vi 3.3.1 Thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở 49 3.3.2 Thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất ở 56 3.3.3 Thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở 62 3.3.4 Thực hiện q
Trang 1iv
MỤC LỤC
Trang
Trang 2v
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Nam Định, tỉnh Nam
2.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại thành phố Nam Định 25 2.2.3 Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định 25 2.2.4 Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam
2.2.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện quyền sử dụng
2.3.4 Phương pháp xác định số lượng phiếu điều tra 27 2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích, so sánh số liệu 28
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Nam Định 29
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành
3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại thành phố Nam Định 38 3.2.1 Thực trạng quản lý đất đai tại thành phố Nam Định 38 3.2.2 Thực trạng sử dụng đất tại thành phố Nam Định 40 3.3 Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định 45
Trang 3vi
3.3.1 Thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở 49 3.3.2 Thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất ở 56 3.3.3 Thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở 62 3.3.4 Thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất ở 70 3.3.5 Tổng hợp đánh giá, ý kiến của người sử dụng đất và cán bộ thực
hiện thủ tục hành chính liên quan đến thực hiện quyền của người
sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Nam Định 78 3.4 Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất ở tại thành phố
3.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện quyền của người sử
3.5.1 Tiếp tục hoàn thiện công tác cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Nam Định 86 3.5.2 Kiện toàn bộ máy thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa
3.5.3 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động
3.5.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai cho
Trang 4vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Ý nghĩa chữ viết tắt
1 CNH Công nghiệp hóa
Trang 5viii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Hiện trạng dân số và đô thị hoá thành phố Nam Định 34 3.2 Bảng hiện trạng sử dụng đất năm 2014 thành phố Nam Định 41 3.3 Bảng hiện trạng sử dụng đất năm 2014 các phường, xã điều tra 44 3.4 Bảng tổng hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất theo
3.5 Bảng tổng hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất theo
3.6 Bảng tổng hợp các trường hợp thực hiện quyền chuyển nhượng QSD
đất ở tại thành phố Nam Định giai đoạn 2010-2014 50 3.7 Bảng tổng hợp tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các
3.8 Bảng tổng hợp tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các
3.9 Bảng tổng hợp các trường hợp thực hiện quyền thừa kế QSD đất ở tại
3.10 Bảng tổng hợp tình hình thừa kế quyền sử dụng đất tại các điểm điều
3.11 Bảng tổng hợp tình hình thừa kế quyền sử dụng đất tại các điểm điều
3.12 Bảng tổng hợp các trường hợp thực hiện quyền tặng cho QSD đất ở tại
3.13 Bảng tổng hợp tình hình tặng cho quyền sử dụng đất tại các điểm điều
3.14 Bảng tổng hợp tình hình tặng cho quyền sử dụng đất tại các điểm điều
Trang 6ix
3.15 Bảng tổng hợp tình hình thực hiện quyền thế chấp QSD đất ở tại
3.16 Bảng tổng hợp tình hình thế chấp quyền sử dụng đất tại các điểm điều
3.17 Bảng tổng hợp tình hình thế chấp quyền sử dụng đất tại các điểm điều
3.18 Bảng tổng hợp đánh giá việc giải quyết các thủ tục hành chính trong
3.19 Bảng tổng hợp các ý kiến góp ý của người sử dụng đất đối với cơ quan
3.20 Bảng tổng hợp đánh giá của cán bộ, viên chức thực hiện các thủ tục
Trang 7x
DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
2.1 Vị trí các xã, phường nghiên cứu trên địa bàn TP Nam Định 26
3.3 So sánh tình hình đăng ký thực hiện quyền của sử dụng đất giữa khu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai luôn là nguồn tài nguyên quý của mọi quốc gia, bởi lẽ đó là tư liệu sản xuất quan trọng để sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội loài người; đồng thời, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, nên việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả nhất luôn là vấn đề mà Chính phủ của các quốc gia đặc biệt quan tâm và được quản lý chặt chẽ bằng luật pháp
Trong quá trình phát triển xã hội, đất đai và tài sản gắn liền với đất được chuyển từ chủ này qua chủ khác, từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác Để quản lý tốt đất đai, quản lý các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất, tất cả thay đổi về đất, về tài sản gắn liền với đất cần phải được quản lý bằng công tác đăng ký đất đai tại cơ quan nhà nước
Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 đã quy định các quyền chung của người sử dụng đất và quy định chi tiết “9 quyền” Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết về 7 quyền chung và 8 quyền của người sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất Quyền sử dụng đất là một nét mới sáng tạo của pháp luật đất đai Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, các quyền
sử dụng đất mở, tạo điều kiện cho người sử dụng đất gắn bó với đất đai, đầu tư vốn và lao động khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, phát huy nội lực xây dựng nước mạnh, dân giàu, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Thực tiễn trong thực hiện các QSDĐ tại mỗi địa phương có sự khác nhau
do đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như nhận thức của người dân ở mỗi vùng Thành phố Nam Định là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Nam Định, có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế Trong những năm gần đây cùng với cả nước thực hiện CNH – HĐH kéo theo nhu cầu về sử dụng đất đai có xu hướng ngày càng tăng lên và các hoạt động thực hiện các quyền của người sử dụng đất trên địa bàn thành phố diễn ra khá mạnh
Trang 9mẽ, trong khi đó việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất còn nhiều bất
cập đặc biệt đối với đất ở Do vậy, thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện quyền của người sử dụng đất tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định” là
thực sự cần thiết
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá tình hình thực hiện các quyền sử dụng đất ở trên địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện tốt hơn quyền của người sử dụng đất
ở trên địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
3 Yêu cầu của đề tài
- Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới quá trình thực hiện các quyền của người sử dụng đất ở tại địa bàn nghiên cứu
- Các số liệu điều tra thu thập chính xác đầy đủ, phản ánh trung thực, khách quan về việc thực hiện các quyền sử dụng đất ở
- Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các quyền về đất đai
1.1.1 Quyền sở hữu về đất đai
Điều 164, Bộ luật Dân sự quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005) Đối tượng của quyền sở hữu là một loại tài sản cụ thể; chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác (hộ gia đình, cộng đồng ) có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản
- Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật th< người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sở hữu tài sản (nhà vắng chủ)
- Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Chủ sở hữu có quyền khai thác giá trị tài sản theo ý chí của mình bằng cách thức khác nhau Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền
sử dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu giao quyền sử dụng Điều này thấy rõ trong việc Nhà nước giao QSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
- Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình theo hai phương thức:
+ Định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tức là chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác thông qua hình thức giao dịch dân sự như bán, đổi, tặng cho, để thừa kế
+ Định đoạt số phận thực tế của tài sản, tức là làm cho tài sản không còn trong thực tế (Nguyễn Văn Khánh, 2013)
Điều 53, Hiến pháp năm 2013 và Điều 4, Luật Đất đai 2013 đã khẳng định
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định” Với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước có các quyền được quy định tại Điều
13, Luật Đất đai 2013 gồm:
Trang 11- Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất: Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định; Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất
- Quyết định mục đích sử dụng đất: Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
- Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất: Gồm hạn mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất ở, hạn m ức công nhận quyền sử dụng đất ở
và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp
- Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất: Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc
sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết
để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai
- Quyết định giá đất: Nhà nước ban hành khung giá đất, bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể
- Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất: Nhà nước trao
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất
- Quyết định chính sách tài chính về đất đai: Nhà nước quyết định chính sách thu, chi tài chính về đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền
Trang 12- Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166,
Luật Đất đai 2013 bao gồm: Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; Được Nhà nước hướng dẫn và giúp
đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; Được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định;Được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
- Điều 167, Luật Đất đai 2013 quy định các quyền riêng của người sử
dụng đất bao gồm: Quyền chuyển đổi;Quyền chuyển nhượng; Quyền cho thuê; Quyền cho thuê lại; Quyền thừa kế; Quyền tặng cho; Quyền thế chấp; Quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
- Điều 188, Luật Đất đai 2013 quy định các điều kiện thực hiện các quyền
của người sử dụng đất: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có
Trang 13Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản dựa trên việc sở hữu tư nhân
về đất đai và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau
Hệ thống pháp luật về đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai … đều được luật hóa Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của pháp luật, chính sách đất đai của Thụy Điển (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Việc đăng ký quyền sở hữu
Việc đăng ký quyền sở hữu khi thực hiện chuyển nhượng đất đai: Tòa án thực hiện đăng ký quyền sở hữu khi có các chuyển nhượng đất đai Người mua phải đăng ký quyền sở hữu của mình trong vòng 3 tháng sau khi mua Bên mua nộp hợp đồng chuyển nhượng để xin đăng ký Tòa án sẽ xem xét, đối chiếu với
Sổ đăng ký đất Nếu xét thấy hợp pháp, Tòa sẽ tiến hành đăng ký quyền sở hữu
để người mua là chủ sở hữu mới Các bản sao của hợp đồng chuyển nhượng sẽ lưu tại tòa án, bản gốc được trả lại cho bên mua Tòa án cũng xem xét các hạn chế về chuyển nhượng của bên bán (như cấm bán)
Đăng ký đất là bắt buộc tại Thụy Điển nhưng hệ quả pháp lý quan trọng lại xuất phát từ hợp đồng chứ không phải từ việc đăng ký Vì vậy, chuyển nhượng là một hợp đồng cá nhân (không có sự làm chứng về mặt pháp lý và không có xác nhận của cơ quan công chứng) nên rất khó kiểm soát được việc đăng ký Tuy nhiên ở đây hầu như tất cả các cuộc mua bán, chuyển nhượng đều được đăng ký Do vậy, việc đăng ký sẽ tăng thêm sự vững chắc về quyền sở hữu
Trang 14của chủ mới, quyền được ưu tiên khi có tranh chấp với một bên thứ ba nào đó, và quan trọng hơn, quyền sở hữu được đăng ký rất cần thiết khi thế chấp (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
Bước 2: Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp được gửi cho bên cho vay Khi thực hiện bước 1, toà án không kiểm tra, xác minh các yêu cầu đối với thế chấp Yêu cầu đối với thế chấp chỉ được xét đến khi thực sự sử dụng bất động sản để vay vốn (tức là chỉ được xem xét đến ở bước 2) Các yêu cầu đặt ra khi thế chấp là: bên đi vay phải là chủ sở hữu bất động sản; bên cho vay cần đặt ra các điều kiện cho người đi vay; bên đi vay phải cam kết việc thực hiện thế chấp và bên cho vay sẽ giữ văn bản thế chấp Khi không đáp ứng các yêu cầu này thì thế chấp sẽ không hợp pháp Đó là trình tự thế chấp theo quy định của pháp luật nhưng trên thực tế hầu hết các thế chấp đều do ngân hàng và các tổ chức tín dụng
thực hiện Tại ngân hàng, bên đi vay sẽ ký ba văn bản: hợp đồng vay (nêu rõ lượng tiền vay ), hợp đồng thế chấp (thế chấp bất động sản) và một đơn gửi toà
án để xin đăng ký thế chấp Ngân hàng sẽ giữ hai tài liệu đầu tiên và gửi đơn xin thế chấp đến toà án Sau khi được xử lý, đơn xin thế chấp lại được chuyển lại ngân hàng và lưu trong hồ sơ thế chấp Thông thường ngân hàng đợi đến khi có quyết định phê duyệt của toà án mới chuyển tiền cho người đi vay Khi nợ thế chấp được thanh toán hết, văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp sẽ được trả lại cho bên đi vay
Trang 15kể từ khi có đơn xin bán đấu giá (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
- Về vấn đề bồi thường
Khi Nhà nước thu hồi đất, giá trị bồi thường được tính dựa trên giá thị trường Ngoài ra, người sở hữu còn được bồi thường các thiệt hại khác Chủ đất được hưởng các lợi ích kinh tế từ tài sản của mình (nếu trong trường hợp tài sản
đó phải nộp thuế thì chủ đất phải nộp thuế) Chủ đất có thể bán tài sản và được hưởng lợi nhuận nếu bán được với giá cao hơn khi mua nhưng phải nộp thuế cho trường hợp chuyển nhượng đó Chủ đất được quyền giữ lại tài sản của mình, tuy nhiên cũng có thể bị buộc phải bán tài sản khi đất đó cần dành cho các mục đích chung của xã hội Trong trường hợp đó sẽ là bắt buộc thu hồi và chủ đất được quyền đòi bồi thường dựa trên giá trị thị trường của tài sản (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000)
Như vậy, về hình thức sở hữu, luật pháp của Ôxtrâylia quy định Nhà nước
và tư nhân đều có quyền sở hữu bất động sản trên mặt đất, không phân chia giữa nhà và đất Về phạm vi, người sở hữu có quyền sở hữu khoảng không và độ sâu được quyền sử dụng có thể từ 12 đến 60 mét (theo quy định cụ thể của pháp luật) Toàn bộ khoáng sản có trong lòng đất như: bạc, vàng, đồng, chì, kẽm, sắt,
Trang 16ngọc, than đá, dầu mỏ, phốt phát, đều thuộc sở hữu Nhà nước (Sắc lệnh về đất đai 1933); nếu Nhà nước thực hiện khai thác khoáng sản phải ký hợp đồng thuê đất với chủ đất và phải đền bù thiệt hại tài sản trên đất
