100
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ
4.1 Số Lao động đã được đào tạo giai đoạn 2010 – 2014 53
4.2 Mức độ doanh nghiệp tham gia hợp tác với CSDN 72
4.3 Động cơ học nghề của người lao động 75
4.4 Cơ cấu cán bộ giảng dạy chia theo thâm niên 77
4.5 Tính chất phù hợp của các hình thức đào tạo hiện tại 84
4.6 Nguồn tiếp cận thông tin Đào tạo nghề 88
Trang 10DANH MỤC HỘP
4.1 Tổ chức dạy nghề hiệu quả 56 4.2 Ý kiến về tham gia tập huấn của người lao động 67 4.3 Liên kết trong đào tạo nghề 71
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát triển một cách toàn diện nền kinh tế nông nghiệp, đồng thời làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn và nâng cao đời sống của người nông dân Từ đây, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được chú trọng hơn bao giờ hết Bởi lẽ, chỉ khi chất lượng nguồn lao động nông thôn được cải thiện thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Theo đó, Nghị quyết số 26/2008/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai ở nhiều nơi Cụ thể hóa cho vấn đề này, ngày
28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành "Chương trình hành động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một bước cho người nông dân" Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động của
Chính phủ là: "Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ; chuyển nghề; bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại;… Theo đó, từ năm
2009 đến nay, nhiều văn bản pháp lý về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn đã được ban hành
Cụ thể, ngày 27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
1956/QĐ-TTg về phê duyệt đề án“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) Đề án nêu rõ quan điểm: "Đào tạo nghề cho
Trang 12lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành
và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” Đây là những văn bản tạo
hành lang pháp lý thúc đẩy sự quan tâm hơn nữa của toàn xã hội tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tình trạng chất lượng lao động nông thôn nước ta còn quá thấp là do công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong một thời gian dài chưa được coi trọng đúng mức Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị, còn ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa số lượng cơ sở dạy nghề rất ít, quy mô dạy nghề nhỏ và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra, cần thiết phải có một chiến lược đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giúp họ có một nền tảng kỹ thuật cơ bản và một nghề nghiệp trong tay để "lập thân, lập nghiệp", làm giàu chính đáng cho bản thân và xã hội
Huyện Quỳnh Phụ là một huyện thuần nông nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình, năm 2014 với số lượng lao động trên địa bàn huyện gần 245.421 người, tuy nhiên qua điều tra thì số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp, lao động nông nghiệp chiếm 62,60%, điều này cho thấy chất lượng lao động của huyện chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn và cả trong việc cung ứng thị trường lao động Phần lớn lao động của huyện chưa qua đào tạo là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tìm được việc làm nhưng thu nhập thấp (chỉ thực hiện được công việc giản đơn), điều này tạo ra những khó khăn nhất định cho bản thân người lao động, gia đình và
xã hội (UBND huyện Quỳnh Phụ, 2014)
Xác định công tác đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo cơ hội việc làm, thu nhập đáp ứng nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong thời gian qua, công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện đã được cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm và tổ chức thực hiện hiệu quả các đề án, chương trình đào tạo nghề của
Trang 13Trung ương, của tỉnh cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn những bất cập và hạn chế đó là: tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp so với yêu cầu của huyện; chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao; đào tạo chưa gắn liền với giải quyết việc làm, nhất là trong việc chuyển đổi nghề nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, giải toả, tái định cư để thực hiện quy hoạch và các dự án đầu tư trên địa bàn huyện; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với thực tiễn, nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp; việc huy động nguồn lực xã hội cho công tác đào tạo nghề chưa nhiều Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 định hướng đến 2020 công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện như thế nào tại huyện
Quỳnh Phụ?
Những giải pháp nào để hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tại huyện trong những năm tới?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện trong những năm gần đây, từ đó đề xuất một số giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ đến năm 2020
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn
- Đánh giá thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Quỳnh Phụ đến năm 2020
Trang 141.3 Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách, các yếu tố kinh tế, xã hội, thể chế liên quan đến đào tạo nghề, các cơ quan quản lý nhà nước và chỉ đạo công tác đào tạo nghề
Các cơ sở đào tạo nghề, lao động nông thôn tham gia học nghề, đơn vị sử
dụng lao động qua đào tạo nghề trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội
Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc thì: “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”
Theo Tổ chức Lao động thế giới (ILO): “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”
Nguồn lao động hay lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, có tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc làm nhưng đang tích scực tìm việc làm Nguồn lao động có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nói chung và trong nông nghiệp nói riêng
Lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động không phân biệt giới tính và những người trên độ tuổi, dưới độ tuổi có thể tham gia lao động ở khu vực nông thôn, bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Hiện nay ở Việt Nam quy định độ tuổi lao động từ 15-60 tuổi đối với nam và từ 15-55 tuổi đối với nữ (Luật dạy nghề, 2006)
2.1.1.2 Khái niệm nghề
Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm khác Đó là nghề Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng
Trang 16cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu
và lợi ích của con người
Nghề: Là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào
tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tình thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội (Nguyễn Hùng, 2008)
2.1.1.3 Khái niệm đào tạo nghề
Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó để sau một thời gian nhất định người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực mới (Luật dạy nghề, 2006)
