Nghiên cứu về tình hình sử dụng đất lúa ở trong nước và những tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã hội đến đất sản xuất lúa .... Những quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Đảng,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN BÁ LỘC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNGĐẤT LÚA HUYỆN GIAO THỦY,
TỈNH NAM ĐỊNH ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN BÁ LỘC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT LÚA HUYỆN GIAO THỦY,
TỈNH NAM ĐỊNH ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN TOÀN
HÀ NỘI - NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ các đơn vị và cá nhân
cả trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo - TS Nguyễn Văn Toàn là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô trong Khoa Quản lý đất đai, các thầy cô trong Khoa Sau đại học
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Uỷ ban nhân dân huyện Giao Thủy, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, chi cục Thống kê và Uỷ ban nhân dân các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu cho đề tài này
Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, các chị đồng nghiệp, tập thể lớp cao học quản lý đất đai D - K22 và bè bạn trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Lộc
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảmơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Danh mục từ viết tắt x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất lúa 3
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến sử dụng đất lúa 3
1.1.2 Sử dụng đất lúa hiệu quả 3
1.1.3 Những quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Đảng, chính phủ và pháp luật của nhà nước liên quan đến quản lý sử dụng đất lúa 5
1.2 Những nghiên cứu về tình hình sử dụng đất lúa ở trong, ngoài nước và những tác động của quá trình phát triển kinh tế-xã hội đến đất lúa 8
1.2.1 Nghiên cứu về sử dụng đất lúa ở nước ngoài 8
1.2.2 Nghiên cứu về tình hình sử dụng đất lúa ở trong nước và những tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã hội đến đất sản xuất lúa 12
1.3 Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sản xuất lúa 16
1.3.1 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa của thế giới và Việt Nam 16
1.3.2 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa của huyện Giao Thủy 19
1.4 Nghiên cứu về định hướng sử dụng đất lúa ở trong và ngoài nước 23
1.4.1 Nghiên cứu về định hướng sử dụng đất lúa ở nước ngoài 23
1.4.2 Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam đến năm 2020 và 2030 27
Trang 61.5 Những nghiên cứu về các giải pháp, chính sách sử dụng hiệu quả đất lúa 29
1.5.1 Chính sách khuyến khích các địa phương giữ đất lúa 29
1.5.2 Chính sách đầu tư 29
1.5.3 Chính sách hỗ trợ chi từ nguồn ngân sách Nhà nước 29
1.5.4 Chính sách phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ: 29
1.5.5 Chính sách hỗ trợ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa 30
1.5.6 Chính sách tiêu thụ thóc, gạo: 31
1.6 Những nghiên cứu có liên quan đến sử dụng đất lúa trên địa bàn tỉnh Nam Định 31
1.7 Một số nhận xét về nghiên cứu tổng quan 32
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu 33
2 1.2.Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội liên quan đến sử dụng đất lúa ở huyện Giao Thủy 33
2.2.2 Thực trạng sử dụng đất trồng lúa tại huyện Giao Thủy 34
2.2.3 Đề xuất định hướng sử dụng đất lúa đến năm 2020 34
2.2.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 35
2.3.2 Phương pháp chọn điểm để điều tra 35
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 36
2.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ 38
2.3.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất lúa huyện Giao Thủy 39
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên: 39
Trang 73.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội: 43
3.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội về những thuận lợi 49
3.2 Thực trạng sử dụng đất trồng lúa tại huyện Giao Thủy 50
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất trồng lúa năm 2014 50
3.2.2 Tình hình sản xuất lúa giai đoạn 2000-2014 52
3.2.3 Biến động diện tích đất lúa giai đoạn 2000-2014 và nguyên nhân biến động 55
3.2.4 Các loại hình sử dụng đất lúa và hiệu quả sản xuất lúa 56
3.3 Đánh giá tổng hợp về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT và kiểu sử dụng đất để lựa chọn đề xuất phát triển 70
3.4 Đề xuất định hướng sử dụng đất lúa đến năm 2020 huyện Giao Thủy 73
3.4.1 Quan điểm bố trí sử dụng đất lúa 73
3.4.2 Căn cứ để bố trí sử dụng đất lúa gắn với loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất lúa 74
3.4.3 Định hướng đề xuất sử dụng đất theo loại sử dụng đất lúa đến năm 2020 75
3.5 Đề xuất các giải pháp thực hiện 79
3.5.1 Nhóm giải pháp chính sác quản lý và sử dụng đất lúa 79
3.5.2 Nhóm giải pháp kỹ thuật, khoa học 84
3.5.3 Giải pháp đầu tư, tài chính 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
Kết luận 87
Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
1.1 Diện tích gieo trồng lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 – 2014 13
1.2 Năng suất lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014 14
1.3 Hiện trạng sản lượng lúa toàn quốc giai đoạn 2000 - 2014 15
1.4 DT, NS, SL lúa cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 28
2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất trên địa bàn huyện Giao Thuỷ 36
2.2 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Giao Thuỷ 37
2.3 phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Giao Thuỷ 38
3.1 Hiện trạng diện tích đất trồng lúa năm 2014 huyện Giao Thủy 51
3.2 Thống kê về diện tích đất lúa theo các tiểu vùng giai đoạn 2000-2014 51
3.3 Thống kê diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Giao Thủy giai đoạn 2000-2014 52
3.4 Biến động sử dụng đất lúa toàn huyện giai đoạn 2000-2014 56
3.5 Hiện trạng sử dụng đất lúa huyện Giao Thủy gắn với kiểu sử dụng đất lúa tại 2 tiểu vùng 58
3.6 Hiệu quả kinh tế của các LUT và kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 1 huyện Giao Thuỷ 60
3.7 Phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp của các LUT và kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 1 huyện Giao Thuỷ 61
3.8 Hiệu quả kinh tế của các LUT và kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 2 huyện Giao Thuỷ 62
3.9 Phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp của các LUT và kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 2 huyện Giao Thuỷ 63
3.10 Tổng hợp chỉ tiêu hiệu quả xã hội các LUT và kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 1 64
Trang 93.11 Phân cấp đánh giá hiệu xã hội tổng hợp của các LUT và kiểu sử
dụng đất tại tiểu vùng 1 65
3.12 Tổng hợp chỉ tiêu hiệu quả xã hội các LUT tại tiểu vùng 2 66
3.13 Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội tổng hợp của các LUT và kiểu sử
dụng đất lúa tại tiểu vùng 2 67
3.14 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và
hợp lý 68
3.15 Đánh giá tổng hợp hiệu môi trường của các LUT và kiểu sử dụng đất
tại tiểu vùng 1 69
3.16 Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường tổng hợp của các LUT và
kiểu sử dụng đất lúa tại tiểu vùng 2 huyện Giao Thuỷ 70
3.17 Hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT và
kiểu sử dụng đất trên địa bàn tiểu vùng 1 huyện Giao Thuỷ 71
3.18 Hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT và
kiểu sử dụng đất trên địa bàn tiểu vùng 2 huyện Giao Thuỷ 72