Về quyền lợi và nghĩa vụ, luật pháp Ôxtrâylia thừa nhận quyền sở hữu tuyệt đối, không bắt buộc phải sử dụng đất Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê hoặc chuyển quyền theo di chúc mà không có sự trói buộc hoặc ngăn trở nào (Trần Thị Minh Hà, 2000)
Nhà nước có quyền trưng dụng đất để xây dựng hoặc thiết lập các công trình công cộng phục vụ quốc kế dân sinh (Điều 10, Sắc lệnh về đất đai 1902) nhưng chủ sở hữu được Nhà nước bồi thường Việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch và phân vùng và đất phải được đăng kí chủ sở hữu, khi chuyển nhượng phải nộp phí trước bạ và đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền (Cục quản lý đất đai Ôxtrâylia - DOLA) (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2014)
1.2.3 Trung Quốc
Hiến pháp 1982 của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu Nhà nước (đối với đất đô thị) hoặc sở hữu tập thể (đối với đất thuộc khu vực nông thôn) Vì đất đai ở nông thôn cũng là đối tượng quản lý của chính quyền địa phương và Trung ương, nên quyền sở hữu đối với toàn bộ đất đai ở Trung Quốc đều “dưới sự làm chủ” của Nhà nước Trung Quốc Mặc dù không thừa nhận tư hữu đất đai nhưng theo Điều 2 của Hiến pháp được sửa đổi năm
1988, QSDĐ được phép chuyển nhượng tại Trung Quốc Trong điều kiện này, QSDĐ đã được tách rời khỏi quyền sở hữu đất đai
Hiện nay QSDĐ ở Trung Quốc có thể chia làm hai loại: QSDĐ được
“cấp” và QSDĐ được “giao” QSDĐ được "cấp" là loại QSDĐ truyền thống được áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Nhà nước cấp đất cho các doanh nghiệp nhà nước không thu tiền hoặc thu rất ít và có thể thu hồi bất cứ lúc nào Đối với trường hợp này, QSDĐ không thể chuyển nhượng, cho thuê hay thế chấp
Vào cuối những năm 1980, việc thiết lập hệ thống kinh tế thị trường ở Trung Quốc đã làm xuất hiện hình thức QSDĐ “giao” Các doanh nghiệp, người
Trang 1710
sử dụng đất được phép mua QSDĐ giao đối với một thửa đất nhất định nào đó từ Nhà nước với một khoảng thời gian sử dụng cụ thể (thông thường từ 40 - 70 năm tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng) Việc mua bán này có thể được thực hiện thông qua thoả thuận, đấu thầu hoặc đấu giá Khi đã có được QSDĐ người sử dụng đất
có thể thực hiện giao dịch đất đai (Lưu Quốc Thái, 2007)
1.2.3.1 Quyền Chuyển nhượng QSDĐ:
a/ Về điều kiện: Về mặt lý thuyết, chuyển nhượng QSDĐ là hoạt động dân
sự, cho nên chính quyền chỉ đóng vai trò giám sát mà không can thiệp bằng biện pháp hành chính, trừ những trường hợp thực sự cần thiết Nhìn chung, có ba điều kiện cơ bản để được chuyển nhượng, đó là: đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính để có QSDĐ; có giấy chứng nhận QSDĐ và đã bỏ vốn thực hiện hoạt động đầu tư ở một mức độ nhất định, thông thường là ít nhất 25% tổng số vốn đầu tư cho việc sử dụng theo dự án (Lưu Quốc Thái, 2006)
b/ Về thủ tục: Theo pháp luật Trung Quốc, giấy tờ về chuyển nhượng QSDĐ không nhất thiết phải qua công chứng nhà nước Thông thường trong
15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, người nhận chuyển nhượng QSDĐ phải đăng ký QSDĐ tại Phòng quản lý Nhà nước về đất đai, kèm với việc nộp phí chuyển nhượng tương ứng
c/ Về giá cả: Thông thường, Nhà nước không can thiệp vào giá cả chuyển
nhượng Không có quy định nào của pháp luật nhằm xác định giá chuyển nhượng này, mà nó do bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng thoả thuận Tuy nhiên, trong trường hợp giá cả chuyển nhượng “thấp một cách đáng nghi ngờ”, chính quyền địa phương có thể có quyền ưu tiên mua QSDĐ trong trường hợp này Quy định này nhằm tránh những tiêu cực, gian dối trong chuyển nhượng QSDĐ
1.2.3.2 Cho thuê QSDĐ:
Người sử dụng đất có thể cho thuê QSDĐ để nhận tiền cho thuê Giao dịch này phải được thực hiện thông qua hợp đồng Hai bên trong giao dịch phải đến cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để đăng ký việc cho thuê trong thời hạn
20 ngày sau khi hợp đồng có hiệu lực Nội dung chính của hợp đồng là bên thuê phải sử dụng đất đúng theo thời hạn, điều kiện mà bên cho thuê đã cam kết trước đây để có được QSDĐ (Lưu Quốc Thái, 2006)
Trang 1811
1.2.3.3 Thế chấp QSDĐ
Người sử dụng đất có thể thế chấp QSDĐ thông qua giấy chứng nhận QSDĐ tại các tổ chức tín dụng ở địa phương để vay vốn Giao dịch thế chấp phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người sử dụng đất và chủ thể cho vay Nếu đến hạn thanh toán mà người thế chấp không trả được nợ, bên cho vay có thể phải đăng ký quyền sử dụng với tư cách là người sử dụng đất mới
Đối với người sử dụng đất nước ngoài, việc thế chấp QSDĐ để vay vốn từ các tổ chức tín dụng địa phương vẫn còn khó khăn, bởi họ thường được coi là nguồn cấp vốn cho thị trường trong nước, chứ không phải là người đi vay tiền của Trung Quốc (Lưu Quốc Thái, 2006)
1.2.4 Malayxia
Theo Bộ Luật Đất đai của Malaixia, cá nhân, tổ chức muốn được công nhận là người sở hữu đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai của liên bang để có một văn bản chứng nhận gọi là bằng khoán Văn bản bằng khoán điền thổ chính là bằng chứng để kết luận cá nhân hoặc tổ chức đã đăng ký trong đó chính là chủ sở hữu được
mô tả trong bằng khoán Trước khi đăng ký vào bằng khoán, đất đai vẫn là đất của bang Mọi giao dịch (chuyển nhượng, trả tiền, cho thuê, ) đều phải đăng ký, nếu không thì đó chỉ là hợp đồng giữa các bên liên quan Nó sẽ không được Chính phủ công nhận là vĩnh viễn cho đến khi được đăng ký hợp pháp
Các loại bằng khoán mà bang có thể chuyển nhượng là:
- Bằng khoán đăng ký và Bằng khoán Phòng đất đai (là loại bằng khoán hoàn chỉnh) có nghĩa là đất đã được đo đạc xong Chủ sở hữu đất có Bằng khoán hoàn chỉnh sẽ có những quyền sau:
+ Bằng khoán được cấp là vĩnh viễn
+ Có quyền chia, ngăn hoặc hợp nhất đất đai
+ Có quyền tiến hành các giao dịch (chuyển nhượng, cho thuê, đóng tiền, ) trên đất đai của mình
+ Có quyền ngăn chia ngôi nhà nào có từ 2 tầng trở lên để có được các bằng khoán riêng cho các phần diện tích riêng trong ngôi nhà
+ Có quyền để lại đất hoặc phần tài sản không phân chia nào khác trên đó theo di chúc
Trang 1912
- Bằng khoán hạn chế (QT) có nghĩa là đất chưa được đo hoàn chỉnh Ranh gới thửa đất còn đang là tạm thời Chủ sở hữu đất có Bằng khoán hạn chế (QT) có những quyền như Bằng khoán hoàn chỉnh ngoại trừ:
+ Ranh giới đất còn là tạm thời
+ Trừ khi có quy định thêm trong Bộ Luật Đất đai, chủ sở hữu không được chia, ngăn hoặc hợp nhất đất đai và không được ngăn chia các ngôi nhà nhiều tầng trên đất của mình
Chính phủ có thể thu hồi lại đất đã được giao cấp bằng biện pháp thu hồi bắt buộc hoặc mua lại từ các chủ sở hữu Khi bị thu hồi đất các chủ sở hữu được đền bủ thỏa đáng Bất kỳ cá nhân nào có yêu sách đối với đất bị thu hồi có thể phản đối về việc đo đạc diện tích đất, số tiền đền bù, người được đền bù hoặc việc chia tiền đền bù Những phản đối này chỉ được đưa ra nếu như cá nhân đó
đã khiếu nại với Cơ quan quản lý đất đai khi được thẩm vấn và vụ việc sẽ được chuyển sang Tòa án Sau khi trả tiền đền bù, cơ quan tổ chức sẽ có được đất đai hợp pháp cho dù còn có các phản đối (Chu Tuấn Tú, 2000)
1.2.5 Kinh nghiệm về thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với Việt Nam
- Thứ nhất: Cần phát triển mạnh hệ thống lý luận về thị trường bất động
sản và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam phù hợp với thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó việc thực hiện quyền của người
