1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la

82 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở những khác biệt giữa hai nước được nhận diện liên quan đến việc ra quyết định tập thể, học thuyết phát triển, mức độ sử dụng các công ty nhỏ làm nhà thầu phụ, sự khác biệt tro

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4

6 Kết cấu của đề tài 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 8

1.1 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí 8

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 8

1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí 9

1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán quản trị chi phí 10

1.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí 12

1.3.1 Phân loại chi phí 12

1.3.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng 12

1.3.1.2 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí và các đối tượng chịu phí 13

1.3.1.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính 14

1.3.1.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động 14

1.3.1.5 Phân loại chi phí phục vụ quá trình ra quyết định 15

1.3.1.6 Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát của nhà quản lý 16

1.3.2 Xây lắp định mức và lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 16

1.3.2.1 Xây lắp định mức trong doanh nghiệp xây lắp 16

1.3.2.2 Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp 21

1.3.3 Kế toán chi phí cho các đối tượng chịu phí 24

1.3.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 24

1.3.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 25

1.3.3.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công 25

1.3.3.4 Kế toán chi phí sản xuất chung 26

1.3.3.5 Các phương pháp xác định chi phí 27

Bảng1.1: Phân loại chi phí theo phương pháp chi phí toàn bộ và 28

phương pháp chi phí trực tiếp 28

1.3.4 Phân tích biến động chi phí và sử dụng thông tin chi phí thích hợp để ra quyết định kinh doanh 29

1.3.4.1 Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu 29

1.3.4.2 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp 30

1.3.4.3 Phân tích biến động chi phí sản xuất chung 31

1.3.4.4 Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận 33

Bảng 1.2 Phân tích điểm hoà vốn 34

1.3.4.5 Sử dụng thông tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh 34 1.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận 37

Bảng 1.3 Mẫu báo cáo bộ phận 37

1.5 Các mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp 38

Trang 2

1.6 Kinh nghiệm vận dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các nước

trên thế giới 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA 44

2.1 Khái quát chung về các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La 44 2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La 44

Bảng 2.1: Các doanh nghiệp thuộc mẫu nghiên cứu 45

Sơ đồ 2.1: Mô hình bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La 47

2.1.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La 47

Bảng 2.2: Kết quả điều tra về tổ chức hệ thống kế toán trong doanh nghiệp nghiên cứu 47

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La 48

2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La 49

2.2.1 Phân loại chi phí 49

2.2.2 Xây lắp định mức chi phí và lập dự toán chi phí trong các doanh nghiệp 50

2.2.2.1 Xây lắp định mức chi phí 50

2.2.2.2 Lập dự toán chi phí 51

2.2.3 Kế toán chi phí cho các đối tượng chịu phí 53

2.2.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 53

2.2.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp 55

2.2.3.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công 58

2.2.3.4 Kế toán chi phí sản xuất chung 59

2.2.3.5 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 61

2.2.3.6 Về đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận 62

2.2.4 Phân tích biến động chi phí và sử dụng thông tin chi phí để ra quyết định kinh doanh 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỮU HIỆU NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA 65

3.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 65

3.1.1 Những kết quả đạt được 65

3.1.2 Những hạn chế tồn tại, nguyên nhân 65

3.2 Một số giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La 69

Bảng 3.1: Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản xuất 70

Bảng 3.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 72

Bảng 3.3: Báo cáo chi phí 75

Bảng 3.4: Báo cáo thực hiện chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp 75

Bảng 3.5: Báo cáo giá thành 76

KẾT LUẬN 78

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây lắp cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân, tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước Hơn thế nữa, đầu tư XDCB gắn liền với việc ứng dụng các công nghệ hiện đại do đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất Nó có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh

So với các ngành sản xuất khác, XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân có quy mô và giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài Do vậy, việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công được lập theo từng công trình, hạng mục công trình Trong quá trình thi công xây lắp phải thường xuyên so sánh kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí, tìm ra nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cơ sở lấy dự toán làm thước đo

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Mặt khác, hoạt động xây lắp cơ bản thường tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp, dễ bị mất mát, hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất Bên cạnh đó, chu kì sản xuất của đơn vị xây lắp thường rất dài, nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường

do vậy không thể tránh khỏi các rủi ro, làm phát sinh chi phí Chính vì vậy thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí để vừa có thể tiết kiệm được chi phí và hạ giá thành xây lắp

Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp chính là hệ thống kế toán chi phí Kế toán chi phí luôn luôn tồn tại trong mỗi tổ chức, tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào việc xây lắp và khai thác hệ thống kế toán chi phí đó Các doanh nghiệp ở các nước phát triển trên thế giới đã xây lắp hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho cho các nhà quản trị nội bộ để trợ giúp

họ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá việc thực

Trang 4

hiện kế hoạch Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định; Trợ giúp nhà quản trị trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức; Thúc đẩy các nhà quản trị đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp; Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp

Tuy nhiên tại Việt Nam, kế toán quản trị chỉ thực sự được tìm hiểu vào đầu những năm 90 và được nghiên cứu có hệ thống từ năm 1999 Trong những năm qua thì

kế toán quản trị chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, kế toán quản trị chi phí vẫn còn là mới mẻ đối với các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn tỉnh Sơn La Tại các doanh nghiệp này, kế toán quản trị chi phí chủ yếu phục vụ cho mục tiêu tài chính thông qua việc lập các báo cáo tài chính mang tính tổng quát vào cuối kỳ Hệ thống kế toán chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp còn rất hạn chế Hệ thống kế toán chi phí hiện nay không thể cung cấp các thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp Mặc

dù hệ thống kế toán quản trị chi phí đã có những biểu hiện nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, thông tin về chi phí chưa thực sự mang tính phân tích, dự báo tương lai và đặc biệt chưa thực sự có ích cho nhà quản trị

ra quyết định tối ưu

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các Doanh nghiệp Xây Lắp trên địa bàn thành phố Sơn La”

để nghiên cứu

2 Mục tiêu của đề tài

- Mục tiêu chung: nghiên cứu việc áp dụng kế toán quản trị của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La

- Phạm vi về thời gian: số liệu sử dụng và khảo sát được lấy trong năm 2015

- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp trong đề tài được tác giả thu thập từ phiếu khảo sát gửi đến các cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp làm công việc kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La Tác giả thực hiện nghiên cứu kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La bao gồm: loại hình doanh nghiệp, quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chế độ chính sách áp dụng, tổ chức

bộ máy kế toán quản trị chi phí, quy trình thực hiện các nội dung kế toán quản trị

- Đối với các nhà quản trị, kế toán trưởng và nhân viên trực tiếp làm công tác

kế toán trong doanh nghiệp xây lắp tác giả gửi Phiếu câu hỏi khảo sát với mục đích tìm hiểu thông tin liên quan đến tổ chức công tác kế toán nói chung và công tác kế toán quản trị chi phí nói riêng

- Đối với kế toán trưởng và nhân viên kế toán ngoài phiếu câu hỏi tác giả còn tiến hành phỏng vấn thêm nhằm tìm hiểu cụ thể các phần hành và nội dung công việc

kế toán quản trị chi phí cụ thể từ đó có cơ sở đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp này

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tình hình thực tiễn

- Nghiên cứu nghiên cứu tài liệu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu trong quá trình nghiên cứu thông qua nhiều kênh khác nhau như: Tham khảo các bài viết, các công trình khoa học liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài; nghiên cứu sách chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành, giáp trình chuyên ngành; niên giám thống kê Qua đó, đề tài đã khái quát hóa được cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp Đây là kênh thu thập thông tin quan trọng, là cơ sở để tác giả đề cập đến thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La

- Nghiên cứu tình hình thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng bộ máy kế toán quản trị chi phí, chính sách kế toán áp dụng, thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

* Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu

Các dữ liệu thu thập được ở các phương pháp trên sẽ được tác giả tổng hợp, xử

lý và phân tích thông qua việc sử dụng các phương pháp như : Phương pháp thông kê, phương pháp so sánh

4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

(1) Dựa vào số liệu thực trạng về kế toán chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La

(2) Tổng hợp các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước (3) Tổng hợp dữ liệu trên niên giám thống kê

Trang 6

5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

* Ngoài nước

Tại Úc và Nhật Bản, năm 1999, Wijewardena và Zoysa đã tiến hành một

nghiên cứu chung về các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản

xuất “A Comparative Analysis of Management Accounting practices In Australia and Japan An Empirial Investigation” nhằm tìm ra những khác biệt trong việc áp dụng kỹ

thuật này Nghiên cứu được thực hiện đối với 217 công ty Nhật Bản và 231 công ty Úc với các câu hỏi bao trùm nhiều khía cạnh liên quan đến việc áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí Trên cơ sở những khác biệt giữa hai nước được nhận diện liên quan đến việc ra quyết định tập thể, học thuyết phát triển, mức độ sử dụng các công ty nhỏ làm nhà thầu phụ, sự khác biệt trong việc đào tạo kế toán quản trị chi phí, nghiên cứu của Wijewardena và Zoysa cho thấy các công ty sản xuất tại Úc chú trọng đến các công cụ kiểm soát chi phí như lập dự toán, xây lắp định mức chi phí và phân tích sự biến đổi trong khâu sản xuất trong khi các công ty tại Nhật Bản lại tập trung vào các công cụ lập ké hoạch và cắt giảm chi phí như xây lắp chi phí mục tiêu trong khâu lập

kế hoạch và thiết kế sản phẩm

Đối với nghiên cứu riêng về tình hình áp dụng kế toán quản trị chi phí tại Úc,

Yazdifar và Askarany với “A comparative investigation into the diffusion of management accouting innovations in the UK, Australia and New Zealand” đã tiến

hành khảo sát về việc áp dụng phương pháp xác định chi phí theo hoạt động (ABC) tại các doanh nghiệp sản xuất của Úc Kết quả cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp áp dụng ABC là khá thấp do nhiều doanh nghiệp cho rằng những lợi ích mà kỹ thuật này mang lại so với các phương pháp truyền thống là chưa đủ để thuyết phục cho họ áp dụng ABC Ngoài ra, kết quả khảo sát riêng được hai nhà nghiên cứu này thực hiện năm

1997 đối với các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Nhựa và Hoá chất Australia (PACIA)

cho thấy nhận thức của doanh nghiệp về những ưu nhược điểm của các kỹ thuất kế toán quản trị chi phí là nhân tố quan trọng nhất khi các nhà quản lý ra quyết định về việc lựa chọn và áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp mình

Tại Newzeland, Adler, Everett và Waldron, năm 2000 “Advanced management

accouting techniques in manufacturing Utilisation, benefits, and barriers to implementation” đã khảo sát và phỏng vấn các nhà thiết kế quản trị trong các doanh

nghiệp sản xuất để tìm hiểu về các phương pháp kế toán được họ áp dụng Kết quả

khảo sát cho thấy các phương pháp truyền thống như xây lắp chi phí toàn bộ (full costing), chi phí trực tiếp và chi phí định mức được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn

so với các kỹ thuật kế toán quản trị hiện tại như kế toán quản trị phục vụ cho việc xây