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học (Luật dạy nghề, 2006) Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Luật dạy nghề, 2006)
Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội, trước hết là phương hướng phân công mới lao động, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
Như vậy, Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: là trang bị lý thuyết
cho học viên (lao động nông thôn) một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vi ngành nghề
họ theo học hoặc nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định
Trang 172.1.2 Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm khác so với các ngành kinh tế khác Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác so với lao động ở các ngành kinh tế khác
2.1.2.1 Lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn
Kết quả điều tra Lao động – Việc làm năm 2014 cho thấy, lực lượng lao động nông thôn ở nước ta chiếm 70,3% tổng số lao động cả nước là 51,4 triệu người (tương đương với hơn 36 triệu người)
Bảng 2.1 Số lượng và phân bố lực lượng lao động, năm 2014
Nơi cư trú Lực lượng lao động
(nghìn người)
Tỷ lệ tham gia LLLĐ Chung (%) Nam (%) Nữ (%)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2014)
Nhìn vào sự phân bố lực lượng lao động qua Bảng 2.1 ta thấy, mặc dù
có sự tăng lên đáng kể của lực lượng lao động ở khu vực thành thị, song lực lượng lao động nước ta vẫn tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn Lực lượng này chiếm tới 81,7% lực lượng lao động của cả nước Có thể nói, đây
là lực lượng lao động đông đảo, dồi dào và đầy tiềm năng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn Đồng thời, điều này cũng hứa hẹn một thị trường tiêu thụ rộng lớn ở nông thôn Tuy nhiên, số lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn lại gây sức ép lớn đối với việc giải quyết việc làm ở khu vực này Do vậy, nâng cao chất lượng lao động, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một vấn đề cấp bách của toàn xã hội, đặc biệt trước những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 182.1.2.2 Lao động nông thôn mang tính thời vụ
Có thể thấy, phần lớn lao động nông thôn nước ta hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Trong khi đối tượng sản xuất của công nghiệp phần lớn là các vật vô tri vô giác, thì nông nghiệp có đối tượng sản xuất là sinh vật bao gồm các cây trồng, vật nuôi và các sinh vật khác Do sinh vật phát triển theo quy luật riêng, nhu cầu về lao động cho từng thời kỳ phát triển của sinh vật rất khác nhau
Vì vậy có lúc sinh vật cần tác động của con người, nhưng có lúc đơn thuần cần
sự tác động của môi trường sống Cũng từ đặc điểm này, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao (Đỗ Kim Chung, 2009) Do vậy, đặc điểm cơ bản nhất của lao động nông thôn là mang tính thời vụ cao Đây là một đặc điểm đặc thù không thể xóa hỏ được của lao động nông thôn trong sản xuất nông nghiệp
2.1.2.3 Chất lượng lao động nông thôn còn thấp
Chất lượng lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tình trạng sức khỏe Do nông nghiệp thường ít hấp dẫn trên phương diện đầu tư, chịu rủi ro cao nên việc thu hút lao động được đào tạo vào nông nghiệp là một vấn đề khó khăn Phần lớn lao động được đào tạo ra đi từ nông nông thôn lại vào sản xuất ở các ngành công nghiệp, dịch vụ ở thành phố
Do đó, còn lại trong nông thôn nhiều lao động chưa được đào tạo, Thực trạng này làm cho hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới Vì thế, Chính phủ cần có chính sách điều tiết vĩ mô để khuyến khích lao động được đào tạo về làm việc ở nông thôn Mặt khác, phải thực hiện tốt các chương trình khuyến nông để nâng cao trình độ và kiến thức cho lao động nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2009)
2.1.3 Sự cần thiết đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
2.1.3.1 Vai trò của đào tạo nghề
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới Giáo dục và đào tạo giữ vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 19Điều này đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật, xu thế và xứng tầm thời đại Dạy nghề là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân đó
Hiện nay, nhiều ngành sản xuất mới xuất hiện, nhiều ngành nghề truyền thống được thay thế bằng những ngành nghề mới, đòi hỏi trình độ tay nghề và độ chính xác cao: viễn thông, tin học, điện tử… Đặc biệt với nước ta, nguồn lao động dôi dào, giá nhân công rẻ với những chính sách ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài nên lượng doanh nghiệp FDI ngày càng nhiều với đa dạng các ngành sản xuất Chính yếu tố này
đã đặt ra nhiều vấn đề với đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng để đáp ứng yêu cầu
xã hội và sản xuất Một thực tế đặt ra là, mặc dù có nhiều cơ sở dạy nghề được mở ra, hệ thống trường dậy nghề được đầu tư, các ngành nghề hết sức phong phú nhưng lượng người học không nhiều, các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI không tuyển được lao động như mong muốn (Phương Mai, 2013)
Đào tạo nghề (ĐTN) cho lao động nông thôn có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo, thực hiện công bằng , đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở khu vực nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm có tính xã hội và nhân văn sâu sắc, do đó
đã nhận được sự đồng thuận rất cao của người dân, của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng Tư tưởng bao trùm của các chủ trương, đề án của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn là góp phần tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại trong nông nghiệp; tạo ra những lao động có kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, có khả năng thích ứng với sự cạnh tranh quốc tế trong sản xuất nông nghiệp Chúng ta tiến hành CNH, HĐH đất nước với thế mạnh lớn nhất hiện có là nguồn lực lao động dồi dào Nhưng chỉ với nguồn lực lao động hiện có thì chưa thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trong thời kỳ cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, thời kỳ trí tuệ hóa lao động, mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế, hội nhập quốc tế hiện nay Vai trò cơ bản nhất của đào tạo nghề là đạo tạo lực lượng lao động
có trí tuệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao (Trần Văn Hùng, 2011)
Trang 202.1.3.2 Ý nghĩa của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
* Về phát triển kinh tế - xã hội
Tính đến quý IV năm 2014, cả nước có 70057,9 nghìn người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động (trong đó gần 70% là lao động thuộc khu vực nông thôn) nhưng lại có gần 1 triệu lao động thất nghiệp, 1,2 triệu lao động thiếu việc làm do nền kinh tế không tạo đủ việc làm cho cả lao động mới gia nhập thị trường và bộ phận lao động thất nghiệp cũ Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 có 30% lao động làm nông nghiệp, còn lại phải chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp, không còn con đường nào khác là phải ĐTN cho lao động nông thôn (LĐNT) (Kim Chi, 2014)
