Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu
Trang 1MỤC LỤC
1.1 CƠ Sở LÝ LUậN Về NÔNG THÔN, XÂY DựNG NÔNG THÔN MớI 5 1.1.1 Một số khái niệm về nông thôn và xây dựng nông thôn mới 5 1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 8 1.1.3 Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới 9 1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới trong phát
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới 15 1.2 CƠ Sở THựC TIễN CủA QUY HOạCH NÔNG THÔN MớI TRÊN THế GIớI VÀ
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng mô hình nông thôn
1.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 20
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thanh Oai 27 2.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn
Trang 22.1.3 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại
2.1.4 Đề xuất giải pháp thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 29 2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 30
3.1 ĐặC ĐIểM ĐIềU KIệN Tự NHIÊN, KINH Tế - XÃ HộI TRÊN ĐịA BÀN HUYệN 31
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35 3.1.5 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 36 3.1.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 38 3.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển
3.2 THựC TRạNG THựC HIệN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DựNG NÔNG THÔN MớI
3.2.1 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí về quy hoạch 44 3.2.2 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội 44 3.2.3 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất 50 3.2.4 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi
Trang 33.3.1 Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Cao
3.4.4 Đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực, trình độ dân trí trong xây
3.4.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền xây dựng Nông thôn mới đến
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 4CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa
NN & PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTNT : Phát triển nông thôn
THCN : Trung học chuyên nghiệp
THPT : Trung học phổ thông
TTATGT : Trật tự an toàn giao thông
VH - TT - DL : Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Trang 5Bảng 3.3 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí Hạ tầng kinh tế - xã hội huyện
Bảng 3.4 Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông (Tính đến tháng 12 năm
Bảng 3.5 Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi (Tính đến tháng 6 năm 2015) 47 Bảng 3.6 Tình hình thực hiện tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa (Tính đến
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất huyện
Bảng 3.8 Tình hình thực hiện tiêu chí giáo dục (Tính đến tháng 6 năm 2015) 53 Bảng 3.9 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí hệ thống chính trị huyện Thanh
Bảng 3.10 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng NTM huyện Thanh Oai 58 Bảng 3.11 So sánh tình hình thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất so với phương án
Bảng 3.12 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Cao Viên 63 Bảng 3.13 Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp 66 Bảng 3.14 Tình hình thực hiện tiêu chí Giao thông xã Cao Viên 67 Bảng 3.15 Tình hình thực hiện tiêu chí Thủy lợi xã Cao Viên 68 Bảng 3.16 Tình hình thực hiện tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa xã Cao Viên 70 Bảng 3.17 So sánh tình hình thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất so với phương án
Bảng 3.18 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Dân Hòa 76 Bảng 3.19 Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất xã Dân Hòa 77 Bảng 3.20 Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống giao thông xã Dân Hòa 79 Bảng 3.21 Tình hình thực hiện tiêu chí Giao thông xã Dân Hòa 80 Bảng 3.22 Tình hình thực hiện tiêu chí Thủy lợi xã Dân Hòa 81 Bảng 3.23 Tình hình thực hiện tiêu chí Cơ sở vật chất văn hóa xã Dân Hòa 82
Trang 6MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều quan tâm đến lĩnh vực nông thôn thôn qua việc xác định chủ trương và ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển nông thôn và các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển nông thôn Bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn đã có nhiều thay đổi và khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt Mặc dù vậy, nông nghiệp và phát triển nông thôn còn gặp nhiều khó khăn Khoảng cách về thu nhập của người dân nông thôn thấp hơn nhiều so với người dân đô thị
Là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu,
có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông
thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
Trên tinh thần đó tại Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn nước
ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống
Trang 7chính trị và toàn xã hội Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị theo quy hoạch; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân
- nông dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn
ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ
về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới Đồng thời năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển
đô thị, thị trấn, thị tứ
Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn xã
Trang 8hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ
sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Thanh Oai là huyện ngoại thành, nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hà Nội, có vị trí địa lý liền kề với quận Hà Đông, với trung tâm kinh tế - chính trị là thị trấn Kim Bài cách quận Hà Đông khoảng 14 km, cách trung tâm thành phố
Hà Nội 20 km về phía Bắc Trên địa bàn huyện hiện có 20 xã, 1 thị trấn, trong đó 20/1 xã đang thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới và cũng đã thu được một số thành tựu nhất định Tuy nhiên do xuất phát điểm của các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện không đồng đều, kèm theo đội ngũ cán bộ còn hạn chế nhiều về năng lực, nguồn vốn đầu tư còn hạn chế nên trong quá trình triển khai còn nhiều khó khăn Xuất phát từ thực trạng trên tôi
thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”
Trang 91.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là việc tổ chức thực hiện, kết quả đạt được các tiêu chí chương trình xây dựng nông thôn mới trên cơ sở các loại hình quy hoạch của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Bao gồm:
Quy hoạch sử dụng đất;
Quy hoạch sản xuất nông nghiệp;