3.19 Các LUT và kiểu sử dụng đất được lựa chọn để đề xuất phát triển 72
3.20 Quy hoạch đất lúa huyện Giao Thủy đến năm 2020 74
3.21 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất lúa huyện Giao Thủy đến
năm 2020 gắn với 2 tiểu vùng 75
3.22 Đề xuất kiểu sửng dụng đất lúa huyện Giao Thủy đến năm 2020 gắn
với 2 tiểu vùng 77
Trang 10DANH MỤCHÌNH
Số hình Tên hình Trang
1.1 Diện tích gieo trồng lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000-2014 13
1.2 Năng suất lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014 14
1.3 Sản lượng lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014 16
1.4 Diện tích, năng suất lúa các nước Thái Lan, Ấn Độ đến năm 2017 24
1.5 Dự báo tiêu dùng gạo Ấn Độ, Trung Quốc đến năm 2017 26
1.6 Dự báo tiêu dùng gạo toàn thế giới đến năm 2017 27
3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Giao Thủy giai đoạn 2000 – 2014 43
3.2 Biến động DTGT lúa huyện Giao Thủy giai đoạn 2000 - 2014 53
3.3 Biến động năng suất lúa huyện Giao Thủy giai đoạn 2000 - 2014 53
3.4 Biến động sản lượng lúa huyện Giao Thủy giai đoạn 2000 – 2014 54
3.5 Biến động sử dụng đất lúa huyện Giao Thủy giai đoạn 2000 - 2014 56
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BTNMT Bộ tài nguyên và Môi trường
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CN – TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
HCBVTV Hợp chất bảo vệ thực vật
Trang 12MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực chính của nước ta nên từ bao đời nay, các thế hệ người dân Việt Nam đã đầu tư nhiều công sức, trí tuệ để mở mang đất trồng lúa với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên từ những năm 2000 trở lại đây, để phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hàng năm đã có nhiều nghìn ha đất lúa sang các mục đích khác như phát triển đô thị, giao thông; khu công nghiệp Trong khi đó nhu cầu lấy đất lúa chuyển sang mục đích khác vẫn còn rất lớn, gây áp lực cho việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Thực hiện kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị về đề án: “ANLT quốc gia đến năm 2020” và Nghị quyết số 63/NQ-CP của Chính Phủ về đảm bảo ANLT quốc gia, BNN & PTNT đã xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng đất lúa toàn quốc đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (là một hợp phần của dự án “quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia”được phê duyệt tại Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 tại
Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII về Về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia Và để quản lý được đất trồng lúa Thủ tướng đã ban hành Nghị định 35…Trong lúc đã và đang triển khai thực hiện phân khai đất lúa đến từng địa phương trong cả nước thì tình trạng giá lúa không ổn định và có xu hướng giảm mạnh, khiến cho nhiều địa phương, nhiều hộ nông dân không còn tha thiết với nghề trồng lúa, tự ý chuyển dịch sang gieo trồng các loại cây trồng khác Theo đó diện tích đất lúa tiếp tục giảm
Giao Thủy là huyệnnằm ở cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thành phố Nam Định 45km, Giao Thủy làhuyện trọng điểm trồng lúa của tỉnh Tuy nhiên cũng như nhiều địa phương khác của cả nước, tình trạng lấy đất canh tác lúa chuyển sang làm mục đích khác vẫn đang diễn ra mạnh Do vậy, việc giữ đất trồng lúa theo phân khai của nhà nước nhằm đảm bảo an ninh lương thực đang trở thành vấn đề cấp thiết của huyện cần được nghiên cứu
Trang 13Do vậy đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng sử dụng đất lúa đến năm 2020 của huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”được lựa chọn để
nghiên cứu phục vụ xây dựng luận văn
- Thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về đất đai
- Đảm bảo cơ cấu đất lúa được sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững
- Tận dụng và phát huy được thế mạnh về đất đai, khoa học kỹ thuật, lao động
Trang 14Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất lúa
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến sử dụng đất lúa
1.1.1.1 Phân loại đất lúa:
Theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP thì đất lúa bao gồm những đất có điều kiện phù hợp để có thể gieo trồngtừ 1 vụ lúa nước trở lên trong một năm, ngoại trừ đất trồng lúa nương Các loại hình sử dụng đất lúa được phân chia chi tiết gồm: (i) Đất chuyên lúa 2 vụ: là đất hiện đang được trồng hoặc có đủ điều kiện trồng từ 2 vụ lúa trở lên trong năm; (ii) Đất chuyên lúa 1 vụ: là đất chỉ trồng được 1 vụ lúa trong năm; (iii) Đất lúa – màu: là đất đang được trồng 1 vụ lúa và luân canh với 1 vụ rau màu trở lên trong năm và (iv)Đất lúa - thuỷ sản: là đất đang được trồng một vụ lúa trong một năm và luân canh nuôi trồng thủy sản Theo Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014: Đất lúa là đất ruộng và nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính Đất trồng lúa bao gồm: Đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại và đất lúa nương
1.1.2 Sử dụng đất lúa hiệu quả
1.1.2.1 Sử dụng đất lúa hiệu quả
Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng đất lúa hiệu quả có thể coi là sử dụng đất lúa bền vững do sử dụng cùng 3 tiêu chí là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường Các tiêu chí này được sử dụng ngay sau khi có khái niệm về phát triển bền vững do Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển (WCED) vào năm 1987
“Phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng những nhu cầu của thế hệ này mà không làm tổn hại dến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau Tiếp đó vào năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) cũng đã đưa ra khái niệm về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo
vệ môi trường” Cục Bảo vệ môi trường coi đó là 3 trụ cột của sự phát triển bền
Trang 15vững Theo đó Nguyễn Văn Toàn (2003) đã đưa ra định nghĩa cho lĩnh vực sử dụng đất bền vững "Quản lý sử dụng đất bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm khái quát hoá những nguyên lý cơ bản
về kinh tế - xã hội và môi trường với mục tiêu đồng thời:
- Duy trì và nâng cao sản xuất và các dịch vụ (sản xuất)
- Giảm thiểu rủi ro cho sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa chất lượng đất/nước (bảo vệ)
- Có khả năng thực thi được về mặt kinh tế (thực thi)
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (chấp nhận)
Theo Nguyễn Văn Toàn (2003) đã phát triển những nguyên tắc có tính chất định hướng nói trên giúp các nhà kế hoạch cũng như quy hoạch sử dụng đất thay đổi tư duy trong sử dụng đất, không những vì mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn phải quan tâm đến vấn đề xã hội và bảo vệ được tài nguyên, môi trường để khai tác lâu dài
1.1.2.2 Tiêu chí đánh giá sử dụng đất lúa hiệu quả
Do tầm quan trọng đặc biệt của sử dụng đất bền vững mà đã được nhiều tổ chức quốc tế, nhà khoa học nghiên cứu và đề xuất các tiêu chí về sử dụng đất bền vững(Nguyễn Văn Toàn, 2005)nêu ra, chủ yếu hướng vào 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: Loại sử dụng đất phải bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa, bảo vệ được môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa tại Việt Nam cũng dựa vào những nguyên tắc nói trên nghĩa là một loại sử dụng đất được xác định là có hiệu quả hay bền vững phải thỏa mãn 3 tiêu chí gồm: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Nguyễn Văn Toàn (2003) khi thực hiện chương trình “Điều tra đánh giá thích nghi đất lúa phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng duyên hải Bắc Trung Bộ” đã đề xuất khải niệm đất lúa hiệu
