+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân; + Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum,
Trang 1PHẠM THỊ THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, năm 2015
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM PHƯƠNG NAM
Hà Nội, năm 2015
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thùy Linh
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của rất nhiều các tập thể, cá nhân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các thầy, cô giáo trong Khoa Quản lý Đất đai, Ban Quản lý đào tạo – Học viên Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dậy, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi theo học tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo – TS Phạm Phương Nam đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn UBND Quận Long Biên, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Long Biên, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận Long Biên
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy,
cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn
Tôi xin kính chúc các thầy, cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc!
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Thùy Linh
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 3
1.1.1 Đất đai, sử dụng đất đai và quản lý đất đai 3
1.1.2 Người sử dụng đất, tổ chức sử dụng đất 5
1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất 8
1.1.4 Vai trò của quản lý sử dụng đất của các tổ chức 12
1.1.5 Quỹ đất của các tổ chức 12
1.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng đất tại một số nước trên thế giới 13
1.2.1 Trung Quốc 13
1.2.2 Pháp 13
1.2.3 Hoa Kỳ 14
1.2.4 Thụy Điển 15
1.2.5 Anh 16
1.2.6 Những kinh nghiệm rút ra từ công tác quản lý đất đai tại các nước nghiên cứu 17
1.3 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên phạm vi cả nước và trên địa bàn thành phố Hà Nội 19 1.3.1 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên phạm vi cả nước 19
Trang 81.3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố
Hà Nội 26
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Long Biên 30
2.3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai tại quận Long Biên 30
2.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại quận Long Biên 30
2.3.4 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại quận Long Biên 30
2.3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại quận Long Biên 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 30
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 31
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu 31
2.4.4 Phương pháp so sánh số liệu 31
2.4.5 Phương pháp minh họa bằng hình ảnh 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Long Biên 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai tại quận Long Biên 40
3.2.1 Thực trạng quản lý đất đai 40
3.2.2 Thực trạng sử dụng đất đai tại quận Long Biên 44
3.2.3 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất tại quận Long Biên 46
3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại quận Long Biên 48
3.3.1 Kết quả giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất 48
Trang 93.3.2 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức được giao
đất, thuê đất 52
3.3.3 Công tác quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức được giao, được cho thuê 54
3.3.4 Xử phạt vi phạm hành chính về đất đai 54
3.3.5 Thực trạng sử dụng đất của các tổ chức được giao đất, thuê đất 57
3.4 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn Quận Long Biên 75
3.4.1 Những ưu điểm 75
3.4.2 Những tồn tại, bất cập 75
3.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 76
3.5 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại quận Long Biên 77
3.5.1 Giải pháp về chính sách, pháp luật 77
3.5.2 Giải pháp về kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tranh chấp 77
3.5.3 Giải pháp về nhân lực và cải cách hành chính 77
3.5.4 Giải pháp về công nghệ thông tin trong quản lý đất đai 78
3.5.5 Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
Kết luận 80
Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
23 VNDCCH Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất cả nước năm 2013 20
Bảng 1.2 Tình hình giao đất của các tổ chức trên cả nước 22
Bảng 1.3 Tình hình cho thuê đất của các tổ chức trên cả nước 23
Bảng 1.4 Tình hình công nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất 24
Bảng 1.5 Hiện trạng sử dụng đất tổ chức của Thành phố Hà Nội năm 2013 28
Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 2010 - 2014 37
Bảng 3.2 Kết quả đo đạc lập BĐĐC trên địa bàn Quận long Biên 41
Bảng 3.3 Biểu thống kê đất đai quận Long Biên năm 2014 45
Bảng 3.4 Tình hình giao đất cho các tổ chức trên địa bàn quận năm 2014 49
Bảng 3.5 Tình hình công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn quận Long Biên 51
Bảng 3.6 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức 52
Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo mục đích sử dụng đất 58
Bảng 3.8 Hiện trạng sử dụng đất theo loại hình tổ chức 60
Bảng 3.9 Diện tích đất của các tổ chức phân theo đơn vị hành chính 62
Bảng 3.10 Thực trạng đất tổ chức sử dụng đúng mục đích 63
Bảng 3.11 Thực trang đất tổ chức cho thuê trái pháp luật 65
Bảng 3.12 Thực trang đất tổ chức cho mượn trái pháp luật 68
Bảng 3.13 Thực trang đất bị lấn, chiếm của các tổ chức 70
Bảng 3.14 Tình hình đất của các tổ chức sử dụng vào mục đích khác 71
Bảng 3.15 Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức 72
Bảng 3.16 Tình hình sử dụng đất theo mục đích được giao, được cho thuê của các tổ chức 74
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cơ cấu các loại đất chính năm 2014 trên cả nước 21Hình 3.1 Sơ đồ vị trí quận Long Biên, TP Hà Nội 32Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế của quận Long Biên năm 2014 35Hình 3.3 Nguồn nước thải ra của Công ty cổ phần Cơ khí xây dựng lắp ráp máy
điện nước 56Hình 3.4 Công ty dâu tằm tơ cho thuê ki ốt trái pháp luật 66Hình 3.5 Công ty xe lửa Gia Lâm cho Quán bia Xuân Huy thuê trái pháp luật tại
địa chỉ 481 Ngọc Lâm – Long Biên – Hà Nội 67Hình 3.6 Công ty xe lửa Gia Lâm cho Siêu thị Fivimart (Tầng 1) và Nhà hàng
Vạn Hoa (Tầng 2) thuê trái phép tại 551 Nguyễn Văn Cừ 68
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý giá, là địa bàn để phân bố dân cư, để thực hiện các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
là nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia Việc quản lý, sử dụng đất đai nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm thực hiện (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003) Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng đất và đã ban hành, đổi mới Luật Đất đai: Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993, năm 1998, năm 2001, năm 2003 Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai dần vào nề nếp, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn
Để quản lý và sử dụng đất được chặt chẽ và có hiệu quả, bền vững, ngày 14/12/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg về kiểm
kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đất đai (Phạm Phương Nam, Phạm Văn Quân, 2013)
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII năm 2013, tổng hợp số liệu báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến ngày 30/6/2013, có 8.161 tổ chức vi phạm, sử dụng đất lãng phí với diện tích 128.033,13 ha Các địa phương đã xử lý, đạt kết quả như sau: Đã thu hồi đất của 819 tổ chức với diện tích 38.771 ha (trong đó có: 479 tổ chức kinh tế/25.138 ha; 158 tổ chức sự nghiệp công/551 ha; 17 nông, lâm trường/12.794 ha; 161 cơ quan nhà nước/275 ha; 02 tổ chức chính trị/1,6 ha; 02
tổ chức chính trị - xã hội/10 ha) Đang tiếp tục xử lý 1.547 tổ chức với diện tích 22.654 ha Đang lập hồ sơ thu hồi đất của 559 tổ chức với diện tích 27.095 ha; xử
lý khác đối với 1.902 tổ chức với diện tích 16.516 ha (Sở Tài nguyên và Môi
Trang 14trường thành phố Hà Nội năm 2013)
Thực tế cho thấy, trên địa bàn quận Long Biên việc vi phạm pháp luật đất đai của các tổ chức vẫn còn nhiều và được biểu hiện dưới nhiều hình thức như:
sử dụng đất không đúng mục đích được giao, cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng đất trái phép; để đất hoang hóa, quản lý lỏng lẻo để bị lấn chiếm đất, tranh chấp, khiếu nại liên quan đến sử dụng đất…(UBND quận Long Biên, 2014)
Quận Long Biên thuộc thành phố Hà Nội là một quận được thành lập năm
2003 theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ với tổng diện tích tự nhiên 5.993,03 ha Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và quận Long Biên nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, việc quản lý sử dụng đất của các cơ quan, đơn vị được nhà nước giao đất, cho thuê đất là vấn đề rất được quan tâm trên địa bàn quận Long Biên, do đó tôi lựa
chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội”
- Các số liệu điều tra thu thập được phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học
- Các giải pháp đề xuất nhằm quản lý, sử dụng đất tốt hơn của các tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức
1.1.1 Đất đai, sử dụng đất đai và quản lý đất đai
1.1.1.1 Đất đai
“Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học có thể hiểu theo nghĩa rộng như sau:
“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sống suối, đầm lầy ), các lớp trầm tích sát
bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền hồ chứa nước hay hệ thống tưới tiêu nước, đường sá, nhà cửa )” (Đoàn Công Quỳ, 2006)
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất đai bao gồm: Các yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật
tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người (Trần Quang Huy và NNK, 2013)
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: Sản xuất; Môi trường sự sống; Cân bằng sinh thái; Điều tiết khí hậu; Tàng trữ và cung cấp nguồn nước; Dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất); Kiểm soát ô nhiễm và chất thải; Không gian sự sống; Bảo tồn – bảo tàng sự sống; Phân dị lãnh thổ
Sự thích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện rất khác nhau ở mọi nơi trên thế giới Các khu vực cảnh quan là khu vực tài nguyên thiên nhiên,
có động thái riêng của chúng Nhưng con người lại có nhiều tác động ảnh hưởng đến động thái này
1.1.1.2 Sử dụng đất đai
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử
Trang 16dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là:”những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác
động lên chúng” (Trần Quang Huy và NNK, 2013)
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hóa học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ, màu vụ ) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất
hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bới các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất (Trần Quang
Huy và NNK, 2013)
Điều kiện tự nhiên: Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng , cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao
quanh mặt đất như: Yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng
Điều kiện kinh tế - xã hội: Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát
triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Yếu tố không gian: Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội (Trần Quang Huy và NNK,
2013)
1.1.1.3 Quản lý đất đai
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng nhiệm vụ liên quan đến việc
Trang 17xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sử hữu và quyền sử
dụng đất (Nguyễn Đức Khả, 2003)
Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng
cho công tác quản lý (Phạm Phương Nam, 2014a)
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai
và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung
và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công
và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tư vấn
kỹ thuật; hợp tác quốc tế (Nguyễn Quang Tuyến, 2010)
1.1.2 Người sử dụng đất, tổ chức sử dụng đất
1.1.2.1 Người sử dụng đất
- Người sử dụng đất là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất (Luật đất đai 2013)
- Phân loại: Người sử dụng đất được chia thành 05 loại
+ Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
Trang 18+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);
+ Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự
có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
+ Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
Tổ chức sử dụng đất là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để
sử dụng hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng, được Nhà nước giao đất để quản lý (Quốc hội nước CHXHCN, 2003), quy định trong Luật Đất đai năm 2003, bao gồm:
+ Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng
Trang 19đất;
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu
tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
+ Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả
- Phân loại: Loại hình tổ chức được phân thành 04 loại (Thông tư số
28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường )
+ Tổ chức trong nước:
* Tổ chức kinh tế gồm các doanh nghiệp và các hợp tác xã;
* Cơ quan, đơn vị của Nhà nước gồm cơ quan nhà nước (kể cả Ủy ban nhân dân cấp xã); tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị quốc phòng,
an ninh;
* Tổ chức sự nghiệp công lập gồm các đơn vị sự nghiệp do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công theo quy định của pháp luật;
* Tổ chức khác gồm tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác (không phải là cơ quan, đơn vị của Nhà nước, tổ chức sự nghiệp công lập,
tổ chức kinh tế);
+ Tổ chức nước ngoài: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của
Trang 20nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; doanh nghiệp của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước hoặc doanh nghiệp người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân trong nước sử dụng đất để thực hiện dự
án đầu tư tại Việt Nam;
+ Cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo: Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất để sử dụng nhằm bảo tồn bản sắc dân tộc, như đất làm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo
1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất
1.1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất
- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền
và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai 2013 Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170, Luật Đất đai 2013
Trang 21- Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 174, Luật Đất đai 2013 còn có các quyền như: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất; Cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê lại quyền
sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng; tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; Thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài theo quy định của pháp luật
- Tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều 174, Luật Đất đai 2013; việc thực hiện các quyền phải được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trường hợp tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 173 của Luật Đất đai 2013
- Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có các quyền và nghĩa vụ như: Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở mà được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy
Trang 22định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với loại đất
có mục đích sử dụng tương ứng; Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng
1.1.3.2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất
- Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ như: Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai 2013 Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 189 của Luật Đất đai 2013; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định; Cho thuê lại quyền sử dụng đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm đối với đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng đối với đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
- Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất thì có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự
Trang 23- Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư xây dựng công trình ngầm thì có các quyền và nghĩa vụ như: Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 174 của Luật Đất đai 2013 Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì có quyền và nghĩa vụ như tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 175 của Luật Đất đai 2013
1.1.3.3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích
sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013
Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc do được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc Nhà nước cho thuê đất trả trước tiền một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả không
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản
2 Điều 174 của Luật Đất đai năm 2013
Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:Trường hợp nhận chuyển nhượng và không chuyển mục đích sử dụng đất thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 174 của Luật Đất đai năm 2013; Trường hợp nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất mà thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 174 của Luật Đất đai 2013; Trường hợp nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất mà thuộc trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 175 của Luật Đất đai năm 2013 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sử
Trang 24dụng đất sang đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được quy định như sau: Trường hợp tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 174 của Luật Đất đai năm 2013; Trường hợp
tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm thì có quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 175 của Luật
1.1.4 Vai trò của quản lý sử dụng đất của các tổ chức
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai Tổng diện tích tự nhiên của một phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi Nhưng khi sản xuất phát triển, dân
số tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai cũng ngày càng gia tăng Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có
xu hướng tăng Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết Quản lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước Việc quản lý nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện
hệ thống pháp luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai Mặt khác, quản
lý đất đai còn có vai trò quan trọng trong việc kết hợp hài hòa các nhóm lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển Công tác quản lý đất đai dựa trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả
và bền vững Do đó quản lý, sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý, sử dụng đất của các tổ chức nói riêng (Phạm Phương Nam, Phạm Văn Quân, 2013)
1.1.5 Quỹ đất của các tổ chức
Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp
Trang 25công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Phạm Phương Nam, 2014b)
1.2 Thực tiễn quản lý, sử dụng đất tại một số nước trên thế giới
1.2.1 Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện chế độ đất đai công hữu bao gồm: Chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể Trước năm 1988, Hiến pháp Trung Quốc quy định: Cá nhân và tổ chức không được chiếm dụng, mua bán đất đai và bất cứ hình thức chuyển nhượng đất đai khác trái pháp luật (Khoản 4 Điều 10) Sau đó luật đã được bổ sung: “Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tập
thể có thể chuyển nhượng theo đúng pháp luật”
Luật Đất đai của Trung Quốc được xây dựng vào các năm 1954, 1975,
1978 và 1982 Trong đó, Luật Đất đai năm 1982 là bộ luật hoàn chỉnh nhất Từ năm 1982, Luật đất đai Trung Quốc đã được sửa đổi 4 lần (qua các năm 1988,
1993, 1999 và năm 2004)
Trong Luật Đất đai và quy định của Chính phủ về quản lý đất đai có quy định rõ và tách bạch nội dung giám sát quản lý đất đai, kiểm tra việc sử dụng đất, gắn với các quy định về chế tài xử lý đã đảm bảo việc quản lý được tăng cường trách nhiệm và hạn chế những sai phạm phát sinh về quản lý đất đai trong cơ quan nhà nước, đồng thời có căn cứ xử lý triệt để đối với các trường hợp quản lý sai quy định hoặc sử dụng đất vi phạm pháp luật Quy định chỉ giao đất ở cho các
tổ chức đầu tư kinh doanh nhà ở và không giao đất cho các hộ gia đình cá nhân
sử dụng tại đô thị có nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhưng chưa tạo điều kiện thuận lợi và điều kiện về chỗ ở cho các hộ gia đình có mức thu nhập thấp hoặc gia đình có nhiều thế hệ sinh sống, chính sách, cơ chế thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định rõ ràng và đầy đủ giữa các địa phương thực hiện còn có sự khác nhau (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
1.2.2 Pháp
Tại Pháp chế độ sở hữu đất đai gồm hai dạng: Đất đai thuộc sở hữu nhà nước và đất đai thuộc sở hữu tư nhân Đối với đất đai thuộc sở hữu nhà nước thì Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu và khi Nhà nước
Trang 26lấy đất thì phải trả cho chủ đất tiền theo giá quy định Bộ phận đất đai thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm nhà nước trung ương và chính quyền các địa phương
- Sở hữu Nhà nước: Nhà nước sở hữu những vùng đất nhất định vì mục đích quốc gia hoặc công cộng Sở hữu đất đai của Nhà nước được hình thành thông qua những hình thức chủ yếu như: Quyền ưu tiên mua đất; cụ thể mua dần những thửa đất ở một cùng sẽ quy hoạch, mua dần tùy theo ý muốn của chủ đất, ngăn chặn sự gia tăng bất động sản; trưng dụng đất: Đây là một hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng dựa trên quyền lực công để chiếm đoạt đất đai sau khi đã
bồi thường cho chủ sở hữu, vì lợi ích công cộng;
- Sở hữu tư nhân: Phần lớn đất đai ở Pháp thuộc sở hữu tư nhân: Người dân có quyền sở hữu đối với đất đai Hiến pháp quy định quyền sở hữu tài sản (trong đó có đất đai) là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, không ai có quyền bắt người khác phải nhường quyền sử dụng đất cho mình trừ khi vì lợi ích công cộng
(Bộ Tài nguyên và Môi trường năm, 2012)
1.2.3 Hoa Kỳ
Từ tháng 7 năm 1776, Hoa Kỳ lật đổ sự thống trị của thực dân Anh, thành lập chủng quốc Hoa Kỳ đến nay, đã tiến hành nhiều hoạt động về đo đạc và mua bán đất đai Năm 1785, trước khi thành lập Chính phủ mới khóa đầu tiên (1789), Quốc Hội Liên bang nước Hoa Kỳ đã thông qua pháp quy đất đai đầu tiên (Land Ordinance of 1785) Theo đó, đã thành lập một cơ quan của Liên bang phụ trách
đo đạc và mua bán đất công, đồng thời vạch một đường chuẩn cơ bản từ cực điểm phía tây của giới tuyến Nam Penxivania lên phía Bắc; lấy đất phía Tây của đường vạch này chia ra thành từng khu, mỗi khu là 36 dặm Anh vuông, lại chia mỗi khu ra 36 mảnh đất, mỗi mảnh 640 mẫu Anh, chỉ định mảnh số 16 dùng cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục công cộng; các mảnh khác thì bán Theo quy định lúc đó, một nửa khu đất thì bán cả, còn một nửa khu thì lấy 640 mẫu Anh làm đơn vị để bán, giá bán mỗi mẫu Anh là 1 USD Năm 1787, nghị viện Liên bang thông qua pháp lệnh về đất đai vùng Tây Bắc (Northwest Ordinance of 1787), trong đó giải thích thêm quy định nêu trên Hai pháp lệnh sớm nhất đó của
Trang 27Hoa Kỳ mở đường cho việc đo đạc và mua bán đất công, thu hút mọi người đến
khai thác vùng đất phía Tây (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
Luật pháp Hoa Kỳ quy định quan hệ giữa chủ đất (Land Lord) và người thuê (Tenant) là tương đối chi tiết Người thuê không có đất mà chỉ có một số quyền lợi, đồng thời còn phải mang quyền lợi lại cho chủ đất, thuê mướn có kỳ hạn cố định, nếu quá một năm thì phải thỏa thuận bằng hợp đồng, đáo hạn thì quan hệ thuê mướn mặc nhiên hết hiệu lực Kỳ hạn sử dụng cũng có thể căn cứ vào việc tính toán tiền thuê và phương pháp chi trả để xác định, nếu một bên không thông báo việc kết thúc trước theo thời hạn quy định, thì việc thuê mướn đương nhiên vẫn tiếp tục Ngoài ra còn có các hành thức thuê “tùy ý”, thuê đất
“không chiếm hữu”, thuê đất “có chiếm hữu”, thuê đất “thả nổi”… phân biệt bằng tiền thuê và nghĩa vụ của các bên (chủ đất, người thuê) khi có sự sai khác
về chiếm hữu và sử dụng (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
1.2.4 Thụy Điển
Quản lý đất đai ở Thụy Điển bắt nguồn từ quá trình bảo vệ quyền sử dụng đất và việc cai quản đất đai Việc bảo vệ quyền đối với đất đai và thực hiện những giao dịch hợp pháp luôn có tầm quan trọng đối với người dân, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất
và lợi ích chung của Nhà nước Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hóa Pháp luật và chính sách đất đai ở thụy điển về cơ bản dự trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai
và kinh tế thị trường, có sự giám sát chung của xã hội Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây gắn liền với việc giải quyết các vấn
đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân Quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi, quyền thông hành địa dịch và các hoạt động khác như vấn đề bồi thường,
Trang 28quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất đai và hệ thống đăng ký (Nguyễn Đình Bồng, 2014)
1.2.5 Anh
Tại Anh, quyền tư hữu về đất đai được pháp luật thừa nhận Cùng với đó, luật pháp nước Anh cũng thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của nữ hoàng Anh (hình thức sở hữu này chỉ mang tính tượng trưng, nặng về ý nghĩa chính trị, không có ý nghĩa về mặt kinh tế và pháp luật) Bên cạnh đó nữ hoàng cũng có những diện tích đất thuộc QSH của hoàng gia mà không phải là sở hữu của Nhà nước Chế
độ sở hữu đất đai, nước Anh thực hiện mô hình sở hữu đất đai đa sở hữu Đó là vừa thừa nhận sở hữu đất đai của tư nhân và vừa thừa nhận đất đai sở hữu của nhà nước Hệ thống đăng ký đất đai của Anh là hệ thống đăng ký bất động sản (đất đai và tài sản khác gắn liền với đất) tổ chức đăng ký theo một hệ thống thống nhất có Văn phòng chính tại London và 14 văn phòng khác phân theo khu vực (địa hạt) phân bổ đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ Anh Quốc và Xứ Wales Mọi hoạt động của hệ thống đăng ký hoàn toàn trên hệ thống máy tình nối mạng theo một hệ thống thống nhất (máy làm việc không kết nối với INTERNET, chỉ nối mạng nội bộ để bảo mật dữ liệu)
Cơ sở của đăng ký được quy định rất chặt chẽ trong Luật đăng ký đất đai (Land Registration Act) được sửa đổi và ban hành mới vào năm 2002, có hướng dẫn chi tiết vào năm 2003 (Registration Rules) và được cập nhật, chỉnh sửa bổ sung vào năm 2009 Trước năm 2002 Văn phòng đăng ký đất đai hoạt động theo địa hạt Bất động sản thuộc địa hạt nào thì đăng ký tại Văn phòng thuộc địa hạt
đó Tuy nhiên, từ khi có Luật đăng ký mới (năm 2002) và khi hệ thống đăng ký hoạt động theo hệ thống đăng ký điện tử thì khách hành có thể lựa chọn bất kỳ Văn phòng đăng ký nào trên lãnh thổ Anh Một điểm nổi bật trong Luật đất đai
và Luật đăng ký có quy định rất chặt chẽ về đăng ký, bất kỳ người nào sở hữu đất đai và bất động sản trên lãnh thổ Anh đều phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai; Nhà nước chỉ bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu có tên trong
hệ thống đăng ký
Trang 29Cho đến năm 1994, Anh đã chuyển toàn bộ hệ thống đăng ký từ hệ thống đăng ký thủ công trên giấy sang hệ thống đăng ký tự động trên máy tính nối mạng, dùng dữ liệu số Dữ liệu số là dữ liệu có tính pháp lý nếu dữ liệu đó do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp Điều này được quy định cụ thể trong Luật đăng ký và Luật đất đai Về đối tượng đăng ký: Theo Luật đất đai của Anh lấy đơn vị thửa đất làm đơn vị đăng ký, các tài sản khác gắn liến với đất được đăng
ký kèm theo thửa đất dưới dạng thông tin thuộc tính Về chủ sở hữu chỉ phân biệt
sở hữu cá nhân và sở hửu tập thể (Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2012)
1.2.6 Những kinh nghiệm rút ra từ công tác quản lý đất đai tại các nước nghiên cứu
Như vậy có thể thấy, trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều mô hình sở hữu đất đai Mô hình phổ biến nhất là thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai Bên cạnh đó là mô hình chỉ thừa nhận hình thức sở hữu nhà nước về đất đai
là hình thức sở hữu duy nhất Mô hình đầu được áp dụng ở hầu hết các quốc gia còn mô hình thứ hai mang tính đặc thù vì lý do chính trị và lịch sử
Ở Trung Quốc tuy thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, nhưng thực chất có thể coi nó như hình thức sở hữu nhà nước Tuy Trung Quốc không thừa nhận sở hữu tư nhân đối với đất đai nhưng đã
có sự thay đổi cơ bản về phương thức thực hiện quyền sở hữu đất đai theo hướng
tư nhân hóa các quyền tài sản đối với đất đai Hiến pháp và luật pháp nước này
đã thừa nhận việc điều phối đất đai theo quan hệ thị trường, đất đai được coi là một loại hàng hóa, quyền tài sản của người sử dụng đất được ghi nhận và bảo vệ như một loại tài sản Tuy nhiên, việc phân loại mô hình sở hữu đất đai căn cứ vào hình thức sở hữu nói trên cũng chỉ mang tính hình thức nếu bỏ qua những yếu tố quan trọng như tính chất, cơ cấu về tỷ lệ diện tích thuộc từng hình thức sở hữu và đặc biệt là vấn đề cấu trúc của quyền sở hữu
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, không thể thay thế Vấn đề
sở hữu đối với đất đai có ý nghĩa quyết định trong thúc đẩy sự phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước Ở Việt Nam, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý
Trang 30Xét qua các mô hình sở hữu đất đai trên thế giới ta thấy bóng dáng của Việt Nam cũng xuất hiện trong các mô hình đó giống như các quốc gia khác Tuy Việt Nam không thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân đối với đất đai, nhưng nếu
so sánh nội dung quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai ở đa số các nước hiện nay với nội dung quyền sử dụng đất giao của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam cho thấy không có sự khác biệt đáng kể
Khi đánh giá về kết quả thực hiện quyền sở nhà nước về đất đai ở Việt Nam, Báo cáo của FAO về Những chiến lược cải cách quan hệ đất đai năm 1994 từng ghi nhận rằng: “Mô hình Nhà nước sở hữu đất đai nhưng giao quyền sử dụng đất cho tư nhân ở Việt Nam có thể được coi là mô hình tốt mà các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cần phải học tập và làm theo” Thành công này hoàn toàn trái ngược với tình trạng “tiêu cực, tham nhũng và sự phát triển trì trệ đồng hành với “liệu pháp sốc” của việc tư hữu hóa ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ”, buộc giới chính khách và học giả phương Tây phải có “quan điểm mới về vai trò của quyền sở hữu tài sản trong sự phát triển” theo hướng:
“Thay vì tuyên truyền tư hữu hóa là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thì nay
nó được cho là kết quả của sự tiến hóa xã hội”
Theo TS Phạm Văn Võ – Đại học Luật TP HCM, việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai so với việc tư nhân hóa thực hiện quyền sở hữu đất đai cũng có nhiều điểm cần phải cân nhắc Nếu như tư nhân hóa đất đai thông qua trao quyền sử dụng hầu như không gây ra bất kỳ sự xáo trộn nào vì nó đã thực hiện trên thực tế và dần đi vào ổn định thì việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu
có thể gây ra những hậu quả khôn lường Những ý kiến cho rằng có thể tư hữu hóa đất đai mà không gây những hậu quả tai hại thực chất đã không lường trước được những phản ứng của xã hội
Do chính sách đất đai trong thời gian qua có quá nhiều bất hợp lý và trong quá trình thực hiện, những chính sách bất hợp lý đó lại phát sinh tình trạng áp dụng, thực hiện sai dẫn đến những vụ khiếu kiện và phản đối từ phía người dân Khi quyền sở hữu tư nhân được công nhận chắc chắn sẽ thổi bùng lên sự phản đối của những chủ thể đã bị quốc hữu hóa nhất là những người bị quốc hữu hóa sai đối
Trang 31tượng, không đúng thủ tục theo quy định đương thời mà hiện nay đang được khỏa lấp bởi sở hữu toàn dân Đa dạng hóa các hình thức sở hữu đất đai không đơn giản
là thừa nhận một thực tế đang tồn tại mà sẽ tạo ra làn sóng đòi lại đất dẫn đến xáo trộn hiện trạng sử dụng đất đang dần được ổn định về cơ bản Tình trạng này sẽ là rất khó kiểm soát khi nó trở thành phong trào có sự hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài Kịch bản tư hữu hóa đất đai rất dễ trở thành bi kịch không chỉ ảnh hưởng tới lợi ích của người đã được giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng… mà còn phát sinh những hậu quả xấu về chính trị, xã hội
Tóm lại, cho dù Hiến pháp hay pháp luật có nêu quyền sở hữu nào trên văn bản “giấy trắng mực đen” thì người làm luật cũng cần cân nhắc xóa bớt hoặc
bổ sung những điều khoản để cân bằng mọi yếu tố giữa các bên, đặc biệt là nhân dân và chính quyền để tạo nên một sự hòa hợp bền vững về lợi ích kinh tế, xã hội
1.3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất trên phạm vi cả nước
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2013 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013), diện tích đất tự nhiên của nước ta (bao gồm cả đất liền và các đảo nổi) là 33.095.351 ha
Qua bảng 1.1 cho thấy tập trung chủ yếu là đất nông nghiệp có diện tích 26.197.449 ha (Chiếm 79,16 % tổng diện tích đất cả nước) Trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 10.118.085 ha (chiếm 30,57 % tổng diện tích đất); đất lâm nghiệp
là 15.346.126 ha (chiếm 46,37 % tổng diện tích đất); đất nuôi trồng thuỷ sản là 690.221 ha (chiếm 2,09 % tổng diện tích đất); đất làm muối là 17.562 (chiếm 0,05 % tổng diện tích đất) và đất nông nghiệp khác là 25.455 ha (chiếm 0,08 % tổng diện tích đất cả nước)
Đất phi nông nghiệp có diện tích 3.671.338 ha (chiếm 11,09% tổng diện tích đất cả nước) Trong đó tập trung chủ yếu là đất chuyên dùng có diện tích
Trang 321.795.638 ha (chiếm 5,43 % tổng diện tích đất); đất ở có diện tích 680.439 ha (chiếm 2,06 % tổng diện tích đất); đất tôn giáo, tín nhưỡng có diện tích 14.630 ha (chiếm 0,04 % tổng diện tích đất); đất nghĩa trang, nghĩa địa có diện tích 100.994
ha (chiếm 0,31 % tổng diện tích đất); đất sông suối mặt nước chuyên dùng có diện tích 1.075.751 ha (chiếm 3,25 % tổng diện tích đất) và đất phi nông nghiệp khác có diện tích 3.936 ha (chiếm 0,01 % tổng diện tích đất cả nước)
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất cả nước năm 2013
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.075.751 3,25
(Nguồn: Bộ Tài nguyên & Môi trường 2013)
Đất chưa sử dụng là 3.226.514 ha (chiếm 9,75 % tổng diện tích đất cả nước) thể hiện tại hình 1.1
Với tổng diện tích đất tự nhiên trên 33.095.351 ha, diện tích các loại đất thuộc khu vực đô thị thuộc các xã và thị trấn của cả nước hiện có 1.358.282 ha;
Trang 33trong đó có 474.783 ha đất đang dùng vào mục đích phi nông nghiệp (chiếm 34,95%), ngoài ra còn có 818.065 ha đất đang dùng vào mục đích nông nghiệp (chiếm 60,23%) và 65.434 ha đất chưa sử dụng (chiếm 4,82%)
79,16%
11,09%
9,75%
Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng
Hình 1.1 Cơ cấu các loại đất chính năm 2013 trên cả nước
Diện tích các loại đất thuộc phạm vi các khu dân cư nông thôn (thuộc các xã) của cả nước hiện có 2.783.865 ha; trong đó có 1.032.603 ha đất đang dùng vào mục đích phi nông nghiệp (chiếm 37,09 %), ngoài ra còn có 1.582.980 ha đất đang dùng vào mục đích nông nghiệp (chiếm 56,86 %) và 168.130 ha đất chưa sử dụng (chiếm 6,05 %) nước ta có 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi, được phân bố ở các tỉnh phía Bắc 15,80 triệu ha, (2,30 triệu ha ở đồng bằng, tập trung tại hạ lưu các dòng sông, các dải đất ven biển) Các tỉnh phía Nam có 17,20 triệu ha diện tích đất
tự nhiên với 6,70 triệu ha đất bằng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.3.1.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên phạm vi cả nước
a) Thực trạng quản lý đất của các tổ chức trên phạm vi cả nước
Tổng diện tích các tổ chức sử dụng đất trong cả nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có 7.833.142,70 ha, chiếm 23,65 % tổng diện tích tự nhiên của
cả nước với 144.485 tổ chức và 338.450 thửa đất Trong đó chủ yếu là diện tích
Trang 34đất của các nông - lâm trường quốc doanh quản lý, sử dụng (chiếm 77,88 % tổng diện tích đất của các tổ chức), tổ chức sự nghiệp công (chiếm 6,63 %), tổ chức kinh tế (chiếm 6,47 %) Trong khối tổ chức là cơ quan nhà nước (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công) thì tổ chức sự nghiệp công sử dụng đất là chủ yếu (chiếm đến 92,16 %)
Diện tích đất của các tổ chức phân bố ở các vùng, trong đó diện tích lớn nhất là tại vùng Tây Nguyên với 2.515.166,38 ha, chiếm 32,11 % tổng diện tích
sử dụng (trong đó tập trung chủ yếu diện tích sử dụng của các nông – lâm trường với 2.311.993,26 ha) và thấp nhất là tại vùng Tây Bắc với 176.381,38 ha, chiếm 2,25 % tổng diện tích sử dụng Vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm đến 22,69 % tổng số tổ chức của cả nước nhưng chỉ chiếm 3,07 % diện tích sử dụng đất của các tổ chức và phần lớn là diện tích đất của khối tổ chức các cơ quan nhà nước
* Tình hình giao đất
Tình hình giao đất của các tổ chức được thể hiện tại bảng 1.2 Đối với diện tích được nhà nước giao (có giấy tờ về giao đất) thì diện tích đất giao cho các loại hình tổ chức sử dụng trên phạm vi toàn quốc 5.149.562,27 ha, chiếm 65,74 % tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng và chiếm 15,55% so với tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó giao đất không thu tiền 5.097.118,91 ha (chiếm 98,98 % tổng diện tích giao đất) và giao đất có thu tiền 52.443,36 ha (chiếm 1,02 % tổng diện tích giao đất)
Bảng 1.2 Tình hình giao đất của các tổ chức trên cả nước
1 Giao đất không thu tiền 5.097.118,91 98,98
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2013)
Như vậy, diện tích sử dụng đất của các tổ chức chủ yếu được nhà nước giao đất (giao đất không thu tiền), trong đó tổ chức quốc phòng, an ninh và các tổ
Trang 35chức nông lâm trường có tỷ lệ diện tích được nhà nước giao tương đối cao, diện tích của các cơ quan nhà nước, UBND cấp xã chủ yếu là được nhà nước giao đất nhưng tỷ lệ giữa diện tích đất được giao có giấy tờ và diện tích đất sử dụng không giấy tờ thấp (khối cơ quan nhà nước chiếm 64,70 %, UBND cấp xã chiếm 28,82 %)
* Tình hình cho thuê đất
Tình hình cho thuê đất của các tổ chức trên cả nước thể hiện tại bảng 1.3 Diện tích đất do các loại hình tổ chức thuê sử dụng trên phạm vi toàn quốc 1.307.606,14 ha, chiếm 16,69% tổng diện tích đất của các tổ chức và chiếm 3,95% tổng diện tích tự nhiên của toàn quốc Trong đó, diện tích thuê đất trả tiền một lần 8.457,04 ha (chiếm 0,65 % tổng diện tích cho thuê đất) và thuê đất trả tiền hàng năm 1.299.149,10 ha (chiếm 99,35 % tổng diện tích cho thuê đất)
Bảng 1.3 Tình hình cho thuê đất của các tổ chức trên cả nước
1 Thuê đất trả tiền một lần 8.457,04 0,65
2 Thuê đất trả tiền hàng năm 1.299.149,10 99,35
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2013)
Trong tổng diện tích sử dụng 8.457,04 ha của hình thức thuê đất trả tiền một lần thì diện tích sử dụng tập trung chủ yếu ở tổ chức kinh tế 7.804,17 ha chiếm 92,28 % (trong đó, lớn nhất là Tây Nguyên 2.062,40; Đồng bằng sông Hồng 1.902,86 ha; Đông Nam Bộ 1.863,24 ha và Duyên hải Nam Trung Bộ 1.020,24 ha) Trong tổng diện tích sử dụng 1.299.149,10 ha của hình thức thuê đất trả tiền hàng năm thì diện tích tập trung chủ yếu ở các nông – lâm trường 998.460,14 ha, chiếm 76,85% (trong đó Tây Nguyên là 781.175,71 ha) và tổ chức kinh tế 298.051,15 ha, chiếm 22,94 % (trong đó Đông Nam bộ 87.110,16
ha, Tây Nguyên 68.925,02 ha, Đông Bắc 49.270,65 ha, Duyên hải Nam Trung
Bộ 31.076,47 ha) các loại hình tổ chức khác chiếm tỷ lệ dưới 0,10 %
Trang 36Bảng 1.4 Tình hình công nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử
dụng đất
(ha)
Cơ cấu (%)
I Diện tích đất được công nhận 684.476,66 89,80
1 Công nhận QSDĐ không thu tiền 626.231,49 91,50
II Diện tích đất chuyển quyền SDĐ 77.902,11 10,20
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2013)
Trong tổng diện tích được công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền 626.231,49 ha tập trung chủ yếu ở các nông lâm trường 444.028,02 ha, chiếm 70,90 %, UBND cấp xã 100.374,23 ha, chiếm 16,03 %, quốc phòng, an ninh 39.906,35 ha, chiếm 6,37 %, tổ chức sự nghiệp công 25.687,19 ha, chiếm 4,10
%, tổ chức kinh tế 9.408,07 ha, chiếm 1,50 %, các loại hình tổ chức còn lại chiếm tỷ lệ thấp, dưới 1,00 %
Diện tích được công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền 58.245,17 ha tập trung chủ yếu ở các nông – lâm trường là 52.926,90 ha (chiếm 90,87 %), tổ chức kinh tế 4.774,30 ha (chiếm 8,20 %), các loại hình tổ chức còn lại chiếm tỷ lên rất
Trang 37đó, lớn nhất là tổ chức sự nghiệp công 26,162,02 ha chiếm 33,58 %, cơ quan nhà nước 14.321,28 ha chiếm 18,38 %, UBND xã 10.294,57 ha chiếm 13,21 %, nông – lâm trường 9.362,25 ha chiếm 12,02 % Tổ chức khác có diện tích là 17.761,99
ha, chiếm 22,80 % so với tổng diện tích được giao quản lý
b) Thực trạng sử dụng đất của các tổ chức trên phạm vi cả nước
* Thực trạng tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 313.969,03 ha, trong đó đất tranh chấp có 1.184 tổ chức với diện tích 34.232,63 ha, đất lấn chiếm có 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn, bị chiếm có 3.915 tổ chức với diện tích 354.033,19 ha Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, UBND cấp xã, tổ chức sự nghiệp công Như vậy, qua kiểm kê cho thấy, số tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do khi thực hiện giao
Trang 38đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể: Một số khu đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
* Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao nhưng chưa sử dụng là 2.532.837 ha Trong đó diện tích đất bằng chưa sử dụng là 216.447 ha do 2.455
tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 48.888,90 ha do 1.681
tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu đô thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp , các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư Một số dự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện)
1.3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tổng diện tích tự nhiên Thành phố Hà Nội là 332.432,80 ha, chiếm 1,00
% diện tích cả nước; trong đó chủ yếu là diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 186.126,93 ha (chiếm 55,99 % tổng diện tích đất tự nhiên); đất sử dụng mục đích phi nông nghiệp là 137.675,89 ha (chiếm 41,40 % tổng diện tích đất tự nhiên), diện tích đất chưa sử dụng là 8.629,99 ha (chiếm 2,60 % tổng diện tích đất tự nhiên)
Diện tích các loại đất phân theo đối tượng sử dụng có tổng diện là 272.780,35 ha chiếm 82,06 % tổng diện tích đất tự nhiên trong đó (chi tiết thể hiện tại bảng 1.5):
Hộ gia đình, cá nhân có diện tích là 175.357,60 ha chiếm 64,29 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng sử dụng; UBND cấp xã có diện tích đất là 37.815,75 ha, chiếm 13,86 % so với diện tích đất theo đối tượng sử dụng; tổ chức kinh tế có diện tích là 25.448,93 ha, chiếm 9,33 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng sử dụng; cơ quan, đơn vị của Nhà nước có diện tích đất là 17.652,81
Trang 39ha, chiếm 6,47 % so với diện tích đất theo đối tượng sử dụng; Các tổ chức khác
có diện tích là 14.633,80 ha, chiếm 5,36 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng sử dụng; tổ chức Nhà nước, cá nhân là 1.397,09 ha chiếm 0,51 %; cộng đồng dân cư có diện tích là 436,45 ha chiếm 0,16 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng sử dụng
Diện tích đất theo đối tượng được giao để quản lý có tổng diện tích 59.652,45 ha chiếm 17,9 % tổng diện tích đất tự nhiên trong đó: Cộng đồng dân
cư có diện tích 21,19 ha (chiếm 0,03 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng được gia quản lý); UBND cấp xã có diện tích là 48.846,80 ha (chiếm 81,89 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng được giao để quản lý); tổ chức phát triển quỹ đất có diện tích là 506,58 ha (chiếm 0,85 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng được giao để quản lý); tổ chức khác đất có diện tích là 10.217,88 ha (chiếm 17,13 % so với tổng diện tích đất theo đối tượng được giao để quản lý)
Trang 40Bảng 1.5 Hiện trạng sử dụng đất tổ chức của Thành phố Hà Nội năm 2013
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2013)
Từ năm 2001 đến năm 2014, UBND Thành phố đã có quyết định thu hồi đất của 465 tổ chức để đất hoang hóa, sử dụng sai mục đích, vi phạm Pháp luật đất đai với diện tích 698,10 ha (Chiếm 41,58 % diện tích đất để hoang hóa) UBND các quận, huyện đã xử lý 962 trường hợp và thu hồi diện tích 85,06 ha Diện tích sau khi thu hồi được giao cho UBND xã, phường quản lý để quy hoạch
sử dụng vào đúng mục đích công cộng của địa phương Đã có 250 tổ chức đã khắc phục tình trạng để đất hoang hóa, 50 tổ chức đã lập dự án sử dụng đất đúng mục đích với 70,80 ha Đã thông báo hủy hợp đồng thuê đất tạm thời của 2.562 đơn vị chưa có giấy tờ hợp lệ; đã truy thu tiền thuê đất còn nợ đọng và thuế nhà đất trên 85 tỷ đồng; hướng dẫn 560 tổ chức nộp hồ sơ xin sử dụng đất Năm
2013, đã lập hồ sơ thu hồi đất của 65 tổ chức có vi phạm Luật Đất đai (đã thu hồi được 8,54 ha đất của 28 tổ chức)