Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại 3 xã vùng bãi ven sông Hồng .... Các giải pháp nâng cao chất lượng nước cấp phục vụ sinh hoạ
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục từ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu chung về Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 3
1.2 Cơ sở lý luận về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 5
1.2.1 Cơ sở lý luận về nước sạch 5
1.2.2.Cơ sở lý luận về vệ sinh môi trường nông thôn 6
1.3 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 11
1.3.1 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên thế giới 11
1.3.2 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam 12
1.3.3 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 13
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
CHƯƠNG III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đặc điểm về vùng bãi ven sông Hồng (tuyến đê Bối) huyện Yên Lạc 23
3.1.1 Hiện trạng đê Bối Yên Lạc 23
3.1.2 Đặc điểm lũ sông Hồng 25
3.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội các xã Trung Kiên, Hồng Phương, Hồng Châu 27
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 27
Trang 23.2.3 Đánh giá chung thực trạng phát triển kinh tế xã hội 36
3.3 Đánh giá thực trạng nước sạch tại 3 xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc 38
3.3.1.Tình hình sử dụng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt 38
3.3.2 Đánh giá tình hình sử dụng nước HVS 41
3.3.3 Chất lượng các nguồn nước cấp sinh hoạt 43
3.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nước cấp sinh hoạt tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc 47
3.4 Đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc 53
3.4.1 Thực trạng các giải pháp quản lý chất thải con người và động vật được áp dụng tại 3 xã vùng bãi 53
3.4.2 Đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn 56
3.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường nông thôn 58
3.5 Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại 3 xã vùng bãi ven sông Hồng 59
3.5.1 Những tồn tại trong công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 59
3.5.2 Nguyên nhân làm ảnh hưởng tới công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 59
3.6 Các giải pháp nâng cao chất lượng nước cấp phục vụ sinh hoạt và cải thiện vệ sinh môi trường nông thôn cho 3 xã vùng bãi ven sông Hồng 60
3.6.1 Các giải pháp đã được áp dụng tại địa phương 60
3.6.2 Các biện pháp đề xuất 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1.Kết luận 66
2.Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 1 MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA 70
PHỤ LỤC 2: BỘ CHỈ SỐ THEO DÕI ĐÁNH GIÁ NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN 81
PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH 87
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
1.1 Lượng chất thải hàng ngày của động vật theo % khối lượng cơ thể 7
1.2 Lượng phân thải ra ở gia súc, gia cầm hàng ngày 7
1.3 Tổng lượng phân gia súc, gia cầm thải ra môi trường trong giai đoạn 2009-2011 8
1.4 Thành phần hoá học của phân lợn từ 70 – 100 kg 8
1.5 Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải chăn nuôi lợn 9
1.6 Tổng lượng nước thải chăn nuôi gia súc giai đoạn 2009 – 2011 10
1.7: Bảng dân số sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh 15
1.8: Bảng tỷ lệ số hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh 16
1 9: Hiện trạng cấp nước tại các trường học, cơ sở công cộng tỉnh Vĩnh Phúc 17
3.1 Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành của 3 xã vùng bãi năm 2014 31
3.2 Cơ cấu tỷ trọng kinh tế 3 xã vùng bãi năm 2014 32
3.3 Tình hình sử dụng nguồn nước cấp sinh hoạt của 3 xã vùng bãi 38
3.4 Bảng tổng hợp số liệu cấp nước hộ gia đình 40
3.5 Bảng tổng hợp số liệu cấp nước và vệ sinh môi trường trường học và trạm y tế 41
3.6 Vị trí các điểm lấy mẫu nước cấp sinh hoạt 44
3.7 Bảng tổng hợp kết quả phân tích 45
3.8 Đặc điểm các vị trí lấy mẫu 46
3 9: Các thông số thủy văn của tầng chứa nước qp ở các khu vực tỉnh Vĩnh Phúc 50
3 10:Kết quả tính toán trữ lượng động trong toàn tỉnh Vĩnh Phúc 51
3.11 Số liệu vệ sinh môi trường hộ gia đình 55
3.12 So sánh hai mô hình xử lý nước cấp sinh hoạt 64
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
3.1 Sơ đồ hành chính huyện Yên Lạc 27
3.2 Tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước HVS 42
3.3 Tỷ lệ trường học có nước và nhà tiêu HVS 43
3.4 Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu HVS 57
3.5 Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi HVS 57
3 6 Bể chứa nước cấp sinh hoạt 60
3.7 Bể và vật liệu lọc nước 61
3.8 Hệ thống thu và chứa nước mưa 63
3.9 Hệ thống lọc xây dựng tại chỗ 64
3.10 Hệ thống lọc lắp đặt sẵn 65
3.11 Mô hình hầm Biogas bằng vật liệu compositeỊ 65
Trang 5NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN&MT Tài nguyên và môi trường
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước sạch và vệ sinh môi trường là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân Chính vì vậy, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường ô nhiễm là nguyên nhân chủ yếu gây nên các bệnh đường ruột như: tả, lỵ….Theo bác sỹ Nguyễn Huy Nga (Vụ Y
tế dự phòng, Bộ Y tế): “Ở Việt Nam, chúng ta có gần 80% loại bệnh tật liên quan đến chất lượng nước và vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh về đường ruột, bệnh tả, bệnh thương hàn…”
Theo kết quả của Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 3 (2011 – 2015), tính đến năm 2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 48.752.457 người, đạt tỷ lệ 80% Trong đó, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/2009:BYT trở lên là 40% Mục tiêu đến cuối năm 2015, phấn đấu 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 100% các trường mầm non
và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn đủ nước sạch Về vệ sinh môi trường, phấn đấu 65% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 45% số hộ nông dân chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh; 100% các trường mầm non và phổ thông, trạm y tế xã ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh
Yên Lạc là huyện đồng bằng Bắc bộ, nằm bên tả ngạn sông Hồng Do đặc điểm địa lý và địa hình cùng với cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư xây dựng đồng
bộ nên điều kiện cấp nước và vệ sinh môi trường chưa được đảm bảo
Tại các xã vùng bãi ven sông Hồng, nhiều nơi vẫn chưa có hệ thống cấp nước tập trung, do đó hầu hết các hộ khai thác sử dụng nước ngầm mạch nông phục vụ sinh hoạt, nước khai thác sử dụng trực tiếp hoặc chỉ xử lý sơ bộ
Để làm rõ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại các xã vùng bãi ven sông Hồng
- huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại
các xã vùng bãi huyện Yên Lạc
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nước cấp sinh hoạt và
cải thiện điều kiện vệ sinh cho người dân các xã vùng bãi huyện Yên Lạc
3 Yêu cầu của đề tài
- Yêu cầu về tài liệu: Tài liệu, số liệu thu thập phải đầy đủ, đạt độ tin cậy
cần thiết, đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu
- Yêu cầu về phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu phù hợp
với mục tiêu nghiên cứu
- Yêu cầu về kết quả:
+ Làm rõ thực trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại các xã vùng bãi huyện Yên Lạc
+ Các giải pháp đề xuất phải khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội của địa phương
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Khu vực nông thôn Việt nam chiếm 75% dân số cả nước và nông nghiệp luôn là bộ phận quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên, người dân nông thôn nói chung còn nghèo, trong quá trình cải cách kinh tế đang có xu hướng ngày càng tụt hậu so với dân thành thị cả về phát triển kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống
Đảng - Chính phủ đang tập trung vào phát triển nông thôn, coi phát triển nông thôn là ưu tiên quốc gia, đang triển khai nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện và là chương trình khung định hướng các nội dung cần thiết phải thực hiện để xây dựng các xã đạt chuẩn nông thôn mới, nhằm xây dựng nông thôn phát triển toàn diện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị ở
cơ sở và an ninh trật tự xã hội ở nông thôn Để được công nhận là xã đạt chuẩn
nông thôn mới thì phải đạt 19 tiêu chí sau đây:
1 Xã đạt tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch
2 Xã đạt tiêu chí về giao thông
3 Xã đạt tiêu chí về thủy lợi
4 Xã đạt tiêu chí về điện
5 Xã được công nhận đạt tiêu chí về trường học
6 Xã đạt tiêu chí về văn hóa
7 Xã đạt tiêu chí về chợ
8 Xã đạt tiêu chí về bưu điện
9 Xã đạt tiêu chí về nhà ở dân cư
Trang 916 Xã đạt tiêu chí về văn hóa
17 Xã đạt tiêu chí về môi trường
18 Xã đạt tiêu chí về xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh
19 Xã đạt tiêu chí về An ninh, trật tự xã hội là xã giữ vững được an ninh, trật tự
Khó khăn lớn nhất để đạt nông thôn mới của tất cả các địa phương trên cả nước là đạt tiêu chí thứ 17 – tiêu chí về môi trường phải đạt các chỉ tiêu sau:
- Có 85% số hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia;
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt chuẩn về môi trường;
- Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp;
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch;
- Nước thải, chất thải được thu gom xử lý theo quy định
Chính vì vậy, Chính phủ cũng ưu tiên cho phát triển Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đã quyết định đưa việc giải quyết nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trở thành một trong bảy (7) chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng nhất Nhiều dự án xây dựng công trình Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn do Nhà nước và quốc tế tài trợ như chương trình UNICEF đã và đang được triển khai ở các địa phương Mặc dù vậy, các dự án được triển khai mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu cấp nước sạch và vệ sinh của toàn dân Hiện nay, dân số nông thôn sử dụng nước và nhà tiêu không đảm bảo tiêu
Trang 10giun, đường ruột rất phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh thường gặp trong nhân dân Vấn đề xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh đang trở thành một đòi hỏi rất cấp bách và có quy mô rộng lớn trong những năm tới
Trong bối cảnh đó, cần phải có một chiến lược phát triển tổng quát và lâu dài cho lĩnh vực Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn
Cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn là một khái niệm rộng lớn, trong chiến lược này chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và các nhu cầu vệ sinh trong gia đình Phạm vi nghiên cứu của Chiến lược bao gồm tất cả các vùng nông thôn trong cả nước
1.2 Cơ sở lý luận về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
1.2.1 Cơ sở lý luận về nước sạch
Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nước trong không màu
- Không mùi vị lạ, không có tạp chất
- Không chứa chất tan có hại
- Không gây mầm bệnh
• Các nguồn cung cấp nước sạch
Các nguồn nước tự nhiên hoặc qua xử lý đạt các mức theo tiêu chuẩn nước sạch cho sinh hoạt và ăn uống đều là nguồn nước sạch Nước sạch được chia ra làm 2 loại: Nước sạch quy ước và nước sạch cơ bản
Nước sạch quy ước (Theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường) gồm các nguồn nước sau đây:
- Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm nước
- Nước giếng khoan có chất lượng tốt, ổn định
- Nước mưa hứng, trữ sạch
- Nước mặt (nước sông, rạch, ao suối) có xử lý lắng trong và tiệt trùng Nước sạch cơ bản là nguồn nước có điều kiện đảm bảo chất lượng nước sạch và được kiểm tra theo dõi chất lượng nước thường xuyên gồm có:
- Nước cấp qua đường ống từ nhà máy nước hoặc trạm cấp nước nông thôn
- Nước giếng khoan tầng nông hoặc sâu có chất lượng tốt, ổn định và được
sử dụng thường xuyên
Trang 111.2.2.Cơ sở lý luận về vệ sinh môi trường nông thôn
Vệ sinh môi trường là lĩnh vực rất rộng lớn, bao gồm rất nhiều vấn đề nhưng trong đề tài này chỉ đề cập đến một số các mục tiêu chủ yếu của “Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường”, bao gồm các vấn đề sau:
• Một số khái niệm
- Nhà tiêu hợp vệ sinh cho con người: Là nhà tiêu bảo đảm cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh
- Chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh: Là chuồng trại nằm cách biệt với nhà
ở, chất thải chăn nuôi được quản lý và xử lý hợp vệ sinh, ví dụ như sử dụng hầm Biogas
• Các công trình vệ sinh môi trường nông thôn
- Xử lý chất thải con người: Nhà tiêu Nhà tiêu có nhiều loại , gồm có: + Nhà tiêu khô
+ Nhà tiêu khô chìm
+ Nhà tiêu khô nổi (1 ngăn, 2 ngăn)
+ Nhà tiêu dội nước
+ Nhà tiêu tự hoại
- Xử lý chất thải chăn nuôi: Chuồng trại chăn nuôi, hầm Biogas
• Thành phần và tính chất của chất thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi chia ra thành 3 nhóm: chất thải rắn, chất thải lỏng, tiếng ồn và khí thải
- Chất thải rắn– phân
Là những thành phần từ thức ăn nước uống mà cơ thể gia súc không hấp thụ được và thải ra ngoài cơ thể Chất thải rắn chăn nuôi lợn có độ ẩm từ 56 - 83% (Bùi Hữu Đoàn, 2011), chứa nhiều hợp chất hữu cơ, vô cơ và một lượng lớn các VSV, trứng các ký sinh trùng có thể gây bệnh cho người và vật nuôi
Số lượng chất thải trên một đầu động vật phụ thuộc vào khối lượng cơ thể
Trang 12Bảng 1.1 Lượng chất thải hàng ngày của động vật theo % khối lượng cơ thể Động vật Lượng chất thải theo % khối lượng cơ thể Lượng phân
(Nguồn: Cục chăn nuôi, 2011)
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và khẩu phần ăn Đối với gia súc ở các lứa tuổi khác nhau thì lượng phân thải ra khác nhau Theo Hill và Tollner (1982), lượng phân thải ra trong một ngày đêm của lợn có khối lượng dưới 10 kg là 0,5-1 kg, từ 15-40 kg là 1-3 kg phân, từ 45-
100 kg là 3-5 kg Như vậy lượng chất thải rắn biến động rất lớn và còn phụ thuộc vào cả mùa vụ trong năm (Bùi Hữu Đoàn, 2011)
Bảng 1.2 Lượng phân thải ra ở gia súc, gia cầm hàng ngày
Loại gia súc, gia cầm Phân tươi
(Nguồn: Bùi Hữu Đoàn, 2011)
Với tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi mạnh như hiện nay, thì lượng phát thải chất thải rắn của chăn nuôi cũng được tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của ngành này Theo trang tin xúc tiến thương mại - Bộ NN&PTNT số 01-2013 nếu với mức thải trung bình 1,5 kg phân lợn/con/ngày; 15kg phân trâu,
Trang 13bò/con/ngày; 0,5kg phân dê/con/ngày và 0,2 kg phân gia cầm/con/ngày thì hàng năm với tổng đàn vật nuôi trong cả nước thì riêng lượng phân phát thải trung bình đã hơn 85 triệu tấn mỗi năm Lượng phân này phân hủy tự nhiên nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm nặng nề đất, nước và không khí do phát thải nhiều khí độc như CO2, CH4 (còn gây hiệu ứng nhà kính), đặc biệt H2S có mùi trứng thối
có thể gây choáng, nôn mửa cho người hít phải
Bảng 1.3 Tổng lượng phân gia súc, gia cầm thải ra môi trường trong giai
đoạn 2009-2011
ĐVT: Triệu tấn
(Nguồn: Bộ NNPTNT, 2013)
Thành phần các chất trong phân gia súc, gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau như: Thành phần dưỡng chất của thức ăn và nước uống; độ tuổi; tình trạng sức khỏe vật nuôi,…
Bảng 1.4 Thành phần hoá học của phân lợn từ 70 – 100 kg
Trang 14ủ phân và bón cho cây trồng thì rất tốt Trong quá trình ủ phân, vi sinh vật phân hủy các chất hữu cơ tươi và giải phóng chất khoáng dạng hòa tan dễ dàng cho cây trồng hấp thu Ngoài ra, trong phân còn có chứa nhiều loại vi khuẩn, virus và trứng ký sinh trùng, trong đó vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacea chiếm đa số với các giống điển hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella Trong 1 kg phân có chứa 2.000 – 5.000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Ascaris suum, Oesophagostomum, Trichocephalus (Nguyễn Thị Hoa
Lý, 2005)
Bảng 1.5 Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải chăn nuôi lợn
Nước thải chăn nuôi gồm hỗn hợp phân, nước tiểu và nước rửa chuồng Vì vậy, nước phân chuồng rất giàu chất dinh dưỡng và có giá trị lớn về mặt phân bón Nước phân chuồng nghèo lân, giàu đạm và rất giàu Kali Đạm trong nước phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: urê, axit uric và axit hippuric, khi để
Trang 15tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào đất thì bị VSV phân giải axit uric và axit hippuric thành urê và sau đó chuyển thành amoni carbonat (Bùi Hữu Đoàn, 2011)
Trong nước thải chăn nuôi, hàm lượng BOD rất cao khoảng trên 3.000 mg/l, hàm lượng nitơ trên 200, hàm lượng chất lơ lửng và số lượng vi sinh vật cũng rất cao Theo Bộ NN&PTNT (2013) hàng năm đã có tới khoảng 36 triệu tấn nước tiểu vật nuôi được thải ra, chưa kể hàng chục triệu tấn nước thải sau tắm và rửa chuồng trại nữa
Bảng 1.6 Tổng lượng nước thải chăn nuôi gia súc giai đoạn 2009 – 2011
170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi, điển hình là các khí CO2, CH4, NH3,
NO2,N2O, NO, H2S, indol, schatol mecaptan (Giáo trình quản lý chất thải chăn nuôi, ĐHNN, 2011)…và hàng loạt các khí gây mùi khác Ở điều kiện bình thường, các chất bài tiết từ gia súc, gia cầm như phân và nước tiểu nhanh chóng
bị phân giải tạo ra nhiều chất khí có khả năng gây độc cho người và vật nuôi (Bùi Hữu Đoàn, 2011)
Tiếng ồn trong chăn nuôi thường gây nên bởi hoạt động của gia súc, gia cầm hay tiếng ồn sinh ra từ hoạt động của các máy công cụ sử dụng trong chăn nuôi Tiếng ồn từ gia súc, gia cầm là những âm thanh chói tai, rất khó chịu, đặc biệt là trong những khu chuồng kín
Trang 16• Tác hại của phân người và chất thải chăn nuôi
- Tác hại của phân người
Phân người không được thu gom và xử lý tốt sẽ gây nên ô nhiễm đất, nước và không khí, làm lây lan nhiều bệnh tật như tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, bại liệt, giun sán…
Là nơi sinh sống của côn trùng như ruồi, nhặng, gián… Là các con vật trung gian lây truyền mầm bệnh
- Tác hại của chất thải chăn nuôi
Là nơi sinh sống của các côn trùng trung gian truyền bệnh, là nơi chứa các mầm bệnh nguy hiểm Các loại VSV trong phân gia súc có thể tồn tại vài ngày tới vài tháng ở môi trường có nhiệt độ cao và chúng có thể gây ra nhiều bệnh cho
con người, vật nuôi
Do vậy phát triển chăn nuôi nếu không đi kèm với các biện pháp xử lý chất thải sẽ làm môi trường sống của con người xuống cấp nhanh chóng, môi trường bị ô nhiễm lại tác động trực tiếp đến vật nuôi, phát sinh nhiều dịch bệnh, giảm năng suất, gây thiệt hại cho người chăn nuôi
1.3 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
1.3.1 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên thế giới
Chất lượng các nguồn nước của chúng ta ngày càng bị đe dọa Hoạt động của con người trong hơn 50 năm qua là nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồn nước chưa từng có trong lịch sử
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 1,2 tỉ người trên thế giới không được sử dụng nước sạch, 2,6 tỉ người thiếu nước do các cơ sở dịch vụ cung cấp và số này đang gia tăng LHQ ước tính có 2,6 tỉ người tại 48 quốc gia sẽ sống trong điều kiện căng thẳng và khan hiếm nước vào năm 2025 Mỗi năm 1,6 triệu dân trên thế giới chết do thiếu nước sạch
Cùng điều kiện nước không an toàn là điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân kém dẫn đến mỗi năm có 4 tỷ ca mắc bệnh tiêu chảy, 1,5 triệu ca tử vong do bệnh này Đặc biệt ở các nước đang phát triển mỗi năm 10% dân số bị ảnh hưởng bởi giun sán, khoảng 200 triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng do
Trang 17bệnh sán máng và 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột, một bệnh phổ biến ở các cộng đồng nông thôn nghèo thiếu phương tiện vệ sinh cá nhân cơ bản, thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường
Có thể thấy rằng gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới có thể được ngăn ngừa bằng cách cải thiện cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và quản lý nguồn nước
1.3.2 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam
• Hiện trạng nước sạch
Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn trên 40% dân số nông thôn chưa có nước sạch để dùng Nước mặt ở các sông, hồ, suối, ao đã nhiễm bẩn, nhiễm mặn Nước ngầm và nước mặt trên lãnh thổ nước ta do phân bố không đồng đều, phụ thuộc vào lượng mưa hàng tháng nên đa phần khu vực miền núi, miền Trung rất thiếu nước, đặc biệt là vào mùa khô Người dân thuộc các tỉnh vùng núi phía Bắc như Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Giang và vùng Tây Nguyên, Bình Thuận, Ninh Thuận, số người nông dân tiếp xúc với nguồn nước sạch chỉ trên 28% và thường xuyên phải chịu khát ít nhất 1-2 tháng trong mùa khô Dân cư của các huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), Bố Trạch (Quảng Bình), thị trấn Đông Hà (Quảng Trị), thường phải sống và trăn trở với nạn hạn hán và thiếu nước sinh hoạt Nhiều công trình cấp nước tự chảy đã được đầu tư không phát huy được tác dụng vào những tháng mùa khô, ít mưa
Trong khi khu vực miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và miền Trung thường phải đối mặt với việc thiếu nước gay gắt thì Đồng bằng sông Cửu Long nơi chiếm 12% diện tích cả nước (3,9 triệu ha) với dân số bằng 21% dân số
cả nước lại phải đối mặt với các sự cố do lũ lụt gây ra Lũ lụt không những gây trở ngại cho việc tổ chức sản xuất mà còn gây các ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, đặc biệt là công tác vệ sinh môi trường, thu dọn rác thải, xác gia súc, gia cầm chết, mùi xú uế, rác thải tràn ngập sau những ngày ngập lũ Theo thống kê, hơn 70% số hộ sống ở vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên phải dùng nguồn nước không đảm bảo vệ sinh Số người bị
Trang 18nóng là những tháng trọng điểm sốt xuất huyết tại khu vực Không những thế, nước nhiễm phèn, ô nhiễm nước từ các xí nghiệp chế biến hải sản, chuồng trại gia súc, do phân và rác thải của người và gia súc là vấn nạn của nhiều khu vực trong vùng
Hệ thống cấp nước tại khu vực nông thôn, đa phần là các trạm cấp nước quy mô nhỏ, các giếng khoan gia đình, chất lượng nước không được kiểm tra thường xuyên do kinh phí hạn hẹp và việc quản lý chất lượng nguồn nước uống không đồng bộ Hầu hết các mẫu nước lấy tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long đều có vấn đề phải quan tâm
• Vệ sinh môi trường nông thôn
Theo kết quả của Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 3 (2011-2015), khoảng 11.436.500 hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu, chiếm 77% tổng số hộ, trong đó 8.905.988 hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, tăng 1.762.000 hộ so với khi bắt đầu thực hiện Chương trình giai đoạn 2 (2006 – 2011), trung bình tăng 2%/năm, nâng tỷ lệ số hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh là 40% cuối năm 2005 lên 55% năm
2010, thấp hơn kế hoạch 15%
Số chuồng trại chăn nuôi được cải tạo và xây dựng mới đáp ứng việc quản
lý chất thải đã tăng lên Đến năm 2010, khoảng 2.700.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, chiếm 45% trên tổng số 6.000.000 hộ chăn nuôi; khoảng 18.000 trang trại nuôi tập trung hầu hết chất thải đã được thu gom và xử lý Số chuồng trại đã có công trình Biogas là 1.000.000 chuồng trại, chiếm gần 17% (Bộ Y tế, 2011)
1.3.3 Hiện trạng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 19+ Giếng đào khai thác nước ngầm tầng nông
+ Giếng khoan khai thác nước mặt tầng nông và trung bình có sử dụng bơm tay hoặc bơm điện
+ Bể, lu chứa nước mưa và nước suối cho các hộ gia đình vùng núi
- Công trình cấp nước tập trung có hai hình thức là bơm dẫn và tự chảy, khai thác nguồn nước ngầm và nước mặt, tùy thuộc vào đặc tính thủy văn của mỗi vùng
Đến hết tháng 6 năm 2013, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 75,5% Trong đó: tỷ lệ số dân được sử dụng nước theo quy chuẩn QCVN02:2009/BYT đạt 39,7%
Qua khảo sát, phân tích và đánh giá chất lượng nước từ các công trình cấp nước tập trung, công trình cấp nước nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh cho kết quả như sau:
+ Chất lượng nước từ công trình cấp nước nhỏ lẻ tỷ lệ đạt quy chuẩn cho phép rất thấp, nước có những chỉ tiêu vượt mức cho phép như: sắt, độ đục, amoni Đặc biệt, toàn bộ các xã vùng bãi như Vĩnh Thịnh, Vĩnh Ninh, Cao Đại (huyện Vĩnh Tường); Đại Tự, Liên Châu, Hồng Phương, Trung Kiên, Nguyệt Đức (huyện Yên Lạc)… nguồn nước ngầm từ các giếng khoan của các hộ dân hầu hết ít nhiều bị nhiễm Asen
+ Các công trình cấp nước tập trung nông thôn hoạt động ổn định cho chất lượng nước cấp đạt yêu cầu theo QCVN 02:2009, những công trình hoạt động không bền vững, trang thiết bị xuống cấp nên chất lượng nước cấp kém, đặc biệt với tình hình diễn biến của chất lượng nguồn nước phức tạp như hiện nay thì yêu cầu về xử lý nước cần được đáp ứng phù hợp để có chất lượng nước cấp đảm bảo
• Hiện trạng vệ sinh môi trường
- Chất thải sinh hoạt
+ Về công trình nhà tiêu hộ gia đình: Năm 2013, thì tỷ lệ số hộ gia đình
nông thôn có nhà tiêu HVS đạt 63,13% Với một số loại hình nhà tiêu như: nhà tiêu tự hoại, hai ngăn sinh thái, thấm dội, chìm có ống thông hơi Cụ thể tỷ lệ %
Trang 20Bảng 1 7: Bảng dân số sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
TT Tên huyện Số hộ Số hộ
nghèo
Hộ sd nhà tiêu HVS Tỷ lệ %
Số nhà tiêu xây mới trong năm
Số nhà tiêu hỏng trong năm
Số hộ
có nhà tiêu
Số hộ có nhà tiêu HVS
Số hộ nghèo có nhà tiêu HVS
Số hộ
có nhà tiêu HVS
Số hộ nghèo có nhà tiêu HVS
Trang 21- Chất thải chăn nuôi
Năm 2013, Vĩnh Phúc tỷ lệ số chuồng trại chăn nuôi gia súc HVS đạt 54,48% Cụ thể chất thải chăn nuôi cho mỗi huyện trong năm 2013 như bảng sau:
Bảng 1.8: Bảng tỷ lệ số hộ chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh
TT Tên huyện Số hộ chăn nuôi Số hộ có chuồng trại HVS Tỷ lệ %
(Nguồn: Báo cáo bộ chỉ số nước sạch và VSMT nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc2013)
Số hộ chăn nuôi có chuồng trại không hợp vệ sinh còn ở mức cao, tỷ lệ các hộ dân có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi: hầm Biogas, hố ủ phân… còn ở mức hạn chế Bên cạnh đó hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng lượng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước ở các thủy vực
- Về cấp nước và công trình vệ sinh cho các địa điểm công cộng
Công trình cấp nước và nhà vệ sinh tại các địa điểm công cộng thường được xây dựng đồng thời, vì phải có nước thì vệ sinh mới đảm bảo nên hai tiêu chí này sẽ được đánh giá song song với nhau
Đối với các trạm y tế, các trường học tỷ lệ được sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh trong những năm qua đã được cải thiện một cách đáng kể (chi
Trang 22Bảng 1 9: Hiện trạng cấp nước tại các trường học, cơ sở công cộng tỉnh Vĩnh Phúc
STT Tên huyện
Tổng trường học
Số trường học có nước và nhà tiêu HVS
Số trường học có nước HVS
Số trường học có nhà tiêu HVS
Số trạm
Số trạm
có nước
và nhà tiêu HVS
Số trạm
có nước HVS
Số trạm
có nhà tiêu HVS
Trang 23Nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh trong trường học là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm sức khỏe của giáo viên và học sinh, nhằm tăng cường chất lượng giáo dục Một số trường học nông thôn đã được sử dụng nguồn nước máy, tuy nhiên hệ thống các vòi nước thường xuyên bị hỏng hóc nên xảy ra thiếu nước uống và thiếu nước sinh hoạt cho các giáo viên và các em học sinh Ở một số vùng chưa có nước sạch, nguồn nước uống và sinh hoạt được lấy từ giếng đào, giếng khoan, nước mưa nhưng các công trình này phần lớn sau một thời gian đi vào sử dụng đã bị xuống cấp, bị hỏng hóc, thậm chí một số công trình đã
bị bỏ ngỏ nên ảnh hưởng tới chất lượng nước cấp, đặc biệt ảnh hưởng đến điều kiện vệ sinh và gây ra dịch bệnh trong trường học
Theo báo cáo cho thấy, có tới 30% trường học nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc không có nhà vệ sinh hoặc nhà vệ sinh không bảo đảm chất lượng Ở những trường có nhà vệ sinh, nhưng tới gần 20% không có vòi nước rửa và phần lớn chưa có xà phòng rửa tay cho học sinh Ở một số trường học, nhà vệ sinh bị xuống cấp, hỏng bồn cầu, hỏng cửa che, mất vệ sinh, thiếu nước, không có xà phòng, không có giấy vệ sinh… còn xảy ra phổ biến và chưa được sửa chữa Bên cạnh đó ý thức của học sinh trong việc đi vệ sinh còn kém, gây mất vệ sinh thường xuyên Đặc biệt, ở một số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng gặp khó khăn của huyện Tam Đảo, theo thống kê trên toàn huyện Tam Đảo mới chỉ có 63% số trường học có nhà tiêu HVS Trường học là nơi tập trung đông người, nếu điều kiện vệ sinh môi trường không bảo đảm, thiếu nguồn nước sạch và nhà vệ sinh thì nguy cơ phát sinh, lan truyền dịch bệnh rất cao, trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như: tiêu chảy, tả Chưa kể vì điều kiện vệ sinh không bảo đảm, rất nhiều học sinh vì sợ bẩn nên "nhịn" tiểu dẫn đến bị bệnh
Trang 24CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nước sạch (nước cấp sinh hoạt) và vệ sinh môi trường nông thôn theo
“Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường” tại các xã vùng bãi ven sông Hồng - huyện Yên Lạc
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Các xã vùng bãi ven sông Hồng của huyện Yên Lạc - tỉnh
Vĩnh Phúc gồm 7 xã: Đại Tự, Liên Châu, Hồng Châu, Hồng Phương, Trung Kiên, Trung Hà, Nguyệt Đức
- Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Do thời gian nghiên cứu có hạn nên Đề
tài tập trung nghiên cứu vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường, tại các xã nằm trong vùng bãi ngoài đê Bối là các xã: Hồng Châu, Hồng Phương, Trung Kiên
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm về vùng bãi ven sông Hồng (tuyến đê Bối) huyện Yên Lạc 2.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
- Điều kiện tự nhiên các xã Hồng Châu, Hồng Phương, Trung Kiên;
- Tình hình kinh tế - xã hội các xã Hồng Châu, Hồng Phương, Trung Kiên
2.3.3 Đánh giá thực trạng nước sạch tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc
• Tình hình sử dụng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt
+ Nước mặt, nước mưa
+ Nước ngầm
+ Trạm cấp nước tập trung
• Chất lượng các nguồn nước cấp sinh hoạt
• Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nước cấp sinh hoạt tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc
Trang 25- Các yếu tố tự nhiên
+ Đặc điểm địa hình
+ Đặc điểm địa chất thủy văn
- Các yếu tố nhân tạo
+ Kinh tế - xã hội
+ Vệ sinh môi trường không đảm bảo
2.3.4 Đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc
Thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn theo “Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường” tập trung ở những vấn đề như: xử lý chất thải con người (nhà tiêu), xử lý chất thải chăn nuôi (chuồng trại chăn nuôi)
Do đó đề tài sẽ thực hiện nghiên cứu các nội dung sau:
- Các giải pháp quản lý chất thải được áp dụng tại địa phương
Trang 262.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Phương pháp thu thập thông tin
• Thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Khảo sát thực tế tại các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc Phương pháp áp dụng là phương pháp điều tra khối ngẫu nhiên: mỗi khối
là 1 đơn vị hành chính (xã), các hộ dân được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được xây dựng dưới hình thức đặt câu hỏi trực tiếp với người dân bao gồm các nội dung chính: Công tác vệ sinh môi trường (chuồng trại chăn nuôi, loại hình nhà tiêu), nguồn cấp nước, đặc điểm của nguồn cung cấp nước, chất lượng và lưu lượng nguồn cấp nước
Tiêu chí chọn điểm điều tra: Điểm điều tra phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, và mang tính đại diện cho thôn, xã
Đối tượng điều tra: Tổ chức (cán bộ xã), hộ gia đình
Số phiếu điều tra: Đề tài thực hiện 200 phiếu điều tra
Số phiếu thu về đảm bảo yêu cầu: 189 phiếu
• Thu thập số liệu thứ cấp
- Phương pháp tham khảo, kế thừa
Tham khảo, kế thừa các tài liệu, báo cáo và các nghiên cứu trước đó phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
+ Các báo cáo về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội, môi trường của các
xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc
+ Nguồn thu thập: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vĩnh Phúc; Sở Tài nguyên và môi trường Vĩnh Phúc; UBND huyện Yên Lạc, UBND các xã vùng bãi ven sông Hồng huyện Yên Lạc; Thư viện; internet…
2.4.2.Phương pháp lấy mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm
• Phương pháp lấy mẫu
Thực hiện theo tiêu chuẩn lấy mẫu nước hiện hành
TCVN 6663-11:2011._ Chất lượng nước Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
Trang 27So sánh kết quả với các quy chuẩn:
- QCVN 02: 2009/BYT_Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
- QCVN 01:2011/BYT_ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu đảm bảo hợp vệ sinh
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Thống kê, tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được trên máy tính như Excel,
- Xử lý số liệu và đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành
về chất lượng nguồn nước
- Phân tích và đánh giá số liệu theo Bộ chỉ số theo dõi đánh giá Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
Trang 28CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm về vùng bãi ven sông Hồng (tuyến đê Bối) huyện Yên Lạc
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 2 hệ thống đê bối lớn là các bối Vĩnh Tường và Yên Lạc phía bờ tả sông Hồng Tuyến đê bối Vĩnh Tường - Yên Lạc
có chiều dài 27,130 km Điểm đầu của tuyến tại xã Cao Đại huyện Vĩnh Tường, điểm cuối tại xã Trung Kiên huyện Yên Lạc
3.1.1 Hiện trạng đê Bối Yên Lạc
Bối Yên Lạc thụôc địa phận huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nằm bên bờ
tả sông Hồng, nối tiếp với bối Vĩnh Tường tại khoảng K17+550 thuộc đầu xã Đại
Tự Trong bối Yên Lạc có các xã là: 1 phần xã Đại Tự, Liên Châu, Hồng Châu, Nguyệt Đức, Vạn Yên, Trung Hà và toàn bộ các xã Trung Kiên, Yên Phương, Hồng Phương Bãi trong bối có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam nghiêng từ sông và đồng Cao độ ruộng đất ở đây có độ cao phổ biến từ 12,0 - 12,6 m Nơi cao nhất là xã Hồng phương có cao độ phổ biến là 14,0m và nơi thấp nhất là xã Phú đa có cao độ trung bình là +9,0m
- Chiều dài và cao độ bối: Bối có chiều dài 13987 m, cao độ hiện tại của bối như sau:
+ Đầu bối: Cao độ = 15,26
+ Giữa bối: Cao độ = 14,7
+ Cuối bối: Cao độ = 14,6
Trên tuyến bối, cao độ thấp nhất tại một số vị trí cuối bối khoảng 14 m Thổ nhưỡng: Hầu hết là đất thịt, thịt pha cát rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp
- Quy mô: Bãi trong bối có chiều dài khoảng 8200 m, chiều rộng bãi lớn nhất khoảng 2430 m
- Diện tích bãi và tình hình sử dụng đất:
+ Tổng diện tích bãi : 2871 ha
+ Diện tích bãi trong bối: 2118
Trang 29+ Diện tích bãi ngoài bối: 753
+ Diện tích canh tác trong bối: 1469 ha; Ngoài bối: 411 ha
+ Diện tích khu vực dân cư (chủ yếu trong bối): 501 ha
+ Diện tích ao hồ: 133 ha
- Mặt cắt đê bối: Hiện tại, mặt đê bối đã được gia cố và đắp rộng, chiều rộng trung bình mặt bối 4,5 m ; độ dốc mái đê bối m = 1,0 ÷ 1,5
- Hiện trạng gia cố và sử dụng bối
+ Đã bê tông hoá 27Km/27Km mặt đê với chiều rộng 4m dày 0,20m đảm bảo phục vụ công tác PCLB & TKCN - hộ đê và giao thông trong vùng
+ Tại vị trí gần làng Cựu ấp giữa thuộc xã Liên Châu và thôn 2 thuộc xã Trung Kiên trên đê bối có tràn sự cố bằng bê tông được xây dựng vào năm 2004 Chiều rộng mặt tràn B=4.5m, chiều dài mỗi tràn là 20m
+ Tuyến bối hiện cũng là đường giao thông chính trong khu vực
- Khả năng chống lũ thực tại của đê bối: Tuyến đê bối tả Hồng (Vĩnh Tường – Yên lạc) được thiết kế chống lũ với cấp báo động III, trên tuyến có các
hệ thống tràn đảm bảo nhiệm vụ xả lũ khi có lệnh Do tác động điều phối của hồ Hoà Bình làm thay đổi dòng chảy dẫn đến một số hệ thống kè, vùng bãi bồi ven sông bị sạt lở mạnh gây mất an toàn cho tuyến đê bối Tại K0 là (+16,70), tại K27 là (+14,40), đảm bảo chống lũ ở mức BĐ III, trên tuyến có 03 tràn sự cố để
đề phòng vỡ đê và chủ động chậm lũ khi nước sông Hồng vượt BĐIII và khi có lệnh xả lũ
Từ mức báo động III tại Sơn Tây là 14,5 m, đã xác định và so sánh mức nước báo động III tại các vị trí trên tuyến bối với cao độ bối như sau:
Đầu bối Giữa bối Cuối bối
Trang 303.1.2 Đặc điểm lũ sông Hồng
Vùng bãi ngoài đê Bối là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thủy chế sông Hồng Do đặc điểm về địa hình nên nơi đây vào mùa nước dễ xảy ra các hiện lũ lụt và sạt lở bãi bồi Lũ trên các sông suối trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp diễn biến lũ của các sông lớn Đà, Thao, Lô, Cà Lồ, Phó Đáy và mang đặc tính lũ điển hình của hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình Mùa mưa lũ bình thường bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng X, song có những năm mùa mưa bắt đầu sớm hơn hoặc kết thúc muộn hơn từ 15 đến 30 ngày Tổng lượng mưa mùa lũ trên lưu vực chiếm khoảng 80% tổng lượng nước năm và số ngày mưa khoảng 70% số ngày mưa cả năm
ở Hoà Bình Biên độ mực nước năm lớn nhất đạt tới 12,72 m, biên độ mực nước
lũ đạt 11,41 m ở Sơn Tây và chỉ khoảng 2 ÷ 3 ngày là đạt tới đỉnh lũ, thời gian ngắn hơn khi lũ xuống tới 3 ÷ 4 lần
Lũ sông Hồng cũng giống như sông Thao, Đà, Lô mang tính chất của lũ núi rõ rệt thường xảy ra nhiều ngọn liên tiếp, lên xuống nhanh vào tháng IV ÷ V biên độ lũ trong tháng VI có thể lên tới 5 ÷ 6 m, sang tháng VII, VIII các cơn lũ
đổ về liên tiếp con lũ thứ nhất chưa rút hết đã chồng tiếp con lũ thứ 2 làm đỉnh
lũ lên cao dần và thường đạt đỉnh lũ vào tháng VIII sau đó mực nước hạ xuống dần Vì thế khi mực nước sông Hồng đã ở mức cao từ 11,5 ÷ 12,5 m chỉ xảy ra thêm một đợt lũ không lớn trên diện rộng hay gặp bão thì sẽ xảy ra lũ đặc biệt như lũ tháng 8 năm 1971, rất nguy hiểm cho hệ thống đê dọc sông
Tùy thuộc vào những trận lũ nhỏ hay lũ lớn trên lưu vực sông Hồng, theo thống kê thì lũ trên sông Đà chiếm tỉ lệ 37 - 69%, sông Lô chiếm 17 - 41,5% và sông Thao 13 - 30%
Trang 31Lũ lớn thường xuất hiện vào trung tuần tháng VIII, những trận lũ có mực nước vượt hoặc bằng mực nước thiết kế đê 13,4 m tại Hà Nội thường là do lũ lớn của 2 hoặc 3 sông tạo nên
• Các trận lũ lớn, điển hình:
Những trường hợp lũ lớn trên sông Hồng có thể xảy ra với trường hợp lũ đặc biệt lớn trên 1, 2 hoặc 3 sông hợp thành Lũ trên lưu vực sông Hồng ngày càng gia tăng, chỉ trong vòng 30 năm từ 1969 - 1999 đã xuất hiện 3 trong 4 trận
lũ lớn của thế kỷ 20 Thống kê các trận lũ lớn xảy ra trên hệ thống lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong vòng 100 năm nay như sau:
- Trận lũ tháng 8/1971 (từ ngày 11 – 31/8/1971) là trận lũ lịch sử xảy ra trên lưu vực sông Hồng Lũ của 3 sông Đà, Thao, Lô xuất hiện đồng thời và lưu lượng đo được tại Sơn Tây là 34.200 m3/s (lưu lượng hoàn nguyên lũ là 37.800
m3/s) Trận lũ này có mực nước lớn nhất trong vòng từ 200 - 250 năm nay có mực nước ở Hà Nội là 14,80 m và gây ra vỡ đê tại Kê Thượng, Lâm Thao, Nhất Trai và Cống Thôn
- Trận lũ tháng 8/1945 có mực nước ở Hà Nội khoảng 13,90 - 14,10 m là trận lũ lớn thứ hai từ trước đến nay
- Trận lũ tháng 7/1915 có mựcc nước tại Hà Nội là 12,60 m là trận lũ lớn thứ năm
Ngoài ra còn có một số năm có mực nước ở Hà Nội vượt mức 12,0 m như các năm 1940, 1947, 1968, 1970, 1973 và 1986 Tính toán với liệt tài liệu 97 năm
từ 1902 - 1998 tại Sơn Tây, lưu lượng lũ lớn nhất cùng với các chu kỳ tái diễn như sau (tài liệu phân tích đã đưa về trạng thái tự nhiên khi không vỡ đê và có hồ chứa trữ nước):
Trận lũ tháng 8/1971 có lưu lượng hoàn nguyên lớn nhất tại Sơn Tây 37.800 m3/s nay tính toán lại có tần suất 0,8% và chu kỳ tái diễn 125 năm (theo tính toán trước kia với liệt tài liệu khoảng 70 năm từ 1902 - 1972 thì trận lũ tháng 8/1971 có tần suất 0,4% và chu kỳ tái diễn 250 năm)
Trang 323.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội các xã Trung Kiên, Hồng Phương, Hồng Châu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Yên Lạc
Trang 33Trung Kiên, Hồng Châu, Hồng Phương là ba xã có vị trí nằm trong vùng bãi ven sông Hồng của huyện Yên Lạc
• Xã Trung Kiên
- Phía Bắc giáp xã Nguyệt Đức và xã Hồng Phương
- Phía Nam giáp xã Trung Hà
- Phía Tây giáp xã Hồng Phương và xã Hồng Châu
- Phía Đông là sông Hồng
• Xã Hồng Phương
- Phía Bắc giáp xã Yên Phương và sông Hồng
- Phía Nam giáp xã Trung Kiên
- Phía Tây giáp Liên Châu
- Phía Đông giáp xã Nguyệt Đức
• Xã Hồng Châu
- Phía bắc giáp xã Liên Châu và xã Hồng Phương
- Phía Nam là sông Hồng
- Phía Tây giáp xã Liên Châu
- Phía Đông giáp xã Trung Kiên và xã Trung Hà
3.2.1.2 Địa hình 3 xã vùng bãi
Địa hình các xã tương đối bằng phẳng Độ dốc trung bình từ 3-5 độ, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam Nhìn chung, địa hình rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản Địa hình được phân chia thành hai vùng như sau:
- Vùng trong đê: Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình bị chia cắt chủ yếu bởi hệ thống sông ngòi, kênh mương và đường giao thông
- Vùng ngoài đê: Địa hình phức tạp, không bằng phẳng, có nhiều bãi cao
và thùng vũng sâu chịu ảnh hưởng của thuỷ chế sông Hồng, đặc biệt là xã Hồng Châu, Trung Kiên, địa hình bị chia cắt chủ yếu là các thùng vũng sâu và đường giao thông
3.2.1.3 Khí hậu, thời tiết
Trang 34nghiệp nhưng con người hầu như không kiểm soát được Nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng đặc điểm khí hậu của vùng với những nét đặc trưng là nhiệt đới gió mùa
- Nhiệt độ: Tổng tích ôn trong năm tương đối cao, khoảng 8.100 - 8.900
0C, có 9 tháng nhiệt độ trung bình > 20 0C (từ tháng 3 đến tháng 11), nhiệt độ này thích hợp với cây trồng nhiệt đới Nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, trung bình 29,8
0C, nhiệt độ tối cao nhiều năm có ngày lên tới 39,40C Có 3 tháng nhiệt độ trung bình < 20 0C (các tháng 12, 1, 2)
- Lượng mưa: Về chế độ mưa theo mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình 5 năm gần đây là 1.655 mm Tuy nhiên, lượng mưa phân bố ở các tháng trong năm không đều Lượng mưa lớn nhất tập trung vào tháng 7, tháng 8 đạt 322 - 412
mm Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 85% - 90% lượng mưa cả năm
Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ít mưa
- Tổng giờ nắng trong năm trên 1.445 giờ, tháng có số giờ nắng nhiều nhất
là tháng 7 (169,8 giờ), tháng 1 có số giờ nắng ít nhất (35,6 giờ)
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí khá cao, độ ẩm không khí trung bình năm là 80,5% Hầu như quanh năm độ ẩm tương đối trung bình ≥ 80% Riêng tháng 6, tháng 10, 11, 12 có độ ẩm tương đối trung bình thấp hơn, tuy nhiên vẫn đạt khoảng 76-79% Độ ẩm cao thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng đồng thời cũng tạo điều kiện để một số sâu bệnh phát sinh phát triển gây hại cây trồng
3.1.1.4 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 10.767,39 ha Năm 2013 đất nông nghiệp là 7.358,4ha, chiếm 68,34%, đất phi nông nghiệp là 3.372,41 ha, chiếm 31,32%, đất chưa sử dụng chỉ có 36,58 ha, chiếm 0,34% tổng diện tích
Đất đai của huyện được phân loại nằm trong một nhóm đất phù sa, phân chi tiết thành 4 nhóm phụ và 11 loại đất Đất phù sa sông Hồng có màu nâu tươi, khá màu mỡ và phù sa của sông Phan, sông Cà Lồ có màu nâu xám, kém phì nhiêu hơn Phân theo cấp địa hình tương đối: đất cao 1.046,54ha, đất vàn
Trang 354.248,51ha, đất thấp 1.592,94ha, chủ yếu là diện tích đất vàn phù hợp gieo trồng
2 vụ lúa - 1 vụ màu
3.2.1.5 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Mạng lưới sông ngòi trong huyện Yên Lạc khá phát triển Phía Bắc là sông Phan; phía Nam là dòng chính sông Hồng; phía Đông là
hệ thống sông Cà Lồ
+ Sông Hồng: Bao bọc phía Nam của huyện Yên Lạc dài khoảng 11km Đây là đoạn sông có hiện tượng cướp dòng tạo nên nhiều đảo nổi trong lòng sông nên diện tích mặt nước sông Hồng trong năm biến động rất lớn Vào mùa kiệt, lòng sông ở đây xuất hiện đảo nổi lớn và chia thành 2 dòng chảy nhỏ Còn mùa
lũ, mặt nước sông rộng trung bình tới 2km Ven sông đã hình thành hệ thống đê
từ rất lâu đời
+ Sông Cà Lồ: Là phụ lưu cấp I của sông Thái Bình và cũng là sông chính chảy qua ranh giới Đông Nam của Yên Lạc và Mê Linh Phần sông Cà Lồ chảy trong địa phận huyện Yên Lạc có chiều dài hơn 10km Do chảy phần lớn trong vùng đồng bằng nên dòng chính uốn khúc mạnh với hệ số uốn khúc 2,7
+ Sông Phan: Bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy qua phía Bắc huyện Yên Lạc có chiều dài 17,5km, do lòng sông hẹp độ dốc không lớn nên việc tiêu nước gặp khó khăn thường xảy ra ngập úng cục bộ vào mùa mưa
Mạng lưới sông phát triển cùng với hệ thống các ao hồ đầm tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng nguồn nước mặt trong huyện Nhờ nguồn nước mặt khá phong phú và tương đối ổn định giữa các năm, huyện Yên Lạc nói chung và các xã vùng bãi nói riêng có điều kiện phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Tuy nhiên, do sự phân mùa dòng chảy
đã dẫn tới những hiện tượng cực đoan Có những thời điểm trong mùa lũ, mực nước trên các sông chính cao hơn mực nước nội đồng rất nhiều, thậm chí dùng
cả các biện pháp động lực cũng không thể tiêu được nước gây nên ngập úng nội đồng Trái lại, có những thời điểm do không có mưa kéo dài, lượng nước ngầm
Trang 36- Nguồn nước ngầm: Trên địa bàn các xã có trữ lượng nước ngầm tương đối phong phú, phân bố rộng, hầu hết các xã đều có thể khai thác được nước ngầm ở độ sâu từ 10 đến 20 m, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
3.2.2.Điều kiện kinh tế - xã hội các xã Trung Kiên, Hồng Phương, Hồng Châu
3.2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Giai đoạn 2009 - 2013, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh và huyện về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được ban hành, do đó kinh tế - xã hội của các xã vùng bãi có những đổi thay rõ nét, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều đạt và vượt kế hoạch đặt ra
Kết quả phân tích tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các xã Trung Kiên, Hồng Phương, Hồng Châu thể hiện ở bảng sau
Bảng 3.1 Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành của 3 xã vùng bãi năm 2014
Kiên
Hồng Phương
Hồng Châu
Trung bình
2.2 Công nghiệp - xây dựng 16,6 27,3 28,5 24,13
3 Thu ngập bình quân đầu
người (tr.đ/người/năm) 27,3 27,9 26,2 27,1
(Nguồn: Báo cáo Kinh tế - xã hội các xã năm 2014)
Kết quả phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng các lĩnh vực kinh tế của 3
xã vùng bãi cho thấy, nền kinh tế có những biến động theo hướng tích cực, giá trị sản xuất của các ngành đều tăng Tốc độ ngành công nghiệp – xây dựng và dịch
vụ duy trì tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng của xã Hồng Phương đạt lớn
Trang 37nhất, ngành công nghiệp xây dựng đạt 107,4% so với kế hoạch; lĩnh vực dịch vụ
đạt 96,8% so với kế hoạch; lĩnh vực nông nghiệp đạt 104% so với kế hoạch
Giá trị sản xuất bình quân đầu người (theo giá cố định năm 2010) trên địa bàn các xã đều tăng từ 3,3 tr.đ/người/năm tới 5 tr.đ/người/năm
3.2.2.2 Về cơ cấu tỷ trọng kinh tế
Nhìn chung thời kỳ 2009 - 2014 cơ cấu kinh tế của huyện Yên Lạc nói chung và các xã vùng bãi nói riêng đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,
tỷ trọng của ngành nông - lâm – thuỷ sản giảm dần và tăng dần tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ
Bảng 3.2 Cơ cấu tỷ trọng kinh tế 3 xã vùng bãi năm 2014
Kiên Phương Hồng Hồng Châu Trung bình
Nông nghiệp - thủy sản % 27,7 42,8 25,7 32,1 Công nghiệp - xây dựng % 33,7 12,75 21,9 22,8 Thương mại - dịch vụ % 38,6 44,45 52,4 45,1
Lao động việc làm chuyển dịch tích cực, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên trung bình đạt mức 90% Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp trung bình chiếm 20%, lĩnh vực CN-TTCN-XD trung bình chiếm 50%, lĩnh vực thương mại-dịch vụ trung bình chiếm 20%
Trang 38dựng, dịch vụ và giảm tương đối trong khu vực nông nghiệp, tuy nhiên lao động chủ yếu là phổ thông đây là khó khăn, thách thức của xã trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ tới
b Giáo dục - đào tạo
Công tác giáo dục được chú trọng về mọi mặt, đặc biệt về đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trường học ở cả ba cấp bậc học bằng nguốn ngân sách hỗ trợ của nhà nước và kinh phí địa phương Phối hợp với ngành dọc và các nhà trường tăng cường quản lý giáo dục.Năm học 2013-2014 chất lượng giáo dục từng bước phát triển
UBND xã, các làng, các dòng họ xây dựng quỹ khuyến học, hàng năm trao thưởng, động viên kịp thời cho các cháu thi đỗ vào các trường CĐ,ĐH, các cháu HS giỏi cấp huyện trở lên, học sinh nghèo vượt khó Đây
Qua kết quả điều tra cho thấy:
- Tại xã Trung Kiên tỉ lệ người dân mắc các bệnh do chất lượng nước kém rất thấp Do trên địa bàn xã đã có công trình cấp nước tập trung, và người dân cũng rất có ý thức trong việc nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại hộ gia đình
- Tại xã Hồng Phương, tỉ lệ người dân mắc bệnh do chất lượng nước kém chiếm tỉ lệ khá cao 50% dân số thường xuyên mắc phải các bệnh như đau mắt, tiêu chảy, bệnh ngoài da…
- Tại xã Hồng Châu, người dân thường mắc các bệnh về đường tiêu hóa, chiếm tỉ lệ 30%
Trang 39d Văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh
Mạng lưới truyền thanh của xã đã xuống cấp Vì thế thường xuyên phải sửa chữa, nâng cấp đảm bảo tiếp sóng đài truyền thanh của huyện, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và phổ biến giáo dục pháp luật, tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, những sự kiện trọng đại của đất nước và các quy định các tin bài của địa phương về chương trình xây dựng nông thôn mới
Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về văn hóa thông tin, các hoạt động lễ hội, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
3.2.2.5 Phát triển kết cấu hạ tầng
a Giao Thông
- Giao thông đường bộ:
Tổng chiều dài các tuyến đường giao thông trên toàn huyện là 192,6km, gồm có:
+ Quốc lộ: Quốc lộ 2 dài 3,5 km đi qua 2 xã Đồng Văn, Tề Lỗ; Quốc lộ 2c, dài 5,9km, được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp 4 miền núi, nhiều đoạn
mở rộng theo tiêu chuẩn đường cấp 3 đồng bằng
+ Tỉnh lộ: có 3 tuyến tỉnh lộ tỏa ra 5 hướng đến một số xã trong huyện và kết nối với bên ngoài là: Tỉnh lộ 303, dài 8,2 km Tỉnh lộ 304 dài 5,3 km Tỉnh lộ
305 dài 14,2km Tỉnh lộ 305b qua Yên Lạc 4km Đường tránh Nam Vĩnh Yên, từ Quất Lưu đi Đồng Văn, đạt tiêu chuẩn đường cấp 3 đồng bằng Đường Yên Lạc-Vĩnh Yên chạy từ Mả Lọ đi Thành phố Vĩnh Yên
+ Đường huyện: Gồm 21 tuyến với tổng chiều dài 38,09 km Hệ thống đường giao thông trong huyện đã được nâng cấp cải tạo, các tuyến đường đổ bê tông hoặc nhựa theo tiêu chuẩn của nhà nước
+ Đường liên xã: Do huyện quản lý dài 129,18 km Kết cấu mặt cơ bản được cứng hóa (đạt 100%), công trình trên đường có cầu và cống bê tông cốt thép cống gạch phục vụ tưới tiêu thuỷ lợi là chính
+ Đường thôn, xóm: Hệ thống đường trục dài trên 138,1km, đường ngõ
Trang 4018 km sông Hồng chảy qua địa phận huyện đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu giữa Yên Lạc với bên ngoài Có 2 bến cảng trên Sông Hồng chủ yếu dùng để tiếp nhận hàng hóa là bến Trung Hà (chủ yếu vận chuyển gỗ) và bến Hồng Châu (chủ yếu dùng cho vật liệu xây dựng cát, sỏi)
Nhìn chung, hệ thống giao thông được xây dựng, cải tạo, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân trong huyện
b Hệ thống thuỷ lợi
- Hệ thống tưới:
Nằm bên sông Hồng nên nguồn nước tưới trên địa bàn huyện khá phong phú và ổn định Hệ thống thủy lợi của huyện gồm mạng lưới kênh mương cùng với hệ thống trạm bơm tưới, tiêu về cơ bản đáp ứng yêu cầu thâm canh 2 vụ lúa,
1 vụ đông và nuôi trồng thủy sản
Công trình do công ty TNHH Một thành viên Thủy lợi Liễn Sơn quản lý Nguồn nước tưới chính được cung cấp từ hệ thống kênh tưới Liễn Sơn phần đi qua huyện Yên Lạc dài 10,83 km đã được bê tông hóa mái trong và 2 trạm bơm công suất 8.000m3/giờ: Trạm bơm Bạch Hạc đã được nâng cấp, trạm bơm Đại Định hoạt động tốt Ngoài ra huyện Yên Lạc có 65 trạm bơm tưới, số tổ máy là
86 tổ, diện tích tưới thực tế 2.500 ha, chiều dài kênh nhánh 51,75 km, hầu hết các trạm bơm vẫn hoạt động bình thường đảm bảo cấp đủ nước tưới
- Hệ thống tiêu:
Nhìn chung, hệ thống các trạm bơm và kênh mương hiện nay có khả năng phục vụ tưới cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của huyện, tổng chiều dài kênh mương loại 3 là 173,72 km, đã cứng hóa 156,12 km, còn lại 17,6 km chưa cứng hóa Tuy vậy, nhiều trạm bơm và hệ thống công trình cầu cống đã xây dựng
từ lâu, máy móc đã xuống cấp, cần thường xuyên tu bổ, bảo dưỡng
c Mạng lưới điện
Đến nay tất cả các xã đều có điện và 100% số hộ được dùng điện Trên cơ
sở quy hoạch lưới điện nông thôn trên địa bàn đã được phê duyệt, đã đầu tư chuẩn hoá lưới điện thông qua chương trình điện REII, nâng cấp cải tạo, thay thế