Trang 7

lắp chiến lược Ngoài ra, các công ty có trụ sở tại Úc thường hay áp dụng ABC và các

kỹ thuật về chi phí chất lượng hơn các công ty bản địa

Tại các nước Ả rập, nghiên cứu của Melellan và Moustafa năm 2010

“Management Accouting Practices in the Gulf Cooperative Countries” tại các doanh nghiệp sản xuất ở các nước thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) là Ả rập Xê út,

Oman, Bahrain, Kuwait, Qatar và Các Tiểu Vương quôc Ả rập thống nhất cho thấy các

kỹ thuật kế toán quản trị chi phí được áp dụng nhiều nhất tại các nước này là các công

cụ lập kế hoạch và kiểm soát truyền thống như lập dự toán, các phương pháp xác định

ci phí địn mức kết hợp với phân tích sự biến đổi Các phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện tại như ABC và xác định chi phí mục tiêu không được nhiều doanh nghiệp áp dụng

Tại Trung Quốc, năm 2007, Xiao và các cộng sự “Management Accouting in

China” đã tiến hành nghiên cứu về tình hình áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi

phí và sự khác nhau về mức độ áp dụng trong mối tương quan với nơi đặt cơ sở sản xuất kinh doanh, ngành sản xuất và quy mô doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra rằng nhìn tổng thể, các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí đang ngày càng được các doanh nghiệp tại Trung Quốc nhận thức và áp dụng, tuy nhiên mức độ áp dụng hầu như không bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế giữa các khu vực tại Trung Quốc Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu, Xiao và các cộng sự nhận thấy các công ty có quy mô lớn và các công ty sản xuất có xu hướng áp dụng các phương pháp kế toán quản trị chi phí nhiều hơn các doanh nghiệp khác

Tại Ấn Độ, năm 2006, Liaqat “Applications of contemporary management

accouting techniques in Indian industry” đã tiến hành một nghiên cứu thực tế về thực

trạng áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí hiện tại trong 63 doanh nghiệp sản xuất tại Ấn Độ Nghiên cứu cho thấy việc cải thiện tỷ suất lợi nhuận và giảm chi phí là hai nhân tố căn bản thúc đẩy sự áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất Ngoài ra, kêt quả khảo sát cũng cho thấy sự liên hệ mang tính tích cực giữa việc

áp dụng phương pháp xác định chi phí theo hoạt động với các đặc điểm của công ty như mức độ đáp ứng nhu cầu sản xuất các sản phẩm đặc chúng theo nhu cầu của khách hàng, mức độ cạnh tranh, quy mô doanh nghiệp và tỷ trọng chi phí chung trên tổng chi phí của doanh nghiệp

* Trong nước

Bàn về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp, trong đó có kế toán quản trị chi phí được các tác giả Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ đầu những năm 1990 Tác giả Nguyễn Việt (năm 1995) trong luận án “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây lắp hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những đề xuất về kế toán quản trị trong

Trang 8

công trình này là những đề xuất mang tính cơ bản nhất của hệ thống kế toán quản trị, trong bối cảnh kế toán quản trị bắt đầu được nghiên cứu tại Việt Nam Tác giả Phạm Văn Dược (năm 1997) đã nghiên cứu về “phương hướng xây lắp nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam” Trong công trình này, tác giả đã có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành Từ đầu những năm 2000, đã có nhiều nghiên cứu về một số vấn đề cụ thể của

kế toán quản trị, hoặc nghiên cứu kế toán quản trị áp dụng riêng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và doanh nghiệp sản xuất Tác giả Phạm Quang (năm 2002) nghiên cứu về “phương hướng xây lắp hệ thống báo cáo kế toán quản trị và tổ chức vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn Dung (năm 2002) nghiên cứu về

“Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tác giả Lê Đức Toàn (năm 2002) nghiên cứu về “kế toán quản trị và phân tích chi phí sản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”, tác giả Giang Thị Xuyến (năm 2002) nghiên cứu về “tổ chức kế toán quản trị và phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nước” Có một số công trình nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị trong các ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002) nghiên cứu về “tổ chức

kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”, tác giả Nguyễn Văn Bảo (năm 2002) với luận án “nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhà nước về xây lắp”, tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (năm 2004) nghiên cứu “hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (năm 2004) nghiên cứu “xây lắp hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thanh Quí (năm 2004) nghiên cứu “xây lắp hệ thống thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông”, “Hoàn thiện

kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép Tại Việt Nam” của tác giả Đào Thúy Hà năm 2015 Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài Mặc dù vậy, tất

cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xây lắp, trong khi ngành xây lắp là ngành đang rất cần những thông tin kế toán quản trị chi phí vì xây lắp cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích luỹ cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử

Trang 9

dụng trong lĩnh vực xây lắp cơ bản So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp

và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp

Chính vì vậy, đề tài cần tập trung nghiên cứu là xây lắp mô hình kế toán quản trị chi phí áp dụng đặc thù cho các doanh nghiệp xây lắp trên cơ sở nghiên cứu về hệ thống kế toán quản trị chi phí gắn liền với các bối cảnh kinh tế cụ thể cũng như kinh nghiệm vận dụng các phương pháp kế toán quản trị chi phí trong các loại hình doanh

nghiệp khác nhau

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết Luận, Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp

Chương 2: Thực trạng áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí

Xét trong các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin kế toán chia thành hai bộ phận

cơ bản: Thông tin kế toán cung cấp cho đối tượng bên ngoài sử dụng để đưa ra quyết định hữu ích cho từng đối tượng như các nhà đầu tư, cơ quan Nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp… đó là kế toán tài chính Bên cạnh đó, thông tin kế toán chỉ cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử dụng để đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh ta gọi đó là kế toán quản trị

Theo định nghĩa của Luật kế toán (khoản 3, điều 4) “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng, gắn với các hoạt động kinh doanh

cụ thể của doanh nghiệp Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của

Bộ tài chính: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế”

Có thể thấy thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý và cung cấp cho các nhà quản trị là thông tin về chi phí Chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được Hơn nữa, trên góc độ quản lý, chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quản trị, do đó kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của nhà quản trị Bên cạnh khái niệm về kế toán quản trị còn có khái niệm về kế toán chi phí Theo viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định nghĩa là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” Theo đó, kế toán chi phí là một bộ phận của

cả kế toán tài chính và kế toán quản trị Dưới góc độ kế toán quản trị, kế toán chi phí

có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh

Trang 11

Như vậy, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây lắp kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý

1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí

Các chức năng cơ bản của kế toán quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra – đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định

Chức năng ra quyết định yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chọn một giải pháp hợp lý nhất trong số các giải pháp đề xuất Với chức năng lập kế hoạch các nhà quản

lý cần xây lắp các mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp và vạch ra các bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó Với chức năng tổ chức thực hiện các nhà quản lý cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các kế hoạch đã đề ra Với chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản lý cần so sánh báo cáo thực hiện với các số liệu kế hoạch để bảo đảm cho các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu đã định

Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh ngiệp, nhà quản trị cần phải đưa

ra được các quyết định đúng đắn và vai trò của kế toán quản trị chi phí chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định, thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý, cụ thể :

* Trong giai đoạn lập kế hoạch:

Kế toán quản trị chi phí cụ thể hóa các mục tiêu trong kế hoạch thành các dự toán chi phí sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin về chi phí ước tính để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, do thông tin mà nhà quản trị cần là linh hoạt chứ không thể dựa vào chi phí thực tế phát sinh được

* Trong giai đoạn tổ chức thực hiện:

Nhà quản trị cần có thông tin kế toán để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình điều hành, chỉ đạo thực hiện các quyết định ngắn hạn hay dài hạn, ví dụ như: quyết định loại bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định

tự sản xuất hay mua ngoài; phát hiện các hoạt động tốn kém quá nhiều chi phí để thiết

kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kém chi phí hoặc cải tiến làm cho hoạt động có hiệu quả hơn, ít tốn kém chi phí hơn

* Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá:

Kế toán quản trị cung cấp các báo cáo hoạt động định kỳ so sánh kết quả thực tế với mục tiêu dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó làm

cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý và cung cấp động lực để các nhà quản lý cố gắng thực hiện tốt công việc của mình

Trang 12

Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị nhằm xây lắp chiến lược cạnh tranh qua việc lập các báo định kỳ và báo cáo đặc biệt Các báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, các thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp, các quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, quyết định tiếp tục hay ngừng sản xuất hợp lý Còn các báo cáo đặc biệt giúp cho nhà quản trị đưa ra các quyết định chiến lược như phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán ký kết các hợp đồng dài hạn với các đối tác Hơn nữa, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, đặc biệt trong trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường

Các nhà quản trị thường đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của họ thông qua các báo cáo kế toán quản trị tương ứng với phần hành mà nhà quản trị đó kiểm soát Các nhà quản trị cấp cao hơn, không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày, đánh giá và kiểm tra dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận

do kế toán quản trị cung cấp

* Trong giai đoạn ra quyết định:

Vai trò quan trọng nhất của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định Để có quyết định đúng đắn và kịp thời, các nhà quản trị cần có thông tin đầy đủ và đáng tin cậy Kế toán quản trị chi phí thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn, chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp sau đó tổng hợp lại, trình bày thông tin theo cách dễ hiểu nhất và giải thích quá trình phân tích cho các nhà quản trị để từ đó nhà quản trị lựa chọn và ra quyết định tối ưu nhất

1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến kế toán quản trị chi phí

Xây lắp cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích luỹ cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây lắp cơ bản

So với các ngành sản xuất khác, ngành xây lắp có những đặc điểm về kinh tế -

kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành Quá trình sản xuất của doanh nghiệp xây lắp và sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt, khác với các ngành sản xuất khác và điều đó có ảnh hưởng đến kế toán quản trị, cụ thể như sau:

+ Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận do đơn

vị xây lắp ký kết với chủ đầu tư Tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ, quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp được thực hiện thông qua việc nghiệm thu và bàn giao công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành cho bên giao thầu

Trang 13

+ Hoạt động của doanh nghiệp xây lắp mang tính chất lưu động, được tiến hành ngoài trời, các điều kiện sản xuất như xe, máy, thiết bị thi công, người lao động… phải

di chuyển theo địa điểm sản xuất Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết,

dễ mất mát, dễ hư hỏng, việc thi công có thể bị gián đoạn

+ Thời gian sử dụng của sản phẩm xây lắp dài, chất lượng sản phẩm được xác định cụ thể trong hồ sơ thiết kế được duyệt, đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất và hạch toán phải đảm bảo đúng theo dự toán thiết kế

+ Sản phẩm xây lắp có kích thước và giá trị lớn, thường vượt quá số vốn lưu động của doanh nghiệp xây lắp Hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sản xuất thi công xây lắp doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại

sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí… điều này làm cho vốn đầu tư xây lắp công trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang xây lắp Vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn phương án có thời gian xây lắp hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải điều kiện thanh toán giữa kỳ và dự trữ vốn hợp lý, khi lập kế hoạch xây lắp doanh nghiệp cần phải cân nhắc thận trọng, thấy rõ được các yêu cầu về tiền vốn, vật tư, nhân công của công trình, quản lý, theo dõi các khoản mục chi phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằm đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm

+ Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước là điểm dừng kỹ thuật hợp lý Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất

+ Sản phẩm xây lắp có giá trị sử dụng lâu dài, mỗi sản phẩm hoàn thành đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật, tính bền vững cùng với các tiêu chuẩn khắt khe khác bởi vì mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa, phải phá đi làm lại Hay các sai lầm trong xây lắp gây lãng phí, để lại hậu quả nghiêm trọng, lâu dài, khó khắc phục Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình

+ Để nhận được công trình, các doanh nghiệp xây lắp phải trải qua nhiều khâu đấu thầu Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng

để từ đó xác định được giá đấu thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng được thầu

Trang 14

1.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí

1.3.1 Phân loại chi phí

1.3.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng

Xét theo công dụng hay chức năng trong quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí phát sinh trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành 2 loại: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất:

- Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là những chi phí phát sinh tại phân xưởng

(bộ phận) sản xuất liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp xây lắp, giai đoạn sản xuất là quá trình thi công biến nguyên vật liệu thành sản phẩm (các công trình, hạng mục công trình) thông qua sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuất xây lắp bao gồm các mục chủ yếu: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các loại nguyên liệu, vật liệu xuất

dùng trực tiếp cho việc thi công xây lắp công trình, hạng mục công trình Trong đó, nguyên vật liệu chính (xi măng, sắt, thép…) dùng để cấu tạo nên sản phẩm, vật liệu phụ và vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo) có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng

+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản trích theo

lương, phụ cấp có tính chất thường xuyên (phụ cấp trách nhiệm) cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp

+ Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng các loại xe, máy thi

công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy thi công và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển, tháo lắp máy thi công…

+ Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình thi công

các công trình, hạng mục công trình phát sinh ở tổ đội, các công trường xây lắp bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình thi công xây lắp, tiền lương của nhân viên quản

lý các tổ, đội xây lắp; các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công; chi phí khấu hao, sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, chi phí mua ngoài phục vụ tại các công trường xây lắp và các chi phí khác bằng tiền như chi phí thuê lán, trại để tiến hành xây lắp

- Chi phí ngoài sản xuất: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên

quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp, bao gồm:

Trang 15

+ Chi phí bán hàng: Riêng đối với doanh nghiệp xây lắp do đặc thù của ngành

là trúng thầu mới tiến hành xây lắp, sản phẩm được bàn giao cho nhà đầu tư ngay tại nơi sản xuất, thi công nên chi phí bán hàng thường không phát sinh

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm các chi phí phục vụ cho công tác tổ

chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh chung cho toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản

lý doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác…

Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, trong mỗi yếu tố thường gồm cả định phí và biến phí Do đó, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành hai bộ phận định phí và biến phí Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xét theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí Như vậy, để xác định chính xác kết quả tiêu thụ và kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải có các tiêu thức phân bổ chi phí hợp lý

1.3.1.2 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí và các đối tượng chịu phí

- Chi phí trực tiếp: là các khoản chi phí chỉ liên quan trực tiếp tới việc sản xuất

một sản phẩm (một công trình, hạng mục công trình) mà theo đó kế toán có thể tập hợp thẳng cho từng công trình, hạng mục công trình đó như nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp

- Chi phí gián tiếp: là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm (nhiều công

trình, hạng mục công trình) mà kế toán không thể tập hợp thẳng cho từng công trình, hạng mục công trình Do đó, đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp kế toán phải sử dụng tiêu thức phân bổ hợp lý để phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình Trong doanh nghiệp xây lắp có một bộ phận chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, kế toán doanh nghiệp sẽ dùng các tiêu thức phân bổ như chi phí nhân công, chi phí trực tiếp… để phân bổ các chi phí trên cho các công trình, hạng mục công trình cụ thể

Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa thuần túy đối với hạch toán chi phí, trường hợp phát sinh chi phí gián tiếp, bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ và lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp

Việc phân loại chi phí gián tiếp cũng có ý nghĩa đối với nhà quản trị trong việc

ra quyết định tiếp tục duy trì hay loại bỏ hoạt động hoặc bộ phận kinh doanh thông qua việc phân tích thông tin thích hợp hay không thích hợp

Trang 16

1.3.1.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính

Khi xem xét chi phí trong mối quan hệ với báo cáo tài chính, chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất được chia làm hai loại là chi phí sản phẩm

và chi phí thời kỳ

- Chi phí sản phẩm: bao gồm các loại chi phí liên quan đến việc sản xuất sản

phẩm (công trình, hạng mục công trình), các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua các giai đoạn sản xuất (gọi là giá thành sản xuất) gồm các khoản mục chi phí: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung Xét trong mối quan hệ với báo cáo tài chính, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kết chuyển sang báo cáo kết quả kinh doanh để xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với khối lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối

kỳ sẽ được lưu giữ và được coi là tài sản của doanh nghiệp được phản ánh dưới khoản mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và sẽ được kết chuyển để xác định lợi nhuận ở các kỳ sau khi mà sản phẩm được tiêu thụ Chi phí sản phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho

- Chi phí thời kỳ: là các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các

khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào thì được xem là có tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển sang báo cáo kết quả kinh doanh để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chi phí thời kỳ phát sinh

1.3.1.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Cách ứng xử chi phí là thuật ngữ để chỉ sự thay đổi của chi phí tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được, các hoạt động có thể như mức độ công việc đã thực hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ ca máy hoạt động… Khi xem xét cách ứng

xử của chi phí, cần phân biệt rõ phạm vi hoạt động của doanh nghiệp với mức độ hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ Phạm vi hoạt động chỉ rõ các năng lực hoạt động tối đa như công suất máy móc thiết bị, số giờ công lao động của công nhân … mà doanh nghiệp có thể khai thác, còn mức độ hoạt động chỉ các mức hoạt động cụ thể mà doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ trong giới hạn của phạm vi hoạt động đó Theo cách phân loại này, gồm có chi phí bất biến và chi phí khả biến

- Chi phí khả biến (biến phí): Là các chi phí xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (giảm) tương ứng với sự tăng (giảm) của mức độ hoạt động nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi

Trang 17

Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí khả biến bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung (chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếp)

- Chi phí bất biến (định phí): xét về lý thuyết, chi phí bất biến là những chi phí không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động được Vì tổng chi phí bất biến là không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại

Với bản chất ngắn hạn và phụ thuộc nhiều vào ý muốn của người quản lý, các định phí không bắt buộc là đối tượng xem xét đầu tiên trong các chương trình tiết kiệm hoặc cắt giảm chi phí hàng năm của doanh nghiệp Có thể nói, tính hợp lý về sự phát sinh của các định phí không bắt buộc cả về chủng loại và giá trị được xem xét theo từng thời kỳ là biểu hiện rõ nhất chất lượng các quyết định của nhà quản trị trong quản

lý Các quyết định này luôn bị ràng buộc bởi sự hạn chế của quy mô vốn, bởi các mục tiêu tiết kiệm chi phí tối thiểu của doanh nghiệp Nếu người quản lý không hiểu rõ đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp, những tình huống cụ thể cho việc ra quyết định ở từng thời kỳ hoạt động thì rất dễ dẫn đến các quyết định sai lầm

- Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao gồm cả yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt dộng nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hay phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỷ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỷ trọng khá cao trong các loại chi phí, ví dụ như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị sản xuất

Nếu hiểu rõ phần biến phí, định phí trong chi phí hỗn hợp sẽ thuận lợi cho việc lập dự toán chi phí (thường là chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp)

1.3.1.5 Phân loại chi phí phục vụ quá trình ra quyết định

- Chi phí chìm: là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ biểu hiện ở mọi

phương án với giá trị như nhau Hay, chi phí chìm được xem là khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý lựa chọn thực hiện theo phương án nào Vì vậy, chi phí phí chìm không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của nhà quản trị

- Chi phí chênh lệch: là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một

phương án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: thứ nhất là giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, thứ hai là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích

Trang 18

bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

- Chi phí cơ hội: là phần lợi nhuận tiềm năng bị từ bỏ khi lựa chọn phương án

hoạt động này thay vì một phương án hoạt động khác Chi phí cơ hội là khoản chi phí không được theo dõi trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng đối với việc ra quyết định Khi lựa chọn các phương án hoạt động, ngoài các chi phí được phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, nhà quản lý còn cần phải xem xét chi phí cơ hội của các phương án

đó do các nguồn lực của doanh nghiệp có thể được sử dụng theo những cách khác nhau để quyết định lựa chọn phương án có lợi nhuận cao nhất

1.3.1.6 Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát của nhà quản lý

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí có thể kiểm soát được và chi phí không thể kiểm soát được Một khoản chi phí được xem

là có thể kiểm soát được hoặc không thể kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó tùy thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến các khoản chi phí đó hay không

- Chi phí kiểm soát được: là những chi phí mà nhà quản trị có quyền quyết định hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí

- Chi phí không kiểm soát được:

Có hai dạng chi phí không kiểm soát được:

+ Các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ phận;

+ Các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc quyền chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn

Việc xem xét khả năng kiểm soát các loại chi phí đối với một cấp quản lý có tính tương đối, có thể có sự thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ phân cấp trong quản

lý Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong việc lập báo cáo kết quả kinh doanh của từng bộ phận trong doanh nghiệp Phân tích chi phí và ra các quyết định quản lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

1.3.2 Xây lắp định mức và lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

1.3.2.1 Xây lắp định mức trong doanh nghiệp xây lắp

Định mức xây lắp mới của công trình được xây lắp theo trình tự sau:

Bước 1: Lập danh mục công tác xây lắp hoặc kết cấu mới của công trình chưa có trong danh mục định mức xây lắp được công bố

Mỗi danh mục công tác xây lắp hoặc kết cấu mới phải thể hiện rõ đơn vị tính khối lượng và yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện và biện pháp thi công của công trình

Bước 2: Xác định thành phần công việc

Trang 19

Thành phần công việc phải nêu rõ các bước công việc thực hiện của từng công đoạn thiết kế tổ chức dây chuyền công nghệ thi công từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành, phù hợp với điều kiện, biện pháp thi công và phạm vi thực hiện của công trình

Bước 3: Tính toán xác định hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công

- Hao phí máy thi công: xác định thông số kỹ thuật của từng máy trong dây chuyền hoặc định mức năng suất máy xây lắp được công bố và có tính đến hiệu suất

do sự phối hợp của các máy thi công trong dây chuyền

Phương pháp 2: Tính toán theo số liệu thống kê phân tích

- Từ số lượng hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công thực hiện một khối lượng công tác theo một chu kỳ hoặc theo nhiều chu kỳ của công trình đã và đang thực hiện

- Từ hao phí vật tư, sử dụng lao động, năng suất máy thi công đã được tính toán

từ các công trình tương tự

- Từ số liệu công bố theo kinh nghiệm của các chuyên gia hoặc tổ chức chuyên môn nghiệp vụ

Phương pháp 3: Tính toán theo khảo sát thực tế

Từ tài liệu thiết kế, số liệu khảo sát thực tế của công trình (theo thời gian, địa điểm, khối lượng thực hiện trong một hoặc nhiều chu kỳ…), tham khảo định mức sử dụng vật tư, lao động, năng suất máy được công bố

- Hao phí vật liệu: tính toán theo số liệu khảo sát thực tế và đối chiếu với thiết

kế, quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật

- Hao phí nhân công: tính toán theo số lượng công nhân từng khâu dây chuyền sản xuất và tổng số lượng công nhân trong cả dây chuyền, tham khảo các quy định về

sử dụng lao động

- Hao phí máy thi công: tính toán theo số liệu khảo sát thực tế về năng suất của từng loại máy và hiệu suất phối hợp giữa các máy thi công trong cùng một dây chuyền, tham khảo các quy định về năng suất kỹ thuật của máy

B Nội dung tính toán các thành phần hao phí

* Tính toán định mức hao phí về vật liệu

Trang 20

Định mức hao phí vật liệu cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp kể cả hao hụt vật liệu được phép trong thi công, gồm:

- Vật liệu chủ yếu (chính): như cát, đá, xi măng, gạch ngói, sắt thép,… trong công tác bê tông, xây, cốt thép, sản xuất kết cấu… là những loại vật liệu có giá trị cao

và chiếm tỷ trọng lớn trong một đơn vị khối lượng hoặc kết cấu thì quy định định mức bằng hiện vật và tính theo đơn vị đo lường thông thường

- Vật liệu khác (phụ): như xà phòng, dầu nhờn, giẻ lau… là những loại vật liệu

có giá trị nhỏ, khó định lượng chiếm tỷ trọng ít so với một đơn vị khối lượng hoặc kết cấu quy định mức bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí của các loại vật liệu chính

Định mức hao phí vật liệu được xác định trên cơ sở định mức vật liệu được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp nêu trên

Tính toán hao phí vật liệu chủ yếu

Công thức tổng quát xác định định mức hao phí vật liệu (VL) trong định mức xây lắp là:

VL = (Q V x K hh + Q V LC x K LC ) x K V cd x K tđ [2.1]

Trong đó:

+ QV: Số lượng vật liệu sử dụng cho từng thành phần công việc trong định mức (trừ vật liệu luân chuyển), được tính toán theo một trong ba phương pháp đã trình bày trên

Đối với vật liệu cấu thành nên sản phẩm theo thiết kế thì số lượng vật liệu được xác định từ tiêu chuẩn thiết kế

Đối với vật liệu thi công theo biện pháp tổ chức thi công được xác định theo kỹ thuật thi công và số lần luân chuyển theo định mức vật tư được công bố hoặc tính toán đối với trường hợp chưa có trong định mức vật tư

+ QVLC : Số lượng vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo, cầu công tác…)

sử dụng cho từng thành phần công việc trong định mức được tính toán theo một trong

tư chưa có trong định mức

Định mức hao hụt vật tư được quy định cho vật liệu rời, vật liệu bán thành phẩm (vữa xây, vữa bê tông) và cấu kiện (cọc, dần đúc sẵn)

Trang 21

+ KLC: Hệ số luân chuyển của loại vật liệu cần phải luân chuyển quy định trong định mức sử dụng vật tư Đối với vật liệu không luân chuyển thì KLC = 1 Đối với vật liệu luân chuyển thì KLC < 1

Hệ số luân chuyển của vật liệu luân chuyển được tính theo công thức sau:

K LC = (h x (n-1)+2) / 2n [2.3]

Trong đó:

- h: Tỷ lệ được bù hao hụt từ lần thứ 2 trở đi

- n: Số lần sử dụng vật liệu luân chuyển (n>1)

+ Ktd: Hệ số sử dụng thời gian sử dụng do tiến độ thi công công trình là hệ số phản ánh việc huy động không thường xuyên hoặc tối đa lượng vật liệu để hoàn thành công tác xây lắp theo đúng tiến độ Hệ số này chỉ ảnh hưởng đến vật liệu luân chuyển,

ví dụ như huy động giàn giáo, côp pha, cây chống…

Khi biện pháp thi công sử dụng một lần hoặc nhiều lần thì bổ sung thêm hệ số này cho phù hợp với điều kiện xây lắp công trình Hệ số này được tính theo tiến độ, biện pháp thi công hoặc theo kinh nghiệm của tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ

Tính toán hao phí vật liệu khác

Đối với các loại vật liệu khác (phụ) được định mức bằng tỷ lệ phần trăm (%) so với tổng chi phí các loại vật liệu chính định lượng trong định mức xây lắp và được xác định theo loại công việc theo số liệu kinh nghiệm của tư vấn hoặc định mức trong công trình tương tự

* Tính toán định mức hao phí về lao động

Định mức hao phí lao động trong định mức xây lắp được xác định trên định mức lao động (thi công) được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp

đã nêu trên

Đơn vị tính của định mức lao động cơ sở là giờ công

Đơn vị tính của định mức lao động trong định mức xây lắp là ngày công

Mức hao phí lao động được xác định theo công thức tổng quát:

+ Kcđđ: Hệ số chuyển đổi định mức xây lắp

Hệ số này được tính từ định mức thi công chuyến sang xây lắp hoặc lấy theo kinh nghiệm của các nhà chuyên môn

Trị số này phụ thuộc vào nhóm công tác, loại bỏ tổ hợp đơn lẻ hay hỗn hợp mà đưa ra các hệ số khác nhau tùy theo loại công tác, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công cụ thể và thường trong khoảng 1,05 ÷ 1,3

Trang 22

+ KVcđ: Hế số chuyển đổi đơn vị tính: là hệ số chuyển đổi đơn vị tính từ thực tế hoặc kinh nghiệm thi công sang định mức dự toán

+ 1/8: Hệ số chuyển đổi định mức giờ công sang định mức ngày công

* Tính toán định mức hao phí về máy xây lắp

Định mức hao phí về máy thi công trong định mức xây lắp được xác định trên

cơ sở năng suất kỹ thuật máy thi công được công bố hoặc tính toán theo một trong ba phương pháp đã nêu trên

Đơn vị tính của định mức cơ sở năng suất máy thi công là giờ máy, ca máy…

Tính toán hao phí máy thi công chủ yếu:

Công thức tổng quát xác định mức hao phí về ca máy, thiết bị xây lắp:

Trong đó:

+ QCM: Định mức năng suất thi công một ca máy xác định theo một trong ba phương pháp trên

+ Kcđđ: Hệ số chuyển đổi định mức xây lắp

Hệ số này được tính từ định mức thi công chuyển sang định mức xây lắp hoặc lấy theo kinh nghiệm của các nhà chuyên môn nghiệp vụ

Trị số này phụ thuộc vào nhóm công tác, loại tổ hợp đơn lẻ hay hỗn hợp mà phân ra các hệ số khác nhau tùy theo loại công tác, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công cụ thể, thường từ trong khoảng 1,05 ÷ 1,3

+ KVcđ: Hế số chuyển đổi đơn vị tính: là hệ số chuyển đổi đơn vị tính từ thực tế hoặc kinh nghiệm thi công sang định mức dự toán

+ Kcs: Hệ số sử dụng năng suất là hệ số phản ánh việc sử dụng hiệu quả năng suất từ tổ hợp máy trong dây chuyền liên hợp, hệ số này được tính toán theo năng suất máy thi công của các bước công việc và có sự điều chỉnh phù hợp khi trong dây chuyền cùng loại máy có năng suất nhỏ nhất

Tính toán hao phí máy và thiết bị xây lắp khác

Đối với các loại máy và thiết bị xây lắp phụ được định mức bằng tỷ lệ phần trăm so với tổng chi phí các loại máy chính định lượng trong định mức xây lắp và được xác định theo loại công việc, theo kinh nghiệm của tư vấn hoặc định mức trong công trình tương tự

Bước 4: Lập các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các hao phí về vật liệu, lao động, máy thi công

Tập hợp các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các khoản mục hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công

Mỗi tiết định mức gồm hai phần:

Trang 23

- Thành phần công việc: quy định rõ, đầy đủ nội dung các bước công việc theo thứ tự từ khâu chuẩn bị ban đầu đến khi kết thúc hoàn thành công tác hoặc kết cấu xây lắp, bao gồm cả điều kiện và biện pháp thi công cụ thể

- Bảng định mức các khoản mục hao phí: mô tả rõ tên, chủng loại, quy cách vật liệu chủ yếu trong công tác hoặc kết cấu xây lắp, và các vật liệu phụ khác; loại thợ; cấp bậc công nhân xây lắp bình quân; tên, loại, công suất của các loại máy, thiết bị chủ yếu và một số máy, thiết bị khác trong dây chuyền công nghệ thi công để thực hiện hoàn thành công tác hoặc kết cấu xây lắp

Trong bảng định mức, hao phí vật liệu chủ yếu được tính bằng phương tiện hiện vật, các vật liệu phụ tính bằng tỷ lệ phần trăm sơ với vật liệu chính; hao phí lao động được tính bằng ngày công không phân chia theo cấp bậc cụ thể mà theo cấp bậc công nhân xây lắp bình quân; hao phí máy, thiết bị chủ yếu được tính bằng số ca máy, các loại máy khác (máy phụ) được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí của các loại máy, thiết bị chủ yếu

Các tiết định mức xây lắp được tập hợp theo nhóm, loại công tác hoặc kết cấu xây lắp và thực hiện mã hóa thống nhất

1.3.2.2 Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp

Dự toán là những dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các nguồn lực dự trên mục tiêu kế hoạch xác định trong từng thời gian cụ thể và được biểu diễn một cách có hệ thống thông qua biểu mẫu và thước đo khác nhau

Dự toán có ý nghĩa quan trọng trong bất kỳ một tổ chức hoạt động nào bởi vì nó cung cấp thông tin có hệ thống về toàn bộ kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ tới; Dự đoán trước những khó khăn khi chúng chưa xảy ra để

có phương án đối phó kịp thời và đúng đắn; Là cơ sở quan trọng để phân tích, so sánh với kết quả thực hiện, qua đó phát hiện ra nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt giữa dự toán và thực tế để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời và qua đó đánh giá định mức,

dự toán xây lắp phù hợp với thực tế chư có cơ sở để xây lắp định mức mới hoàn chỉnh;

Nó kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bằng kế hoạch của từng bộ phận khác nhau, đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp Như vậy, dự toán chính là cơ sở để đưa ra các quyết định tác nghiệp của nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp

Dự toán chi phí thường được lập từ cấp cơ sở lên trong doanh nghiệp và do các chuyên gia kỹ thuật, kế toán quản trị tại các phân xưởng, đội sản xuất kết hợp để xây lắp Sau khi dự toán được xây lắp dựa trên cơ sở khoa học sẽ được chuyển cho bộ phận chức năng như các phòng, ban kỹ thuật thẩm định, phân tích tính khả thi của dự toán, sau đó bổ sung những mặt hạn chế để cho dự toán Sau đó, dự toán được chuyển cho cấp quản trị cao phê duyệt và cuối cùng chuyển tới các bộ phận cơ sở thực hiện

Trang 24

Dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:

Dự toán công trình: là toàn bộ chi phí cần thiết để đầu tư xây lắp các công

trình, hạng mục công trình thuộc dự án Dự toán được xác định ở bước thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công Dự toán công trình được lập cho từng công trình, hạng mục công trình xây lắp

Dự toán công trình bao gồm:

+ Chi phí xây lắp trong dự toán công trình được lập cho từng công trình, hạng mục công trình, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc bộ phận, phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình

+ Chi phí thiết bị trong dự toán công trình bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh…

+ Chi phí quản lý dự án: bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi hoàn thành, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác, sử dụng

+ Chi phí tư vấn đầu tư xây lắp: gồm chi phí khảo sát xây lắp; chi phí thiết kế xây lắp công trình; chi phí thẩm tra thiết kế kỹ thuật; thiết kế bản vẽ thi công; chi phí lập hồ sơ mời thầu…

+ Chi phí khác: là các chi phí cần thiết khác không phụ thuộc các chi phí đã nêu trên, bao gồm: chi phí rà phá bom mìn, vật nổ; chi phí bảo hiểm công trình; chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến công trường; chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế; chi phí đảm bảo an toàn giao thông; kiểm toán; thẩm tra; phê duyệt quyết toán vốn đầu tư…

+ Chi phí dự phòng: là khoản chi phí để dự trù cho khối lượng công việc phát sinh và các yếu tố trượt giá trong thời gian xây lắp công trình

Dự toán chi phí xây lắp:

Dự toán xây lắp được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xây lắp tính toán từ bản vẽ kỹ thuật hoặc bản vẽ thi công, đơn giá xây lắp cơ bản do liên sở tài chính xây dưng thông báo hoặc đơn giá công trình đối với công trình được lập đơn giá riêng, định mức các chi phí tính theo tỷ lệ % do Bộ xây lắp ban hành và các chế độ chính sách của nhà nước có liên quan Dự toán chi phí xây lắp bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng và chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công

+ Chi phí trực tiếp: bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí trực tiếp khác

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Trang 25

Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm, nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị về kế hoạch thu mua nguyên vật liệu, đảm bảo cho hoạt động sản xuất không bị gián đoạn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

X

Định mức chi phí vật liệu của công tác xây lắp thứ j

) +

Chênh lệch vật liệu (nếu có)

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây lắp từ dự toán khối lượng công tác xây lắp, định mức thời gian xây lắp và định mức theo đơn giá giờ công trực tiếp

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp giúp các nhà quản trị có kế hoạch trong việc sử dụng lao động một cách khoa học Tuyển dụng, đào tạo, bố trí lao động trong

tổ chức doanh nghiệp doanh nghiệp một cách khoa học góp phần giảm chi phí phát sinh cho doanh nghiệp và tạo môi trường làm việc thân thiện, giữa người lao động và nhà quản trị

x

Định mức thời gian xây lắp của công tác xây lắp thứ j

+

Định mức theo đơn giá giờ công trực tiếp

)

Dự toán chi phí sử dụng máy thi công:

Dự toán chi phí máy thi công được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng công tác xây lắp, định mức chi phí máy thi công và hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công

x

Định mức chi phí máy thi công của công tác xây lắp thứ j

+

Hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công

)

Ngoài ba khoản mục chi phí trên thì chi phí trực tiếp còn bao gồm chi phí trực tiếp khác như chi phí cho công tác cần thiết phục vụ trực tiếp việc thi công xây lắp công trình như di chuyển lực lượng lao động trong nội bộ công trường, an toàn lao động, bảo vệ môi trường cho người lao động, chi phí bơm nước, vét bùn, thí nghiệm vật liệu… không xác định được khối lượng từ thiết kế

Trang 26

+

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

+

Dự toán chi phí máy thi công

)

Dự toán chi phí chung:

Chi phí chung bao gồm: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí phục vụ nhân công, chi phí phục vụ thi công tại công trường và một số chi phí khác Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếp hoặc tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán đối với từng loại công trình

Đối với hạng mục công trình tương ứng với từng loại công trình thì mỗi hạng mục công trình đó được coi như một công trình độc lập và được áp dụng định mức tỷ

lệ chung theo loại công trình phù hợp Trong trường hợp các dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ dự án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình

Dự toán chi phí chung = Định mức chi phí sản

xuất (tính theo tỷ lệ %) x Chi phí trực tiếp

1.3.3 Kế toán chi phí cho các đối tượng chịu phí

1.3.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Các nguyên tắc cần tôn trọng khi hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

- Vật liệu sử dụng cho việc xây lắp công trình, hạng mục công trình nào thì tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan, theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá thực tế xuất kho

- Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình đã hoàn thành, phải tiến hành kiểm kê

số vật liệu chưa sử dụng hết ở các công trường để tính số vật liệu thực tế sử dụng cho công trình, đồng thời hạch toán đúng số liệu thu hồi (nếu có) theo từng đối tượng công trình, hạng mục công trình cụ thể của doanh nghiệp

- Trong điều kiện vật liệu sử dụng cho việc thi công nhiều công trình, hạng mục công trình, kế toán tiến hành áp dụng phương pháp phân bổ để tính chi phí vật liệu trực tiếp cho từng đối tượng công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức phân bổ hợp lý: Theo định mức tiêu hao, chi phí vật liệu trực tiếp hoặc theo dự toán…

- Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp dụng trong xây lắp cơ bản và phải tác động tích cực để không ngừng hoàn thiện hệ thống định mức đó

Tài khoản sử dụng: TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” TK 621 được

mở chi tiết cho từng công trình, từng khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt

Trang 27

điểm dừng kỹ thuật có dự toán riêng TK 621 không có số dư cuối kỳ Đối với công trình xây lắp, các thiết bị do chủ đầu tư bàn giao đưa vào xây lắp không hạch toán vào tài khoản này

Trình tự kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (phụ lục số 01)

1.3.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt công nhân trong hay ngoài danh sách

Các nguyên tắc cần tôn trọng khi hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:

- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến từng công trình, hạng mục công trình nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc về lao động tiền lương Trong điều kiện sản xuất xây lắp không cho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, hạng mục công trình thì kế toán phải phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng theo tiền lương định mức hay gia công định mức

- Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp (Kinh phí công đoàn, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp) được tính vào chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp

Tài khoản sử dụng: TK 622“Chi phí nhân công trực tiếp” TK 622 được mở

chi tiết cho từng công trình, từng hạng mục công trình TK 622 không có số dư cuối

kỳ

Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp (phụ lục số 02)

1.3.3.3 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

Máy thi công là là loại máy chạy bằng động lực (điện, xăng, dầu…) được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình như: máy trộn bê tông, cần cẩu, xe lu, máy ủi… Các loại phương tiện này doanh nghiệp có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài

Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ chi phí vật liệu, nhân công và các chi phí khác có liên quan đến chi phí sử dụng máy thi công và được chia thành hai loại: Chi phí thường xuyên và chi phí không thường xuyên

Chi phí thường xuyên: là những chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng xe,

máy thi công, được tính thẳng vào giá thành của ca máy như: tiền lương của công nhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí về nguyên liệu, động lực, vật liệu dùng cho máy thi công…

Chi phí tạm thời: là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy

thi công khi di chuyển từ công trình này tới công trình khác, chi phí về xây lắp, tháo

Trang 28

dỡ những công trình tạm thời loại nhỏ như lều, lán trại… phục vụ cho sử dụng máy thi công Những chi phí này có thể phân bổ dần hoặc trích trước theo kế hoạch cho nhiều

kỳ

Những quy định cần tôn trọng:

- Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phải phù hợp với hình thức quản lý,

sử dụng máy thi công của doanh nghiệp Thông thường có hai hình thức quản lý, sử dụng máy thi công:

+ Nếu doanh nghiệp tổ chức bộ máy thi công riêng biệt thì tùy thuộc vào đội máy có tổ chức kế toán riêng hay không mà chi phí sử dụng máy thi công được hạch toán phù hợp

+ Nếu doanh nghiệp xây lắp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt mà giao cho máy thi công cho đội, xí nghiệp xây lắp thì chi phí sử dụng máy thi công được hạch toán vào TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công”

- Chi phí sử dụng máy thi công phải được hạch toán chi tiết theo từng loại máy hoặc nhóm máy thi công, đồng thời phải chi tiết cho các đối tượng sử dụng là công trình, hạng mục công trình phải dựa trên cơ sở giá thành 1 giờ/máy hoặc giá thành 1 cai/máy hoặc đơn vị công việc thi công bằng máy hoàn thành

Để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử dụng TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” Tài khoản này chỉ để sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công đối với các doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo công thức thi công hỗn hợp vừa nhỏ vừa kết hợp máy

Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo phương thức sử dụng bằng máy thì không sử dụng TK 623 mà hạch toán toàn bộ chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627 Không hạch toán vào TK 623 khoản trích về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn, Bảo hiểm thất nghiệp tính trên lương phải trả công nhân điều khiển máy thi công

Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công (Phụ lục 03)

1.3.3.4 Kế toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các tổ đội xây lắp ở các công trường xây lắp Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau thường có mối quan hệ gián tiếp đối với các đối tượng xây lắp như: tiền lương nhân viên quản lý đội xây lắp, tiền trích Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn, Bảo hiểm thất nghiệp tính theo tỷ lệ quy định hiện hành trên tiền lương phải trả công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công và nhân viên

Trang 29

quản lý đội, khấu hao tài sản cố định cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội xây lắp

- Trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp khác nhau, kế toán phải phân bổ chhi phí sản xuất chung cho các đối tượng liên quan theo tiêu thức hợp lý như chi phí nhân công trực tiếp hoặc định mức

Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng xây lắp có liên quan, kế toán sử dụng TK 627 “Chi phí sản xuất chung”

Trình tự kế toán chi phí sản xuất chung (Phụ lục số 04)

Chi phí sản xuất chung luôn gắn liền với nơi diễn ra hoạt động sản xuất và với sản phẩm được sản xuất (công trình, hạng mục công trình) nên để tập hợp được chi phí sản xuất chung kế toán cần xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuấ để từ

đó thực hiện kiểm soát chi phí, tính giá thành sản phẩm, tổng hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp Đối tượng chịu phí được xác định là phạm vi (giới hạn) để tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh

1.3.3.5 Các phương pháp xác định chi phí

Trong phương pháp chi phí toàn bộ (còn được gọi chi phí đầy đủ), tất cả các

chi phí tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung) đều được tính vào giá phí sản phẩm sản xuất, không có sự phân biệt giữa các chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi Điều này phù hợp theo các nguyên tắc của kế toán tài chính là tất cả các chi phí tham gia vào việc tạo ra tài sản thì phải được tính vào giá trị của tài sản đó Một lý do cơ bản để kế toán quản trị chi phí áp dụng cách xác định chi phí này là có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng hệ thống thông tin kế toán tài chính để ra các quyết định quản lý, đặc biệt là khi hệ thống kế toán quản trị chi phí