ĐTN cho LĐNT là việc làm thiết thực góp phần giải quyết công ăn việc làm cho số LĐNT nhàn rỗi do không có nghề, một số do không thi vào các trường ĐH,
CĐ, TCCN hoặc do thi trượt, hoàn cảnh không thể có khả năng thi tiếp… Đối với những LĐNT, người có trình độ văn hóa thấp thì học nghề là biện pháp duy nhất để nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, tay nghề cho NLĐ vì họ không thể đáp ứng được các yêu cầu của giáo dục chuyên nghiệp (Đặng Kim Sơn, 2008)
Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn góp phần thực hiện Đề án tái
cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chương trình mục tiêu quôc gia xây dựng nông thôn mới Công tác dạy nghề nông nghiệp đáp ứng nhu cầu học của người lao động nông thôn Chất lượng và hiệu quả dạy nghề gắn liền với thực tế sản xuất của người lao động giúp cải thiện điều kiện, kỹ thuật, tập quán canh tác, nuôi trồng hoặc thay đổi vật nuôi, cây trồng hiệu quả cao hơn Phần lớn lao động tham gia học nghề nông nghiệp đã ứng dụng được kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, nên năng suất lao động được nâng lên, tiết kiệm được chi phí sản xuất, dẫn đến thu nhập tăng (Huỳnh Công Chất, 2014)
*Về chính trị - xã hội
Phát triển ĐTN cho LĐNT góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng ta Dân muốn giàu, trước hết phải có đầy đủ việc làm, sau đó là chất lượng việc làm ngày một nâng cao, thu nhập của người lao động ngày một tăng
Phát triển ĐTN cho LĐNT góp phần nâng cao trí tuệ, chất lượng lực lượng lao đọng, giảm các tội phạm và tệ nạn xã hội
Trang 21Như vậy, phát triển ĐTN cho LĐNT nâng cao được chất lượng lực lượng lao động không những tạo ra việc làm cho người lao động, tạo điều kiện tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn góp phần giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội càng văn minh hơn Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu lao động sang phi nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo ở khu vực nông thôn, thực hiện tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đa
số lao động nông thôn sau đào tạo nghề đã áp dụng được kiến thức, kỹ năng vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, tìm được việc làm mới, nâng cao chất lượng cuộc sống (Kim Chi, 2014)
2.1.4 Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn
*Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động thật sự của các doanh nghiệp trên địa bàn, đồng thời dựa trên nhu cầu thực tế về nghề nghiệp của người dân ở từng địa phương (xã, huyện) và của doanh nghiệp theo từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc mà các cơ quan, ban ngành, chính quyền địa phương tổ chức các cuộc điều tra, khảo sát nhu cầu để xác định được nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở địa phương Cơ sở dạy nghề cần tìm hiểu các thông tin liên quan đến nhu cầu lao động của xã hội, những nghề nghiệp mà thị trường lao động cần và các yêu cầu cụ thể về nghề nghiệp Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình dạy nghề, liên kết với doanh nghiệp để cung ứng lao động là những học viên của cơ sở mình Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống thông tin chính xác và tin cậy về nhu cầu việc làm của thị trường lao động, bao gồm: thông tin về doanh nghiệp, về cơ
sở dạy nghề (những nghề được dạy, thời gian học, học phí, trình độ, chất lượng đào tạo, khả năng tìm kiếm việc làm sau tốt nghiệp…), về thị trường việc làm và các dịch vụ đào tạo nghề Hệ thống thông tin này cung cấp thông tin cho người lao động trong việc lựa chọn các dịch vụ học nghề, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm Điều này sẽ giúp giải tỏa tâm lý e sợ của người lao động khi lựa chọn học nghề ngắn hạn (Mai Phương, 2013)
Trang 22* Xây dựng kế hoạch đào tạo
- Đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề: Trung tâm dạy nghề các địa phương, doanh nghiệp chủ động phối hợp tuyên truyền, tư vấn tuyển chọn về đào tạo nghề và việc làm cho người lao động để thu hút người lao động tham gia học nghề, chuyển đổi nghề nghiệp Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo hướng hiện đại hóa, linh hoạt nhằm nâng cao kỹ năng, năng lực thực hành, năng lực tự tạo việc làm, thích ứng với yêu cầu chuyển đổi của công nghệ và sản xuất,
tổ chức đào tạo nghề thuận lợi cho người học Hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo nghề phụ hợp với điều kiện thực tế của địa phương và nhu cầu của thị trường lao động, khả năng tiếp thu của người học nghề (Nguyễn Hùng, 2008)
- Kèm cặp trong sản xuất
Do đặc thù của sản xuất ở nông thôn là có thể sử dụng lao động từ rất trẻ cho đến sau độ tuổi lao động (theo quy định của pháp luật lao động) Vì vậy, có thể có những đối tượng chỉ có thể tham gia được các khoá đào tạo ngắn hạn, nhưng cũng có nhóm đối tượng (ví dụ từ 16 - 24 tuổi) có thể và có điều kiện tham gia các khoá đào tạo dài hạn Đối với nhóm đối tượng nông dân đào tạo để
có thể làm nông nghiệp hiện đại, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, người nông dân làm việc theo mùa vụ, nên các khoá đào tạo cần gắn với việc vừa học, vừa làm việc của người nông dân, hoặc phải lựa chọn thời gian nông nhàn của người dân để tổ chức khoá học cho phù hợp Mặt khác, do tính đa dạng của vật nuôi, cây trồng nông nghiệp, các khoá học nên được tổ chức gắn với thời kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng Như vậy, viêc kèm cặp trong sản xuất giúp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cho lao động nông thôn (Đặng Kim Sơn, 2008)
- Đào tạo tại các trường dạy nghề chính quy
Hình thức đào tạo này có thuận lợi là chủ động về mặt nội dung, thời gian và
số lượng đào tạo nhưng lại gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng thực hành
Do vậy, trong quá trình xây dựng kế hoạch đào tạo, chính quyền các cấp, ban ngành, cần phối hợp với lãnh đạo, cán bộ quản lý các trường dạy nghề, cơ sở doanh nghiệp
để có nội dung, chương trình đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động (Trần Văn Hùng, 2011)
Trang 23*Triển khai chương trình đào tạo
Hiện nay, nhiều ngành sản xuất mới xuất hiện, nhiều ngành nghề truyền thống được thay thế bằng những ngành nghề mới, đòi hỏi trình độ tay nghề và độ chính xác cao: viễn thông, tin học, điện tử… Đặc biệt với nước ta, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ với những chính sách ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài nên lượng doanh nghiệp FDI ngày càng nhiều với đa dạng các ngành sản xuất Chính yếu tố này đã đặt ra nhiều vấn đề với đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng để đáp ứng yêu cầu xã hội và sản xuất Một thực tế đặt ra là, mặc
dù có nhiều cơ sở dạy nghề được mở ra, hệ thống trường dậy nghề được đầu tư, các ngành nghề hết sức phong phú nhưng lượng người học không nhiều, các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI không tuyển được lao động như mong muốn (Nguyễn An Ninh, 2008)