Trang 16quả là những đất có khả năng tưới và tiêu chủ động, có thể sản xuất 2 vụ lúa chắc ăn, đất không có hoặc có các yếu tố hạn chế nhưng ở mức độ nhẹ và là hạn chế chung của vùng, năng suất lúa cao và ổn định
1.1.3 Những quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Đảng, chính phủ và pháp luật của nhà nước liên quan đến quản lý sử dụng đất lúa
1.1.3.1.Quan điểm trong quản lý sử dụng đất lúa
Do tầm quan trọng đặc biệt của sản xuất lúa gạo đối với vấn đề an ninh lương thực nên Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách về quản
lý sử dụng đất lúa Điều này được thể hiện trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có nêu mục tiêu tổng quát liên quan đến phát triển nông nghiệp, xác định nhiệm vụ trọng tâm là : “ưu tiên hàng đầu trong phát triển nông nghiệp, có chính sách bảo đảm lợi ích cho người trồng lúa, địa phương và vùng trồng lúa” Tiếp theo Nghị quyết 26-NQ/TW, NQ 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là: “Phát huy lợi thế về cây lúa là chính và phát triển lương thực, thực phẩm thành các vùng sản xuất hang hóa có hiệu quả và sức cạnh tranh cao…” Từ đó, mục tiêu chung được xác định là: “Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 phải đảm bảo đủ nguồn cung cấp lương thực với sản lượng cao hơn tốc độ tăng dân số; chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực, nâng cao chất lượng bữa ăn; bảo đảm cho nông dân sản xuất lúa có lãi bình quân quân trên 30% so với giá thành sản xuất”
Mục tiêu cụ thể để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là:
- Đảm bảo nguồn cung cấp lương thực: “Tiếp tục đẩy mạnh thâm canh sản xuất lúa, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ, tạo nguồn cung vững chắc đảm bảo ANLT quốc gia trước mắt và lâu dài Đến năm 2020, bảo vệ quỹ đất lúa 3,8 triệu ha để có sản lượng 41-43 triệu tấn lúa đáp ứng tổng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn gạo/năm…”
- Đảm bảo khả năng tiếp cận lương thực của người dân: Chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực vào năm 2015 Sau năm 2015 đảm bảo 100% người
Trang 17dân ở mọi nơi, mọi lúc có đủ lương thực Đảm bảo thu nhập cho người sản xuất lương thực đến năm 2020 cao hơn 2,5 lần so với hiện nay
1.1.3.2 Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đất trồng lúa
Bảo vệ đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa là chủ trương lớn của Nhà nước nhằm đảm bảo ANLTQG Trong tương lai với áp lực của tăng dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa, biến đổi khí hậu toàn cầu thì việc giữ gìn đất lúa ngày cảng trở nên cấp bách Chính sách về đất trồng lúa đã được quy định rõ trong Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngoài ra quy định về bảo
vệ đất lúa được nhấn mạnh trong các văn bản sau:
-Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về việc quản lý, sử dụng đất trồng lúa Nghị định này nêu rõ về việc chuyển đổi đất chuyên trồng lúa nước sang
sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp: (1) Người được nhà nước giao đất, cho thuê
đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải thực hiện các quy định của pháp luật về đất đai và phải nộp một khoản tiền để bảo
vệ, phát triển đất trồng lúa”; (2) Tùy theo điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức nộp cụ thể nhưng không thấp hơn 50% số tiền được xác định theo diện tích đất chuyên trồng lúa nước phải chuyển sang đất phi nông nghiệp nhân với giá của loại đất trồng lúa tính theo Bảng giá đất tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất; (3) Người được nhà nước giao đất, cho thuê đất lập bản kê khai số tiền phải nộp, tương ứng với diện tích đất chuyên trồng lúa nước được nhà nước giao, cho thuê và nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
nhấn mạnh yêu cầu đối với đất sản xuất nông nghiệp: ”Quản lý chặt chẽ, bảo vệ đất
canh tác nông nghiệp, đặc biệt là đất tốt trồng lúa theo quy hoạch để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia” Như vậy, nội dung quy hoạch sử dụng đất trồng lúa
trong quy hoạch sử dụng đất là rất quan trọng
- Chỉ thị số 247/TTg ngày 28/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ về khả năng khắc phục tình trạng giảm sút diện tích trồng lúa nước và đất trồng cây nông nghiệp
Trang 18có giá trị cao do việc chuyển quỹ đất này sang sử dụng vào mục đích khác đã nêu:
“Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là quá trình công nghiệp hóa, phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm diện tích nhà ở cho dân, xây dựng các cơ sở liên doanh, hợp tác đầu tư với ngước ngoài v.v…khi xây dựng quy hoạch, xem xét, thẩm định các dự án đầu tư xây dựng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, ngành liên quan cần cân nhắc kỹ việc sử dụng đất , nên hướng vào các vùng gò, đồi, vùng đất quá xấu mà việc trồng lúa không có hiệu quả Việc kiến trúc công trình và xây dựng công trình và nhà ở cũng cần được tận dụng tối đa về chiều cao, không gian để hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng đất trồng lúa nước mà vẫn đảm bảo được yêu cầu phát triển công nghiệp, phát triển ngành nghề, tăng cường phúc lợi xã hội cũng như đáp ứng các yêu cầu đô thị hóa của địa phương Trường hợp đặc biệt, buộc phải dùng đến đất trồng lúa nước đã có hệ thống thủy nông bảo đảm tưới, tiêu chủ động có năng suất cao và ổn định thì phải thuyết minh thật cụ thể, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định từng dự án mới được thực hiện”
- Quyết định 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5
năm 2006-2010 nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng đã khẳng định: “Hạn
chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Không xét duyệt quy hoạch chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp ở những địa phương có điều kiện sử dụng các loại đất khác Trường hợp cần thiết phải chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp hoặc đối với các dự án có ảnh hưởng đến khu vực sản xuất nông nghiệp liền kề thì phải có các giải pháp sử dụng đất tiết kiệm và bảo đảm tính khả thi, an toàn cho sản xuất nông nghiệp trong khi thực hiện dự án Đồng thời, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi phê duyệt dự án”
- Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23/12/2010 của Chính phủ về đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia có nêu nhiệm vụ về quy hoạch đất lúa: “Để đảm bảo an
Trang 19ninh lương thực quốc gia, đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 diện tích đất lúa cần phải giữ là: 3,8 triệu ha, trong đó: 3,2 triệu ha đất lúa sản xuất hai vụ trở lên, có thủy lợi hoàn chỉnh”
- Quyết định 1946/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ Về
việc việc phê duyệt Quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020 có quy định: “Tiêu
chí tổng hợp quan trọng nhất của một sân golf tuyệt đối không được sử dụng đất lúa
2 vụ Trường hợp phải sử dụng đất lúa để xây dựng sân golf thì chỉ được sử dụng đất lúa một vụ năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao với diện tích không quá 5% tổng diện tích một sân golf đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không được
sử dụng đất thuộc quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, đất rừng (đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng) để xây dựng sân golf”
Như vậy có thể thấy rằng, yêu cầu về đảm bảo ANLT và bảo vệ đất trồng lúa, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa nước đã được thể hiện rất rõ trong chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước Bảo vệ đất trồng lúa nước nhằm đảm bảo nguồn cung lúa gạo cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu trong tương lai
