Luật Giáo Dục Việt Nam năm 2005 Điều 5 qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năn
Trang 1ĐỀ TÀI GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS
THÔNG QUA DẠY – HỌC MÔN NGỮ VĂN
I Lí do chọn đề tài
Năm 1996, UB quốc tế và giáo dục của UNESCO đã nhấn mạnh tầm nhìn của giáodục thế kỉ XXI là dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mìnhvà học để chung sống
Cho đến nay, đã bước sang giữa thập niên thứ hai của thế kỉ XXI, trường học củachúng ta vẫn nặng nề học để biết, loay hoay với học để làm và vẫn mịt mù với hai trụ cộtcòn lại
Kiến thức vẫn là yếu tố ngự trị gần như là tuyệt đối trong chương trình giảng dạyvà cách thức đánh giá người học Trong khi đó, một thực tế ai cũng phải thừa nhận làngoài kiến thức chuyên môn thì kĩ năng sống ngày càng đóng vai trò quan trọng Các nhàkhoa học thế giới khẳng định: để thành công trong cuộc sống, vai trò của kĩ năng mềm (trítuệ, cảm xúc chiếm 85%), kĩ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15 %
Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhânlực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầyđủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân, giúp cho con người có năng lực để cống hiến, đồngthời có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc
Luật Giáo Dục Việt Nam năm 2005 (Điều 5) qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên ” Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Chươngtrình giáo dục phổ thông
ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/ QĐ-BGDĐTngày 5/5/2006 của Bộ Trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” Nghị Quyết TW 2 khóa 8 cũng khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học; từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh … ”.
Trang 2Như vậy có thể nói, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đang trở thành một nhiệmvụ quan trọng đối với giáo dục cả nước Giáo dục phải mang lại cho mọi người không chỉkiến thức mà cả kĩ năng sống một cách trực tiếp, hay gián tiếp Vì thế công tác vận dụngcác biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc làm cầnthiết Thông qua các hoạt động cũng như các hình thức giáo dục mà các kỹ năng sống củahọc sinh sẽ được hình thành và phát triển.
Có lẽ trong nhà trường không có môn khoa học nào có thể thay thế được môn Ngữvăn bởi vì đó là môn học vừa hình thành nhân cách , vừa hình thành tâm hồn Bản thân tôinhận thấy rằng, một giờ học văn không chỉ đơn thuần là khám phá vẻ đẹp của một tácphẩm văn chương mà còn là một giờ học bồi dưỡng nhân cách, lối sống, rèn kĩ năng sống,kĩ năng ứng xử trước những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống trong xã hội hiện đại, giúpcác em hòa nhập kịp với guồng quay của thời đại – thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóađất nước
Môn Ngữ văn với đặc trưng là một môn khoa học xã hội và nhân văn có rất nhiều
ưu thế để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Với tính chất là một môn học công cụ, mônNgữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp và nhận thức về xã hộivà con người.Với tính chất giáo dục thẩm mĩ môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng nănglực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hình thành nhân cách
Bộ môn Ngữ văn góp phần rất lớn vào việc bồi dưỡng tâm hồn và kiến thức xử thếcho con người Hơn nữa kết hợp giáo dục kĩ năng giao tiếp và nhận thức cho học sinh quamôn Ngữ văn sẽ phát huy được các kĩ thuật dạy học tích cực, góp phần nâng cao năng lựclĩnh hội trong học tập có sự tương tác giữa nội dung bài học với những hiểu biết kinhnghiệm trong cuộc sống để học sinh có thể vận dụng linh hoạt vào các tình huống trongthực tế Chính vì vậy việc dạy và học môn Ngữ văn sẽ đạt hiệu quả cao hơn
II/ Mục đích nghiên cứu
Giáo dục kĩ năng sống là một trong những nội dung, nhiệm vụ quan trọng trongchương trình giáo dục hiện đại nhằm cụ thể những quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục trong thời kì hội nhập
Nghiên cứu đề tài “ Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua giờ dạy
– học môn Ngữ văn”, chúng tôi có mong muốn:
- Khẳng định vai trò quan trọng và cần thiết giáo dục kĩ năng sống cho học sinhtrong nhà trường phổ thông
- Hướng đến mục tiêu giúp các em học sinh rèn luyện kĩ năng ứng xử văn hóa, ýthức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; rènluyện kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng hoạt động xã hội; giáo dục cho học sinh thóiquen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, lên án, bài trừ các tệ nạn xã hội…đểcác em tự tin và sống tốt hơn trong cuộc sống
Trang 3- Tìm ra nội dung, hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường THCStheo khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp đặc điểm kinh tế xã hội ởđịa phương Từ đó đề xuất một số phương pháp nhằm thực hiện giáo dục kĩ năng sốngmột cách phù hợp và hiệu quả trong giờ học Ngữ văn.
III Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu chuyên môn: Tài liệu giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ
văn dành cho giáo viên, các bài viết liên quan đến giáo dục kĩ năng sống trên các báo, tạpchí
- Tìm hiểu một số kĩ năng sống cần thiết dành cho học sinh THCS
- Nghiên cứu về một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng tích hợp giáo dụckĩ năng sống cho học sinh thông qua các giờ dạy – học Ngữ văn
IV Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng rõ một số tri thức về lí thuyết kĩ năng sống
- Tìm hiểu và nắm bắt được những thông tin về định hướng đổi mới giáo dục trongthời điểm hiện tại và tương lai
- Xác định rõ và làm sáng tỏ sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinhtrong nhà trường phổ thông
- Đề xuất một số giải pháp tích cực trong việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống chohọc sinh THCS trông qua giờ dạy – học Ngữ văn
V Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp điều tra thực tiễn
- Phương pháp thống kê
VI Giới hạn của đề tài:
Thực chất vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua giờ dạy –học Ngữ văn đã được đề cập khá nhiều trên báo chí hay trên các trang mạng Song phầnlớn chúng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống hoặc đơn giản chỉ là những chia sẻnhỏ trong một số bài viết ngắn Thông qua đề tài này, chúng tôi hy vọng đem đến cho cácbạn đồng nghiệp một cách nhìn có tính hệ thống về lí thuyết kĩ năng sống và việc ứngdụng lí thuyết đó trong dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
Trang 4NỘI DUNG
A Tìm hiểu tổng quan về kĩ năng sống
I Quan niệm về kĩ năng sống
1 Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:
* Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích
ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các
nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày
* Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành
vi mới
* Theo Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kĩ năng
sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
- Học để biết (Learning to know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư
duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả ;
- Học làm người (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng
thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, ;
- Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảmthông;
- Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ
như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,
Như vậy: kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống
hằng ngày của con người: Kĩ năng làm chủ bản thân của mỗi người, kĩ năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, kĩ năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
2 Phân biệt kỹ sống với các kỹ năng khác
Kỹ năng sống được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của
bản thân Nó giúp cho mỗi cá nhân nâng cao năng lực ứng phó trong mọi tình huống căngthẳng mà mỗi người gặp phải hằng ngày
Có thể hiểu, kĩ năng sống là những kỹ năng giúp con người tự quản lý, lãnh đạochính bản thân mình và tương tác với những người xung quanh để cuộc sống và công việcthật hiệu quả
Cần phân biệt kỹ năng sống với các kỹ năng quan trọng khác mà con người trong quá trình trưởng thành cần có như các kĩ năng: đọc, đếm, nói ngoại ngữ, tính toán hay
các kỹ năng kỹ thuật và thực hành khác,…
II Phân loại kĩ năng sống
Có nhiều cách phân loại kĩ năn sống, tuỳ theo quan niệm về kĩ năng sống
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, kĩ năng sống thường đượcphân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
Trang 51 Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng sống
cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tựtrọng, tự tin,
2 Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kĩ năng sống
cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sựcảm thông, hợp tác,
3 Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kĩ năng
sống cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyếtđịnh, giải quyết vấn đề,
Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại kĩ năng sống Tuy nhiên, mọi cáchphân loại đều chỉ là tương đối Trên thực tế, các kĩ năng sống thường không hoàn toàntách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau
III Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đang chuyển dần từ cung cấp kiến thức là chủ yếusang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học Trong đó, các kĩ nănglà một thành phần quan trọng Học sinh không chỉ cần có kiến thức, mà còn phải biết làm,biết hành động phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh của cuộc sống Giáo dục kĩnăng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp
- Hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực
- Loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống vàhoạt động hằng ngày
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình; phát triểnhài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
2 Nguyên tắc và quy trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông cần đảm bảonhững nguyên tắc sau:
* Tương tác
Thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường, nhiều kĩnăng sống sẽ được hình thành trong quá trình học sinh tương tác với bạn cùng học vànhững người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề ) Do đó, tổchức các hoạt động giáo dục có tính tương tác, học sinh sẽ có dịp thể hiện các ý tưởng củamình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệmsống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác
* Trải nghiệm
Trang 6Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huốngthực tế Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó.Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các
em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế Vì vậy, việc
tổ chức các hoạt động giáo dục có tính chất trải nghiệm trong nhà trường tạo cơ hội quantrọng để giáo dục kĩ năng sống hiệu quả
* Tiến trình
Giáo dục kĩ năng sống đòi hỏi phải có cả quá trình: Nhận thức - hình thành thái độ
- thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu
trình mới
Do đó, nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì khâu nào trong chu trình trên: thay đổithái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nênsự thay đổi nhận thức và thái độ
Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị,thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người làmột quá trình khó khăn Có thời điểm người học lại quay trở lại những thái độ, hành vihoặc giá trị trước
* Thời gian - môi trường giáo dục
Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện càng sớm càng tốt đối với học sinh Môi trườnggiáo dục cần được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vàocác tình huống "thực" trong cuộc sống
Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện mọi lúc, mọi nơi trong gia đình, trong nhàtrường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố mẹ, là thầy côgiáo, là bạn cùng học hay các thành viên trong cộng đồng Trong nhà trường phổ thông,giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trong các giờ học, trong các hoạt động lao động,hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáodục khác
2 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông
(trích trong tập sách Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông - nxb Giáo dục).
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở ViệtNam những năm qua, có thể đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trườngphổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau:
(1) Kĩ năng tự nhận thức.
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.Để tự nhận thức đúngvề bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác
Trang 7(2) Kĩ năng xác định giá trị
Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bảnthân mình Kĩ năng này giúp chúng ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằngngười khác có những giá trị và niềm tin khác
(3) Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trongmột tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối vớingười khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp
(4) Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đónnhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năngnhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biếtcách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng
(5) Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lờikhuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớtđược căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúpcá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cáinhìn mới và hướng đi mới
(6) Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suynghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thểhiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trongcuộc sống
(7) Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói,viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắngnghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồmcả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp
đỡ và sự tư vấn cần thiết
(8) Kĩ năng lắng nghe tích cực
Trang 8Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp Người có kĩ nănglắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ýkiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụcười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trongquá trình giao tiếp.
(9) Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnhcủa người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khácmình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thôngvới hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
(10) Kĩ năng thương lượng.
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời cóthảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặcmột vấn đề gì đó
(11) Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhânnảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùngbạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữacác bên một cách hòa bình
(12) Kĩ năng hợp tác.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc,một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung
(13) Kĩ năng tư duy phê phán.
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diệncác vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra
(14) Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với
ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phávà kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suynghĩ
Trang 9(15) Kĩ năng ra quyết định
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương ántối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời
(16) Kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phươngán tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặpphải trong cuộc sống
(17) Kĩ năng kiên định.