Điều này đòi hỏi các nhà trường phải nhạy bén, đầu tư xây dựng hệ thống giáo trình, chương trình học phù hợp với yêu cầu của sản xuất, bao gồm cả ngắn hạn, trung và dài hạn Quan trọng hơn nữa là cần nâng cao trình độ của giảng viên, đổi mới triệt để phương pháp giảng dạy, tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm để nâng cao tính thực hành cho học viên; tránh tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại khi nhận người lao động Liên kết chặt chẽ hơn nữa với các doanh nghiệp để tìm hiểu nhu cầu nhân lực, nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo theo yêu cầu và xây dựng môi trường để học viên có nơi tìm hiểu, thực tập thực tế Đồng thời đây cũng là các địa chỉ sẽ tiếp nhận học viên ra trường làm việc (Phương Mai, 2013) Sau khi xây dựng hoàn thiện kế hoạch đào tạo tại các trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, cao đẳng…chính quyền các cấp, cơ quan quản lý,trung tâm dạy nghề tiến hành triển khai thực hiện chương trình đào tạo Thông qua các phương tiện ttruyền thông, hình thức tuyên truyền như băng zôn,
tờ rơi, áp phích…truyền tải thông tin về chương trình đào tạo cho lao động nòng thôn được biết để đăng ký vào các khóa đào tạo
*Kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo
Hàng năm, các trung tâm, cơ sở dạy nghề, trường dạy nghề chính quy có các báo cáo tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả đào tạo nghề lên cơ quan cấp
Trang 24trên, rút ra những bài học, kinh nghiệm, phương hướng thực hiện kế hoạch đào tạo lao động nông thôn năm sau Như vậy, công tác ĐTN cho lao động nông thôn vừa đáp ứng giải quyết tạo việc làm vừa đảm bảo chương trình đào tạo, dáp ứng nhu cầu thị trường lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương,
cả nước (Phương Minh, 2011)
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan
2.1.5.1 Các yếu tố khách quan
- Chủ trương, chính sách: Nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đề ra hàng hoạt chủ trương lớn, cho đến các chính sách cụ thể Trong những năm gần đây, Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các Bộ, Ngành
đã ban hành hàng loạt các quyết định, thông tư… Các quy định pháp luật cũng như các chính sách này có tác dụng bước đầu tạo môi trường, hành lang pháp lý và chính sách thuận lợi để phát triển mạnh công cuộc dạy nghề cho người lao động, nâng cao khả năng tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn (Nguyễn Hữu Ngoan, 2007)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định phải “…mở rộng quy mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, đảm bảo tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm và trung học chuyên nghiệp tăng 15%/năm…đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo Có lộ trình
cụ thể cho việc chuyển một số cơ sở giáo dục, đào tạo công lập sang dân lập, tư thục, xóa bỏ hệ bán công Khuyến khích thành lập mới và phát triển các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề ngoài công lập, kể cả các trường do nước ngoài đầu tư” Với định hướng đó, các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn được xây dựng liên quan đến tất cả các khâu của công tác đào tạo nghề từ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đến nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề, cải tiến giáo trình và phương pháp dạy nghề… nhằm đảm bảo cung cấp được lực lượng lao động nông thôn có trình độ chuyên môn tốt, tay nghề cao đáp ứng được các yêu cầu
Trang 25của cả sản xuất nông nghiệp hiện đại và chuyển sang phục vụ phát triển công nghiệp (Nguyễn Hùng, 2008)
Khả năng tiếp nhận lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp: Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, hiện nay các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo (nhất là những lao động có trình độ và kinh nghiệm)
là rất lớn Để đảm bảo những tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm hàng hóa, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động vào làm việc cũng có phần “khắt khe” hơn trước Do vậy, trình độ của lao động là mục tiêu hàng đầu của các “nhà” tuyển dụng; đây cũng là cơ
sở để các đơn vị ĐTN theo sát các doanh nghiệp tìm hiểu nhu cầu và nắm bắt thông tin để có những bước đi trong lựa chọn ngành nghề và chương trình dạy nghề sao cho hiệu quả nhất (Đặng Kim Sơn, 2008)
Quy mô phát triển, cơ cấu sản xuất và khả năng phát triển kinh tế
Sự phát triển kinh tế của địa phương sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, qua đó thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, qua đó tạo nhiều việc làm cho xã hội Quy mô phát triển càng lớn thì càng tạo ra nhiều việc làm cho xã hội Cơ cấu sản xuất phản ánh mức độ khai thác nguồn lực, khả năng phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng về nguồn lực tự nhiên Do đó, cơ cấu sản xuất và khả năng phát triển kinh tế của địa phương có vị thế đặc biệt quan trọng đối với vấn đề phát triển sản xuất, thu hút lao động trong các ngành kinh tế (Tổng cục dạy nghề, 2012)
- Yêu cầu vào công cuộc xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới yêu cầu phát triển toàn diện nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống người dân nông thôn, từ đó đòi hỏi lao động nông thôn phải được đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nông thôn mới (Kim Chi, 2014)
2.1.5.2 Các yếu tố chủ quan
- Mục tiêu đào tạo nghề: Hệ thống mục tiêu đào tạo nghề cho LĐNT bao gồm: các mục tiêu ngành, quốc gia, mục tiêu trường, mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường chung, mục tiêu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp hợp tác đào tạo Các mục tiêu đào tạo càng sát thực, càng khả thi thì chất lượng ĐTN càng được nâng cao Do đó, khi xây dựng mục tiêu đào tạo cần phải
Trang 26có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng với từng yếu tố (Nguyễn Hùng, 2008)
- Giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
Chất lượng của một nền giáo dục phụ thuộc trước hết vào chất lượng của những thầy cô giáo và thành công của các cuộc cải cách giáo dục luôn phụ thuộc vào ý chí muốn thay đổi của người giáo viên Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định, tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo, là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho các học viên trên cơ sở thiết bị dạy học
ĐTN có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, yêu cầu kỹ thuật cao, thường xuyên phải cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề để phù hợp với tiến bộ khoa học, kỹ thuât, học viên vào học nghề có rất nhiều trình độ văn hóa, độ tuổi khác nhau Bên cạnh đó, cấp trình
độ ĐTN ở các cơ sở ĐTN cũng rất khác nhau Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau
Một nguồn nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến chất lượng ĐTN đó là đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề Chất lượng cán bộ quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến ĐTN, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối, quá trình đào tạo, định hướng, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo…