1.2 Những nghiên cứu về tình hình sử dụng đất lúa ở trong, ngoài nước và những tác động của quá trình phát triển kinh tế-xã hội đến đất lúa
1.2.1 Nghiên cứu về sử dụng đất lúa ở nước ngoài
Trên thế giới, lúa là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa mỳ Diện tích trồng lúa trên thế giới dao động khoảng 150 triệu ha, chủ yếu được trồng ở châu Á khoảng 133 triệu ha (chiếm 88%) Sản lượng thóc toàn cầu năm 2007 ước đạt 633 triệu tấn, năm 2008 sản lượng thóc thế giới có thể đạt 650 triệu tấn (Hoàng Xuân Phương, 2010)
Những năm gần đây thế giới đang đứng trước nguy cơ thiếu lương thực
do nguồn cung không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt từ cuối năm 2007 giá gạo tăng cao (khoảng 800-1.000 USD/tấn) làm cho hàng trăm triệu người nghèo bị đói, nhiều quốc gia ở châu Phi và châu Á phải đối mặt với nguy cơ bất ổn xã hội
Chính sách của các nước về vấn đề an ninh lương thực thế nào, và rút ra được bài học gì cho Việt Nam? Để có cái nhìn toàn diện hơn, ba nhóm quốc gia đại diện
Trang 20cho (i) các nước xuất khẩu gạo chính như Thái Lan, Mỹ, (ii) các nước nhập khẩu chính như Philippines, Inđônêxia và các nước tiêu thụ gạo lớn nhưng sản xuất đủ cho tiêu dùng trong nước như Trung Quốc sẽ được xem xét:
1.2.1.1 Sản xuất lúa gạo của Thái Lan
Thái Lan từ giữa thế kỷ 19, với khí hậu phù hợp, nguồn tài nguyên đất phong phú, truyền thống canh tác lúa lâu đời và chính sách lúa gạo hợp lý, Thái Lan đã duy trì được vị trí nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới cho tới ngày nay Mặc dù Thái Lan chỉ sản xuất khoảng 4,4% trong tổng sản lượng 627 triệu tấn lúa, tương đương 421 triệu tấn gạo được sản xuất ra trên thế giới (số liệu 2007), lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan chiếm tới gần 30% tổng lượng gạo xuất khẩu thế giới Sản xuất lúa gạo đóng góp không nhỏ cho nguồn thu của chính phủ và góp phần tạo nguồn thu ngoại hối lớn từ xuất khẩu Năm 2004, tổng giá trị xuất khẩu gạo của Thái Lan vào khoảng 1900 triệu đô la Mỹ (Hoàng Xuân Phương, 2010)
Năm 2006, dân số Thái Lan là 65,1 triệu người, trong đó khoảng 16,2 triệu người hay 26,5% tổng dân số tham gia vào việc canh tác lúa (IRRI, 2006) Tổng diện tích đất trồng trọt là 20,9 triệu ha, trong đó khoảng một nửa được dành cho sản xuất lúa Từ cuối những năm 1960 cho đến đầu những năm 1980, đất dành để canh tác lúa được mở rộng nhanh chóng nhờ các thành tựu của cuộc cách mạng xanh và những nỗ lực nhằm tăng năng suất lúa Sản lượng lúa đã tăng từ 12,4 triệu tấn lên đến 21,2 triệu tấn trong hai thập niên đầu tiên của cuộc cách mạng (IRRI, 2000) Thời gian qua, lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan tăng lên hàng năm nhờ tăng sản xuất và giảm tiêu thụ bình quân đầu người trong nước
Năng suất lúa trung bình của Thái Lan trong năm 2006 đạt khoảng 2,9 tấn/ha, thấp hơn so với mức trung bình của thế giới là 4,1 tấn/ha và của các nước Châu Á là 4,2 tấn/ha Một trong những lý do năng suất thấp là do Thái Lan chủ yếu tập trung sản xuất những giống lúa truyền thống cho năng suất thấp nhưng có chất lượng cao, được ưa chuộng và có giá cao hơn trên thị trường thế giới
1.2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Mỹ
Tại Mỹ trong giai đoạn 2002-2004, giá trị trồng trọt trung bình của Mỹ đạt khoảng 1,44 tỷ USD/năm, trong đó gạo chỉ chiếm 2% tổng giá trị trồng trọt Gạo
Trang 21là cây trồng đứng thứ 8 cả về giá trị và diện tích canh tác trong tổng số các cây trồng ở Mỹ Thống kê nông nghiệp năm 2002 cho thấy có 8046 trang trại trồng lúa trong tổng số hơn 2,1 triệu trang trại Quy mô trung bình của các trang trại trồng lúa khoảng 397 mẫu (1 mẫu = 0,4ha), rộng hơn rất nhiều so với quy mô trồng ngô, đậu tương và lúa mỳ với mức trung bình lần lượt là 196 mẫu, 228 mẫu
và 269 mẫu Ở Mỹ, toàn bộ diện tích trồng lúa đều được trạng bị hệ thống thủy lợi, đây cũng là một yếu tố giúp cho cây lúa có năng suất cao tại quốc gia này(Hoàng Xuân Phương, 2010)
Diện tích trồng lúa tập trung phần lớn ở 4 vùng chính: Thảo nguyên Arkansas, Đồng bằng châu thổ sông Misissipi (một phần Arkansas, Mississippi, Missouri, and Louisiana), vùng duyên hải Gulf và Thung lũng Sarcamento (California) Trong đó vùng đồng bằng châu thổ là nơi có diện tích trồng lúa lớn nhất Arkansas chiếm 45% tổng diện tích trồng lúa của cả nước và là bang có diện tích trồng lúa lớn nhất
Lúa gạo là cây trồng chiếm vị trí nhỏ trong nền kinh tế Mỹ nhưng lại giữ vai trò quan trọng tại một số vùng, địa phương như Arkansas, lúa chiếm tới 28% tổng giá trị trồng trọt (giai đoạn 2002-2004), hay các vùng Louisiana, thung lũng
ở California, lúa chiếm lần lượt 15% và 11% tổng giá trị trồng trọt
1.2.1.3 Sản xuất lúa gạo và an ninh lương thực ở Phillipines
Philippine là một quốc đảo với tổng diện tích đất nông nghiệp khoảng trên 4 triệu ha và bị chia cắt nhỏ, manh mún So với các nước trong khu vực, Philippine không có những vùng châu thổ ven sông giúp cung cấp lượng nước dồi dào và dễ dàng, thêm vào đó, điều kiện tự nhiên và khí hậu cũng làm cho năng suất lúa ở nước này rất thấp, chỉ khoảng 20 – 30 tạ/ha/vụ Phần lớn diện tích trồng lúa ở Philippine mỗi năm chỉ canh tác được 1 vụ, năng suất thấp do thời tiết mưa nhiều, sâu bệnh phát triển mạnh Thời gian còn lại trong năm, ruộng đất bỏ hoang và người nông dân phải đi kiếm việc để tạo thêm thu nhập (Hoàng Xuân Phương, 2010)
Tốc độ tăng trưởng sản xuất lúa gạo của Philippine trung bình đạt 2,44%/năm trong giai đoạn 1980-2000 Tốc độ này chậm hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và so với tốc độ phát triển dân số tại nước này (trung
Trang 22bình tăng 2.3%/năm trong cùng giai đoạn).So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lúa Philippine thấp hơn rất nhiều Những năm 90, khi năng suất sản xuất lúa gạo ở Việt Nam tăng vọt, Thái Lan duy trì mức tăng ổn định thì năng suất lúa gạo ở Philippine vẫn trì trệ ở mức thấp
1.2.1.4 Tình hình sản xuất lúa gạo Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng lúa gạo sản xuất hàng năm (khoảng 185 triệu tấn) và đứng thứ hai thế giới, sau Ấn Độ về diện tích canh tác lúa (khoảng 29 triệu ha) Điều đó có nghĩa đất nước nay có diện tích canh tác chiếm khoảng 20% tổng diện tích canh tác lúa, khoảng 35% tổng sản lượng lúa gạo thế giới Tuy nhiên, tỷ lệ này đang có xu hướng giảm do Chính phủ Trung Quốc có chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ lúa năng suất cao-chất lượng thấp sang giống lúa năng suất thấp-chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của thị trường (Hoàng Xuân Phương, 2010)
Gạo là mặt hàng lương thực chính của hai phần ba dân số Trung Quốc Nhờ có những tiến bộ khoa học công nghệ, từ cuối những năm 90s, cung cầu gạo trong nước của Trung Quốc đã có những thay đổi từ nước thiếu hụt sang dư thừa gạo nếu như được mùa, tạm đủ trong những mùa vụ bình thường và chỉ thiếu hụt tạm thời nếu như bị mất mùa Trong năm thập kỷ trở lại đây, sản lượng gạo ở Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần, chủ yếu là do năng suất ngày càng cao hơn và do
sự mở rộng diện tích canh tác
Nguyên nhân chính của sự tăng sản lượng là do sự phát triển của các giống lúa cao sản (bao gồm cả các giống lúa lai) và hoạt động quản lý mùa màng như bón phân, tưới tiêu… ngày càng tốt hơn Trong năm 2006, năng suất lúa trung bình của Trung Quốc là 6.25 tấn/ha, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình 3,75 tấn/ha trên thế giới