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí
do dẫn đến sự mong muốn đó Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết đểđạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền,nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác
(18) Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm.
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thứccùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm
(19) Kĩ năng đạt mục tiêu.
Kĩ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thântrong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó
(20) Kĩ năng quản lý thời gian.
Kĩ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứtự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định
(21) Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin làmột KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cáchđầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời
Một số lưu ý:
Nội dung giáo dục kĩ năng sống cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi,cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các kĩ năng sống cơ bản
Trang 10trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương Giáo viên có thể lựa chọn thêm một số kĩnăng sống khác để giáo dục cho học sinh của trường, lớp mình cho phù hợp
III Thực tế giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường phổ thông
Tại nhiều nước Tây phương, thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng sống vềnhững tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khókhăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xungđột, bạo lực giữa người và người
Ở Việt Nam, từ năm học 2010-2011 trở lại đây Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo tổ chức giáodục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường thông qua việc lồng ghép trong các mônhọc Tuy nhiên vấn đề giáo dục kĩ năng sống tập trung chủ yếu thông qua các chươngtrình, dự án hợp tác quốc tế nên tính bền vững không cao, chỉ được triển khai trong thờigian nhất định Cách thức triển khai giáo dục kĩ năng sống ở cấp học phổ thông chủ yếu làphát tài liệu, tập huấn giáo viên, dạy thí điểm, thông qua các hoạt động ngoại khóa
Qua tìm hiểu thực tế việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổthông nói chung và PTCS nói riêng, chúng tôi đi đến một số đánh giá sau:
- Ý nghĩa, tầm quan trọng của kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống chưa được nhận thức một cách đúng mức trong một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên
- Còn nhiều lúng túng trong việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống qua các hoạt động thích hợp, chưa tận dụng hoặc có thực hiện song không mang ý nghĩa hình thành và phát triển kĩ năng sống trong giảng dạy các môn học;
- Thiếu các điều kiện tối thiểu để tiến hành giáo duc kĩ năng sống trong nhà trường, trước hết là tài liệu cho giáo viên và cho học sinh;
- Ðã có một vài dự án, đề tài nghiên cứu tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên cốt cán, song nhìn chung đại bộ phận giáo viên chưa được tiếp cận với phương thức tiến hành giáo dục kĩ năng sống
Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá nhân phải không ngừng cập nhật giá trị và hoàn thiện giá trị của mình Để tồn tại và phát triển, với bất kỳ ai, việc có công việc làm để đảmbảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng Đồng thời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng cao chất lượng đời sống đó, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là “tồn tại”
C Đề xuất phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua giờ học Ngữ văn
Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống ở trường phổ thông qua các giờ học Ngữ văn theophương pháp tích cực:
Về kiến thức: Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như
các giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiếnthức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, vềđịnh hướng nghề nghiệp; Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản
Trang 11thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển thể chất, tinh thần của bản thân và người khác; Nhận thức được những giá trị cốt lõilàm nền tảng cho các kĩ năng sống.