Vì vậy, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đội ngũ giáo viên có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề, quản lý dạy nghề một cách hiệu quả (Nguyễn Hùng, 2008)
- Sự phát triển hệ thống đào tạo nghề của địa phương
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề và kinh phí ngân sách cho ĐTN
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện, học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập….Đây là yếu
tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo nghề, ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học viên có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất
Trang 27trong doanh nghiệp bấy nhiêu Tuy nhiên, điều này đòi hỏi nguồn kinh phí ngân sách chính quyền địa phương, cơ sở ĐTN cần có đầy đủ và kịp thời Nguồn kinh phí đầu tư cho ĐTN càng dồi dào thì càng có điều kiện đảm bảo chất lượng ĐTN Nguồn kinh phí cho ĐTN hiện nay chủ yếu từ ngân sách nhà nước, nguồn đầu tư xã hội hóa, các doanh nghiệp, nguồn đóng góp, hỗ trợ khác và đóng góp học phí của người học nghề (Đặng Kim Sơn, 2008)
- Chương trình, giáo trình ĐTN
Chương trình đào tạo gắn với từng nghề đào tao Không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà mỗi loại nghề đều có chương trình riêng theo chuẩn quy định chung Chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tương ứng với mỗi một cấp độ đào tạo, mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học
Giáo trình dạy nghề cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng của mỗi môn học, mô – đun trong chương trình dạy nghề, tạo điều kiện để thực hiện phương pháp dạy học tích cực Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo nghề mới sát với thực tế và hiệu quả ĐTN mới cao
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp lý và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo nghề (Nguyễn Hùng, 2008)
- Ý thức động cơ học nghề của người học
Học viên học nghề là nhân tố trung tâm, có tính chất quyết định đối với công tác ĐTN, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác ĐTN, trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thời gian…của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy môvà chất lượng ĐTN
Nhận thức của xã hội về ĐTN tác động mạnh đến công tác ĐTN, ảnh hưởng rõ rệt nhất của nó là tới lượng học viên đầu vào cho các cơ sở dạy nghề Thực tế, công tác ĐTN hiện nay chưa được xã hội nhận thức đầy đủ và đúng đắn Thứ nhất, vì những hạn chế bên trong, những rào cản của ĐTN Thứ hai, do tâm
Trang 28lý ưa chuộng khoa bảng, bằng cấp của gia đình, người học nghề và xã hội Không
ít gia đình coi việc vào ĐH là con đường duy nhất để tiến thân, kiếm được việc làm nhàn hạ Nếu mọi người lao động trong xã hội đánh giá được đúng đắn hơn tầm quan trọng của việc học nghề thì lượng lao động tham gia học nghề sẽ chiếm một tỷ lệ lớn hơn so với toàn bộ số lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa, nếu người lao động nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quý giá của mình, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập
ổn định thì công tác ĐTN sẽ nhận thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội để phát triển mạnh hơn (Nguyễn Hùng, 2008)
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động ở một số quốc gia trên thế giới
và khu vực
2.2.1.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề ở Singapore
Các nhà lãnh đạo Singapore quan niệm thắng trong cuộc đua về giáo dục
sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế Vì vậy, Chỉnh phủ đã dành một khoản đầu tư lớn để phát triển giáo dục, từ 3% GDP lên 5% trong thập niên đầu của thế kỷ XI, hiện nay đầu tư cho giáo dục và đào tạo chiếm khoảng 10% GDP của Singapore
Singapore thực hiện phân luồng học sinh sớm, chương trình tiểu học 6 năm, 4 năm đầu có giáo trình chung và giai đoạn định hướng 2 năm Cuối cấp tham gia kỳ thi kết thúc bậc tiểu học, xếp lớp cho bậc trung học cơ sở gồm đặc biệt, cấp tốc, bình thường (văn hóa), bình thường (kỹ thuật) Sau 4 năm học THCS, học sinh lớp bình thường cấp trình độ N, đặc biệt và cấp tốc trình độ O Những học sinh trình độ N nếu có nguyện vọng và khả năng có thể học thêm 1 năm nữa để lấy trình độ O Các học sinh có chứng chỉ trình độ N theo các khóa đào tạo về kỹ năng, kỹ thuật tại Học viện đào tạo kỹ thuật nơi đào tạo nghề dành cho học sinh đã hoàn thành trung học cơ sở, với trình độ O có thể học các trường cao đẳng kỹ thuật hoặc dự bị đại học để học đại học Việc phân loại bậc trung học cơ sở thành nhiều chương trình, trong đó các chương trình bình thường có mục đích là chuẩn bị kiến thức cho học sinh trước khi theo học các
Trang 29trường dạy nghề hay cao đẳng kỹ thuật sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở Đào tạo kỹ thuật và đào tạo nghề đóng vai trò quan trọng trong cải cách không ngừng nền giáo dục Singapore Kỹ thuật và công nghệ luôn là ưu tiên hàng đầu trong đào tạo, tiếng anh, toán và các môn khoa học là môn học bắt buộc chiếm 1/3 thời lượng chương trình và nhà nước đầu tư xây dựng các học viện kỹ thuật
và dạy nghề (Trịnh Xuân Thắng, 2014)
Singapore cũng khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Nhà nước áp dụng nhiều chính sách nhằm khuyến khích các công ty tự tổ chức các khóa đào tạo hoặc dạy nghề cho nhân viên và công nhân trong quá trình làm việc Viện giáo dục kỹ thuật kết hợp với các công ty thực hiện mô hình học nghề song song, các học viên sẽ tham gia thực tập và được trả lương ngay tại công ty, trong khi quá trình học lý thuyết sẽ diễn ra tại các học viện dạy nghề Nhà nước Singapore chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế có uy tín đặt chi nhánh để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước (Trịnh Xuân Thắng, 2014)
2.2.1.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề ở CHLB Đức
Sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Đức được chỉ đạo bởi một quan điểm xuyên suốt là “Chỉ có những người được giáo dục và đào tạo tốt mới đưa nước Đức vào vị trí hàng đầu trong cuộc chạy đua toàn cầu, và đồng thời tự mình tham gia một cách tốt nhất vào sự phát triển đó Giáp dục và đào tạo là chìa khóa cho tương lai của sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước” Đức rất coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực, ngân sách cho giáo dục chiếm 6% GDP từ 2010 Ở Đức, việc phân luồng sớm học sinh phổ thông được thực hiện ngay từ cấp trung học cơ
sở, cấp trung học cơ sở được thiết kế để trang bị cho học sinh đủ trình độ đáp ứng các yêu cầu của trung học phổ thông dẫn đến một trình độ nghề nghiệp Học sinh tốt nghiệp các loại trường THCS được tiếp tục học lên theo các luồng ưu tiên trung học phổ thông, trung học nghề (giáo dục phổ thông kết hợp với giáo dục nghề nghiệp) và giáo dục nghề nghiệp là chủ yếu (Trịnh Xuân Thắng, 2014)