Tốc độ tăng sản lượng lúa gạo ở Trung Quốc đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người dân trong nước Do dân số tăng, với mức tiêu thụ lương thực như hiện nay, Trung Quốc cần sản xuất tăng thêm 20% tổng sản lượng lương thực vào năm 2030 để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước” Đây
Trang 23không phải là mục tiêu dễ thực hiện do phải đối diện với rất nhiều khó khăn trong thời gian tới như sự thu hẹp diện tích canh tác, nguồn nước ngày càng khan hiếm,
sự biến đổi khí hậu, thiếu lao động nông thôn khi vào mùa vụ và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các loại gạo có chất lượng cao (thường là đi kèm với năng suất thấp)
1.2.2 Nghiên cứu về tình hình sử dụng đất lúa ở trong nước và những tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã hội đến đất sản xuất lúa
1.2.2.1 Diện tích gieo trồng lúa
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê(2014) diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả nước cụ thể như sau:
Năm 2000 diện tích gieo trồng lúa là 7.666,3 nghìn hatăng lên 7.813,7 nghìn ha năm 2014, tăng 147,4 nghìn ha (tăng 0,1%/năm).Hiện nay hai vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, chiếm đến 68,7% diện tích gieo trồng, trong đó: vùng Đồng bằng sông cửu Long chiếm 54,3% diện tích gieo trồng và vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 14,4% diện tích gieo trồng
Vùng có diện tích trồng lúa giảm nhiều nhất là vùng Đông Nam Bộ, giảm 126,2 nghìn ha (giảm 2,7%/năm), vùng Đồng bằng sông Hồng, từ năm 2000 đến năm 2014 diện tích trồng lúa giảm 138,2 nghìn ha (giảm 0,8%/năm) và vùng có diện tích ổn định là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Các vùng còn lại diện tích trồng lúa tăng như vùng Trung du và miền núi phía Bắc; Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó: Vùng Đồng bằng sông cửu Long có diện tích tăng 300,7nghìn ha (tăng 0,5%/năm); vùng Tây nguyên tăng 61,6 nghìn ha (tăng 2,2%/năm); vùng Trung du và miền núi phía Bắc tăng 50,5 nghìn ha (tăng 0,5%/năm)
Trang 24Bảng 1.1.Diện tích gieo trồng lúa cả nước và các vùnggiai đoạn 2000 – 2014
ĐVT: 1000 ha; TDDTT: %/năm
TT Cả nước - vùng 2000 2005 2010 2014 So sánh
2000-2014
TĐTT 2000-2014
6 ĐB sông Cửu Long 3.945,8 3.826,3 3.945,9 4.246,5 300,7 0,5
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014)
Hình 1.1 Diện tích gieo trồng lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000-2014
Nhìn chung từ năm 2000 đến năm 2010diện tích gieo trồng lúa của cả nước
đã giảm đáng kể, đã có thể làm giảm sản lượng lúa Diện tích giảm nhiều nhất là đồng bằng sông Hồng 138,2 nghìn ha, Đông Nam Bộ 126,2 nghìn ha Đồng thời trong giai đoạn 200-2014 diện tích gieo trồng lúa có xu hướng tăng, tăng chủ yếu là
ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng 300,7 nghìn ha; Trung du miền núi phía Bắc tăng 50,5 nghìn ha; Tây Nguyên tăng 61,6 nghìn ha
Trang 251.2.2.2 Năng suất lúa
Năng suất lúa trung bình cả nước tính đến năm 2014đạt 57,6 tạ/ha, tăng 15,2 tạ/ha so với năm 2000, đạt tốc độ tăng bình quân đạt 2,4%/năm Năng suất lúa có sự khác biệt giữa các vùng (Đồng bằng sông Hồng 59,5 tạ/ha, Trung du miền núi phía Bắc 48,4 tạ/ha, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ 56,7 tạ/ha, Tây Nguyên 52,1 tạ/ha, Đông Nam Bộ 49,1 tạ/ha, Đồng bằng sông cửu Long 57,6 tạ/ha) Một số tỉnh có năng suất lúa đạt ngưỡng 65 tạ/ha gồm Hưng Yên; Thái Bình, Nam Định,
An Giang Tuy vậy, một số vùng năng suất lúa vẫn còn thấp như các tỉnh miền Trung đạt 50 tạ/ha, đồng bằng sông Cửu Long 50,7 tạ/ha
Bảng 1.2 Năng suất lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014
6 ĐB sông Cửu Long 42,3 50,4 54,7 59,5 17,2 2,7
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014)
Hình 1.2 Năng suất lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014
Trang 26Từ phân tích trên cho thấy năng suất lúa nước ta trong những năm qua vẫn tiếp tục tăng với tốc độ khá Năng suất lúa tăng là do trình độ canh tác của nông dân không ngừng được tăng lên, mức độ đầu tư thâm canh ngày càng hợp lý và hiệu quả, KHKT ngày càng phát triển đã tác động tích cực đến sản xuất lúa, giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được sử dụng ngày càng nhiều nên năng suất lúa trung bình cả nước liên tục tăng
1.2.2.3 Sản lượng lúa
Sản lượng lúa cả năm năm 2000 đạt 32.530 nghìn tấn, năm 2014 đạt 42.325 nghìn tấn, tăng 9,8 triện tấn so với năm 2000, đạt tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000-2014 là 2,3%/năm Trong đó, hai vùng lúa lớn nhất cả nước là ĐBSCL và ĐBSH, chiếm đến 71,3% sản lượng lúa cả nước, trong đó: vùng ĐBSCL chiếm 54,8% sản lượng; ĐBSH chiếm 16,5% sản lượng lúa cả nước ĐBSCL là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước, thời kỳ 2000-2014 sản lượng lúa tăng từ 16.703 nghìn tấn năm 2000 lên 25.264 nghìn tấn năm 2014 (tăng 8.561nghìn tấn), đạt tốc độ tăng 3,0%/năm Sản lượng lúa toàn vùng chiếm 56,1% sản lượng lúa của cả nước Các tỉnh có mức sản lượng lúa bình quân đầu người trên 1 tấn/năm là Kiên Giang (1,63 tấn), Đồng Tháp (1,44 tấn), Hậu Giang (1,33 tấn), An Giang (1,31 tấn) Thấp nhất là Cà Mau đạt 325,2 kg/năm
Bảng 1.3 Hiện trạng sản lượng lúa toàn quốc giai đoạn 2000 - 2014
6 ĐB sông Cửu Long 16.703 19.299 21.596 25.264 8.561 3,0
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014)
Trang 27Hình 1.3 Sản lượng lúa cả nước và các vùng giai đoạn 2000 - 2014 1.3 Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sản xuất lúa
1.3.1 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa của thế giới và Việt Nam
1.3.1.1 Tác động của nước biển dâng
Ở hầu hết các nước vùng nhiệt đới châu Á, nông nghiệp sử dụng nhiều đất đai và có vai trò kinh tế lớn Những vùng đất canh tác và chăn nuôi chiếm từ 15 - 35% diện tích đất của hầu hết các nước Châu Á vùng nhiệt đới, trừ Băngladesh và
Ấn Độ diện tích đất canh tác chiếm 80% và 60% Nhưng hiện nay nền nông nghiệp toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có tác động của BĐKH,
mà rõ nét nhất là các quốc gia ven biển phụ thuộc vào nông nghiệp (IRRI, 2010) Tác động của BĐKH ở các quốc gia châu Á vùng nhiệt đới có thể xảy ra ở một vài nơi hoặc toàn khu vực Nicholls ước tính rằng cứ 1m nước biển tăng lên
có thể làm Băngladesh, Ấn Độ, Indonesia và Maylaysia có thể mất lần lượt là 30.000, 6.000, 34.000 và 7.000 km2 diện tích đất Còn ở Việt Nam, khoảng 5.000 km2 ĐBSH và 15.000 - 20.000 km2 ĐBSCL bị ngập Các vùng đất canh tác bị mất ở hầu hết các nước chính là những vùng đất nông nghiệp, những vựa lúa lớn của các quốc gia đó (Nicholls, 2003)
Những châu thổ rộng lớn khác ở các quốc gia nhiệt đới như châu thổ Irrawaddy ở Myanmar, châu thổ sông MeKông và sông Hồng ở Việt Nam cũng như những vùng châu thổ nhỏ hơn và nằm thấp hơn mực nước biển ở Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Phillipin sẽ bị ảnh hưởng tương tự Thông
Trang 28thường khi nhiệt độ tăng, độ ẩm của đất giảm, đất cằn có độ ẩm thấp hơn 3 lần đất rừng Từ giảm diện tích đất đến suy giảm chất lượng đất rồi sẽ dẫn đến giảm năng suất sản lượng (Nicholls, 2003)
Sự ngập úng có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng lúa ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào, cả trong thời gian dài hoặc trong thời gian ngắn Cơ hội sống thấp khi lúa bị ngập hoàn toàn và xảy ra suốt thời gian sinh trưởng Hàng năm, Bangladesh và Ấn Độ mất tới 4 triệu tấn lúa/năm- đủ để nuôi 30 triệu dân Năm
2006, Philippines bị ngập úng làm mất đi 65 triệu đô la Mỹ (Nicholls, 2003)