Về kĩ năng: Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu
quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày; Có suy nghĩ và hành động tích cực,tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống; Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợptác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lànhmạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thểxác ); giúp HS phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân
Về thái độ: Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các kĩ năng sống mà bản thân đã
rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các kĩ năng sống đó;Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh,có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng; Có ý thức về quyền và tráchnhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp
Vậy có thể nói, dạy học môn Ngữ Văn trong giai đoạn hiện nay cần hướng đến tíchhợp kiến thức cho học sinh, trong đó giáo dục kĩ năng sống vừa là mục tiêu vừa là mộtgiải pháp quan trọng nhằm thu hút tinh thần thái độ học tập của học sinh Ngữ văn đượcđánh giá là một môn học có nội dung tích hợp với kĩ năng sống giáo dục kĩ năng sống khárõ ràng Vấn đề giáo dục kĩ năng sống trong môn học Ngữ văn ở nhà trường THCS đãđược đưa vào phần mục tiêu bài học Trong đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theohướng phát triển năng lực người học cũng đã phần nào quan tâm đến vấn đề giáo dục kĩnăng sống thông qua những bài tập mang tính ứng dụng Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưathực sự quan tâm tới vấn đề này Chủ yếu giáo viên chú trọng đến truyền tải nội dung kiếnthức của bài học Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phần lớn vẫn dựa vào chuẩnkiến thức kĩ năng bài học mà chưa coi trọng tính ứng dụng thực tiễn
Vậy giải pháp nào để đảm bảo tính hiệu quả trong việc giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh THCS thông qua giờ dạy – học môn Ngữ văn? Chúng tôi xin được mạnh dạn trao đổivới các bạn đồng nghiệp mấy giải pháp sau:
I Tạo tình huống có tính chất ứng dụng thực tiễn đời sống gắn với các đơn vị bài học
1 Trong mỗi đơn vị kiến thức của bài học, chúng ta nên chú ý tạo ra những tình huống có vấn đề, mang tính chất ứng dụng vào thực tế đời sống, rồi tổ chức cho học sinh tự giải quyết.
Việc giải quyết các tình huống như thế lúc đầu mang tính chất cá nhân, sau đó đượcthảo luận để đi đến một cách giải quyết tối ưu nhất Phương pháp này chúng ta có thể linhđộng sử dụng được trong nhiều tiết học và ở cả ba phân môn của môn Ngữ văn
Trang 12Ví dụ: Ở phân môn Văn, khi dạy bài “Thông tin về ngày trái đất năm 2000” (Ngữ
văn 8), trong mục tìm hiểu về trách nhiệm của chúng ta, giáo viên đặt ra tình huống:
- Nếu mẹ em thường xuyên sử dụng bao bì ni lông màu để đựng thực phẩm, em cókhuyên mà mẹ không nghe, em sẽ phải làm thế nào?
- Em bắt gặp bác hàng xóm nhiều lần vứt rác thải ni lông không đúng nơi quy định,
em sẽ làm thế nào để lần sau bác ấy không làm vậy nữa?
- Vấn đề môi trường sống đang được cả xã hội quan tâm Em có suy nghĩ gì về vấnđề này? Theo em cần có những giải pháp nào để bảo vệ môi trường sống của chúng ta? Sau khi đưa ra tình huống, tổ chức cho học sinh tự giải quyết vấn đề trên một tờphiếu học tập Tất cả mọi người đều phải đưa ra chủ kiến của riêng mình; chọn một số ýkiến (có thể để học sinh xung phong, cũng có khi chỉ định bất kì), gọi một học sinh khácđọc to các ý kiến đó lên cho cả lớp cùng nghe, cùng thảo luận, để thống nhất cách giảiquyết tốt nhất
Việc tổ chức giải quyết các tình huống trải nghiệm thường tạo cho học sinh tâm thế
“nhập cuộc”, hứng thú, cảm thấy mình là người trong cuộc, cần phải thể hiện suy nghĩ vàhành động cụ thể Qua những tình huống đó, học sinh dần dần hình thành kĩ năng giảiquyết các vấn đề và điều chỉnh hành vi theo hướng hợp lí
2 Sau mỗi bài học, phải hướng học sinh gắn kiến thức được học với thực tiễn cuộc sống.
Kiến thức ở mỗi tiết học Ngữ văn thông thường là lí thuyết Học văn mà chỉ học líthuyết suông thì thật vô nghĩa Do đó người giáo viên cần phải:
(1) Giúp cho học sinh nhận thấy ý nghĩa của các thông điệp được gửi gắm qua mỗibài học
(2) Hướng các em vào những suy nghĩ, thái độ, tình cảm tích cực
(3) Tạo ra cơ hội cho các em được kiểm nghiệm và trải nghiệm những gì mà các emcảm nhận được từ bài học
Ví dụ1: Học xong văn bản Chiếc là cuối cùng của tác giả O’ Hen - ri (Ngữ văn 8),
giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Thông điệp rõ nhất mà em nhận được từ truyện ngắn này là gì?