Quy hoạch phát triển hạ tầng
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại các xã tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới được nghiên cứu tại 2 xã Cao Viên và Dân Hòa
- Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
- Phạm vi về thời gian
Nguồn số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập từ năm 2011 - 2014
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về nông thôn, xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Một số khái niệm về nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Quan điểm khác cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn (nông thôn thấp hơn)
Như vậy có thể thấy rằng, khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Khái niệm nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau
Theo Đặng Kim Sơn (2010), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ
sở là Uỷ ban nhân dân xã
Có thể hiểu: “Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị ở chỗ là trên đó sống và làm việc một cộng đồng trong đó chủ yếu là nông dân, có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn “ (Kinh tế nông thôn, 1995)
1.1.1.2 Nông thôn mới
Khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; thứ hai, là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới
Trang 11Khái niệm NTM mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau Nhìn chung, mô hình NTM là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, văn minh hóa Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam
Nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần Theo đó, một số
tiêu chí của mô hình nông thôn mới là: Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các
nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được
giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và
đi vào thực chất Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được
nâng lên (Hồ Văn Thông, 2005)
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện chính sách
vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công
Trang 12nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN Như vậy, hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị
Do đó, có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng
so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt” (Phan Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Cảnh, 2009)
1.1.1.3 Phát triển nông thôn (PTNT)
Phát triển nông thôn nhìn chung được diễn tả bao gồm các hành động và sáng kiến được thực hiện để cải thiện mức sống khu vực ngoài đô thị, nông thôn,
và các làng bản xa xôi Những cộng đồng này có thể được nhận diện bởi mật độ dân số thấp, người dân sống trong các vùng không gian mở
Như vậy, PTNT là hệ thống đảm bảo sự phát triển tổng hợp kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn nhắm vào việc cải thiện mức sống, cả tinh thần và vật chất, của dân cư nông thôn Tùy theo góc độ xem xét, PTNT có thể được diễn giải theo những cách khác nhau Góc độ xem xét và diễn giải nội dung PTNT tương ứng đồng thời phục vụ triển khai thực hiện PTNT theo các cách, mục tiêu khác nhau
Theo lĩnh vực phát triển, PTNT bao gồm các lĩnh vực phát triển được xem xét riêng biệt, mặc dù trong thực tế, các lĩnh vực đó có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, bao gồm: quản lý các nguồn tài nguyên (tự nhiên - đất đai, nguồn nước, thảm thực vật; con người, tổ chức ), phát triển kinh tế (nông nghiệp, phi nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất hàng hóa, chế biến, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thị trường ), nghiên cứu và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật (giống cây trồng, vật nuôi, chế biến, bảo quản, quản lý ), phát triển cơ sở hạ tầng (hệ thống đường giao thông, hệ thống công trình thủy lợi,
hệ thống điện ), văn hóa - xã hội (giáo dục, y tế, mức độ nghèo đói ), chính sách (đất đai, tín dụng, đầu tư ), phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai
Trang 13Theo phạm vi lãnh thổ, PTNT có thể được xem xét bao gồm PTNT cho cả nước, theo vùng, tỉnh, huyện, xã, và cả thôn ấp Nó còn có thể được xem xét dưới góc độ quản lý hành chính Nhà nước, có cấp trung ương và cấp địa phương, khi
đó cấp địa phương có thể bao gồm các cấp khác nhau theo chiều từ trên xuống là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và cuối cùng là thôn ấp Tham gia thực hiện và hỗ trợ PTNT, bên cạnh đó, có thể là hệ thống không chính thức gồm các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau tại khu vực nông thôn
Theo cách tiếp cận cơ chế quản lý, PTNT có thể quy định chức năng, nhiệm vụ và vai trò của các bên liên quan khác nhau trong thực hiện PTNT Điều này có thể thấy được khi chức năng, nhiệm vụ và vai trò của các bên liên quan thay đổi rất lớn, thậm chí là đảo chiều khi có sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung trước kia sang cơ chế thị trường hiện nay Từ vai trò gần như tuyệt đối của kinh tế tập thể, kinh tế HTX trước kia chuyển sang vai trò quan trọng của kinh tế
hộ gia đình tại khu vực nông thôn
Theo cách tiếp cận phát triển, PTNT có thể bao gồm tiếp cận phát triển thông thường, từ trên xuống; tiếp cận phát triển từ cộng đồng, từ người dân đi lên; và tiếp cận phát triển có kết hợp từ trên xuống với từ dưới đi lên Mỗi cách tiếp cận có thể có lợi thế riêng Tuy vậy tiếp cận thông thường, tiếp cận từ trên xuống đang bộc lộ nhiều nhược điểm, không còn tạo ra động lực cho PTNT, nhất
là việc áp dụng tại cấp cơ sở địa phương Tiếp cận từ dưới lên coi trọng vai trò của cộng đồng, cho rằng cộng đồng khi được nâng cao năng lực, được trao quyền
có thể phát huy vai trò làm chủ, quản lý các nguồn lực từ huy động các nguồn lực trong và ngoài cộng đồng phục vụ việc tổ chức thực hiện các hoạt động cơ bản, thiết yếu, quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản tốt hơn
1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Việc xây dựng NTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hương, đất nước trong giai đoạn mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta
đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế
Trang 14+ Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế
+ Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước… còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm
+ Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc
+ Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
1.1.3 Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Theo đó Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới thực hiện theo 06 nguyên tắc sau:
Một: Các nội dung, hoạt động của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng
4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là Bộ tiêu chí quốc gia NTM) Hai: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Ba: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác dang triển khai trên địa bàn nông thôn
Trang 15Bốn: Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Năm: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
Sáu: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.1.3.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ Những nội dung trên
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong quá trình thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai trò người nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại
Trang 16Xét trên khía cạnh tổng thể thì nội dung chủ yếu trong xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
+ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã; hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn xã; hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao; hệ thống công trình phục vụ chuẩn hóa y tế, giáo dục trên địa bàn xã
- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao
+ Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
+ Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
- Giảm nghèo và an sinh xã hội;
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn;
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn;
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả;
+ Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
+ Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
+ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
+ Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
Trang 17- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn: Thực hiện thông tin, truyền thông đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã
+ Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
+ Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới
+ Ban hành chính sách khuyến khích thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,
đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
1.1.3.3 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Trên tinh thần xây dựng nông thôn mới với năm nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí: Trên tinh thần xây dựng nông thôn mới với năm nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí: TC1 Quy hoạch
và thực hiện quy hoạch; TC2 giao thông; TC3 thủy lợi; TC4 điện; TC5 trường học; TC6 Cơ sở vật chất văn hóa; TC7 chợ nông thôn; TC8 bưu điện; TC9 nhà ở dân cư; TC10 thu nhập; TC11 Hộ nghèo; TC12 Cơ cấu lao động; TC13 HÌnh thức tô chức sản xuất; TC14 Giáo dục; TC15 Y tế; TC16 văn hóa; TC17 Môi trường; TC18 Xây dựng HTCT vững mạnh; TC19 An ninh trật tự xã hội
Như vậy, qua khái niệm và tiêu chí xây dựng nông thôn mới có thể thấy
sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới hiện nay Xây dựng nông thôn đã có từ lâu tại Việt Nam Trước đây, có thời điểm
Trang 18chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng nông thôn mới ở cấp xã Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
- Thứ nhất,xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước được định trước
- Thứ hai,xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
- Thứ ba,cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng
- Thứ tư,đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh
- Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến
Trang 19bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
- Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
- Về văn hóa - xã hội
Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Về môi trường
Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Trang 201.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới
1.1.5.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước
Vai trò lãnh đạo, định hướng của Đảng là kim chỉ nam để thực hiện thắng lợi
3 mục tiêu cốt yếu cho nông dân: trở thành lực lượng lao động tiên tiến, là lực lượng
chính trị vững mạnh và phát triển mạnh mẽ, có những thay đổi về chất Trước hết,
Nhà nước phải có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không phải chỉ tập
trung vào nông nghiệp Thứ hai, Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho
các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn, xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức dân
sự, nghề nghiệp của nông dân (Nguyễn Kế Tuấn, 2006)
1.1.5.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Nước ta xây dựng nông thôn mới trong điều kiện trình độ phát triển kinh
tế còn thấp; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, nguồn lực còn hạn hẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư thấp, chưa
đủ tạo sức bật mới đối với sản xuất và phát triển thị trường Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Cải cách hành chính tiến hành còn chậm Những tồn tại, hạn chế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và kết quả xây dựng nông thôn mới (Đặng Kim Sơn, 2008)
1.1.5.3 Trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân
Thực trạng học vấn, dân trí và chuyên môn kỹ thuật đang còn thấp kém đã gây rất nhiều khó khăn trong việc đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp - nông thôn Thực trạng này cũng
đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho nhiều vấn đề trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân chậm được giải quyết
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn hiện nay trên dưới 500.000 đồng/tháng, trong khi đó việc chi cho ăn, mặc chiếm tới 80 - 90% Hiện trạng về khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) vẫn còn ở mức 18% (ở nhiều vùng sâu, vùng xa tới 40%) (Trương Tấn Sang, 2012)
1.1.5.4 Năng lực, trình độ và kinh nghiệm của cán bộ địa phương
Một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có nhận thức chưa đầy
Trang 21đủ về Chương trình xây dựng nông thôn mới Họ cho rằng đó là dự án phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng; hoặc là biến đổi nông thôn thành thị trấn, thị tứ để
đô thị hóa; hoặc xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của Nhà nước phải làm cho dân nên nảy sinh tâm lý trông chờ, thụ động, ỷ lại, ảo tưởng là sắp có nông thôn mới Vì vậy, vấn đề đổi mới tư duy để nâng cao nhận thức, hiệu quả công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là hết sức cần thiết (Hoàng Chí Bảo, 2002)
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là lực lượng tiên phong, đi đầu trong xây dựng nông thôn mới Trước tiên họ phải đổi mới tư duy để nhận thức đúng về chủ trương của Đảng, chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Chính phủ; từ đó tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tham gia
1.1.5.5 Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp
Sự phối kết hợp thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong tổ chức về
ý nghĩa và nhiệm vụ trong công tác xây dựng nông thôn mới; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân; Thứ ba, tuyên truyền, vận động và tổ chức
các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công việc cụ
thể, Thứ tư, gương mẫu, trách nhiệm và đi đầu trong việc triển khai, thực hiện và
duy trì s dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới
1.1.5.6 Thu hút đầu tư vào nông thôn
Các doanh nghiệp ít quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì đây là ngành sản xuất có nhiều rủi ro, đầu tư lớn mà hiệu quả thấp và mâu thuẫn giữa thị trường lớn trong khi sản xuất nhỏ Nếu không giải quyết được các mâu thuẫn này thì việc thu hút đầu tư nguồn lực vào nông nghiệp, nông thôn sẽ không mang lại hiệu quả
1.2 Cơ sở thực tiễn của quy hoạch nông thôn mới trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
* Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào điển
Trang 22hình thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở Phong trào được thực hiện tập trung trong thời gian từ 1971 đến 1978 tại toàn bộ các làng quê vùng nông thôn Nguyên tắc thực hiện của phong trào về thực chất là PTNT DVCĐ Việc thực hiện phong trào được đánh giá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong những năm 1960 trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm 1990 trở lại đây Các kinh nghiệm và bài học từ chương trình làng mới có thể đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu xây dựng chương trình phát triển nông thôn cấp
cơ sở của Việt Nam
* Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Nhìn nhận vấn đề phát triển kinh tế có vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, đánh giá cao khả năng tự quản của các cộng đồng địa phương (đơn vị bản làng), yêu cầu về phạm vi thực hiện – toàn bộ vùng nông thôn, khả năng hạn chế của các thể chế - tổ chức, làm công tác phát triển nông thôn, năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chương trình cấp không thu lại một triệu bạt (đơn vị tiền tệ của Thái Lan, tương đương khoảng 30 ngàn đô la mỹ) cho mỗi bản Các cộng đồng bản chịu trách nhiệm quản l ý và bảo tồn quỹ cho các hoạt động phát triển kinh tế Về cơ bản, các cộng đồng bản quản l ý quỹ này như một quỹ tín dụng và tiết kiệm
Cho đến nay, hoạt động của các quỹ này được đánh giá là tích cực, triển khai đều khắp trên khắp tất cả các vùng nông thôn trên cả nước, góp phần nhất định vào phát triển kinh tế nông thôn Thái Lan Cùng với các chương trình khác như chương trình mỗi bản một sản phẩm, các chương trình đã tìm mọi cơ hội để
hỗ trợ phát triển kinh tế có hiệu quả Từ đó góp phần phát triển nông thôn một cách bền vững tại Thái Lan
* Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý
để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông
Trang 23lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Chương trình đốm lửa: điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo
ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị
- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần
so với những năm đầu 70 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nông thôn, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khi thực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5% Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khóa XVI của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” Đây là kế hoạch xây dựng mới đã được Trung Quốc đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ
XI (2006-2010) Mục tiêu của quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống
dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ” Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đầy vẻ đẹp tráng lệ
Trang 24Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và NTM tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình NTM của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc
* Xây dựng nông thôn mới ở Đài Loan
Cơ quan Hợp tác Tái thiết Nông thôn, là cơ quan đầu não của Chính Phủ lập kế hoạch phát triển và điều hành đầu tư cho nông thôn Hiệp hội nông dân có nhiệm vụ chuyển thông tin về nhu cầu phát triển nông thôn lên Trung Ương và hướng dẫn Nhà nước đưa vật tư nông nghiệp, tín dụng và các phương tiện tiếp thị
về nông thôn đúng chỗ, đúng lúc
Một vấn đề cải thiện kinh tế nông nghiệp đã được Chính Phủ thực hiện là
“Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc”, “Tăng thu nhập của nông trại và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn”, “Chương trình cải cách ruộng đất giai đoạn 2” Từ các chương trình này nhiều nhà đầu tư đã được đưa vào cơ
sở hạ tầng nông thôn và được cụ thể hóa bằng 10 nội dụng cụ thể:
- Cải cách ruộng đất
- Quy hoạch và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường nghiên cứu nông nghiệp và đổi mới kỹ thuật
- Chuyển giao công nghệ mới
- Tập huấn các nông dân hạt nhân
- Cung cấp các đầu vào hiện đại
- Tín dụng nông nghiệp
- Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tương ứng với sự thay đổi lao động và đầu tư
- Dịch chuyển cơ cấu thị trường
- Cải thiện phúc lợi xã hội cho nông dân
* Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn
Trang 25của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ Mo-ri-hi-kô Hi-ra-mát-su nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP Đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái
Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào OVOP “Mỗi làng, một sản phẩm” của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao
Theo Tiến sĩ Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông-Nam Á như Thái-lan, Phi-li-pin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản (Phương Ly, 2012)
1.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên toàn quốc
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng, hợp lòng dân Chương trình đã hình thành được bộ máy chỉ đạo và quản lý đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở, là yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến độ và nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình
Trang 26Công tác tuyên truyền, vận động đã được các cơ quan Trung ương và địa phương tích cực thực hiện với nhiều hình thức phù hợp Nhờ đó, nhận thức của phần lớn cán bộ và người dân về xây dựng nông thôn mới đã có chuyển biến rõ rệt Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước Người dân ngày càng tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tích cực, chủ động tham gia xây dựng quê hương với nhiều cách làm sáng tạo, góp phần huy động được nhiều nguồn lực đóng góp cho xây dựng nông thôn mới Ngay từ năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” Nhiều tỉnh, thành phố, bộ, ngành đã hưởng ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở địa phương, đơn vị Nhiều báo, đài Trung ương và địa phương đã tăng thời lượng, mở chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền, phổ biến về các hoạt động của Chương trình
Các tổ chức chính trị - xã hội cũng rất tích cực vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện chương trình Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã chỉ đạo triển khai nhiều mô hình thực hiện Chương trình
“Tổ phụ nữ tự quản đường giao thông nông thôn”, “Phụ nữ chung sức xây dựng nông thôn mới”
Công tác kiểm tra, giám sát được coi trọng, qua đó đã kịp thời phát hiện, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện ở cơ sở, nhất là đề xuất sửa đổi
cơ chế chính sách và hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Nhiều địa phương đã quy định cụ thể thời gian kiểm tra địa bàn của Ban chỉ đạo các cấp, như Ban chỉ đạo tỉnh Hà Tĩnh đã quy định ngày thứ 7 hàng tuần là ngày nông thôn mới để xuống kiểm tra, chỉ đạo thực hiện chương trình ở cơ sở
Hệ thống cơ chế chính sách triển khai Chương trình cơ bản hoàn thành, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện ở cơ sở Nhiều địa phương đã chủ động ban hành thêm nhiều cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện thực tế nhằm huy động các nguồn lực thực hiện, ưu tiên triển khai các nội dung quan trọng, tạo tiền
đề cho việc thực hiện mục tiêu của Chương trình như: hỗ trợ xi măng, vật tư làm
Trang 27đường giao thông; hỗ trợ lãi suất để khuyến khích nông dân vay chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển sản xuất công nghệ cao, cơ giới hóa; phát triển mỗi làng một sản phẩm; chính sách thưởng các xã về đích
Chương trình đã huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện, trong đó mức độ tham gia của người dân đạt cao Đặc biệt, từ năm 2014, Quốc hội đã bổ sung 15.000 tỉ đồng vốn trái phiếu Chính phủ, là động lực thúc đẩy tiến độ thực hiện và thu hút các nguồn lực khác để đầu tư cho Chương trình Theo số liệu của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong giai đoạn 2011 - 2014 đã huy động được khoảng 591.170 tỷ đồng đầu tư cho Chương trình Trong đó, ngân sách nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án khác) là 192.269 tỷ đồng; tín dụng: 285.859 tỷ đồng; doanh nghiệp là 31.887 tỷ đồng; dân góp 68.733 tỷ đồng; các nguồn khác là 12.421 tỷ đồng
Nhờ có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của toàn xã hội, nên Chương trình xây dựng nông thôn mới có bước chuyển ngày càng mạnh mẽ hơn Theo báo cáo mới nhất của Ban chỉ đạo Trung ương chương trình MTQG xây dựng NTM (2015) đã có 882 xã đạt chuẩn NTM (9,87%), đã có 4 huyện được thủ tướng chính phủ công nhận đạt chuẩn NTM, còn 4 huyện đã có tờ trình
đề nghị công nhận đạt chuẩn NTM Đối với 11 xã điểm của Trung ương hiện chỉ còn xã Thanh Chăn (Điện Biên) chưa đạt 19/19 tiêu chí và được đánh giá là khó
về đích năm 2015
Đến hết năm 2013, bình quân mỗi xã đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí/xã
so với năm 2010, thời điểm cả nước tiến hành xây dựng nông thôn mới Với đà này, năm 2015, cả nước phấn đấu sẽ có ít nhất 17% xã đạt chuẩn nông thôn mới và phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020 có khoảng 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới Một trong những điểm nổi bật của Chương trình xây dựng nông thôn mới
đó là đã thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo Đề án sản xuất của các xã đều được xây dựng trên cơ sở xác định nhóm cây, con, ngành nghề lợi thế Nhiều xã đã tập trung chỉ đạo thực hiện đề án trên đồng ruộng Nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện dồn điền, đổi thửa, thiết kế lại
hệ thống giao thông, thủy lợi chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho đưa cơ giới hóa
Trang 28vào đồng ruộng, tiêu biểu là các tỉnh, thành phố: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa…
Các địa phương đã quan tâm chỉ đạo kiện toàn tổ chức sản xuất thông qua tăng cường hoạt động của các hợp tác xã trong nông nghiệp Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” được 43 tỉnh trong cả nước áp dụng Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, vụ hè thu năm 2014 ở đồng bằng sông Cửu Long có tổng cộng 101 doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ lúa gạo cho nông dân với tổng diện tích là 77.420 ha Vụ Đông - Xuân năm 2014 - 2015, diện tích làm cánh đồng mẫu lớn là 91.692 ha, tăng 17.692 ha so với vụ Đông - Xuân
2013 - 2014, tập trung chủ yếu ở các địa phương như Long An, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long Để tạo điều kiện cho phát triển hàng hóa tập trung, nhiều địa phương đã chủ động ban hành chính sách hỗ trợ dân mua máy cày, máy gặt đưa
tỷ lệ cơ giới hóa các khâu này tăng từ 40% - 50% lên 80% - 90% như Thái Bình,
Hà Tĩnh, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp…
Bên cạnh mô hình cánh đồng mẫu lớn, các địa phương tập trung xây dựng
mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để nhân rộng, giúp người dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống Một số địa phương đã mạnh dạn phát triển mô hình sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao như Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng Riêng tỉnh Lâm Đồng đã phát triển mô hình này với quy mô 10.000 ha, có mức thu từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm Một số tỉnh, thành phố đã bước đầu quan tâm chỉ đạo hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch ở nông thôn như xã Yên Đức, huyện Đông Triều, Quảng Ninh; xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang…, hàng năm đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt khách du lịch
Các hoạt động nêu trên đã góp phần tăng thu nhập của cư dân nông thôn, năm 2013 gấp 1,8 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết năm
2013 là 12,6% giảm bình quân 2%/năm so với năm 2008 (chưa có số liệu thống kê của năm 2014) Đồng thời, đến năm 2014, đã có 44,5% số xã đạt tiêu chí thu nhập, 72,2% số xã đạt tiêu chí việc làm và 36,4% số xã đạt tiêu chí hộ nghèo
Trang 29Xét về tổng thể, Chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần quan trọng để thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Thực tiễn cho thấy, Chương trình đã góp phần phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn, nổi bật là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện Trường học các cấp từng bước xây dựng theo chuẩn và xã hội hoá Chính sách hỗ trợ học phí cho con em đồng bào dân tộc, miền núi, chính sách cho vay vốn để học tập được điều chỉnh tạo thuận lợi cho học sinh, sinh viên từ các vùng nông thôn
Cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và nâng cấp Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng được đa dạng hóa và đẩy mạnh An ninh trật tự ở nông thôn được đảm bảo Tổ chức cơ sở đảng ở nhiều vùng nông thôn đã được nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò hạt nhân trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Trong quá trình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều cấp uỷ đảng cơ sở đã chủ động lựa chọn những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để bàn bạc, thảo luận trong cấp uỷ, chi bộ,
và xây dựng thành nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo thực hiện có kết quả Nhờ vậy uy tín của Đảng ngày càng được nâng cao Đội ngũ cán bộ lãnh đạo được nhiều địa phương (nhất là cấp xã) đã được kiện toàn Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ về công tác ở cấp xã
1.2.2.2 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Hà Nội
Thực hiện Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 09/5/2012 về việc thực hiện Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 của Thành uỷ Hà Nội về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011-2015” Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội chỉ đạo các huyện, thị xã đẩy nhanh tiến độ công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xã nông thôn mới và đề án xây dựng nông thôn mới (XDNTM) trên địa bàn; xây dựng, ban hành Nghị quyết về công tác dồn điền đổi thửa và chỉ đạo các xã điểm thực hiện đề án theo đúng tiến độ đề ra; đồng thời tiếp tục tăng
Trang 30cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia Chương trình xây dựng Nông thôn mới
Theo số liệu của Cục Thống kê và báo cáo của Sở Nông nghiệp Thành phố, đến hết năm 2013 đã có 19 huyện, thị xã trên địa bàn Thành phố tổ chức phát động phong trào “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” Cùng với
sự đóng góp của nhân dân các địa phương; bước đầu các doang nghiệp tham gia ủng hộ số tiền trên 150 tỷ đồng Mặc khác, các huyện, thị xã đã đăng ký các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015 với tổng số 202/401 xã (đạt 50,37%) Trong đó huyện Từ Liêm đăng ký 100% số xã, huyện Thanh Trì đăng
ký 80% số xã, huyện Gia Lâm đăng ký đạt 65% số xã
Kết quả thực hiện mô hình điểm Trung ương tại xã Thuỵ Hương huyện Chương Mỹ: Sau hơn 2 năm thực hiện đến nay xã Thụy Hương (Chương Mỹ) đã
có 18/19 tiêu chí đạt, còn 01 tiêu chí chưa đạt là cơ cấu lao động; và cơ bản trở thành xã NTM để tạo điều kiện cho các xã đến trao đổi, học tập kinh nghiệm Ngoài mô hình điểm của Trung ương tại xã Thuỵ Hương (huyện Chương Mỹ), thành phố còn tập trung hoàn thiện 3 mô hình điểm khác như: xã Song Phượng (Đan Phượng) hiện nay đạt 17/19 tiêu chí về xây dựng NTM, chỉ còn 2/19 tiêu chí chưa đạt là thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo; Xã Mai Đình (Sóc Sơn) đến nay đạt
và cơ bản đạt 15/19 tiêu chí, còn 4 tiêu chí chưa đạt là: Giao thông, Trường học, Chợ nông thôn và tiêu chí nhà văn hoá; xã Đại Áng (Thanh Trì) đến nay đã đạt
và cơ bản đạt 14/19 tiêu chí, còn 5 tiêu chí chưa đạt là: Thuỷ lợi, Chợ nông thôn, Môi trường, Văn hoá và thu nhập bình quân
Đối với 15 xã làm điểm xây dựng nông thôn mới của các huyện, thị xã, Sau 01 năm thực hiện, đến nay có 11 xã đạt hoặc cơ bản đạt 10 - 13 tiêu chí, chỉ còn 4 xã đạt hoặc cơ bản đạt dưới 10 tiêu chí là Đa Tốn - Gia Lâm, Đồng Tân - Ứng Hòa, Đại Đồng - Thạch Thất và Nghĩa Hương - Quốc Oai
Theo số liệu báo cáo kết quả 9 tháng đầu năm của Sở Nông nghiệp, đến hết tháng 8 năm 2012: có 19/19 huyện, thị xã đã lập xong Đề án cấp huyện, trong đó
có 15 huyện, thị xã phê duyệt đề án, còn 4 huyện: Ba Vì, Mê Linh, Quốc oai và Đan Phượng đang chỉnh sửa theo ý kiến góp ý của UBND Thành phố Đã có 100%
Trang 31số xã trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã lập đề án, trong đó có 248 xã có quyết định phê duyệt đề án, 153 xã đang tiến hành khảo sát, lập đề án Các huyện, thị xã
đã phê duyệt Đề án của 100% số xã như: Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Hoài Đức
và Sơn Tây Các huyện phê duyệt Đề án nhiều như: huyện Thanh Trì 12/15 xã (80%), huyện Mê Linh 12/16 xã (75%), huyện Thanh Oai 15/20 xã (75%), huyện Thạch Thất 15/22 xã (68,18%), huyện Thường Tín 17/28 xã (60,71%)
Trang 32CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thanh Oai
- Điều kiện tự nhiên
- Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
- Đánh giá chung tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
2.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
- Tình hình quy hoạch nông thôn mới cho các xã trên địa bàn huyện;
- Đánh giá thực trạng xây dựng phát triển nông thôn theo các tiêu chí của Quyết định 491/QĐ-TTg tại các xã trên địa bàn huyện;
+ Đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới tại các xã;
+ Đánh giá chung việc thực hiện các tiêu chí quốc gia về phát triển nông thôn mới trên địa bàn huyện
2.1.3 Đánh giá việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Cao Viên và xã Dân Hòa
- Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất
- Tình hình thực hiện quy hoạch hạ tầng
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Cao Viên và xã Dân Hòa
2.1.4 Đề xuất giải pháp thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
- Tổ chức việc thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới
- Giải pháp về cơ chế chính sách
- Giải pháp về kinh tế
- Đào tạo nâng cao nguồn nhân lực, trình độ dân trí trong xây dựng Nông
Trang 33thôn mới
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền xây dựng Nông thôn mới đến toàn dân
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Qua kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, các xã trên địa bàn toàn huyện được chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1: Các xã đã hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM
Nhóm 2: Các xã chưa hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM
Từ kết quả đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM tại huyện Thanh Oai, tiến hành chọn 2 xã từ 2 nhóm (nhóm đã hoàn thành
và nhóm chưa hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM) là xã Dân Hòa và xã Cao Viên để nghiên cứu điểm và phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng NTM nhằm tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM
Lý do đề tài chọn 2 xã trên vì 2 xã có khá nhiều điểm tương đồng về tình hình phát triển kinh tế, quy mô dân số, lao động, điều kiện tự nhiên Mặt khác, theo Chương trình số 07 ngày 15/11/2011 về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới của huyện, Dân Hoà và Cao Viên được xác định là 2 trong số những xã về đích NTM GĐ1 của huyện (Dân Hòa năm 2015, Cao Viên năm 2016) Tuy nhiên hiện nay 1 xã đã hoàn thành đúng tiến độ, 1 xã đang nằm trong top sau của huyện Đánh giá kết quả 2 xã trên để cho thấy sự khác nhau trong công tác tổ chức thực hiện của từng xã và rút ra bài học kinh nghiệm
Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành phỏng vấn 3 nhóm đối tượng (gọi chung
là người cung cấp thông tin) bao gồm: cán bộ cấp huyện, cán bộ cấp xã và nông dân + Phiếu điều tra nông hộ: nắm được tình hình thu nhập, sự hiểu biết và thái độ của người dân với chương trình xây dựng NTM, qua đó đánh giá được công tác tổ chức thực hiện của từng xã như thế nào
+ Phiếu điều tra Ban chỉ đạo XD NTM của xã: thu thập được các thông tin
về mục tiêu, quan điểm của xã, khó khăn vướng mắc khi triển khai xây dựng NTM của xã đó cũng như những kiến nghị, đề xuất
Trang 342.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Báo cáo tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất hàng năm tại phòng Tài nguyên và Môi trường
* Thu thập số liệu sơ cấp
Việc thu thập thông tin sơ cấp được thực hiện tại 2 xã: Cao Viên và Dân Hòa Thu thập thông tin của nông dân để tìm hiểu đặc điểm của hộ, đánh giá những tác động của xây dựng NTM đến hộ cũng như những ý kiến góp ý của hộ với công tác thực hiện xây dựng NTM trên địa bàn huyện với những câu hỏi như (Biết đến nông thôn mới từ nguồn nào, lý do tham gia xây dựng, hình thức tham gia xây dựng, tác động của xây dựng nông thôn mới, thu nhập, yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới, cần được hỗ trợ về mặt nào, đánh giá thế nào về vấn đề của địa phương trước và sau xây dựng nông thôn mới, tham gia của hộ gia đình, vai trò của đoàn thể )
Thu thập thông tin của cán bộ cấp xã bao gồm chủ tịch UBND xã và phó chủ tịch UBND xã
Thu thập thông tin từ cán bộ cấp huyện gồm: chuyên viên các phòng NN&PTNT, phòng công thương, phòng tài nguyên và môi trường
Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ, ban quản lý xây dựng NTM về tình hình triển khai, những khó khăn cũng như những kết quả thu được với các câu hỏi như (Nội dung và mục tiêu xây dựng NTM trên địa bàn huyện (xã), các tổ chức đoàn thể có vai trò như thế nào trong xây dựng NTM tại huyện (xã), đánh giá về kết quả xây dựng NTM mà huyện (xã) đã đạt được, tình hình xây dựng NTM tại
Trang 35huyện (xã) chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào, khó khăn gặp phải khi xây
dựng chương trình nông thôn mới trên địa bàn huyện (xã), kiến nghị, giải pháp gì
để góp phần thúc đẩy hoàn thiện xây dựng NTM trên địa bàn…)
- Chỉ tiêu so sánh: Chỉ tiêu về diện tích thực hiện; Chỉ tiêu về thời gian thực hiện; Chỉ tiêu về địa điểm thực hiện
- Số lượng phiếu: Ban chỉ đạo huyện 06 phiếu, ban chỉ đạo xã 4 phiếu, hộ dân 40 phiếu
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Đối với số liệu thứ cấp, sau khi thu thập sẽ tiến hành tổng hợp và lựa chọn số liệu có liên quan đến đề tài phục vụ cho công tác nghiên cứu
- Đối với số liệu sơ cấp, sau khi thu thập sẽ tiến hành tổng hợp và xử lý số liệu điều tra theo mục tiêu nghiên cứu Căn cứ kết quả xử lý tiến hành tổng hợp kết quả điều tra theo các chỉ tiêu phân tích, so sánh và rút ra những kết luận từ thực tiễn
2.2.3 Phương pháp so sánh
Căn cứ vào việc phân tích các số liệu thu thập được tại 02 xã, tiến hành đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu so sánh từ đó đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới và tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại vùng nghiên cứu
Trang 36CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Oai là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của thành phố
Hà Nội, có vị trí địa lý liền kề với quận Hà Đông, với trung tâm kinh tế - chính trị là thị trấn Kim Bài cách quận Hà Đông khoảng 14 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20 km về phía Bắc Toàn huyện có 20 xã và 01 thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên là 12.385,56 ha và dân số là 176.336 người Huyện có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp huyện Thường Tín, huyện Thanh Trì;
- Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ;
- Phía Nam giáp huyện Ứng Hoà và huyện Phú Xuyên;
- Phía Bắc giáp quận Hà Đông
Với vị trí nằm liền kề với quận Hà Đông và trung tâm thành phố Hà Nội Thanh Oai có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán đặc biệt thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản và các sản phẩm sản xuất từ các làng nghề truyền thống
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Thanh Oai có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng với hai vùng rõ rệt
là vùng đồng bằng sông Nhuệ và vùng bãi sông Đáy, có độ dốc từ Tây sang Đông
và từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất là xã Thanh Mai với độ cao 7,50 m so với mực nước biển và điểm thấp nhất là xã Liên Châu có độ cao 1,50 m so với mực nước biển
Với đặc điểm địa hình như vậy, huyện có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, có khả năng thâm canh tăng vụ
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 8, 9 và các tháng này thường hay có gió, bão Lượng mưa bình quân năm
Trang 37của huyện khoảng 1.600-1.800 mm, lượng mưa tập trung vào mùa hè với khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
- Độ ẩm không khí từ 84-96%, lượng bốc hơi cả năm 700-900 mm, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng1, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 6
Nhìn chung, thời tiết có những biến động thất thường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sản xuất Tuy nhiên, điều kiện khí hậu như vậy cho phép đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân trong huyện cũng như cung cấp cho các vùng lân cận
3.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài đê trong vùng phân lũ sông Đáy, có độ màu mỡ cao, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, thích hợp cho canh tác các loại rau màu và cây trồng cạn
- Đất phù sa không được bồi (P): Loại đất này chiếm chủ yếu, phân bố rộng khắp khu vực đồng bằng, đã được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao như
mô hình lúa - màu, lúa - cá và trồng các loại cây lâu năm như cam, vải, bưởi ở các xã Hồng Dương, Dân Hòa, Tam Hưng
- Đất phù sa glây (Pg): Phân bố chủ yếu ở các khu vực địa hình trũng và canh tác ruộng nước, mực nước ngầm nông Đây là loại đất chuyên để chuyển đổi sang dạng lúa - cá, lúa - cá - vịt, nuôi trồng thủy sản
Nhìn chung, đất đai của huyện có độ phì cao, có thể phát triển nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây rau màu, cây lâu năm, cây ăn quả và có thể ứng dụng nhiều mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Nước phục vụ cho sản xuất và cho sinh hoạt của nhân dân trong huyện được lấy từ hai nguồn là nước mặt và nước ngầm
Trang 38* Nguồn nước mặt:
Chủ yếu là sông Hồng và sông Nhuệ qua hệ thống thủy nông La Khê và sông Đáy Ngoài ra còn có hệ thống hồ, đầm, ao rất rộng lớn (hơn 300 ha) đặc biệt là đầm Thanh Cao - Cao Viên
Nguồn nước mặt cung cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu tưới cho cây trồng Còn vùng bãi sông Đáy về mùa khô vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tưới nước cho cây trồng vùng bãi
* Nguồn nước ngầm:
Tầng chứa nước nằm ở độ sâu 30 - 60 m, bao gồm 2 lớp cát và sỏi cuộn Như vậy, với hệ thống kênh mương và ao, hồ, đầm của huyện sẽ rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của người dân Tuy nhiên vào mùa mưa hệ thống kênh mương và ao hồ cũng gây ra ngập úng ở một số vùng trũng, vào mùa khô lại thường bị thiếu nước ở các vùng bãi ven sông
3.1.2.3 Tài nguyên du lịch
Thanh Oai là huyện có nhiều di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 88 di tích
đã được xếp hạng với nhiều di tích gắn liền với sự phát triển của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong đó chủ yếu là đình chùa, đền thờ cổ, làng nghề truyền thống; đây là những tiềm năng to lớn có thể quy hoạch thành các trung tâm du lịch như: du lịch văn hoá làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái… Hơn thế nữa, Thanh Oai còn nằm chủ yếu trên tuyến du lịch Chùa Hương nên rất thuận lợi cho việc quảng bá, phát huy tiềm năng du lịch của huyện
3.1.2.4 Tài nguyên nhân văn
Tiềm năng con người là một trong những thế mạnh, với lực lượng lao động lớn có trình độ khoa học, kỹ thuật, có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm là điều kiện tiên quyết cho việc khai thác và sử dụng đất đai hợp lý trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội Thanh Oai còn là cái nôi của nền văn minh lúa nước, nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cổ truyền [đặc sắc nhất là làng làm nón lá ở Làng Chuông (Phương Trung), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hòa), Dư Dụ (Thanh Thùy) Ngoài ra rải rác khắp huyện là nghề mây tre đan Làng Chuông đã được công nhận là làng điển hình của văn hóa đồng bằng
Trang 39Bắc Bộ)], nhân dân toàn vùng đã trải qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm để dựng nước và giữ nước, đã được tích luỹ, đúc kết thành “tấc đất, tấc vàng” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị
3.1.3 Thực trạng môi trường
- Môi trường không khí, tiếng ồn:
Ô nhiễm không khí do giao thông ngày càng tăng
Trên địa bàn huyện có tuyến đường 21B chạy qua, đây là tuyến đường huyết mạch nối giao thông của huyện với các vùng lân cận Hiện tại ô nhiễm về bụi ngày càng lớn do tốc độ phát triển các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và vùng giáp danh, nồng độ bụi đều lớn hơn chỉ số tiêu chuẩn cho phép
- Môi trường nước:
Nước thải sinh hoạt của các khu dân cư nông thôn hiện nay phần lớn chưa qua xử lý mà thải trực tiếp vào các nguồn nước mặt tiếp nhận là sông, hồ, kênh mương; nhiều sông, hồ đã trở thành nơi chứa nước thải do vậy đã gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Nhìn chung ô nhiễm nước sông chủ yếu biểu hiện về ô nhiễm chất hữu cơ
- Môi trường khu vực sản xuất nông nghiệp và làng nghề
Các hoạt động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tuy đã làm tăng năng xuất cây trồng nhưng ở một khía cạnh nào
đó cũng gây hậu quả tiêu cực tới môi trường Điển hình nhất là việc sử dụng các hoá chất từ phân bón hoá học đến thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc tăng trưởng, Nguồn rác thải, nước thải từ các làng nghề cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm tới môi trường nước do hầu hết các làng nghề không được quy hoạch, hoặc có quy hoạch nhưng đến nay đã lạc hậu, vị trí không còn phù hợp, sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu vì vậy các chất thải và nước thải hầu như chưa có biện pháp xử lý trước khi đổ ra ao hồ, sông ngòi
Trong quá trình chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thì việc hình thành các làng nghề tập trung là nhu cầu cần thiết, tuy nhiên để giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì việc bố trí và hình thành các làng nghề phải được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tham mưu cho các cấp chính quyền
Trang 40xem xét bố trí cho phù hợp, gắn kết giữa phát triển với công tác quản lý và bảo
vệ môi trường Trước mắt có thể quy hoạch các làng nghề thành từng cụm
3.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
3.1.4.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Năm 2014, tổng giá trị sản xuất đạt 2.732,8 tỷ đồng, đạt 97,9% so với kế hoạch, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất so với cùng kỳ năm 2013 đạt 8,3% Trong đó: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 557 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 1.387 tỷ đồng, dịch vụ đạt 789 tỷ đồng Cơ cấu 3 nhóm ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ là 20,3% - 50,8% - 28,9%
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm
Đơn vị tính: %
- Dịch vụ - thương mại - du lịch 24,71 27,97 29,51
(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Thanh Oai) 3.1.4.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp
a) Trồng trọt: giá trị sản xuất ước đạt 243,224 tỷ đồng, giá trị thực tế ước đạt 513,499 tỷ đồng
Cây trồng hàng năm chủ yếu của huyện là lúa, rau ngoài ra còn có một số loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu, khoai
Toàn huyện gieo trồng 718 ha đất trồng hoa màu: Ngô 100 ha, khoai lang
160 ha, đậu 70 ha, lạc 90 ha, rau các loại 298 ha Cây rau, màu được đưa vào sản xuất trên diện rộng và cho giá trị cao nhất trong các loại cây hàng năm Diện tích rau màu trên địa bàn huyện khoảng 298 ha
Hiện nay, cây lúa vẫn giữ vai trò chủ đạo với diện tích gieo trồng lớn nhất 6.676 ha, năng suất trung bình 65 tạ/ha Diện tích trồng lúa chủ yếu tập trung ở các xã Tam Hưng, Bình Minh, Mỹ Hưng, Thanh Văn, Đỗ Động