Việt Nam là một nước có bờ biển dài (3.260km bờ biển chạy dọc theo chiều từ Bắc vào Nam) vì vậy Việt Nam được xếp vào một trong những nước có nguy cơ chịu tác động nhiều nhất của BĐKH mà cụ thể là sự gia tăng của mực nước biển đang có xu hướng làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp của nước
ta Trong năm 50 năm qua, mực nước biển ở Việt Nam tăng thêm 2,5 – 3,0 cm mỗi thập kỷ Theo dự đoán của Monre (2009), mực nước biển ở Việt Nam sẽ tăng thêm 28 – 33 cm vào năm 2050 và 65 – 100cm vào năm 2100 Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, tại những khu vực bị ảnh hưởng của nước biển dâng, mực nước biển sẽ tăng từ 1 - 5m Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều thứ 2, chiếm 10% tổng diện tích bị tác động (sau Bahamas)
1.3.1.2 Tác động của xâm nhập mặn và phèn
Hiện nay nhiều nơi trên thế giới như châu Phi đã không thể khai thác một
số vùng canh tác vì bị nhiễm mặn cao Sự tăng cao mực nước biển làm nước mặn vào sâu trong đất liền, làm mặn hóa đất sản xuất Vùng ven biển Bangladesh, mặn ảnh hưởng khoảng 1 triệu hectare làm không thể sản xuất lúa Sản lượng lúa trong vùng nhiễm mặn rất thấp- thấp hơn 1,5 tấn/ha Hiện tượng xâm nhập mặn vào các sông ngòi, kênh rạch và một số hệ thống nước khác đang là mối quan tâm lớn ở Việt Nam trong những năm gần đây Với những dự báo về mực nước biển tăng lên trong thời gian tới, cùng với quá trình xâm nhập mặn thì nhiều vùng đất của nước ta sẽ không còn khả năng canh tác Hiện nay ở ĐBSH, nước mặn từ biển tràn vào các sông khoảng 25 – 40 km, còn ở Duyên Hải Miền Trung là 30 – 40km (Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
Trang 29Mực nước biển tăng lên sẽ làm cho tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biển trở nên tồi tệ hơn, gây thiếu hụt nước tưới và nước sinh hoạt ĐBSCL sẽ
là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 1,77 triệu ha đất bị nhiễm mặm, chiếm 45% tổng diện tích Ngập lụt, nhiễm mặn ở ĐBSCL và một số nới ven biển vùng ĐBSH ( 2 vùng kinh tế quan trọng nhất của cả nước) sẽ đe dọa sinh kế người dân, ảnh hưởng nghiê trọng tới kim nghạch xuất khẩu lúa gạo và an ninh lương thực quốc gia
1.3.1.3 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan: bão, hạn hán, lũ lụt, rét đậm rét hại
Nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất của BĐKH nói chung và của các hiện tượng thời tiết cực đoan nói riêng
Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên có thể làm thay đổi cơ bản hệ thống canh tác nông nghiệp ở một số khu vực do sự dịch chuyển danh giới thực vật và cây trồng tức là thay đổi chế độ và điều kiện ngoại cảnh (khí hậu) của sản xuất nông nghiệp ở vùng đó thì BĐKH và các hiện tượng khí hậu cực đoan có tác động tiềm tàng dẫn đến mất mùa, giảm năng suất sản lượng, thậm chí làm cho đất đai không còn khả năng canh tác (Nicholls, 2003)
Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng,
tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống Những tác động chủ yếu đối với nông nghiệp nước ta là:
- Do nhiệt độ có xu hướng tăng, phạm vi và thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng hơn, trong khi cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp lại Điều
đó có nghĩa là một số loài á nhiệt đới có nguy cơ suy giảm hoặc biến mất
- Năng suất và sản lượng nông nghiệp giảm ở những vùng có mùa khô, ngay cả khi nhiệt độ tăng không nhiều (1-30C) Đặc biệt, do nhiệt độ cực đại có
xu hướng tăng lên, cùng với việc gia tăng các đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng làm tăng áp lực nhiệt lên nhiều loài cây trồng, nhất là các tỉnh miền Trung, năng suất cây trồng giảm đi đáng kể , thậm chí không có thu hoạch
Trang 30- Biên độ của giao động cực tiểu có thể xảy ra ngoài đoạn [-5,5] nên các
cự trị số thấp kỷ lục có thể xảy ra ở các vùng khí hậu phía bắc, nhất là vùng núi,
do tính biến động của nhiệt độ tăng lên có thể dẫn đến những đợt rét đậm, rét hại kéo dài gây tổn hại lớn cho cây trồng, vật nuôi
- Lượng mưa ngày cực đại cùng số ngày mưa lớn cũng có xu hướng tăng, làm ngập úng dẫn tới giảm sản lượng cây trồng, thậm chí mất trắng ngay cả khi xảy ra vào thời điểm sắp thu hoạch
- Hạn hán có xu hướng tăng lên nhưng với mức độ không đồng đều trong từng vùng khí hậu Hạn hán tăng trong khi tính biến động của mưa cũng gia tăng gây thiếu hụt lượng mưa kéo dài, kết hợp nắng nóng làm tăng khả năng bốc hơi Ảnh hưởng của hạn hán đến nông nghiệp được đánh giá là nghiêm trọng và gây
ra nhiều rủi ro nhất, bởi nguy cơ mất mùa, thậm chí mất khả năng canh tác trên những vùng đất bị thoái hóa do hạn hán thường xuyên kéo dài
BĐKH sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên ác liệt hơn và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Những vùng, khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng ĐBSCL (Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
Trong những năm gần đây, hàng ngàn ha đất trồng lúa ở ĐBSH, Duyên hải Miền Trung và ĐBSCL đã bị lũ lụt hoành hành thường xuyên, cả những khu vực nuôi trồng thủy hải sản cũng bị ảnh hưởng nặng nề Cụ thể, lũ lụt ở ĐBSCL
đã phá hoại 401,342 ha đất trồng lúa; 85,234 ha đất chăn nuôi trồng trọt và 16,215 mặt nước nuôi trồng thủy hải sản… (Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
1.3.2 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa của huyện Giao Thủy
1.3.2.1 Ảnh hưởng của nước biển dâng, xâm nhập mặn và phèn
Huyện Giao thủy có diện tích giáp biển với chiều dài bờ biển hơn 32 km
Vì vậy mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, ở thể tự nhiên, trong đó đất canh tác lúa
bị ảnh hưởng nhiều nhất Sự xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên cũng có những mặt lợi là tạo ra nền sinh thái đa dạng, nguồn lợi lớn về thuỷ sản, về rừng ngập mặn
Trang 31Tình hình xâm nhập mặn ở Giao Thủy rất phức tạp và liên quan đến nhiều yếu tố, cả về tự nhiên (như thuỷ văn dòng chảy, khí hậu) cũng như các tác động của con người (như phát triển sản xuất, phát triển thuỷ lợi) Vùng ven biển Giao Thủy là vùng đất có nhiều tiềm năng, hệ sinh thái phong phú và đa dạng, tuy nhiên rất nhạy cảm và dễ biến đổi với mọi khai thác phát triển Vấn đề xâm nhập mặn gây ảnh hưởng lớn đối với vùng ven biển, đặc biệt là hệ thống canh tác
Diện tích đất canh tác lúa bị ảnh hưởng nặng nề nhất vào năm 2010 Tại các xã Giao Hải, Giao Tân, Giao Thịnh, Giao Long, Giao Thiện và Giao An là các xã ven biển
Độ mặn trong nước và trong đất tăng lên ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng của cây lúa, dẫn đến thay đổi về hệ thống canh tác Sự xâm lấn mặn tại Nam Định đã ảnh hưởng xấp xỉ 38.000 ha đất canh tác của các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Trực Ninh, trong đó diện tích tại huyện Giao Thủy tương đối lớn khoảng 9.000 ha Ngoài ra hệ thống canh tác lúa của các xã ven biển còn thường xuyên ảnh hưởng của hơi mặn, gió từ biển thổi vào làm cho bông lúa bị cháy , ảnh hưởng đến năng suất Năng suất tại các
xã khu vực ven biển thường thấp hơn các xã khác từ 5 – 8 tạ/ha
Liên tiếp trong các năm từ 2004 - 2006, nước mặn đã lấn sâu vào sông trên địa bàn tỉnh Nam Định Ranh giới mặn 1%o đã xâm nhập ngày càng sâu vào trong các sông Hồng, Ninh Cơ và Đáy Đặc biệt, trong tháng 1/2006, trên tất cả 3 vùng cửa sông, mặn xâm nhập sâu đến mức kỷ lục: trên sông Hồng mặn lấn sâu đến cửa cống Hạ Miêu I với độ mặn 7,20/00 cách biển 26 km; trên sông Ninh Cơ mặn đã lấn đến cửa cống Múc 2 với độ mặn 1,70/00, cách biển tới 37 km; trên sông Đáy mặn đã đến cửa cống Bình Hải I với độ mặn 50/00, cách biển 18 km