ở các doanh nghiệp đó chưa phát triển Tuy nhiên, hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí có thể không tuân thủ theo các nguyên tắc chung của kế toán nên tuỳ theo mục đích sử dụng thông tin về giá phí sản phẩm sản xuất mà kế toán quản trị chi phí có thể thêm hoặc bớt một số khoản chi phí khi tính toán giá phí sản phẩm sản xuất

Trang 30

Theo phương pháp chi phí trực tiếp (còn gọi là phương pháp chi phí biến

đổi), giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung biến đổi), còn các chi phí sản xuất cố định được coi là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh ngay khi phát sinh

Bảng1.1: Phân loại chi phí theo phương pháp chi phí toàn bộ và

phương pháp chi phí trực tiếp

phí toàn bộ

Phương pháp chi phí trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí sản phẩm Chi phí sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp Chi phí sản phẩm Chi phí sản phẩm Chi phí sử dụng máy thi công Chi phí sản phẩm Chi phí sản phẩm Chi phí sản xuất chung biến đổi Chi phí sản phẩm Chi phí sản phẩm Chi phí sản xuất chung cố định Chi phí sản phẩm Chi phí thời kỳ Chi phí bán hàng và quản lý doanh

nghiệp biến đổi

Chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ

Chi phí bán hàng và quản lý doanh

nghiệp cố định

Chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ

Như vậy giá thành sản phẩm sản xuất theo hai phương pháp chi phí toàn bộ và chi phí trực tiếp luôn luôn chênh lệch nhau phần chi phí sản xuất chung cố định Do giá thành khác nhau nên giá vốn hàng bán và giá trị hàng tồn kho tính theo hai phương pháp này sẽ khác nhau Nếu mức sản phẩm tồn kho biến động qua các kỳ thì lợi nhuận báo cáo theo hai phương pháp này sẽ khác nhau Do phương pháp chi phí trực tiếp phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động nên lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí biến đổi chỉ phụ thuộc vào mức độ tiêu thụ sản phẩm, không phụ thuộc vào mức độ sản xuất sản phẩm hay sự biến động của mức sản phẩm phẩm tồn kho Ngược lại, phương pháp chi phí toàn bộ phân loại chi phí theo chức năng nên lợi nhuận báo cáo theo phương pháp này sẽ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của mức độ sản xuất và mức sản phẩm tồn kho

Khi mức sản phẩm tồn kho cuối kỳ này tăng so với kỳ trước thì lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí toàn bộ sẽ cao hơn lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí trực tiếp do theo phương pháp chi phí toàn bộ có một phần chi phí sản xuất chung cố định phát sinh của kỳ này chưa được tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ mà còn được giữ lại trong giá trị các sản phẩm tồn kho cuối kỳ Ngược lại, khi mức sản phẩm tồn kho cuối kỳ này giảm so với kỳ trước thì lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí toàn bộ sẽ thấp hơn lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí trực tiếp

Trang 31

do theo phương pháp chi phí toàn bộ có một phần chi phí sản xuất chung cố định phát sinh của kỳ trước (nằm trong giá trị sản phẩm tồn kho cuối kỳ trước) được tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ này

Tuỳ theo mục đích sử dụng thông tin mà kế toán quản trị chi phí áp dụng các phương pháp thích hợp Phương pháp chi phí toàn bộ có ích cho nhà quản lý trong việc

ra các quyết định chiến lược Thí dụ, về mặt dài hạn giá bán sản phẩm phải bù đắp được cả các chi phí biến đổi và chi phí cố định để sản xuất sản phẩm Ngược lại, phương pháp chi phí trực tiếp sẽ có ích hơn trong việc đánh giá hoạt động của nhà quản lý vì lợi nhuận báo cáo theo phương pháp này phản ánh đúng đắn hơn thực chất kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu sử dụng lợi nhuận báo cáo theo phương pháp chi phí toàn bộ để đánh giá hoạt động của nhà quản lý thì có thể làm cho các nhà quản lý quyết định sản xuất nhiều hơn so với khả năng tiêu thụ vì sản phẩm tồn kho càng nhiều thì chi phí sản xuất chung cố định giữ lại trong giá trị các sản phẩm tồn kho càng cao và do đó lợi nhuận báo cáo sẽ càng cao Mặt khác, phương pháp chi phí trực tiếp rất có ích cho các nhà quản lý trong việc phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận do phương pháp này yêu cầu việc phân loại chi phí theo mối quan

hệ với mức độ hoạt động của doanh nghiệp

1.3.4 Phân tích biến động chi phí và sử dụng thông tin chi phí thích hợp để

ra quyết định kinh doanh

Phân tích biến động chi phí được thực hiện bằng cách so sánh giữa chi phí thực

tế phát sinh với chi phí dự kiến phát sinh Chênh lệch giữa chi phí thực tế phát sinh với chi phí được phép phát sinh cho mức độ hoạt động thực tế đó sẽ giúp cho các đơn vị đánh giá các nhà quản lý đã thực hiện trách nhiệm kiểm soát chi phí của họ như thế nào?

1.3.4.1 Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu

Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí nguyên vật liệu thực tế phát sinh với chi phí nguyên vật liệu dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Do chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phụ thuộc vào hai nhân tố: mức tiêu hao nguyên vật liệu và đơn giá nguyên vật liệu nên biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tách thành biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu và biến động giá nguyên vật liệu

Biến động chi phí

nguyên vật liệu = (

Mức tiêu hao thực tế -

Mức tiêu hao định mức ) x

Đơn giá định mức

Biến động đơn giá

nguyên vật liệu = (

Đơn giá thực tế -

Đơn giá định mức ) x

Mức tiêu hao thực tế

Trang 32

Biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu thể hiện ảnh hưởng của sự thay đổi về mức tiêu hao nguyên vật liệu với tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu là chênh lệch giữa thực tế và dự toán tiêu hao nguyên vật liệu cho khối lượng sản xuất thực tế thính theo đơn giá dự toán nguyên vật liệu Biến động này có thể tác động tích cực làm tăng lợi nhuận, được gọi là biến động tốt (ký hiệu T), hoặc tác động tiêu cực làm giảm lợi nhuận, được gọi là biến động xấu (ký hiệu X) Nếu biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu dương (+) sẽ làm biến động xấu (X) thể hiện mức nguyên vật liệu thực tế đã sử dụng nhiều hơn so với dự toán, làm tăng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu biến động mức tiêu hao nguyên vật liệu âm (-) là biến động tốt (T) thể hiện mức nguyên vật liệu thực tế đã sử dụng ít hơn dự toán, làm giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Các nguyên nhân của biến động xấu có thể do: chất lượng nguyên vật liệu không đảm bảo, máy móc thiết bị hoạt động không tốt hoặc do không kiểm soát tốt quá trình sản xuất

Các nguyên nhân của biến động tốt có thể là do: chất lượng của nguyên vật liệu tốt hơn, máy móc thiết bị hoạt động tốt, kiểm soát tốt quá trình sản xuất

Biến động giá nguyên vật liệu là chênh lệch giữa thực tế và dự toán nguyên vật liệu, tính cho lượng thực tế vật liệu sử dụng Nếu biến động giá nguyên vật liệu dương

sẽ là biến động xấu (X) thể hiện giá nguyên vật liệu thực tế cao hơn dự toán, làm tăng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nguyên nhân của biến động xấu: giá thị trường tăng, chất lượng nguyên vật liệu tăng, hoặc mua nguyên vật liệu không cẩn thận

Ngược lại, nếu biến động giá nguyên vật liệu âm sẽ là biến động tốt (T), thể hiện giá nguyên vật liệu thực tế thấp hơn dự toán, làm giảm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Nguyên nhân của biến động tốt có thể là do giá thị trường giảm, mua nguyên vật liệu cẩn thận, được hưởng chiết khấu thương mại, giảm giá ngoài dự tính

1.3.4.2 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp

Biến động chi phí nhân công trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh và chi phí nhân công dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Do chi phí dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Do chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào hai nhân tố: năng suất lao động (thời gian lao động) và đơn giá nhân công theo thời gian lao động nên biến động chi phí nhân công trực tiếp được tách thành: biến động năng suất lao động và biến động giá nhân công

Trang 33

Biến động giá

công nhân = (

Đơn giá thực tế -

Đơn giá định mức ) x

Thời gian lao động thực tế

Biến động năng suất lao động là chênh lệch số giờ lao động thực tế và số giờ lao động dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế tính theo đơn giá nhân công dự toán Nếu biến động năng suất lao động dương (+) sẽ là biến động xấu (X) thể hiện số giờ lao động thực tế đã sử dụng nhiều quá mức so với dự toán (năng suất lao động giảm) làm tăng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nguyên nhân có thể do: công nhân được đào tạo kém, thiết bị sản xuất hỏng làm ngừng trệ quá trình sản xuất, hoặc việc giám sát, đốc thúc công nhân kém Ngược lại, nếu biến động năng suất lao động âm (-) sẽ là biến động tốt (T) thể hiện số giờ lao động thực tế đã sử dụng ít hơn so với dự toán (năng suất lao động tăng), làm giảm chi phí nhân công trực tiếp và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nguyên nhân của biến động xấu có thể do công nhân được đào tạo tốt, thiết bị sản xuất hoạt đông tốt hơn, hoặc việc giám sát, đốc thúc công nhân tốt trong quá trình sản xuất

Biến động giá nhân công là chênh lệch giữa thực tế và dự toán giá nhân công, tính cho số giờ lao động thực tế sử dụng Nếu biến động giá nhân công dương (+) sẽ là biến động xấu (X), thể hiện giá nhân công thực tế cao hơn so với dự toán, làm tăng chi phí nhân công trực tiếp và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nguyên nhân có thể do đơn giá tiền công tăng, phát sinh thời gian làm thêm giờ hoặc sử dụng công nhân có tay nghề cao hơn để thực hiện các công việc được trả lương cao hơn so với dự kiến Ngược lại, nếu biến động giá nhân công âm (-) sẽ là biến động tốt (T), thể hiện giá nhân công thực tế thấp hơn dự toán, làm giảm chi phí nhân công trực tiếp và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nguyên nhân có thể do sử dụng công nhân tay nghề thấp hơn

để thực hiện các công việc được trả lương thấp hơn so với dự kiến

1.3.4.3 Phân tích biến động chi phí sản xuất chung

Ngoài việc phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp cần tiến hành phân tích biến động chi phí sản xuất chung Trong môi trường sản xuất hiện đại, ứng dụng máy móc thiết bị tự động hóa vào quá trình sản xuất làm cho chi phí sản xuất chung ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất Vì vậy, việc phân tích biến động chi phí sản xuất chung ngày càng quan trọng nhằm giúp kiểm soát chi phí tốt hơn để mang lại hiệu suất hoạt động cao hơn cho doanh nghiệp Biến động chi phí sản xuất chung là chênh lệch giữa chi phí sản xuất chung thực tế và chi phí sản xuất chung đã phân bổ theo tỷ lệ ước tính đầu kỳ Chi phí sản xuất chung bao gồm hai bộ phận: chi phí biến đổi (Vật liệu gián tiếp, nhân công giá tiếp, điện chạy máy…) và chi phí cố định (khấu hao nhà xưởng, bảo vệ công trình, bảo hiểm…), do đó biến động chi phí sản xuất chung được phân tích tách biệt giữa

Trang 34

biến động biến phí sản xuất chung và biến động định phí sản xuất chung Khi phân tích biến động chi phí sản xuất chung cần phân biệt số giờ máy (hoặc số giờ lao động) dự toán trong kỳ đã sử dụng để xác định tỷ lệ phân bổ chi phí sản xuát chung ước tính với

số giờ máy hoặc số lao động thực tế và số giờ máy (hoẵ số giờ lao động) theo định mức cần thiết để sản xuất khối lượng thực tế

Phân tích biến động biến phí sản xuất chung

Biến động biến phí sản xuất chung là chênh lệch giữa biến phí sản xuất chung thực tế và biến phí sản xuất chung theo dự toán cho khối lượng sản suất thực tế Biến động chi phí sản xuất chung được tách thành biến động hiệu năng và biến động chi tiêu biến phí sản xuất chung

Biến động hiệu năng chi phí sản xuất chung thực chất không phải là đánh giá về hiệu năng sử dụng biến phí sản xuất chung mà đánh giá hiệu năng sử dụng cơ sở phân

bổ biến phí sản xuất chung Biến động hiệu năng biến phí sản xuất chung là chênh lệch giữa biến phí sản xuất chung tính theo tỷ lệ phân bổ ước tính giữa số giờ máy (hoặc số giờ lao động) thực tế và số giờ máy (hoặc số giờ lao động) theo định mức cần thiết để sản xuất khối lượng thực tế

Biến động hiệu năng

biến phí SXC = (

Số giờ thực tế -

Số giờ định

Tỷ lệ phân bổ định mức

Biến động chi tiêu biến phí sản xuất chung đánh giá về mức độ lãng phí hay tiết kiệm trong sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất Biến động chi tiêu biến phí sản xuất chung là chênh lệch về biến phí sản xuất chung cho số giờ máy (hoặc số giờ lao động) thực tế giữa tỷ lệ phân bổ thực tế và tỷ lệ phân bổ ước tính Nếu biến động chi tiêu dương (+) sẽ là biến động xấu thể hiện mức độ lãng phí, nếu biến động chi tiêu âm (-) sẽ là biến động tốt, thể hiện mức độ tiết kiệm trong việc sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất

Biến động chi

tiêu biến phí SXC = (

Tỉ lệ phân bổ thực tế -

Tỉ lệ phân bổ định mức ) x

Số giờ thực tế

Phân tích biến động định phí sản xuất chung

Biến động định phí sản xuất chung là chênh lệch giữa định phí sản xuất chung thực tế và định phí sản xuất chung phân bổ theo dự toán cho khối lượng sản xuất thực

tế Biến động định phí sản xuất được tách thành biến động khối lượng và biến động chi tiêu định phí sản xuất chung

Biến động khối

lượng định phí =

Số giờ định mức cho khối lượng sản phẩm x

Tỉ lệ phân

bổ định mức -

Định mức SXC dự toán

Trang 35

SXC sản xuất thực tế

Hay, biến động khối lượng định phí sản xuất chung là chênh lệch giữa định phí sản xuất chung phân bổ theo tỷ lệ ước tính cho khối lượng sản xuất thực tế (dự toán linh hoạt) và định phí sản xuất chung dự toán ban đầu (dự toán tĩnh) Nếu biến động khối lượng định phí sản xuất chung dương (+) là biến động tốt (T) do mức hoạt động thực tế cao hơn so với dự kiến, mặc dù mức định phí sản xuất chung phân bổ nhiều hơn nhưng sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu biến động định phí sản xuất chung âm (-) là biến động xấu (X) do mức độ hoạt động thực tế thấp hơn so với dự kiến, và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

Biến động chỉ tiêu định phí sản xuất chung là chênh lệch giữa định phí sản xuất chung thực tế và định phí sản xuất chung ước tính ban đầu Biến động chi tiêu định phí sản xuất chung đánh giá về mức độ lãng phí hay tiết kiệm trong việc sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất Nếu biến động chi tiêu dương sẽ là biến động xấu (X) thể hiện sự lãng phí do định phí sản xuất chung thực tế cao hơn so với dự toán Nguyên nhân có thể do giá của các khoản mục chi phí trong định phí sản xuất chung tăng, hoặc phân xưởng đã sử dụng các dịch vụ sản xuất nhiều hơn so với dự toán Nếu biến động âm (-) là biến động tốt (T), thể hiện sự tiết kiệm trong việc sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất do định phí sản xuất chung thực tế thấp hơn so với dự toán Nguyên nhân do giá của các khoản mục chi phí trong định phí sản xuất chung giảm, hoặc phân xưởng đã sử dụng tiết kiệm các dịch vụ sản xuất so với dự toán

1.3.4.4 Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận

Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận (phân tích CVP)

là việc phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố chi phí, khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá bán sản phẩm nhằm có được các quyết định đúng đắn về các sản phẩm sản xuất và tiêu thụ

Một trong những tác dụng của việc phân loại chi phí thành chi phí biến đổi và chi phí cố định là giúp các doanh nghiệp nhận thức được rằng: sau điểm hoà vốn cứ mỗi sản phẩm được tiêu thụ sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp thêm một giá trị đúng bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi của sản phẩm đó do các sản phẩm này không phải bù đắp cho phần chi phí cố định đã được bù đắp bằng các sản phẩm hoà vốn của doanh nghiệp Chính vì vậy, kế toán quản trị chi phí xây lắp các khái niệm lợi nhuận góp (contribution margin) và tỷ lệ lợi nhuận góp hay (contribution rate): Lợi nhuận góp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí biến đổi, còn tỷ lệ lợi nhuận góp là tỷ lệ giữa lợi nhuận góp và doanh thu Lợi nhuận góp còn được gọi là

Trang 36

số dư đảm phí hay lãi tính trên biến phí, tỷ lệ lợi nhuận góp còn được gọi là tỷ lệ số dư đảm phí hay tỷ lệ lãi tính trên biến phí

Kế toán quản trị chi phí tiến hành phân tích điểm hoà vốn (bảng 1.2) nhằm mục đích đánh giá các phương án kinh doanh, phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp Bên cạnh đó việc xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố chi phí biến đổi, chi phí cố định và giá bán tới lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định marketing hợp lý Đối với doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm với cơ cấu chi phí khác nhau, kế toán quản trị chi phí sẽ phân tích ảnh hưởng của cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tới điểm hoà vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp, nhằm giúp các nhà quản lý lựa chọn được cơ cấu sản phẩm tối ưu

Bảng 1.2 Phân tích điểm hoà vốn

Sản lượng hoà vốn = Chi phí cố định

Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm

Doanh thu hoà vốn = Chi phí cố định

Tỷ lệ lợi nhuận góp Sản lượng cần thiết để

đạt lợi nhuận kế hoạch =

Lợi nhuận kế hoạch + Chi phí cố định Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm Doanh thu cần thiết để

đạt lợi nhuận kế hoạch =

Lợi nhuận kế hoạch + Chi phí cố định

Tỷ lệ lợi nhuận góp Doanh thu an toàn = Doanh thu thực tế – Doanh thu hoà vốn

Tỷ lệ doanh thu an toàn = Doanh thu an toàn

Doanh thu thực tế

Độ lớn đòn bẩy kinh

Lợi nhuận góp Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

1.3.4.5 Sử dụng thông tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh

Để quản lý chi phí cho các công trình, hạng mục công trình một cách có hiệu quả, các nhà quản trị cần phải dựa vào những thông tin quá khứ và cả những thông tin tương lai

Đối với những thông tin quá khứ: kế toán quản trị thường dựa vào kế toán chi tiết doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh; tính toán, phân tích số liệu chi tiết hơn

về các khoản mục doanh thu, chi phí để lập được bảng phân tích chi phí; xác định các khoản mục biến phí, định phí

Đối với thông tin tương lai: Những thông tin tương lai sẽ giúp cho doanh nghiệp xây lắp ứng phó được với thị trường luôn biến động, phân tích chi phí, hoạch

Trang 37

định chiến lược trong tương lai phù hợp Đặc biệt đối với doanh nghiệp xây lắp thì thông tin tương lai có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp doanh nghiệp ra các quyết định

bỏ giá thầu Quá trình thu thập thông tin tương lai được tiến hành qua 3 bước cụ thể:

Bước 1: Xác định loại thông tin cần thu thập Cơ sở để xác định:

- Mục đích sử dụng thông tin của nhà quản trị

- Điều kiện thu thập thông tin: chất lượng thông tin thu thập có xứng đáng với chi phí bỏ ra hay không

Bước 2: Tiến hành thu thập thông tin tương lai trong kế toán quản trị

- Thu thập thông tin đã thực hiện liên quan đến chỉ tiêu như thu nhập, chi phí… qua các báo cáo tổng kết cuối kỳ trước, báo cáo kết quả nghiên cứu, thăm dò thị trường mà doanh nghiệp đã thực hiện

- Ước tính kết quả thực hiện chỉ tiêu trong thời gian tiếp theo dựa vào các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức khoán, kết quả thực hiện kỳ trước,…

Bước 3: Lập báo cáo kế toán quản trị trình bày và cung cấp thông tin tương lai cho nhà quản trị doanh nghiệp (Ví dụ: Bảng dự toán chi phí sản xuất kinh doanh,

bảng phân tích chi phí thích hợp nếu cùng một thời điểm có nhiều công trình; nhà quản trị cần ra quyết định bỏ thầu công trình nào có khả năng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nhiều hơn)

Sau khi đã thu thập được thông tin quá khứ và thông tin tương lai của đối tượng đang xem xét, kế toán quản trị sẽ phân tích để lựa chọn được thông tin thích hợp (phải liên quan đến tương lai và phải có sự khác biệt giữa các dự án)

Các quyết định ngắn hạn mà nhà quản trị thường gặp:

Quyết định loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận

Hầu hết các doanh nghiệp có nhiều bộ phận kinh doanh phụ thuộc hoặc sản xuất kinh doanh nhiều sản phẩm, ngành hàng, mặt hàng Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có bộ phận, sản phẩm, ngành hàng, mặt hàng bị lỗ là điều có thể xảy

ra Nhiều nhà quản lý thấy rằng những bộ phận, sản phẩm, ngành hàng, mặt hàng bị lỗ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp thì không nên tiếp tục kinh doanh nữa Tuy nhiên, để có được quyết định đúng đắn, nhanh chóng và kịp thời trong tình huống này, nhà quản trị cần phải sử dụng thông tin thích hợp để phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các quyết định đó đến lợi nhuận chung của toàn doanh nghiệp, sau đó nhà quản trị

có thể thấy được nếu loại bỏ bộ phận, sản phẩm, ngành hàng, mặt hàng đó thì lợi nhuận của thay đổi như thế nào, tăng lên hay còn giảm hơn nữa Vì vậy, có thể thấy việc phân tích thông tin chi phí có ý nghĩa quan trọng đối với các quyết định loại này

Quyết định tự sản xuất hay mua ngoài

Trang 38

Các nhà quản trị luôn gặp phải sự lựa chọn giữa việc tự sản xuất hay mua ngoài các linh kiện, các chi tiết, vật liệu hoặc bao bì để lắp ráp, chế tạo hay đóng gói thành phẩm

Đối với doanh nghiệp xây lắp nhà quản trị phải đối mặt với việc quyết định tự sản xuất hay mua ngoài vật liệu xây lắp, cấu kiện bê tông đúc sẵn, dầm cầu thép, cấu kiện thép, xà lan và các sản phẩm cơ khí khác

Nếu chất lượng của việc tự sản xuất và mua ngoài là như nhau, thì nguyên tắc

để đi đến quyết định tự sản xuất hay mua ngoài là chi phí giữa hai trường hợp, bên nào chi phí nhỏ hơn thì nhà quản trị sẽ lựa chọn

Để đi đến được quyết định cuối cùng đó, đầu tiên nhà quản trị phải dựa vào thông tin chi phí thích hợp Trong trường hợp tự sản xuất thường thì doanh nghiệp phải chịu các khoản chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, biến phí sản xuất chung, còn phần định phí thì tùy trường hợp để biết được rằng doanh nghiệp có hay không phải gánh chịu khoản định phí đó Còn trong trường hợp mua ngoài thì doanh nghiệp không phải gánh chịu các khoản chi phí này Nếu qua việc phân tích thấy rằng mua ngoài tiết kiệm chi phí hơn so với tự sản xuất thì doanh nghiệp sẽ quyết định mua ngoài và ngược lại

Quyết định có nên chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng đặc biệt

Trong thực tế với những đơn đặt hàng đặc biệt, doanh nghiệp có thể chấp nhận giá bằng hoặc cao hơn giá thông thường Nhưng cũng có không ít trường hợp mà doanh nghiệp phải đối mặt đó là khi đơn đặt hàng đặc biệt với giá thấp hơn mức giá thông thường Khi đó, thông tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định của nhà quản trị là chi phí biến đổi chênh lệch giữa hai phương án, còn chi phí cố định thì dù doanh nghiêp có chấp nhận đơn đặt hàng đó hay không thì doanh nghiệp vẫn phải chịu

Các quyết định trong điều kiện sản xuất kinh doanh bị giới hạn

Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường gặp phải những khó khăn trong việc lựa chọn quyết định kinh doanh khi các điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị giới hạn, như bị giới hạn về mặt bằng kinh doanh, công suất hoạt động của máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cung cấp, mức sản phẩm tiêu thụ, vốn…

Nếu chỉ bị giới hạn bởi một hoặc hai nhân tố Do mục tiêu doanh nghiệp là làm sao tận dụng được hết năng lực của nhân tố có giới hạn để đạt được tổng lợi nhuận cao nhất Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án mà cho lãi trên biến phí của nhân tố bị giới hạn cao hơn

Nếu bị giới hạn bởi nhiều nhân tố cùng lúc Trong trường hợp này phải sử dụng phương pháp tuyến tính để lựa chọn phương án tối ưu Cần phải xác định mục tiêu và biểu diễn thành phương trình đại số tuyến tính Sau đó xác định các điều kiện nhân tố giới hạn và biểu diễn thành phương trình đại số Từ các phương trình biểu diễn thành

Trang 39

đồ thị Tìm được vùng tối ưu trên đồ thị chính là phần giao nhau giữa các đồ thị và các trục tọa độ Các góc của vùng tối ưu trên đồ thị chính là cơ cấu sản xuất sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn để đạt được lợi nhuận cao nhất khi cùng một lúc bị giới hạn bởi nhiều nhân tố

1.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận

Khái niệm bộ phận được định nghĩa là bất cứ một phần hay một hoạt động nào

đó trong doanh nghiệp mà các nhà quản lý muốn tìm hiểu về tình hình doanh thu và chi phí của nó: ví dụ như các đội thi công, các bộ phận phòng ban,… Sở dĩ cần phân chia doanh nghiệp theo các bộ phận như vậy vì các nhà quản lý không chỉ cần đến các thông tin về tình hình chi phí, doanh thu xét trên phạm vi tổng quát toàn doanh nghiệp

mà họ còn cần đến các thông tin chi tiết về tình hình doanh thu, chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, những thông tin này sẽ giúp họ đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận và phát hiện, giải quyết các vấn đề kém hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp

Để cung cấp các thông tin chi tiết về doanh thu và chi phí của các bộ phận này

cho các nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cần lập các báo cáo bộ phận Báo cáo bộ phận là báo cáo kết quả kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt

động của doanh nghiệp được lập chi tiết cho từng bộ phận của doanh nghiệp Báo cáo này có thể được lập chi tiết cho rất nhiều cấp bậc bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp Thí dụ toàn doanh nghiệp có thể chi tiết thành các Đội thi công khác nhau, mỗi đội thi công lại được chi tiết theo các tổ thi công… Các báo cáo này có tác dụng rất lớn trong việc giúp các nhà quản lý có được những đánh giá toàn diện về từng mặt hoạt động của doanh nghiệp

Bảng 1.3 Mẫu báo cáo bộ phận

Như đã trình bày ở trên, báo cáo bộ phận được lập theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động của doanh nghiệp, nghĩa là phân chia chi phí thành chi phí biến đổi và chi phí cố định Để có những đánh giá đúng đắn về hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, chi phí cố định trong các báo cáo bộ phận này cần được sắp xếp thành

Trang 40

chi phí cố định trực tiếp và chi phí cố định chung Chi phí cố định trực tiếp là các chi phí cố định có thể xác định trực tiếp cho một bộ phận cụ thể và nó phát sinh là do sự tồn tại của bộ phận đó Chi phí cố định chung là các chi phí cố định không thể xác định trực tiếp cho một bộ phận cụ thể nào mà nó phát sinh nhằm phục vụ chung cho tất

cả các hoạt động của doanh nghiệp Lợi nhuận bộ phận là phần còn lại của doanh thu

bộ phận sau khi trừ đi tất cả các chi phí trực tiếp của bộ phận

Báo cáo bộ phận đặc biệt có ý nghĩa khi doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình phân quyền, việc kiểm soát hoạt động thông qua các trung tâm trách nhiệm Các báo cáo bộ phận sẽ giúp cho các nhà quản lý bộ phận đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận mà mình quản lý thông qua chỉ tiêu lợi nhuận bộ phận

1.5 Các mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp

Trong thực tế có 3 mô hình tổ chức bộ máy kế toán mà các doanh nghiệp Việt Nam đang xem xét để vận dụng:

Mô hình kết hợp: Gắn kết hệ thống kế toán quản trị và hệ thống kế toán tài

chính trong cùng một hệ thống kế toán thống nhất với bộ máy kế toán chung và công tác kế toán chung

Mô hình này tiết kiệm chi phí vận hành hệ thống kế toán cho doanh nghiệp nhưng hiệu quả không cao do kế toán quản trị có thể không tuân thủ các nguyên tắc kế toán giống như kế toán tài chính

Mô hình tách biệt: Tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính cả về

bộ máy kế toán và công tác kế toán

Mô hình này sẽ làm cho chi phí vận hành cao, tính thực tiễn của mô hình này cũng không cao do rất ít các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính và nhân lực để có thể vận hành được đồng thời hai hệ thống kế toán cùng một lúc

Mô hình hỗn hợp: vừa có tính độc lập vừa có tính kết hợp Có những phần

hành kế toán thì kế toán quản trị và kế toán tài chính sẽ áp dụng mô hình kết hợp, và

có những phần hành kế toán thì kế toán quản trị và kế toán tài chính sẽ áp dụng mô hình tách biệt

Các công việc mà mô hình kế toán quản trị là đảm nhận là: lập dự toán, phân tích chi phí, đánh giá hiệu quả hoạt động

Đặc điểm kế toán quản trị trong doanh nghiệp xây lắp:

Về chứng từ: Ngoài các biểu mẫu bắt buộc đối với hệ thống kế toán tài chính;

các doanh nghiệp xây lắp sẽ xây lắp thêm các mẫu biểu và chương trình luân chuyển chứng từ nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí cũng như cung cấp thông tin đặc thù cho hệ thống kế toán quản trị chi phí Đối với chứng từ chi phí cần thiết kế bổ sung

để phản ánh thông tin tùy theo loại chứng từ theo các cách phân loại chi phí đã đề cập đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí tại doanh nghiệp và đảm bảo tính quy chuẩn, nhất

Ngày đăng: 17/02/2017, 08:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quang, Khoa Kế toán &amp; Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình kế toán quản trị, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
[2]. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quang, Khoa Kế toán &amp; Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình kế toán quản trị, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kế toán quản trị
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
[3]. ThS. Nguyễn Phú Giang, Trường Đại học Thương Mại, Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh, NXB Tài chính, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh
Nhà XB: NXB Tài chính
[4]. Cục thuế Tỉnh Sơn La, Thống kê doanh nghiệp theo loại hình hoạt động, năm 2015 Khác
[5]. Phạm Thị Thuỷ (2007), Xây dư ̣ng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Khác
[6]. Nguyễn Thị Hồng Biên (2012), Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH AVVS, Luận văn thạc sỹ, Đại học Đà Nẵng Khác
[7]. Trần Thế Nữ (2011), Xây dư ̣ng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp thương mại có quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 Phân tích điểm hoà vốn - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 1.2 Phân tích điểm hoà vốn (Trang 36)
Bảng 1.3 Mẫu báo cáo bộ phận - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 1.3 Mẫu báo cáo bộ phận (Trang 39)
Sơ đồ 2.1: Mô hình bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Sơ đồ 2.1 Mô hình bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn (Trang 49)
Bảng 2.2: Kết quả điều tra về tổ chức hệ thống kế toán - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 2.2 Kết quả điều tra về tổ chức hệ thống kế toán (Trang 49)
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên (Trang 50)
Bảng 3.1: Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản xuất   PHIẾU THEO DÕI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN TRỰC TIẾP SẢN XUẤT - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 3.1 Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản xuất PHIẾU THEO DÕI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN TRỰC TIẾP SẢN XUẤT (Trang 72)
Bảng 3.3: Báo cáo chi phí - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 3.3 Báo cáo chi phí (Trang 77)
Bảng 3.5: Báo cáo giá thành  BÁO CÁO GIÁ THÀNH  Công trình, hạng mục công trình: - Nghiên cứu áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố sơn la
Bảng 3.5 Báo cáo giá thành BÁO CÁO GIÁ THÀNH Công trình, hạng mục công trình: (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w