(Học sinh phải nhận thấy hai thông điệp lớn đó là: nghị lực sống và quan niệm sống vìmọi người)
- Nhân vật nào trong tác phẩm để lại trong em ấn tượng sâu đậm nhất? Tại sao?
( Nhân vật cụ Bơ – men: lòng nhân hậu, đức hy sinh Nhân vật Xiu: tình bạn chânthành )
Trang 13- Trong cuộc sống, em thấy mình đã có được tình bạn đẹp chưa? Em đã biết yêuthương, quan tâm đến người khác chưa? Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp ( Gọi HS chiasẻ)
II Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
1.Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc sử dụng các phương pháp dạy
học tích cực
Thực tế đã cho thấy có phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có ưu thế trong việcphát huy tính tích cực học tập của học sinh (thường gọi tắt là PPDH, KTDH tích cực) cóthể sử dụng để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông trong quá trình dạy học cácmôn học, trong đó có môn Ngữ văn Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực sau cókhả năng đem lại hiệu trong việc tích hợp với giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trongdạy – học môn Ngữ văn
a Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm
Bên cạnh giải quyết tốt nhiệm vụ nhận thức, tăng cường dạy học theo nhóm giúp họcsinh hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng xã hội tốt hơn Phương pháp dạyhọc nhóm nhằm rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng sống cơ bản như
- Kĩ năng hợp tác,
- Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ,
- Kĩ năng ra quyết định,
- Kĩ năng quản lí thời gian
Để một giờ học trên lớp thành công với phương pháp dạy học nhóm, chúng ta thườngtiến hành theo 3 bước:
* Chuẩn bị: Trước khi diễn ra tiết học có sử dụng hoạt động nhóm trên lớp, hướng
dẫn cho học sinh cách chuẩn bị bài theo một dàn ý bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Đọc kĩ phần “kết quả cần đạt” trong sách giáo khoa; tìm hiểu trước những kiến thứcvề tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, đặc trưng thể loại của tác phẩm (kiến thức nàychủ yếu nằm trong phần “tiểu dẫn”)
- Đọc thật kĩ văn bản trước khi học (nếu là văn tự sự, kịch phải tóm tắt được cốttruyện; nếu là tác phẩm thuộc thể loại trữ tình phải nắm bắt được mạch cảm xúc)
- Đọc phần chú giải trong sách giáo khoa để hiểu một số từ ngữ khó hoặc các điểntích, điển cố, những chủ ý sáng tạo của nhà văn…
-Tự mình trả lời các câu hỏi trong phần “hướng dẫn học bài”; đánh dấu những chỗchưa giải quyết được hoặc còn băn khoăn để trao đổi với thầy cô và các bạn
Trang 14- Khi đưa ra những yêu cầu chuẩn bị bài cho học sinh, luôn kiểm tra tính hiệu quả củacông việc này bằng cách kiểm tra vở soạn bài kết hợp với những câu hỏi về bài mới Bởinếu không chuẩn bị bài tốt, phương pháp dạy học nhóm không thể thành công.
- Xây dựng được những nội dung thảo luận quan trọng và phù hợp để hoạt động nhómcó hiệu quả
* Tiến hành tổ chức thảo luận nhóm ở trên lớp
- Mở đầu thảo luận: Giáo viên tổ chức phân nhóm, cho học sinh tự bầu trưởng nhóm,giáo viên thông báo quy trình và quy định thảo luận
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm; giáo viên chỉ làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi màkhông tham gia ý kiến, không cắt ngang lời học sinh, không tỏ vẻ phản ứng nếu câu trảlời, tranh luận không đúng với ý mình; khi học sinh đưa ra những câu trả lời ngờ nghệch,không đúng, giáo viên nên nhanh chóng làm cho học sinh nhận thức được sự không đúngcủa thông tin đó mà không làm ảnh hưởng đến cảm xúc, lòng tự trọng của học sinh;
- Khi học sinh trình bày, giáo viên phải nghe cẩn thận những điều học sinh nói để hiểucác em định nói gì hoặc ghi chép nhanh lại những điểm cơ bản của mỗi ý kiến để chuẩnxác kiến thức
- Sau khi thảo luận: Giáo viên phải tổng kết những ý kiến phát biểu thống nhất và chưathống nhất để mình tham gia vào những ý kiến chưa thống nhất và bổ sung thêm những ýcần thiết; đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần, thái độ làm việc của học sinhđể thưởng điểm hoặc trừ điểm cho cá nhân của nhóm
Tuy có nhiều ưu điểm và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần rèn luyệnnhững kĩ năng sống cho học sinh, song cũng cần lưu ý, sử dụng một phương pháp dạy họckhông có nghĩa là đề cao và coi đó là phương pháp độc tôn, bởi lẽ không có phương phápnào là vạn năng
VD1: Khi học văn bản Chiếc lá cuối cùng của O’Hen-ry, giáo viên có thể đưa ra câu
hỏi thảo luận như sau:
- Có ý kiến cho rằng: hình ảnh chiếc lá cuối cùng chính là một kiệt tác nghệ thuật Emcó đồng ý với ý kiến này không? Tại sao?
VD2: Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, chúng ta không
thể bỏ qua chi tiết: Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu Để khai thác ý nghĩa chi tiết này, giáo viên cũng có thể đặt
một câu hỏi cho hoạt động nhóm như sau:
- Có thể nói chi tiết này là một điểm sáng nghệ thuật của truyện ngắn Em thử nêu cáchhiểu của em về ý nghĩa chi tiết trên?
Trang 15b Tổ chức dạy học tác phẩm văn học theo phương pháp trò chơi
Đây là phương pháp khó có thể được vận dụng một cách phổ biến trong tất cả các tiếthọc Tuy nhiên ở một số giờ học có tính chất đặc trưng, sử dụng phương pháp trò chơi sẽtạo được hứng thú cho học sinh Do đó giờ học được tiến hành nhẹ nhàng, hiệu quả.Thông qua tổ chức dạy học tác phẩm văn học theo phương pháp trò chơi, giáo viên có thểgiáo dục cho học sinh một số kĩ năng sống cần thiết như:
- Kĩ năng hợp tác
- Kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin
- Kĩ năng giải quyết vấn đề
* Sử dụng trong những tiết hướng dẫn đọc thêm
Để thực hiện phương pháp này trên lớp, có thể chia học sinh thành 3 nhóm (thường làtheo tổ), giao nhiệm vụ chuẩn bị cụ thể cho mỗi nhóm như sau:
- Nhóm 1: Có trách nhiệm tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả; về xuất xứ,hoàn cảnh ra đời của tác phẩm; đánh giá khái quát về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm(đọc kĩ phần tiểu dẫn, tham khảo một số tài liệu khác)
- Nhóm 2: Có nhiệm vụ dàn dựng một tiểu phẩm dựa vào nội dung chính của tácphẩm
- Nhóm 3: Có trách nhiệm soạn thảo các câu hỏi và đáp án để khám phá giá trị của tácphẩm; chủ trì cho hoạt động hội thảo, tranh luận giữa các ý kiến khác nhau trên lớp
- Công việc chuẩn bị phải được giao cho học sinh trước đó một tuần, giáo viên cũngtham gia vào việc tư vấn, điều chỉnh, huấn luyện các em luyện tập cho thật tốt trước khitiến hành “chơi”
- Sau thời gian chuẩn bị theo quy định, giáo viên báo trước học sinh thời gian giờ “học
- chơi” Vào học, các nhóm sẽ “trình diễn” phần của mình một cách tự giác theo quy định,giáo viên chỉ là người theo dõi, lắng nghe
- Tiết học sẽ được thể hiện theo trình tự sau: Mở đầu tiết học, nhóm trưởng của nhóm
1 sẽ trong vai trò một người dẫn chương trình, giới thiệu khái quát về tác giả - tác phẩm
- Sau đó, đại diện của nhóm 2 sẽ giới thiệu về vở diễn; các thành viên lên diễn lại tiểuphẩm mà các em đã chuẩn bị
- Đại diện của nhóm 3 sẽ chủ động đưa ra các câu hỏi hội thảo để tất cả thành viêntrong lớp tham gia; tổ chức cho các bạn thảo luận xoay quanh giá trị nội dung và nghệthuật của tác phẩm
Trang 16- Cuối cùng, giáo viên nhận xét, đánh giá và cho điểm từng phần.
Để tránh nhàm chán và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong học tập giữa các nhóm, giáoviên nên thường thay đổi nhiệm vụ theo kiểu luân phiên giữa các nhóm để nhóm nào cũngđược “thử sức” với các nhiệm vụ khác nhau
* Sử dụng trong các tiết luyện nói ở phân môn tập làm văn
Ví dụ trong tiết: luyện nói: kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm
(Ngữ văn 8), phương pháp này có thể được sử dụng hiệu quả
+ Nhóm 1: kể lại một đoạn trong văn bản Tức nước vỡ bờ theo ngôi kể thứ nhất –
người kể chuyện là chị Dậu
+ Nhóm 2 kể lại một đoạn trong văn bản Tức nước vỡ bờ theo ngôi kể thứ nhất –
người kể chuyện là anh Dậu
+ Nhóm 3: dàn dựng đoạn trích thành một màn kịch
+ Nhóm 4: chuẩn bị câu hỏi và đáp án cho nội dung tiết học ( Thế nào là kể chuyệntheo ngôi kể thứ nhất? thế nào là kể chuyện theo ngôi kể thứ ba? Chuyển từ ngôi kể thứ 3sang ngôi kể thứ nhất thì phải thay đổi những gì? Ưu thế và hạn chế của từng ngôi kể? Vaitrò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự? )
Trong tiết học, việc sắp xếp hợp lí tiến trình hoạt động giữa các nhóm sẽ đem đến sựhứng thú cho học sinh, nội dung bài học do chính các em tự trải nghiệm và đúc rút vì thếmà trở nên dễ nhớ và nhớ lâu hơn
2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực
a Kĩ thuật đặt câu hỏi tình huống
Câu hỏi tình huống là những câu hỏi chứa thông tin có vấn đề, đòi hỏi học sinh cần tư
duy, sáng tạo, tìm tòi để giải quyết hướng tới rèn luyện những kĩ năng sống chủ yếu sau:
- Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề.
- Kĩ năng tư duy phê phán.
- Kĩ năng xác định giá trị.
Kĩ thuật đặt câu hỏi tình huống cần lưu ý mấy điểm sau:
- Tạo dựng tình huống có vấn đề từ những trở ngại khó khăn trong hoạt động tiếpnhận tác phẩm văn chương của học sinh
Ví dụ: việc phát triển và đánh giá những chi tiết độc đáo trong mối quan hệ với chủđề tư tưởng tác phẩm và trong sự thống nhất với kết cấu nghệ thuật toàn vẹn của tác phẩmlà một tình huống có vấn đề
Chẳng hạn, khi học bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên trong chương trình Ngữ văn 8,
giáo viên có thể đặt câu hỏi: Ở khổ đầu bài thơ, nhà thơ gọi ông đồ là ông đồ già Vậy tại sao đến khổ cuối nhà thơ lại gọi là ông đồ xưa?