Vụ ĐX 1987-1988 ở huyện Giao Thủy, đã có nơi bị chết lúa do nước lấy vào đồng có độ mặn vượt quá giới hạn cho phép, điển hình là các xã ở ven biển như Giao An, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao Long, Giao Thiện, TT Quất Lâm
Vụ Xuân 2010, mặn lấn sâu vào các cửa sông 25 – 35 km, trên sông Hồng mặm lên đến cống Mom Rô, cách biển 35km (ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ), trên sông Ninh Cơ mặn lên đến cống Rộc, cách biển 32 km làm cho Giao Thủy và một số huyện phía Nam của tỉnh không lấy được nước để làm đất gieo cấy vụ lúa
Trang 32Xuân Một số xã ven biển của huyện Giao Thủy khi lấy nước từ các đợt xả nước chống hạn của các hồ thủy điện nhưng chỉ ngâm vài giờ, độ mặn tiềm tàng trong đất bốc lên , đo ngay tại ruộng từ 5 – 7 0/00, phải rửa mặn 2 -3 lần mới cấy được
Kể từ năm 2005 cho đến nay, mực nước biển tại khu du lịch thị trấn Quất Lâm (huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) đã dâng cao thêm 20 cm Mỗi lần thủy triều lên, mực nước biển tràn qua bờ đê này vào đường khu du lịch Năm 2007, chính quyền địa phương đã đầu tư gia cố thêm 50cm ngăn mực nước biển tràn vào khu du lịch thị trấn Quất Lâm Theo các nhà khoa học, đây là biểu hiện sâu
xa có liên quan tới vấn đề biến đổi khí hậu.(Số liệu này được Công ty Khai thác công trình thủy lợi của huyện và Trung tâm Khí tượng thủy văn của tỉnh Nam Định đo đạc và ghi nhận)
Như vậy, có thể nói năng suất lúa tại các vùng bị ảnh hưởng của nước biển dâng và xâm mặn thấp hơn nhiều so với khu vực sản xuất thông thường Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bao gồm cả nguyên nhân khách quan (tự nhiên) là chịu ảnh hưởng bởi gió biển mang hơi mặn; nguyên nhân còn lại do hệ thống thủy lợi như cống ngăn mặn bị xuống cấp gây rò rỉ xâm mặn và do các hộ
cố tình canh tác 2 vụ lúa tại các khu vực bị ảnh hưởng bởi xâm mặn
1.3.2.2 Ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan (lũ lụt, hạn hán, rét đậm rét hại, bão )
- Ngập úng khi lượng mưa tăng cao vào mùa mưa
Vào mùa mưa hàng năm ( từ tháng 5 –tháng 10), huyện Giao Thủy có hơn 3.000ha đất sản xuất lúa vùng thấp trũng thường bị ngập úng, năng suất thấp chỉ bằng 70- 80% năng suất bình quân chung
Vụ Mùa năm 2003 mưa lớn vào giai đoạn lúa sắp trỗ bông đã làm ngập úng 2/3 cây lúa của huyện Giao Thủy, năng suất giảm 30 – 40% Giá trị thiệt hại ước đạt lên đến hàng tỷ đồng
Năm 2004, ngày 20 – 23/7/2004 đợt mưa lớn với lượng mưa trung bình là 262,5mm, riêng Giao Thủy có lượng mưa lớn nhất là 345mm, mưa đúng vào lúc lúa mới cấy, khả năng chịu úng kém, kết hợp với lũ cao và thủy triều nên vùng tự chảy tiêu nước khó khăn đã gây ngập úng nghiêm trọng, kéo dài trên diện rộng
Trang 33Vụ Mùa 2008 đang trong thời kỳ chuẩn bị thu hoạch lúa Mùa và cây trồng
vụ Đông, thì mưa lớn kéo dài, với lượng mưa của huyện Giao Thủy là 322mm Mưa lớn kéo dài cùng với lũ lớn từ thượng nguồn đổ về đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp Toàn tỉnh có trên 15.000 ha lúa Mùa chưa thu hoạch bị thiệt hại nặng Các vụ Mùa năm 2009, 2010, 2011 mưa lớn đã làm ngập úng nặng hàng chục ha lúa mới cấy của huyện Giao Thủy, phải gieo cấy lại
- Hạn hán kéo dài khi lượng mưa giảm mạnh vào mùa khô
Vào mùa khô hàng năm (Vụ ĐX từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau) thường gặp hạn hán kéo dài, kèm theo triều cường nước mặn lấn sâu vào các cửa sông lớn từ 30 – 40km dẫn tới hiện tượng xâm nhập mặn gây nhiều khó khăn cho việc lấy nước phục vụ sản xuất
Hạn hán vào mùa khô những năm qua đã xảy ra theo chiều hướng hết sức nghiêm trọng Theo thống kê của Sở TN&MT Nam Định , hàng năm đều
có trên 11.000 ha đất canh tác chân cao bị thiếu nước trầm trọng và khoảng 52.000 ha đất trồng lúa của các huyện phía Nam (trong đó có huyện Giao Thủy) gặp khó khăn về nước tưới, toàn tỉnh phải chi phí hàng chục tỷ đồng mỗi năm để chống hạn
Năm 2004 được coi là năm khốc liệt nhất trong vòng 40 năm qua, mực nước Sông Hồng tại Hà Nội ở thời điểm tháng 1/2004 là +2,17m (kiệt nhất có lúc xuống 1,75m) Năm 2005 ở cùng thời điểm mực nước xuống 2,06m (kiệt nhất 1,5m) dẫn đến thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp, làm giảm năng suất lúa tại các địa phương toàn tỉnh Nam Định
- Nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại
Thời gian gần đây hiện tượng nắng nóng bất thường và rét đậm rét hại kéo dài diễn ra ở một số vụ ĐX Điển hình là vụ ĐX năm 2008, 2010, 2011 xuất hiện các đợt rét kéo dài lịch sử liên tục từ 30 - 35 ngày, trong đó có nhiều ngày nhiệt xuống dưới 100C Đầu vụ Xuân năm 2008 có một số đợt rét hại lịch sử kéo dài liên tục đã làm chết hơn 400 ha mạ của huyện , trong đó chủ yếu là các giống có năng suất cao Nhiều xã phải gieo mạ 2 -3 lần, làm cho thời vụ bị muộn từ 15 – 20 ngày
Trang 34Các vụ Xuân năm 2007, 2009 xuất hiện nắng nóng bất thường, nhiệt độ nhiệt độ cao hơn trung bình cùng kỳ nhiều năm khoảng 3,50C Do nhiệt độ giai đoạn đầu vụ Xuân cao nên cây lúa sinh trưởng nhanh, thời gian tích lũy dinh dưỡng bị rút ngắn, lúa đẻ ít nhánh, làm giảm năng suất khoảng 5 – 7% (Phòng NN&PTNT huyện Giao Thủy)
- Nhiễm mặn gia tăng dẫn đến thu hẹp diện tích đất trồng lúa thay đổi hệ thống canh tác lúa và giảm năng suất
Quá trình xâm nhập mặn do nước biển dâng làm giảm khả năng duy trì diện tích đất trồng lúa Những năm trước đây hiếm khi xảy ra xâm nhập mặn vào sâu, tuy nhiên trong thời gian gần đây xâm nhập mặn ngày một gia tăng tại các huyện ven biển, đặc biệt là Giao Thủy, diện tích đất bị nhiễm mặn của huyện khoảng hơn 80ha lúa và 1.100ha đầm tôm
Tình trạng biến đổi khí hậu tác động xấu đến hệ thống canh tác, đặc biệt là cây lúa và sẽ càng làm cho tình trạng cung cấp lương thực trên trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh tác động chủ yếu nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và người nông dân Vì vậy huyện Giao Thủy đã điều chỉnh quy hoạch phát triển giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp để ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
1.4 Nghiên cứu về định hướng sử dụng đất lúa ở trong và ngoài nước
1.4.1 Nghiên cứu về định hướng sử dụng đất lúa ở nước ngoài
1.4.1.1 Diện tích lúa gạo thế giới
Diện tích gạo thế giới không mở rộng trong giai đoạn từ 2007 đến 2014, thấp hơn khoảng 2% so với mức tính toán của dự báo năm 1999-2000 Hầu hết các nước Châu Á đều không có, hoặc ít có khả năng mở rộng diện tích lúa Trong thập kỷ tới, diện tích lúa ở Trung Quốc thu hẹp lại dự báo sẽ bù trừ vào diện tích
mở rộng ở tiểu vùng Saharan ở Châu Phi và các nước châu Mỹ La tinh
Trang 35DT, NS lúa Thái Lanđến năm 2017
1.650 1.700 1.750 1.800 1.850 1.900 1.950 2.000 2.050 2.100
Diện tích (1000 ha) Năng suất (kg/ha)
DT, NS lúa Ấn Độđến năm 2017
42000 42500 43000 43500 44000 44500 45000 45500
0 06 0 07 0 08 0 09 0 10 1 11 1 12 1 13 1 14
Diện tích (1000 ha) Năng suất (kg/ha)
Dự báo OECD-FAO Agricultural Outlook
Hình 1.4 Diện tích, năng suất lúa các nước Thái Lan, Ấn Độ đến năm 2017
1.4.1.2 Cung gạo xuất khẩu tăng chủ yếu ở Châu Á
Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, dự báo trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính Có thể thấy rằng nguồn cung xuất khẩu gạo của các Việt Nam và Thái Lan dự báo tăng do mấy nguyên nhân: (i) sản lượng gạo tăng do năng suất lúa được cải thiện, (ii) tiêu dùng gạo bình quân đầu người trong nước có xu hướng giảm
Dự báo, một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil
1.4.1.3 Nhu cầu tiêu dùng gạo thế giới