sử dụng đất được thực hiện theo hệ thống thị trường bất động sản với việc cung cấp các thông tin cho người tham gia giao dịch tốt hơn và việc thực hiện được liên thông đặc biệt việc thực hiện quyền chuyển nhượng và thế chấp của người sử dụng đất
- Thứ hai: Coi trọng việc tạo dựng khuôn khổ pháp luật để thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất Do những điều kiện lịch sử, quá trình hình thành và phát triển thị trường đất đai ở nước ta có những đặc điểm đặc thù do đó cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ sở lý luận trên cơ sở tham khảo hệ thống quy phạm pháp luật đất đai của các nước phát triển
Trang 2013
- Thứ ba: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, áp dụng cơ sở dữ liệu đất đai vào trong công tác quản lý, sử dụng đất, cung cấp thông tin rộng rãi cho thị trường bất động sản, người quyền sử dụng đất
- Thứ tư: Phát triển dịch vụ công về đất đai như một số nước nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền của người sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
1.3 Thực tiễn thực hiện quyền sử dụng đất tại Việt Nam và tỉnh Nam Định
1.3.1 Khái quát chính sách về quyền sử dụng đất qua các giai đoạn
1.3.1.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai 1987
Pháp luật quy định về đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đánh dấu bằng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 Năm 1980, Chính phủ ban hành Quyết định 210-CP ngày 1/7/1980 về thống nhất quản lý ruộng đất
và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 299-TTg ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất Tổng cục Quản lý ruộng đất có Quyết định số 56/ĐKTK ngày 05/11/1981 ban hành quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước việc đăng ký đất đai mới được bắt đầu thực hiện trở lại ở Việt Nam Theo quy định này, việc đăng ký đất đai được thực hiện thống nhất cả nước theo một trình tự chặt chẽ, hệ thống hồ sơ đăng ký đất đai quy định khá đầy đủ và chi tiết, trong đó bản đồ giải thửa và sổ đăng ký ruộng đất,
sổ mục kê là tài liệu cơ bản của hồ sơ thể hiện các nội dung đăng ký đất gồm: Hình thể đường ranh giới thửa (trên bản đồ), tên chủ sử dụng ruộng đất (họ tên, tuổi, chỗ ở), số hiệu thửa đất và tờ bản đồ, xứ đồng, diện tích, sử dụng chính thức hay tam giao, loại đất, loại thổ nhưỡng, hạng đất, tình hình thủy lợi; các tài liệu này được lập thành 2 bộ lưu giữ ở 2 cấp xã, huyện để theo dõi, quản lý biến động đất đai; sổ đăng ký ruộng đất và sổ mục kê đất phải được
Ủy ban nhân dân xã và huyện phê duyệt mới chính thức có giá trị pháp lý (Nguyễn Đình Bồng, 2006)
1.3.1.2 Giai đoạn có Luật Đất đai 1987 có hiệu lực
Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1993 là giai đoạn nghiêm cấm mua, bán, lấn
Trang 2114
chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hại đất đai
Sau 4 năm thi hành Luật Đất đai năm 1987 cho thấy thực tế đã nảy sinh những bất cập, đó là người sử dụng đất thực sự không có quyền đối với mảnh đất mình được giao, kể cả quyền thừa kế, chuyển nhượng, họ chỉ được chuyển QSDĐ trong các trường hợp: khi hộ nông dân vào hoặc ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp
và cá thể thoả thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất; khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn tiếp tục sử dụng đất đó Luật chỉ cho phép được thừa kế nhà ở hoặc mua nhà
ở đồng thời được QSDĐ ở có ngôi nhà đó, sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở
Theo quy định trên cho thấy, Luật còn gò bó, chưa đáp ứng được nhu cầu
sử dụng đất của các chủ sử dụng đất Cho nên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng mua bán đất đai trá hình theo cách xây dựng một túp lều trên đất để bán, nhưng thực chất là bán đất Luật điều chỉnh các quan hệ đất đai ở trạng thái tĩnh Nhà nước chỉ quản lý về mặt pháp luật hành chính đơn thuần, chưa thể hiện đầy đủ quản lý Nhà nước về mặt kinh tế đối với đất đai (Nguyễn Đình Bồng, 2006)
1.3.1.3 Giai đoạn có Luật Đất đai 1993 có hiệu lực
Hiến pháp 1992 còn quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất
có quyền chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật”. Do đó, Quốc hội đã đưa việc sửa đổi Luật Đất đai vào chương trình xây dựng pháp luật năm 1993 Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/07/1993 và có hiệu lực ngày 15/10/1993 về cơ bản kế thừa Luật Đất đai 1987 và bổ sung một số nội dung mới như một số quyền của người sử dụng đất Cụ thể Luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ Như vậy, Luật đưa ra những quy định theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền của người sử dụng, cho họ định đoạt hạn chế QSDĐ của mình Nghĩa
là chuyển QSDĐ phải tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức do Bộ luật dân sự
và pháp luật về đất đai quy định (Trần Quang Huy, 2009)
Trang 2215
Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998 là giai đoạn Luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 1993
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh của nền kinh tế, xã hội, qua thực tế với tác động của cơ chế kinh tế thị trường làm cho quan hệ đất đai càng trở nên phức tạp, nhiều vấn đề lịch sử còn chưa được giải quyết thì các vấn đề mới lại nảy sinh
mà Luật Đất đai 1993 chưa có quy định Năm 1998 Luật Đất đai được sửa đổi,
bổ sung Luật bổ sung thêm một số quyền của người sử dụng đất như quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất Vì vậy giai đoạn 1998 đến trước Luật Đất đai 2003 có hiệu lực người sử dụng đất có 7 quyền riêng là: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Nguyễn Khánh Thắng, 2006)
Luật lần này đã sửa đổi, bổ sung một số vấn đề về QSDĐ như sau:
- Việc quyết định cho người đang sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất ở, đất chuyên dùng sang mục đích khác; người đang sử dụng đất nông nghiệp trồng lúa nước chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm hoặc người đang sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lâu năm chuyển sang trồng cây hàng năm phải căn cứ vào quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
- Cho phép tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền thế chấp giá trị QSDĐ theo quy định của pháp luật và cũng được bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam Nghĩa là người sử dụng đất cũng được thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ tại các tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài Tuy nhiên, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tình hình quản lý và sử dụng đất sau 3 năm thực hiện Luật Đất đai sửa đổi 2001 đã cho thấy còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém (Đào Trung Chính, 2005)
1.3.1.4 Giai đoạn Luật Đất đai 2003 có hiệu lực
Luật Đất đai 2003 quy định QSDĐ của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
Trang 2316
được Nhà nước giao đất bao gồm: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
QSDĐ; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” (Điều106 Luật Đất đai
2003 ) Đây không phải là quyền sở hữu nhưng là một quyền năng khá rộng và so với quyền sở hữu thì không khác nhau nhiều nếu xét trên phương diện thực tế sử dụng đất Mặt khác Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, Nhà nước chỉ thu hồi đất vì những lý do đặc biệt, đáp ứng lợi ích quốc gia và công cộng, hết thời hạn giao đất không có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất mà Nhà nước sẽ tiếp tục giao đất cho người sử dụng Trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước sẽ giao đất khác cho người sử dụng hoặc sẽ “bồi
thường thiệt hại” (Điều 73 Luật Đất đai 1993), “bồi thường” (Điều 106 Luật Đất đai 2003) Như vậy, trên thực tế người được giao quyền sử dụng các loại đất này
thực hiện các quyền chiếm hữu và sử dụng tương đối toàn diện, còn quyền định đoạt tuy có hạn chế trong một số quyền năng cụ thể, song đó chỉ là trên phương diện lý thuyết xét trên góc độ pháp lý, còn trên thực tế các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp QSDĐ cũng rất gần với khái niệm quyền định đoạt (Phùng Văn Nghệ, 2010)
1.3.1.5 Giai đoạn Luật Đất đai 2013 cơ hiệu lực đến nay
Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 quy định người sử dụng đất có 7 quyền chung và 8 quyền riêng, trong đó 8 quyền riêng cụ thể như sau:
- Quyền chuyển đổi QSDĐ: Chuyển đổi QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ
trong các trường hợp: nông dân cùng một địa phương (cùng 1 xã, phường, thị trấn) đổi đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản)
cho nhau để tổ chức lại sản xuất, hợp thửa, chỉnh trang đồng ruộng, tiện canh tiện
cư, giải toả xâm phụ canh hoặc khắc phục sự manh mún khi phân phối đất đai công bằng theo kiểu “có tốt, có xấu, có gần, có xa”; những người có đất ở trong
cùng một địa phương (cùng 1 xã, phường, thị trấn) có cùng nguyện vọng thay đổi
chỗ ở Việc chuyển đổi QSDĐ là không có mục đích thương mại
Trang 2417
- Quyền chuyển nhượng QSDĐ: Chuyển nhượng QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ, trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không có khả năng sử dụng hoặc để thực hiện quy hoạch sử đụng đất
mà pháp luật cho phép, Trong trường hợp này, người nhận đất phải trả cho người chuyển QSDĐ một khoản tiền tương ứng với mọi chi phí họ phải bỏ ra để có được quyền sử dụng đó và số đầu tư làm tăng giá trị đất đai Đặc thù của việc chuyển nhượng QSDĐ là ở chỗ: đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và việc chuyển quyền chỉ thực hiện trong giới hạn của thời gian giao đất; Nhà nước có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua việc thu thuế chuyển QSDĐ, thuế sử dụng đất và tiền sử dụng đất; Nhà nước có thể quy định một số trường hợp không được chuyển QSDĐ; mọi cuộc chuyển nhượng QSDĐ đều phải đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất, nếu không, sẽ bị xem là hành vi phạm pháp
- Quyền cho thuê QSDĐ: Cho thuê QSDĐ được thực hiện trong trường hợp người có QSDĐ không sử dụng mà cho tổ chức, cá nhân khác thuê để sử dụng đất
đó theo quy định của pháp luật; người thuê phải trả cho chủ sử dụng đất một khoản tiền nhất định, thời hạn và giá QSDĐ cho thuê theo thỏa thuận giữa bên cho thuê
và bên thuê QSDĐ
- Quyền cho thuê lại QSDĐ: Cho thuê lại QSDĐ được thực hiện trong trường hợp người có QSDĐ là người được nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu thương mại, văn phòng cho các tổ chức cá nhân thuê lại QSDĐ trên đất đã hoàn thành cơ sở hạ tầng để kinh doanh, sản xuất; Người thuê phải trả cho chủ sử dụng đất một khoản tiền nhất định, thời hạn và giá QSDĐ cho thuê theo thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê lại QSDĐ
- Quyền thừa kế QSDĐ: Thừa kế QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ khi người
có QSDĐ đã chết để lại QSDĐ cho những người có quan hệ thừa kế theo di chúc hoăc theo quy định của pháp luật
- Quyền cho, tặng QSDĐ: Cho, tặng QSDĐ là hành vi chuyển QSDĐ trong tình huống đặc biệt, người nhận QSDĐ không phải trả tiền nhưng có thể phải nộp thuế Do nhu cầu của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, việc chuyển QSDĐ không chỉ dừng lại trong quan hệ dân sự mà có thể phát triển
Trang 2518
thành các quan hệ thương mại, dịch vụ; giá trị chuyển nhượng QSDĐ chiếm một tỉ trọng rất có ý nghĩa trong các giao dịch trên thị trường bất động sản
- Quyền thế chấp QSDĐ: Thế chấp QSDĐ là một hình thức chuyển QSDĐ (không đầy đủ) trong quan hệ tín dụng Người làm thế chấp vay nợ, lấy đất đai làm vật thế chấp để thi hành trách nhiệm vay nợ với người cho vay; đất đai dùng làm vật thế chấp không được chuyển dịch vẫn do người thế chấp chiếm hữu sử dụng và dùng nó đảm bảo có một giá trị nhất định; khi người thế chấp đến kỳ không thể trả nợ được, người nhận thế chấp có quyền đem đất đai phát mại và ưu tiên thanh toán để thu hồi vốn Thế chấp đất đai là cơ sở của thế chấp tài sản trong thị trường bất động sản, trong thế chấp bất động sản thì phần lớn giá trị là nằm trong giá trị QSDĐ
- Quyền góp vốn bằng giá trị QSDĐ: Góp vốn bằng giá trị QSDĐ là hành
vi mà người có QSDĐ có thể dùng đất đai làm cổ phần để tham gia kinh doanh, sản xuất, xây dựng xí nghiệp Phương thức góp vốn bằng QSDĐ là cách phát huy tiềm năng đất đai trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế địa phương trong các trường hợp phải chuyển hàng loạt đất nông nghiệp thành đất phi nông nghiệp, phát triển xí nghiệp, dịch vụ, thương mại, mà vẫn đảm bảo được việc làm và thu nhập cho nông dân - là một trong những lựa chọn phù hợp với con đường hiện đại hóa và công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
1.3.2 Cơ sở pháp lý
1.3.2.1 Các văn bản Luật
- Luật Đất đai năm 1993 ngày 14/7/1993
- Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995
- Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 ngày 02/12/1998
- Luật Luật Đất đai sửa đổi năm 2001 ngày 29/6/2001
- Luật Đất đai năm 2003 ngày 26/11/2003
- Bộ luật Dân sự năm 2005 ngày 14/06/2005
- Luật Nhà ở năm 2005 ngày 29/11/2005
- Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 ngày 29/6/2006
- Luật số 34/2009/QH12 do Quốc hội ban hành để sửa đổi, bổ sung Điều
Trang 2619
126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18/6/2009
- Hiến pháp năm 2013 ngày 28/11/2013
- Luật Đất đai năm 2013 ngày 29/11/2013
- Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 ngày 25/11/2014
- Luật Nhà ở năm 2014 ngày 25/11/2014
1.3.2.2 Các văn bản dưới Luật
- Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về giá đất
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về thu tiền sử dụng đất
- Thông tư liên tịch số: 30/2005/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của
Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính
- Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của
Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
- Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của
Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ
Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
- Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của
Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất
- Thông tư số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18 tháng 11 năm 2011
về Hướng dẫn việc đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất
Trang 2720
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Quyết định số 1839/QĐ-BTNMT ngày 27/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Quyết định số 1272/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của UBND tỉnh Nam Định về việc công bố thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện
- Quyết định số 1273/QĐ-UBND ngày 06/7/2015 của UBND tỉnh Nam Định về việc công bố thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường thẩm quyền giải quyết của UBND cấp xã
1.3.3 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước và tại tỉnh Nam Định
1.3.3.1 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của cả nước
Các quyền của ngưởi sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn Có thể nói, sau khi Luật đất đai năm 1993 ra đời, việc thực hiện quyền của ngưởi sử dụng đất
ở nước ta mới bắt đầu hình thành và phát triển một cách chính thức Trong thời gian đầu hình thành và phát triển, việc thực hiện quyền của ngưởi sử dụng đất không thể không tránh khỏi những khó khăn, những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu để giải quyết (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2007)
Về tình hình chuyển đổi QSDĐ: Sau 10 năm thực hiện quyền chuyển đổi QSDĐ, thực tế cho thấy việc chuyển đổi QSDĐ đối với đất ở, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng ít xảy ra mà chủ yếu là việc chuyển đổi QSDĐ nông nghiệp trồng lúa nhằm hạn chế tình trạng “manh mún” ruộng đất Thực hiện Nghị định số
Trang 2821
64/CP về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, hầu hết các địa phương đều thực hiện giao đất theo phương thức có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng xa, ruộng gần Do đó, dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp "manh mún", nhất là ở các tỉnh phía Bắc, có những thửa ruộng chỉ dưới 100 m2 Việc chuyển đổi ruộng đất giữa các hộ nông dân với nhau để chuyển những thửa nhỏ thành thửa lớn hơn là một nhu cầu thực tiễn Trên cơ sở quy định của pháp luật, nhiều địa phương đã tổ chức cho hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi QSDĐ thông qua chương trình “dồn điền, đổi thửa” giữa các hộ nông dân, đã giảm đáng
kể số thửa đất của mỗi hộ Sau khi chuyển đổi, năng suất tăng, tiết kiệm lao động
và đầu tư của nông dân (Phạm Phương Nam, Hoàng Khánh Duy, 2013)
Về tình hình chuyển nhượng QSDĐ : Chuyển nhượng QSDĐ đã thực sự đáp ứng được nhu cầu của đại đa số người dân khi có nhu cầu về đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh Người sử dụng đất chủ động đầu tư, năng động hơn trong sử dụng đất đồng thời cũng tăng được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Chỉ tính riêng đối với đất ở tại nông thôn, mỗi năm có khoảng 100.000 đến 200.000 hộ gia định nông thôn dọn đến nơi ở mới, chủ yếu thông qua con đường chuyển nhượng QSDĐ Trong quá trình tổ chức thực hiện, còn một số tồn tại như chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp chỉ được thực hiện có điều kiện đã không hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động tại nông thôn, có đến trên 50% số vụ chuyển nhượng QSDĐ không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thủ tục chuyển nhượng còn quá phức tạp (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2005)
Về tình hình cho thuê đất, cho thuê lại đất: Quy định của pháp luật về
quyền cho thuê đất, cho thuê lại đất đã có tác dụng tích cực trong việc đầu tư trên đất Tuy nhiên, việc thực hiện quyền cho thuê, cho thuê lại đất còn có tồn tại: nhiều tổ chức lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo từ phía các cơ quan nhà nước đã áp dụng trái pháp luật quyền cho thuê, cho thuê lại, cụ thể như nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang cho thuê đất làm văn phòng, nhà xưởng, cơ sở kinh doanh dịch vụ trên đất được Nhà nước giao theo chế độ không thu tiền sử dụng đất (riêng các cơ quan hành chính sự nghiệp hiện đang cho thuê khoảng 1.319.457 m2); nhiều hộ gia đình, cá nhân dành đất, mặt bằng, nhà ở cho
Trang 2922
thuê để làm cửa hàng, cơ sở dịch vụ môi giới, văn phòng hoặc cho sinh viên, người lao động, người nước ngoài thuê để ở mà không đăng ký với cơ quan nhà nước (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2005)
Về tình hình thừa kế QSDĐ: Thừa kế QSDĐ diễn ra thường xuyên, tuy nhiên, phần lớn là không khai báo, đăng ký tại cơ quan Nhà nước Qua một số kết quả điều tra cho thấy hầu hết người dân đều cho rằng việc thừa kế QSDĐ là công việc nội bộ gia đình theo truyền thống “cha truyền con nối”, khi phải chia thừa kế thì anh, em tự thoả thuận với nhau và có sự chứng kiến của họ hàng, không cần phải khai báo với cơ quan nhà nước, do đó đã xảy ra nhiều tranh chấp giữa những người được thừa kế QSDĐ (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2005)
Về thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ: Việc thực hiện quyền thế chấp, bảo
lãnh bằng QSDĐ thực sự đã phát huy được nguồn vốn đầu tư đất đai, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh Người sử dụng đất sử dụng quyền này ngày càng nhiều hơn Trình tự, thủ tục để thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh đã được cải cách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cả người đi vay và người cho vay Việc thế chấp, bảo lãnh QSDĐ để vay vốn tăng dần qua các năm (dư nợ cho vay có bảo đảm bằng QSDĐ năm 1998 tăng 7,3 lần so với năm 1993, năm 2001 tăng 3,1 lần so với năm 1998) Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này cũng đã bộc lộ một số bất cập: pháp luật quy định tính giá đất cao hơn nhiều lần, vì vậy số tiền được vay không tương xứng với giá trị thực của QSDĐ; GCNQSDĐ được cấp chưa nhiều; chưa có cơ quan đăng ký thế chấp phù hợp; chưa có hệ thống dữ liệu thông tin đất đai (Nguyễn Đình Bồng
và cs, 2005)
Về tình hình góp vốn bằng QSDĐ: Sự phát triển nhanh cả về số lượng và
quy mô của các cơ sở sản xuất kinh doanh từ các thành phần kinh tế và sự gia tăng của đầu tư nước ngoài vào nước ta dẫn đến sự liên doanh, liên kết trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là thông qua việc góp vốn bằng QSDĐ, đặc biệt là trong liên doanh với nước ngoài (tổng giá trị góp vốn bằng QSDĐ đã lên tới 3 tỷ USD) Tuy nhiên, hiện nay nhiều vấn để nảy sinh trong quá trình liên doanh, liên kết nhưng chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết như
Trang 3023
QSDĐ khi cổ phần hóa doanh nghiệp, khi doanh nghiệp liên doanh chuyển sang doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, khi doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể (Nguyễn Đình Bồng và cs, 2005)
1.3.3.2 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng đất của tỉnh Nam Định
- Về cơ sở pháp lý: Tỉnh Nam Định căn cứ các quy định của pháp luật tại các bản Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Nghị định và Thông tư qua các thời kỳ Hiện nay tỉnh Nam Định thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai năm 2013, bao gồm: Hiến pháp năm 2013, Bộ Luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2013, các Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ, các Thông tư 23/2014/TT-BTNMT, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các văn bản quy phạm pháp luật khác và các bộ thủ tục hành chính do tỉnh Nam Định ban hành có liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Thẩm quyền quản lý và thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến quyền của người sử dụng đất:
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc UBND huyện, thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường
Thụ lý hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện, Văn phòng Đăng ký và Thông tin nhà đất thành phố Nam Định hoặc Văn phòng đăng ký QSDĐ thộc Sở Tài nguyên và Môi trường
UBND xã, phường, thị trấn (nơi có đất) có thẩm quyền xác minh nội dung biến động điều tra thực địa trong trường hợp có thay đổi về ranh giới sử dụng đất, loại tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu
Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định hồ sơ, nếu đủ điều kiện, trình UBND cấp huyện cấp GCN QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Phòng Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền quản lý và cập nhật biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng
Trang 31Trong giai đoạn 2010 – 2014 với 9 quyền riêng của ngưởi sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và 8 quyền riêng của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì trên địa bàn tỉnh Nam Định thực hiện khoảng 172.000 giao dịch của ngưởi sử dụng đất, quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và thế chấp diễn ra sôi động hơn so với các quyền cho thuê, cho thuê lại và góp vốn bằng quyền sử dụng đất và quyền thế chấp diễn ra nhiều nhất so với các quyền khác (với khoảng 31.000 giao dịch chiếm khoảng 18,02 %)
Trong 10 đơn vị hành chính cấp huyện thì thành phố Nam Định diễn ra sôi động nhất với gần 32.000 giao dịch chiếm 18,60% giao dịch trên địa bàn toàn tỉnh Do đặc thủ của từng địa phương do đó tại thành phố người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển nhượng và thế chấp chiếm số lượng nhiều nhất, còn đối với các huyện thì việc thực hiện quyền chuyển đổi và chuyển nhượng lại chiếm số lượng lớn nhất
Trang 3225
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện một số quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
2.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất tại thành phố Nam Định
2.2.3 Kết quả thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định
2.2.4 Đánh giá việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định 2.2.5 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam Định
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - Xã hội thu thập tại Chi cục Thống
kê thành phố Nam Định
- Số liệu các trường hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất
do thực hiện các quyền sử dụng đất được thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Nam Định và Văn phòng Đăng ký và Thông tin nhà đất
- Số liệu về tình hình quản lý đất đai và công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng hợp trên cơ sở số liệu báo cáo các năm của Phòng Tài nguyên và môi trường, UBND thành phố Nam Định, UBND các xã, phường
Trang 3326
2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong 5 xã và 20 phường thuộc thành phố Nam Định, chọn phường Bà Triệu đại diện cho các phường trong trung tâm thành phố có điều kiện phát triển kinh tế, trung tâm chính trị, văn hóa của thành phố và chọn xã Lộc Hòa đại diện cho các xã có các điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xã Nam Vân đại diện cho các xã thuần nông có điều kiện thuận lợi phát triển các ngành nghề sản xuất nông nghiệp Vị trí các xã, phường nghiên cứu được thể hiện tại Hình 2.1
Hình 2.1 Vị trí các xã, phường nghiên cứu trên địa bàn TP Nam Định
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra ngẫu nhiên ý kiến người dân thực hiện quyền đối với đất ở thông qua phiếu điều tra Đối tượng và quy mô mẫu điều tra đối với hộ gia đình cá nhân được xác định theo Công văn số 1159/BNV-CCHC ngày 10 tháng 4 năm 2014 của
Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn triển khai phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước Theo đó, đối tượng điều tra là người thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam Định tại 3 điểm nghiên cứu (những người đã thực hiện quyền của người sử dụng đất tại Văn phòng Đăng ký và Thông tin nhà đất thành phố Nam Định) và tổ chức giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện quyền
Trang 34hộ, diện tích đất ở của hộ đang sử dụng, các quyền của người sử dụng đất mà hộ
đã tham gia); tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất đã tham gia với các nội dung về dạng thực hiện quyền, tình hình thực hiện thủ tục hành chính và thực trạng giấy tờ tại thời điểm thực hiện quyền; đánh giá về việc giải quyết các thủ tục hành chính của cơ quan chức năng trong việc thực hiện quyền của người
sử dụng đất về việc đón tiếp công dân, thời gian giải quyết công việc và thái độ phục vụ của cán bộ, công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết TTHC; ý kiến góp ý để nâng cao chất lượng phục vụ người dân
- Đối với cán bộ thực hiện công việc TTHC liên quan quyền của người sử dụng đất, tiêu chí điều tra gồm: Các thông tin chung về cán bộ thực hiện (họ tên, giới tính, địa chỉ, chức vụ công tác, độ tuổi, trình độ chuyên môn); ý kiến của cán bộ thực hiện trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính về điều kiện cơ sở vật chất,
số lượng cán bộ thực hiện, chuyên môn của cán bộ thực hiện, mức độ hiểu biết về pháp luật của người dân thực hiện quyền của người sử dụng đất và mức độ phối hợp của các cơ quan có liên quan
2.3.4 Phương pháp xác định số lượng phiếu điều tra
Số lượng phiếu điều tra được xác định theo công thức theo Công văn số 1159/BNV-CCHC ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Bộ Nội vụ như sau:
Trong đó:
n - Số lượng phiếu điều tra;
N - Tổng số giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010-2014;
e - Sai số cho phép (15%) tức là độ chính xác 85%
Trang 3528
Thay số vào công thức 2.1, ta có số lượng phiếu điều tra như bảng 2.1
Bảng 2.1 Số phiếu điều tra tại các xã, phường nghiên cứu
STT Điểm điều tra Sai số (%)
Số lượng dịch
vụ giao dịch (giao dịch)
Số phiếu (phiếu)
Đối với cán bộ thực hiện TTHC liên quan đến quyền của người sử dụng đất,
số phiếu điều tra là 16 phiếu (06 phiếu điều tra công chức địa chính, 04 phiếu điều tra công chức phòng Tài nguyên và Môi trường, 04 phiếu điều tra viên chức Văn phòng Đăng ký và Thông tin nhà đất và 02 phiếu điều tra công chức Chi cục Thuế)
2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích, so sánh số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2010
để tổng hợp các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý đất đai và tổng hợp tình hình chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng, cho QSDĐ
và thế chấp bằng QSDĐ trên địa bàn nghiên cứu theo số liệu đã đăng ký làm thủ tục của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Nam Định, Văn phòng Đăng
ký và Thông tin nhà đất thành phố Nam Định
Trên cơ sở điều tra thực tế, số liệu được tổng hợp theo từng đối tượng địa bàn
là phường, xã từng nội dung quyền sử dụng đất và từng năm để lập thành bảng Phân tích, so sánh so sánh số liệu điều tra thực hiện quyền của người sử dụng đất giữa các điểm điều tra từ về tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất, đánh giá của người sử dụng đất, cán bộ thực hiện trong việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến thực hiện quyền của người sử dụng đất và ý kiến góp ý của người dân để từ đó đưa ra được giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết thủ tục hành chính
2.3.6 Phương pháp minh họa bằng hình ảnh
Kết quả điều tra thu thập số liệu và nghiên cứu được minh họa bằng sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh nhằm thể hiện rõ hơn nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 3629
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Nam Định
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Nam Định nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định, thuộc trung tâm khu vực phía Nam đồng bằng sông Hồng Vị trí cụ thể như sau: (Hình 3.1.)
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc;
- Phía Nam giáp huyện Vụ Bản và huyện Nam Trực;
- Phía Đông giáp huyện Nam Trực và tỉnh Thái Bình;
- Phía Tây giáp huyện Mỹ Lộc và huyện Vụ Bản
Thành phố Nam Định nằm tại vị trí trung tâm của tiểu vùng phía Nam
Trang 3730
đồng bằng sông Hồng, có diện tích tự nhiên là 4.643,81 ha; dân số 247.709 người, trong đó dân số nội thành là 200.006 người, Thành phố có QL10, QL21A, đường cao tốc Nam Định – Phủ Lý (QL21B) đi qua và kết nối thuận lợi với hành lang phát triển kinh tế theo khu vực Đông Bắc Bộ và khu vực Duyên Hải Bắc Bộ Thành phố Nam Định có vị trí trung tâm của chùm đô thị gồm các thành phố là trung tâm tỉnh lỵ của các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Thái Bình, có truyền thống
là trung tâm văn hóa giáo dục chuyên nghiệp và dịch vụ phục vụ chung cho cả tiểu vùng Sự hình thành của QL10, QL21B đã tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt là về công nghiệp và dịch vụ cho thành phố trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay Các định hướng về phát triển hạ tầng kỹ thuật quốc gia, đặc biệt là giao thông có liên quan đến thành phố Nam Định cũng góp phần khẳng định vị thế và vai trò của thành phố đối với chùm đô thị động lực phía Nam đồng bằng sông Hồng
3.1.1.2 Địa hình
Thành phố Nam Định có địa hình tương đối bằng phẳng cao độ từ 0,3 ÷ 5,7m, hướng dốc địa hình từ Tây sang Đông Thềm phía Nam sông Đào thuộc một địa hình bãi bồi cao, trong khi phần phía Bắc sông thuộc địa hình bãi bồi thấp có niên đại cổ hơn
Tuy cùng là gốc phù sa, nhưng đất đai khu vực phía Nam màu mỡ, thuận lợi cho việc canh tác hơn hẳn khu vực phía Bắc, Phía Nam là khu vực những làng hoa, cây cảnh nổi tiếng trên địa bàn xã Nam Phong, Nam Vân xen lẫn với ruộng lúa Đất ở đây thuộc lọai phù sa ít chua, ít glây tốt nhất của tỉnh Nam Định Trong khi đó phía Bắc ở những khu vực không làm nhà cửa thì chỉ trồng lúa, vùng này có năng suất lúa thấp nhất tỉnh
3.1.1.3 Khí hậu
Thành phố Nam Định mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu vùng đồng bằng Sông Hồng, là khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có
4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)
Nhiệt độ trung bình năm từ 23 ÷ 24oC; độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 84%; lượng mưa hàng năm trung bình từ 1.470 mm, trong năm
Trang 3831
lượng mưa phân bố không đều, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 70% ÷ 75% lượng mưa cả năm, đặc biệt là vào tháng 7, 8 ,9; hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1.650 ÷ 1.700 giờ Nhìn chung khí hậu rất thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động thực vật
3.1.1.4 Thủy văn
Thành phố Nam Định có hệ thống sông ngòi khá dày đặc với mật độ sông vào khoảng 0,5 ÷ 0,7 km/km2 Do đặc điểm địa hình các dòng chảy đều theo hướng Tây bắc - Đông nam, Chế độ thuỷ văn chịu ảnh hưởng chính của sông Hồng, nhánh sông Đào và chế độ thuỷ chiều
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
Các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế đã có nhiều cố gắng đồng thời với các chính sách hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, của tỉnh nên tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố đã duy trì mức khá cao, đạt bình quân 13,11%/năm Giá trị tăng thêm bình quân đầu người (theo giá hiện hành) từ 22,5 triệu đồng/năm 2009 tăng lên 27,3 triệu đồng/năm 2010 và đạt 32,8 triệu đồng/năm 2014
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 56,47% năm
2010 tăng lên 57,31% năm 2014, dịch vụ từ 42,22% năm 2010 đạt 41,55% năm
2014, nông nghiệp 1.31% năm 2010 giảm xuống 1,14% năm 2014
Khu vực kinh tế công nghiệp
Khu công nghiệp Hoà Xá của tỉnh và cụm công nghiệp An Xá của thành phố đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư Đó là những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp của thành phố phát triển Cùng với các doanh nghiệp, các hộ sản xuất cá thể đã thu hút trên 50.000 lao động ở các loại hình sản xuất Trong đó có
4 ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng khá trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp như: dệt-may 47,06%; cơ khí-điện 10,03%; hoá chất-nhựa 9,54%; chế biến nông sản-thực phẩm-đồ uống 8,77% Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh (chiếm 99,14% số lượng doanh nghiệp và 46,9% giá trị
Trang 39Mạng lưới bưu chính viễn thông được nâng cấp, đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ hiện đại với nhiều loại hình dịch vụ đa dạng, đảm bảo thông tin, kịp thời Các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển nhanh đáp ứng được nhu cầu thuê bao Sự phát triển của mạng lưới bưu chính viễn thông đã tạo thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh và đời sống xã hội
Tài chính - Ngân sách: là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị và kế hoạch cụ thể về công tác tài chính-ngân sách, tăng cường công tác quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước đạt hiệu quả
Thu ngân sách từ kinh tế trên địa bàn tăng bình quân 22%/năm Tổng chi ngân sách thành phố bình quân tăng 37,5%/năm Công tác quản lý Nhà nước thu, chi ngân sách cơ bản đảm bảo đúng Luật Ngân sách và Luật thuế hiện hành Chi ngân sách phục vụ kịp thời chi nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất của thành phố Đồng thời thực hiện tiết kiệm, phòng chống lãng phí và tham nhũng Công tác quản lý tài chính từ thành phố đến các phường, xã đã được tăng cường từ việc lập, phân bổ dự toán cho đến điều hành và quyết toán ngân sách Hoạt động tài chính-kho bạc đã thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát chi ngân sách nhà nước, phục vụ có hiệu quả cho phát triển kinh tế-xã hội của thành phố
Trang 4033
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cây trồng, vật nuôi Do quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá nên diện tích đất nông nghiệp thu hẹp nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh) vẫn tăng bình quân 3,55%/năm và chiếm tỷ trọng 1,31% trong cơ cấu kinh tế chung
Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp tiếp tục được củng cố với việc đổi mới mô hình HTX nông nghiệp theo luật, thành lập các Ban nông nghiệp xã để tăng cường chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, chủ động sản xuất kinh doanh của HTX, đồng thời phát huy vai trò của kinh tế hộ gia đình Thành phố chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nước đầu đạt kết quả, đã hình thành các vùng chuyên canh trồng hoa cây cảnh, nuôi trồng thuỷ sản, từng bước nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Giá trị thu được trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2009: 57,27 triệu đồng/ha tăng lên 79,31 triệu đồng/ha năm 2014 Công tác phòng chống lụt bão, tu bổ đê và làm thuỷ lợi nội đồng, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện
Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, bưu điện văn hoá ở các xã ngoại thành được đầu tư, phát huy hiệu quả Tất cả 5 xã ngoại thành đều đạt chuẩn Quốc gia về y tế và đều có trường tiểu học và THCS đạt chuẩn Quốc gia Xã Lộc An được UBND tỉnh quyết định chọn xây dựng thí điểm mô hình “nông thôn mới” Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được nâng lên, diện mạo các xã ngoại thành thay đổi rõ rệt
3.1.2.2 Dân số, lao động
a/ Dân số
Theo số liệu thống kê đến năm 2014, dân số toàn thành phố là 247.709
người (trong đó nữ giới có 124.678 người và nam giới có 123.031 người), dân số
khu vực thành thị 200.006 người dân số khu vực nông thôn 47.703 người Mật
độ dân số bình quân của thành phố là 5.334 người/km2 (khu vực nội thành là 23.998 người/km2 khu vực ngoại thành 1.252 người/km2)