Trang 30Sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với phát triển kinh tế, nhu cầu của thị trường lao động ở Đức cũng rất chặt chẽ Nhu cầu lao động của các công ty được đáp ứng một cách phù hợp thông qua việc ký hợp đồng đào tạo, bồi dưỡng nghề với học sinh, người lao động Kế hoạch triển khai đào tạo nghề do các bang, các địa phương xác định tùy thuộc vào sự phát triển của cơ cấu kinh tế, thị tường lao động Phục vụ cho chức năng hoạt động của hệ thống, ở Đức có một cơ sở hạ tầng thông tin bao quát trên diện rộng về các lĩnh vực ngành nghề Chính phủ Đức cũng huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của các lực lượng xã hội vào đào tạo nhân lực Ở Đức các nhà máy, doanh nghiệp tự nguyện tham gia đào tạo nghề trong hệ thống song hành Các xí nghiệp tư nhân cũng như các cơ quan,
tổ chức tham gia đào tạo ngoài xí nghiệp được thực hiện rộng rãi việc đào tạo ngề nhưng phải tuân thủ theo quy định của Nhà nước đã ghi trong luật dạy nghề (Trịnh Xuân Thắng, 2014)
2.2.1.3 Kinh nghiệm đào tạo nghề ở Liên bang Nga
Với diện tích trên 17 triệu km2, Liên bang Nga không chỉ là quốc gia lớn nhất thế giới mà còn là nước có diện tích đất nông nghiệp cũng lớn nhất thế giới (trên 210 triệu héc-ta, chiếm 7% đất nông nghiệp toàn cầu), có khả năng sản xuất sản phẩm nông nghiệp nuôi sống toàn bộ dân số trên trái đất Vì thế, Chính phủ Nga đặc biệt quan tâm đến hoạt động dạy nghề cho nông dân, để họ có thể khai thác tốt nhất tiềm năng sẵn có và làm ra nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng, có sức cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường trong nước và quốc tế Dự báo, trong tương lai không xa, Nga trở thành cường quốc nông nghiệp số 1 thế giới
*Hình thức đào tạo đa dạng
Để có được những người nông dân tương lai gắn bó với nghề trên đồng ruộng, Chính phủ Liên bang Nga cũng như chính phủ các nước cộng hòa trong Liên bang đã chú ý phát triển nhiều hình thức đào tạo nghề khác nhau Trước hết, chú trọng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghề nông cho học sinh trung học năm cuối phổ thông, gọi là hình thức đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp, tại các trường cao đẳng chuyên nghiệp Học sinh có nhu cầu học nghề phải làm đơn nhập học theo Quy chế đào tạo chung của nhà nước Những người được tuyển
Trang 31thường là học sinh đã tốt nghiệp phổ thông Sau khi được tuyển vào học, các em
sẽ được học nghề từ 1 đến 3 năm tùy thuộc vào trình độ học vấn phổ thông của mình Có hai hình thức đào tạo: chính quy (ban ngày) và không chính quy (ban đêm) Thời gian gần đây, ở Nga phát triển mạng lưới rộng khắp các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp để đào tạo công nhân nông nghiệp có tay nghề cao cho tổ hợp công -nông nghiệp Do yêu cầu của kinh tế thị trường, trong hệ thống đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp cho nông dân có 280 ngành nghề khác nhau, từ kỹ năng nuôi trồng sản phẩm nông nghiệp, tới thương mại, dịch vụ, kỹ thuật, giao thông trong nông nghiệp v.v (Hương Ly, 2010)
* Kinh nghiệm hay của Cộng hòa Chu-va-si-a
Trong hoạt động thông tin - tư vấn nhằm đào tạo nghề cho nông dân, đáng chú ý là kinh nghiệm của Cộng hòa Chu-va-si-a của Liên bang Nga Họ đã xây dựng Chương trình quốc gia về bảo đảm thông tin - tư vấn cho nông dân giai đoạn
2006 -2010 Chương trình này được Học viện Nông nghiệp quốc gia xây dựng theo đơn đặt hàng của Bộ Nông nghiệp và Lương thực của Cộng hòa Chu-va-si-a Kết quả thực hiện Chương trình quốc gia đã góp phần nâng cao trình độ và tay nghề cho các công nhân sản xuất nông nghiệp, thể hiện ở các nội dung cụ thể sau:
- Xây dựng được những cánh đồng thực nghiệm - giới thiệu kinh nghiêm
để tổ chức các cuộc thông tin - tư vấn về các loại giống ngũ cốc, rau quả, con giống mới và các thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, các kinh nghiệm và các điển hình tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp
- Xây dựng được hệ thống quản lý thông tin về hoạt động kinh tế - tài chính nông nghiệp phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các vùng và các địa phương
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu thông tin điện tử cho Bộ Nông nghiệp và Lương thực
- Xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật để xuất bản các ấn phẩm thông tin về nghề nông cho nông dân
- Tạo điều kiện để đào tạo và nâng cao tay nghề cho các cán bộ làm công tác dạy nghề cho nông dân
Trang 32Kết quả tổng hợp của Chương trình quốc gia đã góp phần quan trọng tăng năng suất lao động của nông dân lên 20 - 25% nhờ nâng cao chất lượng nghề nghiệp cho nông dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nông dân với các trung tâm thông tin - tư vấn, giảm chi phí sản xuất nông nghiệp Thông qua các trung tâm này, người nông dân Nga có thể nhanh chóng tiếp thu những kiến thức rất cơ bản
và thiết thực về nghề nông, đồng thời phổ biến kinh nghiệm nhà nông cho những người khác học tập, áp dụng (Hương Ly, 2010)
* Những bài học rút ra cho Việt Nam
Sigapore, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên Bang Nga trong việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cho thấy rằng Chính phủ các nước đều quan tâm đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực là con người, đặc biệt là công tác dạy nghề cho lực lượng lao động nông thôn Đây là bài học cho Việt Nam tiếp thu những kinh nghiệm đó và vận dụng linh hoạt vào tình hình thực tế tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện trong mỗi địa bàn tỉnh và thành phố
- Chính phủ các nước có các chính sách đồng bộ về phát triển đào tạo nghề song song với chiến lược phát triển nguồn lực, có hệ thống quản lý chất lượng đào tạo trên phạm vi cả nước cả về nội dung, chương trình đào tạo cũng như bằng cấp, chứng chỉ nghề Có chương trình hoạch định chiến lược đào tạo dạy nghề theo xu hướng phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của xã hội và tiến bộ loài người
- Phân cấp rõ vai trò của việc quản lý đào tạo nghề theo ngành dọc, đảm bảo tính chủ động trong triển khai công tác dạy nghề gắn với hỗ trợ tạo việc làm cho lao động nông thôn
- Chương trình đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực có sự cân đối giữa
số lượng dạy nghề với việc sử dụng lao động tạo ra sự cân đối cung cầu trong đào tạo dạy nghề
- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai trên các mặt hoạt động đồng thời theo các hướng đào tạo gồm:
+ Đào tạo chuyển dịch cơ cấu lao động đi đôi với quá trình CNH
+ Có sự phối hợp giữa đào tạo lý thuyết tại cơ sở đào tạo với thực hành tại nơi sử dụng lao động, tạo sự kết nối giữa cơ sở đào tạo, người học và địa chỉ sử dụng lao động
Trang 33Những kinh nghiệm này của các nước phát triển cần phải được vận dụng một cách linh hoạt ở Việt Nam trong quá trình phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhằm tạo ra nguồn nhân lực đạt trình độ cao có thể đáp ứng sứ mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương của Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Yên Bái
Quá trình triển khai Đề án 1956 của tỉnh đã thực sự tạo được chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp các ngành đặc biệt là nhận thức của chính những người được đào tạo nghề đối với việc nâng cao thu nhập, tạo hướng thoát nghèo bền vững Bên cạnh đó, hiệu quả của công tác đào tạo nghề còn được thể hiện ở chỗ hầu hết những người được học qua các lớp đào tạo nghề đã tìm được việc làm ổn định Số còn lại đã tìm được việc làm từ các công
ty, các xí nghiệp trên địa bàn tỉnh Qua đánh giá của tỉnh về hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho thấy vai trò của dạy nghề với nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo bền vững, 17/19 chỉ tiêu đánh giá thực hiện đề án của tỉnh đã được hoàn thành Cũng giống như nhiều địa phương trên cả nước, tỉnh Yên Bái
đã thực hiện tốt việc nhân rộng các mô hình đào tạo nghề có hiệu quả Cụ thể năm 2010 đã tổ chức đặt hàng Trung tâm Dạy nghề huyện Văn Yên và Trường Cao đẳng nghề Yên Bái xây dựng 02 mô hình thí điểm dạy nghề nuôi lợn và dạy nghề xây dựng cho 60 lao động nông thôn tại xã Đại Phác Đến năm 2011, tỉnh đã triển khai xây dựng 18 mô hình trong đó có 9 mô hình dạy nghề nông nghiệp và 9 mô hình dạy nghề phi nông nghiệp ở tất cả các huyện thị trong toàn tỉnh với tổng số người học lên đến 525 người Trong năm 2012, tỉnh đã tổ chức đấu thầu đặt hàng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo mô hình thí điểm gồm cả mô hình nông nghiệp và phi nông nghiệp Qua 3 năm triển khai mô hình thí điểm, đề án đã xây dựng và đào tạo được 47 mô hình thí điểm với tổng
số 1.485 người được học nghề Các mô hình nông nghiệp điển hình như kỹ thuật trồng lúa, chăn nuôi lợn, sản xuất rau an toàn, kỹ thuật trồng nấm, chạm
Trang 34khắc đá, xây dựng chế biến hỗ rừng trồng đã tạo việc làm tăng nguồn thu nhập cho người lao động một số các lao động sau khi học xong các lớp nghề đã mạnh dạn vay vốn để phát triển trang trại chăn nuôi đảm bảo cho thu nhập ổn định, từng bước giúp người nông dân thoát nghèo bền vững (Thanh Thủy, 2014) Các mô hình phi nông nghiệp đặc biệt là nghề xây dựng đã cung cấp nguồn lao động có tay nghề cho nhiều doanh nghiệp xây dựng, một số người lao động đã chủ động thành lập tổ đội tự nhận thầu và tiến hành xây dựng các công trình với quy mô vừa và nhỏ
Tỉnh Yên Bái đã làm tốt hoạt động điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn đặc biệt là nhu cầu học nghề, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và năng lực của các cơ sở dạy nghề Hàng năm tỉnh đều tiến hành khảo sát, bổ sung danh mục nghề đào tạo theo nhu cầu thực tế của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động doanh nghiệp và năng lực đào tạo của cơ sở dạy nghề để xây dựng kế hoạch phù hợp với việc dạy nghề bám sát thực tế và sự thay đổi của người học về nhu cầu lựa chọn nghề để học Tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thành lập cơ sở dạy nghề, hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho người lao động theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp Tiếp tục mở các lớp đào tạo nghề, liên kết đào tạo nghề cho lao động nông thôn để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Tiếp tục nghiên cứu, khảo sát nhu cầu học nghề của người doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để ký kết, đặt hàng đào tạo nghề (Thanh Thủy, 2014)
2.2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh
Tìm hiểu hiểu kỹ đặc điểm, tình hình từng địa phương; khảo sát nhu cầu
về việc làm từng hội viên; tích cực nắm bắt thông tin sử dụng lao động để liên kết với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh là những phương pháp mà Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân (Hội Nông dân tỉnh) đang thực hiện nhằm mở các lớp đào tạo nghề phù hợp cho nông dân Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, không khó để người dân tìm hiểu những
Trang 35thông tin, kiến thức cần thiết trên internet Tuy nhiên, với người nông dân, không
có phương pháp giảng dạy nào dễ hiểu, dễ nhớ hơn là “học đi đôi với hành”,
“cầm tay chỉ việc tại chỗ” Nhận thức được vấn đề này, Trung tâm Dạy nghề và
Hỗ trợ nông dân (Hội Nông dân tỉnh) luôn đổi mới phương pháp dạy, cách truyền đạt cho học viên Dựa trên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, Trung tâm xây dựng các mô hình trình diễn để học viên thuận tiện trong quá trình thực hành Phối hợp với chủ các doanh nghiệp, trang trại, mô hình đạt hiệu quả cao, mời họ trực tiếp truyền đạt kinh nghiệm cho học viên, nhờ đó học viên tiếp thu kiến thức nhanh hơn và đến lớp đông hơn Đồng thời, Trung tâm tăng cường phối hợp bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, thường xuyên bổ sung và đổi mới nội dung, chương trình đào tạo Dạy nghề cho lao động nông thôn là một trong những giải pháp quan trọng nhất trong phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới Xác định được điều này, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân (Hội Nông dân tỉnh) tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác dạy nghề trong thời gian tới Đồng thời, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, triển khai đào tạo nghề gắn với thực tiễn sản xuất hướng đến tạo việc làm cho lao động sau đào tạo, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội trên địa bàn (Vũ Thắng - Việt Anh, 2012)
2.2.2.3 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Quảng Trị
Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta xác định công tác đào tạo nghề cho người lao động là một nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ bức thiết
Các trung tâm dạy nghề ở các huyện, thị xã, thành phố được đầu tư đáng
kể về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề tăng về số lượng và chất lượng, đáp ứng một phần yêu cầu đào tạo nghề cho người lao động, phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của
Trang 36tỉnh Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế Đó là công tác tuyên truyền cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ các chủ trương, chính sách, nội dung của việc học nghề gắn với giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội ở một số địa phương chưa được chú trọng; đầu tư phát triển dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động; tình trạng thiếu lao động
có trình độ tay nghề còn phổ biến; tỉ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo nghề còn cao, nhất là lao động khu vực nông thôn; các cơ sở dạy nghề chưa chủ động phối hợp gắn kết với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu lao động (Phương Minh, 2011)
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, từng bước đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCHTW Đảng (khóa X); Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 07/NQ-TU của Tỉnh ủy Quảng Trị về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2007-2015, ngày 17/8/2011 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị ban hành Chỉ thị số 04-CT/TU về việc tăng cường lãnh đạo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Cùng với việc triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2011-2015, tăng cường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn tỉnh; có kế hoạch sử dụng hiệu quả các trang thiết
bị dạy nghề được đầu tư tại các trung tâm dạy nghề ở các huyện, thị xã, thành phố, khắc phục tình trạng lãng phí như hiện nay Hướng dẫn, hỗ trợ và có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy nghề và triển khai dạy nghề cho lao động nông thôn theo hình thức đặt hàng dạy nghề qua hợp đồng giữa các bên có liên quan theo hướng xã hội hóa; thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm thực hiện tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực thông qua công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh; nghiên cứu xây dựng mô hình dạy nghề phù hợp cho lao
Trang 37động nông thôn tại các địa phương trong tỉnh, sau đó tổ chức nhân rộng Để các chủ trương, chính sách và hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn thật sự
đi vào cuộc sống, cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở địa phương, tất cả đều hướng tới mục tiêu mọi người dân đều có việc làm, nâng cao năng suất lao động và tăng thu nhập của người dân, xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững (Phương Minh, 2011)
* Một số bài học, kinh nghiệm cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Qua quá trình nghiên cứu thành công của một số nước trên thế giới và một
số địa phương ở Việt Nam về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, rút
ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình như sau:
Một là: Tập trung tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức
cho lao động nông thôn để lao động nông thôn xác định được học nghề tạo việc làm vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ; Triển khai có hiệu quả công tác điều tra khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nông thôn hàng năm làm cơ sở để hướng dẫn các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp với nhu cầu của người học nghề và thực tế phát triển kinh tế xã hội của các huyện, thành phố
Hai là: Lựa chọn các cơ sở dạy nghề có uy tín, chất lượng để giao nhiệm
vụ dạy nghề cho lao động nông thôn; Tập trung đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề Quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, phù hợp với chu kỳ phát triển của vật nuôi cây trồng; Chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn để tạo việc làm mới hoặc chuyển đổi việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn
Ba là: Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp
từ khâu xây dựng nội dung chương trình đào tạo đến qúa trình tổ chức đào tạo,
Trang 38thực tập thực tế tại doanh nghiệp và nhận vào làm việc tại doanh nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp
Bốn là: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo của các
cơ sở dạy nghề; Kiên quyết loại bỏ những lao động nông thôn lợi dụng chính sách tham gia học nghề vì mục đích hưởng tiền ăn, tiền đi lại; Nhân rộng các mô
hình thí điểm có hiệu quả trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 39PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quỳnh Phụ là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa
lý từ 20030’ đến 20045’ vĩ độ Bắc và 106010’ đến 106025’ kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên 20.961,46 ha và 2 hệ thống sông chính là sông Luộc, sông Hóa dài 36
km chảy qua phía Bắc và phía Đông của huyện dẫn nước vào các sông nội đồng Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Đông giáp huyện Vĩnh Bảo – Thành phố Hải Phòng với ranh giới là sông Hóa;
- Phía Tây giáp huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình;
- Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình
- Phía Bắc giáp huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Luộc Toàn huyện có 36 xã, 02 thị trấn Thị trấn Quỳnh Côi là trung tâm kinh tế văn hóa chính trị của huyện với tổng dân số là 235.017 người
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, đồng ruộng thấp, có độ dốc thoải từ Tây Bắc sang Đông Nam, từ Bắc xuống Nam, giữa huyện trũng tạo thành địa hình lòng chảo Phần này chiếm 62,5% diện tích toàn huyện Độ cao trung bình toàn huyện cao khoảng 1,5m so với mặt nước biển, trong đó khu vực cao nhất đạt khoảng 3m (xã Quỳnh Ngọc), khu vực thấp nhất là 0,4 - 0,5 m Nhìn chung địa hinhg của Huyện Quỳnh Phu không phức tạp, đất đai được hình thành do sự bồi đắp của phù sa hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa nên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp (UBND huyện Quỳnh Phụ, 2014)
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu
có đặc điểm chung của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng là nóng ẩm, mưa nhiều, một năm chia thành hai mùa theo nhiệt độ là mùa nóng và mùa lạnh, nhiệt
Trang 40độ trung bình trong năm từ 23-240C Trong một năm, lượng bức xạ mặt trời khá lớn, khoảng trên 100Kcal/cm2/năm Số giờ nắng từ 1600-1800 giờ/năm và tổng nhiệt lượng cả năm ước khoảng 8.5000C Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.500-1.900 mm, độ ẩm không khí 80-90%
Diễn biến thời tiết phân mùa khá rõ rệt với hai mùa chính là mùa hè và mùa đông, hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu Ngoài hai mùa chính là mùa hè
và mùa đông, còn có hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu Các mùa chuyển tiếp thể hiện sự thay đổi của 2 hệ thống gió mùa: Đông Bắc (mùa đông) và Tây Nam (mùa hè) Do đó các đặc tính khí tượng, thời tiết rất không ổn định Song hai mùa chuyển tiếp có nhiều tính chất gần giống với mùa hè Như vậy khí hậu Quỳnh Phụ là khí hậu gió mùa nhiệt đới nóng ẩm thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp quanh năm và đa dạng hoá cây trồng (Phòng Nông nghiệp huyện Quỳnh Phụ, 2014)
* Nhiệt độ không khí: Nhiệt độ mùa hè rất cao, trung bình > 260C, cao nhất là 39,20C Trong mùa hè thường gặp hai kiểu thời tiết là thời tiết dịu mát
và thời tiết ảnh hưởng của gió Tây Nam nóng khô Những ngày dịu mát nhiệt
độ trung bình khoảng 250C, những ngày gió Tây Nam nóng nhiệt độ lên tới 35
- 370C làm cho cây trồng bị héo ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng Nhiệt độ trung bình của mùa đông tại địa phương là 200C, nhiệt độ tối thấp là 4,10C Trong mùa đông thường có những đợt lạnh kéo dài do chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc, xen kẽ giữa các đợt gió lạnh này là những ngày ẩm ướt do sự giao nhau giữa các khối không khí khác nhau về nhiệt ẩm Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh là khoảng 15 -
200C, biên độ nhiệt độ ngày đêm có khi lên tới trên 100C (Phòng Tài nguyên
và môi trường huyện Quỳnh Phụ, 2014)
* Lượng mưa: Lượng mưa mùa hè thường chiếm 80% tổng lượng mưa
cả năm và thường tập trung vào các tháng 7-8 Cường độ mưa lớn, có trận mưa tới 200-250mm Lượng mưa tập trung với cường độ lớn đã gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, gây nên hiện tượng úng ngập tại một số vùng
có tiểu địa hình thấp, khó tiêu thoát nước Đặc biệt, mùa hè tại địa phương thường gặp hiện tượng mưa không đều, có những tháng hầu như không mưa,