Theo dự báo của USDA (2007), thương mại lúa gạo toàn cầu tăng 2,4 % hàng năm từ năm 2007 đến 2016 Đến năm 2016 thương mại lúa gạo toàn cấu đạt mức 35 triệu tấn, tăng gần 25% so với mức năm 2002 Trong những năm tới các giống gạo hạt dài dự tính khoảng ¾ thương mại lúa gạo toàn cầu Đây là một lợi thế cho Việt Nam Gạo hạt dài sẽ được nhập khẩu bởi nhiều nước Nam và Đông Nam Á, nhiều nước ở Trung Đông và phần lớn các nước vùng Sahara Châu Phi và các nước Châu Mỹ la tinh Gạo hạt ngăn và hạt trung bình dự kiến tăng 10-12% thương mại toàn cầu
Trang 36Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007-2017, tiêu dùng gạo thế giới dự báo sẽ tăng do chủ yếu là do dân số Châu Á tăng (trường hợp của Indonesia và Bangladesh ở Châu Á), và mức tiêu dùng gạo bình quân đầu người tăng ở các nước Tây bán cầu, Trung Đông (và trường hợp Philippines ở Châu Á) Dự báo trong giai đoạn 2007-2017, tiêu dùng gạo thế giới tăng phần lớn là do nhu cầu nhập khẩu gạo tăng ở Ấn Độ, Indonesia
và Bangladesh, Philippines và tiểu vùng Saharan của Châu Phi Năm thị trường này chiếm khoảng 2/3 phần tăng cầu nhập khẩu lúa gạo của toàn thế giới trong giai đoạn 2007-2017
Nhu cầu nhập khẩu gạo của Indonesia và Bangladesh do dân số tăng Ngoài ra, nguồn lực đất khan hiếm nên diện tích lúa khó có thể mở rộng, và diện tích canh tác lúa phải cạnh tranh với các diện tích đất trồng các cây lương thực thay thế khác và đất sử dụng cho phi nông nghiệp Phần lớn diện tích trồng lúa ở Bangladesh là diện tích gieo cấy lúa năng suất cao, nên tiềm năng năng suất lúa
dự báo sẽ tiếp tục tăng
Ở Philippines, hầu hết phần sản lượng lúa tăng ở Philippines là do áp dụng nhiều giống lúa cao sản năng suất cao, nhưng sản lượng tăng dự báo vẫn không đáp ứng kịp mức mức tăng nhu cầu lúa gạo nội địa của nước này Tiêu dùng gạo bình quân đầu người của Philippines dự báo sẽ tăng
Ở các tiểu vùng Saharan Châu Phi, dự báo nhu cầu nhập khẩu gạo hàng năm
sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng, do dân số tăng nhanh và thu nhập tăng lên Gạo nhập khẩu đáp ứng khoảng 50% nhu cầu tiêu dùng trong tiểu vùng này Ở Trung Đông, nhập khẩu gạo tăng nhanh là do nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh Tuy nhiên, ở nhiều nước Châu Á, đặc biệt là các nước có thu nhập trung bình và thu nhập cao, sẽ có xu hướng giảm tiêu dùng gạo do tác động của yếu tố thu nhập tăng, và bên cạnh đó là các phong trào ăn kiêng ngày càng đa dạng Theo đó, tổng tiêu dùng gạo ở Trung Quốc, nước tiêu dùng gạo nhiều nhất trên thế giới, dự báo sẽ giảm trong giai đoạn 2007-2017
Trang 37Dự báo tiêu dùng gạo Ấn Độ,
(2007-2017), 1000 tấn Dự báo tiêu dùng gạo Trung Quốc, (2007-2017), 1000 tấn
122000 123000 124000 125000 126000 127000 128000 129000
0 06 0 07 0 08 0 09 0 10 1 11 1 12 1 13 1 14 1 15 1 16 1 17
Nguồn: ERS/USDA
Hình 1.5 Dự báo tiêu dùng gạo Ấn Độ, Trung Quốc đến năm 2017
Sushil Pandey, Giám đốc Chương trình “Chính sách lúa gạo và Tác động” của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) gần đây đã đưa ra dự báo khá đồng nhất với dự báo của USDA Theo Sushil Pandey, nhu cầu cầu gạo ở Châu Á dự báo sẽ tiếp tục tăng trong tương lai do áp lực tăng dân số của khu vực này Mặc dù tiêu dùng gạo bình quân đầu người giảm ở các nước Châu Á có thu nhập cao, dự báo nhu cầu lúa của Châu Á sẽ tăng thêm 38 triệu tấn mỗi năm trong giai đoạn 2008-
2015 Nhu cầu lúa gạo của Châu Phi dự báo cũng sẽ tăng, và lúa gạo sẽ là cây lương thực chính của khu vực này Tổng nhu cầu lúa của toàn cầu giai đoạn 2008-2015 dự báo sẽ tăng mỗi năm 50 triệu tấn lúa
Theo dự báo thị trường lương thực thế giới của OECD-FAO (2007-2017), lúa sẽ là cây lương thực chính của nhiều nước đang phát triển do có đặc tính canh tác phù hợp với khí hậu và đặc tính của đất, và gạo là lương thực thiết yếu trong bữa ăn truyền thống Trong khi tiêu dùng lúa mỳ và ngũ cốc coarse grain tăng trưởng dương khi thu nhập bình quân đầu người tăng, thì tăng trưởng tiêu dùng gạo lại có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng dân số, còn tiêu dùng gạo bình quân đầu người trong giai đoạn dự báo (2007-2017) tăng rất ít và chủ yếu là ở các nước Châu Phi Tuy nhiên, sản lượng gạo dự báo sẽ tăng do hai yếu tố
Trang 38Thống kê sản lượng, tiêu dùng gạo
Dự báo sản lượng, tiêu dùng gạo toàn thế giới 2007-2017
50.0 100.0 150.0 200.0 250.0 300.0 350.0 400.0 450.0 500.0
TB 2
00
2-20 20 /0 20 /0820 /0920 /1020 /1120 /1220 /1320 /1420 /1520 /16
Sản lượng mt Tiêu dùng mt Dự trữ cuối năm mt
Hình 1.6 Dự báo tiêu dùng gạo toàn thế giới đến năm 2017
1.4.2.Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam đến năm 2020 và 2030
Dẫn theo Hoàng Xuân Phương (2010) khi nghiên cứu về một số chính sách sản xuất lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cho thấy, dự báo diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả nước như sau:
- Đến năm 2020, diện tích đất lúa dự kiến còn 3.799 ngàn ha Hệ số sử dụng đất bình quân 1,84 lần, diện tích gieo trồng lúa dự kiến đạt 6.999,3 ngàn
ha Phấn đấu đạt năng suất bình quân 59 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 41.298 ngàn tấn Trong đó sản xuất chủ yếu lúa tập trung chính tại 2 vùng trọng điểm
là ĐBSCL (chiếm 47,1% về diện tích canh tác lúa cả nước và chiếm 48,7% về sản lượng thóc cả nước); ĐBSH (chiếm 15,1% về diện tích canh tác lúa cả nước
và chiếm 18,6% về sản lượng thóc cả nước)…
- Đến năm 2030 diện tích đất lúa duy trì ở mức 3.799 ngàn ha, hệ số sử dụng đất bình quân 1,84 lần/năm, diện tích gieo trồng lúa dự kiến đạt là 6.999,3 ngàn ha Phấn đấu đạt năng suất bình quân 62 tạ/ha, sản lượng lúa dự kiến đạt 43.415,5 ngàn tấn
Trang 39Bảng 1.4 DT, NS, SL lúa cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
ĐVT: Diện tích 1000 ha; NS: tạ/ha; SL: 1000 tấn
Trang 401.5 Những nghiên cứu về các giải pháp, chính sách sử dụng hiệu quả đất lúa
Theo Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (2013) và Nghị định 35, năm 2015 về quản lý đất lúa đòi hỏi phải thực hiện các giải pháp và chính sách sau đây:
1.5.1 Chính sách khuyến khích các địa phương giữ đất lúa
Thông qua việc tăng đầu tư phát triển cho các địa phương sản xuất lúa; điều tiết phân bổ ngân sách nhà nước đảm bảo lợi ích giữa các địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp với các địa phương chuyên trồng lúa
1.5.2 Chính sách đầu tư
- Ngân sách nhà nước đầu tư 100% kinh phí để thực hiện các dự án về điều tra, đánh giá, phân hạng, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lúa được cấp có thẩm quyền phê duyệt Trong đó các dự án thực hiện trên phạm vi toàn quốc, các vùng và một số tỉnh làm điểm và huyện điểm do ngân sách trung ương đầu tư; các dự án thực hiện trên địa bàn một huyện hoặc xã do ngân sách địa phương đầu tư
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% để thực hiện hoàn thiện hệ thống thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương và xây dựng đường giao thông nội đồng; xây cống bọng, bờ bao khoanh vùng chống lũ; cải tạo đất ruộng bị xô lũ, bồi lấp do thiên tai, tạo điều kiện thuận lợi áp dụng khoa học, kỹ thuật, cơ giới hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa
1.5.3 Chính sách hỗ trợ chi từ nguồn ngân sách Nhà nước
Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên: được phân bổ thêm 480.000 đồng/ha đất canh tác lúa/năm; khi chỉ số giá tiêu dùng tăng trên 20% so với thời điểm hiện nay
1.5.4 Chính sách phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ:
- Tăng cường năng lực cho công tác nghiên cứu khoa học, khuyến nông, thông tin và hợp tác quốc tế liên quan đến lĩnh vực sản xuất lúa gạo;
- Chọn tạo và sản xuất đủ các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận;