Đường lối Đảng cộng sản Việt NamBài viết Phân tích đường lối xây dựng và phát triển văn hoá của Đảng từ 1986 đến nay, giải thích tại sao Đảng ta lại coi xây dựng và phát triển văn hoá là một trong ba trụ cột của công cuộc đổi mới hiện nay.
Trang 1Mục lục
Phần 1: Lí luận chung về đường lối xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kì
1986-nay 1
1.1 Khái niệm văn hoá 1
1.1.1 Khái niệm văn hoá nói chung 1
1.1.2 Khái niệm văn hoá Việt Nam 1
1.2 Quan điểm, chủ trương xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kỳ 1986 – nay 1
1.2.1 Khái quát việc xây dựng, phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kỳ trước 1986 1 1.2.2 Quan điểm, chủ trương xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kỳ 1986 – nay 2
1.3 Ý nghĩa của việc xây dựng và phát triển văn hoá trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 5
PHẦN 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1986 – NAY 6
2.1 Thực trạng xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kỳ 1986 - nay 6
2.2 Đánh giá quá trình xây dựng và phát triển của văn hoá Việt Nam thời kỳ 1986 - nay 7 PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 9
3.1 Đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả phát triển văn hóa 9
3.2 Đẩy mạnh phát triển thị trường văn hóa, hình thành cơ cấu hợp lý cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa 10
3.3 Cải cách thể chế nhằm đảm bảo môi trường lành mạnh nuôi dưỡng, kích thích sự sáng tạo và hình thành các giá trị văn hóa mới 11
3.4 Hoàn thiện cơ chế, chính sách, biện pháp đẩy mạnh ngoại giao văn hóa 12
Trang 2Phần 1: Lí luận chung về đường lối xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kì 1986-nay
1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra qua hoạt động thực tiễn, biểu hiện trình độ phát triển xã hội ở từng thời kỳ lịch sử nhất định
Nền văn hoá là biểu hiện nội dung, tính chất của văn hoá được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối xu hướng phát triển và quyết định hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hoá
Trong xã hội có giai cấp, nền văn hoá mang tính giai cấp và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền Nền văn hoá cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị ở mỗi thời kỳ lịch sử và mang tính kế thừa
Theo nghĩa rộng: “Văn hoá Việt Nam là tổng thế những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước
Về nghĩa hẹp, văn hoá Việt Nam được hiểu là đời sống tinh thần của xã hội; hệ các giá trị, truyền thống, lối sống; năng lực sáng tạo của một dân tộc; bản sắc của một dân tộc
1.2 Quan điểm, chủ trương xây dựng và phát triển văn hoá ở
Việt Nam thời kỳ 1986 – nay
Nam thời kỳ trước 1986
Đầu năm 1943, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã thông qua bản “Đề cương văn hoá Việt Nam” đặt ra ba nguyên tắc cho nền văn hoá mới: dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá Cùng với đó, hai nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá được đặt ra là: Diệt giặc đói, giặc dốt; mở chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính
Tiếp sau đó, đường lối văn hoá kháng chiến được dần hình thành tại Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Kháng chiến kiến quốc”, trong bức thư về
“Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh (16/11/1946) và tại báo cáo
Trang 3“Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam” (trình bày trong Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai, tháng 7/1948)
Chủ trương, định hướng phát triển về văn hoá tiếp tục được hoàn thiện và bổ sung qua các đại hội lần thứ III, IV, V
hoá ở Việt Nam thời kỳ 1986 – nay
Về vai trò của văn hóa, Đại hội VI đánh giá : không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế đc văn học và nghệ thuật trong việt xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người Đại hội cũng đề cao vai trò của văn hoá trong đổi mới tư duy, thống nhất về tư tưởng, dứt bỏ cơ chế cũ đã không còn phù hợp, thiết lập cơ chế mới, khẳng định đồng thời với xây dựng kinh tế, phải coi trọng các vấn đề văn hóa, tạo ra môi trường văn hóa thích hợp cho sự phát triển
Cương lĩnh 1991 lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp phong phú đa dạng có nội dung nhân đạo dân chủ tiến bộ khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân thiện mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán lỗi thời thấp kém.Cương lĩnh khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, làm cho thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những văn hóa nhân loại Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu
Đại hội VII đến đại hội X và nhiều Nghị quyết Trung ương tiếp theo đã xác định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển Trong đó :
- Đại hội VII (6/1991) và Đại hội VIII (6/1996) của Đảng khẳng định : khoa học
và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới Do đó phải coi sự nghiệp giáo dục - đào tạo cùng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân
tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội
- Nghi quyết Trung ương 5 khóa VIII (7/1998) nêu ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 giải pháp lớn để xây dựng và phát triển nền văn hóa trong thời kì mới Cụ thế:
Trang 4 Năm quan điểm chỉ đạo đó là :
Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thiếu nền tảng tinh thần lành mạnh và tiến bộ thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện
o Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội : văn hóa phản ánh thể hiện sống động mọi mặt của cuộc sống qua bao thế kỉ, và cấu thành 1 hệ thống giá trị, truyền thống, lối sống từ đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng; các giá trị này lại tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội thấm nhuần trong mỗi con người, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế hệ (quá trình nó trở thành nền tảng tinh thần của xã hội)
o Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển : kinh nghiệm đổi mới cho rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế không chỉ do các nhân tố kinh
tế tạo ra, mà còn do sự đổi mới tư duy, chính sách, sự giải phóng tư tưởng, trình độ phát triển, năng lực cán bộ, sự sáng tạo… mà nó lại cấu thành văn hóa Nền văn hóa đương đại với những giá trị mới sẽ là tiền đề quan trọng đưa nước ta hội nhập vào kinh tế thế giới
o Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển: mục tiêu xây dựng XÃ HỘIVN là
“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính
là mục tiêu văn hóa Mục tiêu và động lực cảu sự phát triển là vì con người, do con người; tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường Khi xác định mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội phải xác định mục tiêu văn hóa, hướng tới xã hội công bằng dân chủ văn minh vì mục tiêu kinh tế thường lấn át mục tiêu văn hóa
o Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong bồi thường, phát huy nhân
tố con người là vô hạn, khả năng tái sinh, tự sinh Một nước có thành tựu giáo dục cao thì xã hội đó phát triển
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
o Tiên tiến : là yêu nước và tiến bộ với tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HỒ CHÍ MINH
o Bản sắc dân tộc : là những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc VN vun đắp qua hàng ngàn năm như lòng yêu nước, ý chị tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, cần cù sáng tạo… giúp cho dân tộc đó giữ được tính duy nhất, thống nhất, nhất quán trong quá trình phát triển Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
Trang 5của đời sống, sâu sắc nhất là trong hệ giá trị - giá trị cốt lõi, là niềm tin của nhân dân
o Để xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta chủ trương vừa bảo vệ vừa mở rộng giao lưu với văn hóa nhân loại, để xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt nam
Nền văn hóa Việt là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Xây dựng và phát triển nền văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
Văn hóa là 1 mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Mười nhiệm vụ cụ thể bao gồm:
Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính: tinh thần yêu nước, có ý thức tập thể, có lối sống lành mạnh…
Xây dựng môi trường văn hóa
Phát triển sự nghiệp văn học-nghệ thuật
Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa
Phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và KH công nghệ
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng
Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Chính sách văn hóa đối với tôn giáo
Mở rộng hợp tác quốc tế về vă hóa
Củng cố xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa
Bốn giải pháp lớn được đặt ra là:
Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước với thi đua yêu nước và phong trào : “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Tăng cường xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách về văn hóa
Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa
Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
- Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (1/2004) xác định thêm “phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế”
- Hội nghị Trung ương10 khóa IX (7/2004) đặt vấn đề đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng – tinh thần xã hội Đồng thời cũng nhận định : cơ chế thị trường đã làm thay đổi mqh giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ đời sống xã hội, đa dạng hóa thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hóa Do đó phạm vi, vai trò của dân chủ hóa – xã hội
Trang 6hóa văn hóa và của các cá nhân ngày càng tăng lên và mở rộng là những thách thức mới đối với sự lãnh đạo và quản lý công tác của Đảng và Nhà nước ta
1.3 Ý nghĩa của việc xây dựng và phát triển văn hoá trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển văn hoá trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, biểu hiện là văn hoá được coi là một trong ba trụ cột trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
- Văn hoá là biểu hiện của sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tang và vị thế, tầm vóc dân tộc
Văn hóa là một “nguồn lực mềm” làm động lực và đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển và làm “hài hòa hóa” các mối quan hệ xã hội và “lành mạnh hóa” môi trường xã hội
“Sức mạnh mềm” là sức mạnh bắt nguồn, xuất phát điểm từ bên trong được kết tinh từ trí tuệ, ý chí, tâm hồn, cốt cách, truyền thống lịch sử vẻ vang, tinh thần anh dũng, quật cường, mưu trí, sáng tạo của dân tộc Việt Nam từ hàng ngàn đời nay
- Văn hóa được thấm nhuần trong môi trường con người và trong cả cộng đồng dân tộc
Văn hoá được truyền lại, tiếp nối, và phát huy qua các thế hệ người Việt Nam
Nếu như công cuộc xây dựng văn hóa không được xem trọng, sức mạnh
đề kháng của văn hóa bị yếu kém sẽ dẫn đến nền văn hóa bị mai một, tư tưởng và phẩm chất của từng người dân sẽ bị biến đổi vì những tư tưởng không lành
- Văn hoá là một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội
“Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội, nếu chỉ coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu duy nhất thì những môi trường văn hóa – xã hội bị hủy hoại mà mục tiêu kinh tế cũng không đạt được” (Hồ Chí Minh)
- Văn hoá không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóa của một dân tộc, nó mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của văn hóa
Học tập văn hóa hiện đại của các nước phải phù hợp với điều kiện Việt Nam, kết hợp với văn hóa Việt Nam tạo ra những giá trị mới đóng góp vào việc phát triển văn hóa nhân loại
Trang 7 Thay đổi lối sống khép kín, cam chịu, phụ thuộc, ỷ lại vốn có của người Việt Nam sang 1 lối sống cởi mở, năng động, tự lập, dám chịu trách nhiệm, phù hợp với xu thế thời đại
TÓM LẠI: Việc xây dựng và phát triển văn hóa là một vấn đề quan trọng,
cấp thiết và là một mặt trận trong công cuộc đổi mới hiện nay Xây dựng được môi trường văn hóa tiến bộ sẽ góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
PHẦN 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ 1986 – NAY
2.1 Thực trạng xây dựng và phát triển văn hoá ở Việt Nam thời kỳ 1986 - nay
Từ khi tiến hành Đổi mới (1986) đến nay, việc thực hiện cải cách tuần tự và có trọng tâm đã khiến cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam dần dần thích ứng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta đang gặp phải là quá trình bắt nhịp của cải cách thể chế văn hóa với cải cách thể chế kinh tế, chính trị, xã hội còn chậm, khả năng thích nghi với thông lệ quốc tế chưa cao, vai trò ổn định xã hội, tăng cường sức sáng tạo văn hóa, hình thành hệ giá trị còn gặp nhiều bất cập Điều này cho thấy một thực tế, trong thời gian tới, nếu muốn cải cách thể chế văn hóa thực sự trở thành chìa khóa mở ra tương lai phát triển của văn hóa Việt Nam theo hướng tiến tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta phải tận dụng tối đa các cơ hội đang đặt ra từ bối cảnh thế giới, tình hình trong nước, đồng thời cần phải vượt qua nhiều thách thức để tìm ra các giải pháp phù hợp
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong bối cảnh trong nước cũng như thế giới đang
có nhiều thay đổi
Đã có sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; làm cho văn hóa tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Xây dựng những giá trị văn hóa mới đi đôi với việc mở rộng giao lưu quốc tế.
Mức hưởng thụ, tham gia hoạt động, sáng tạo văn hóa của nhân dân được nâng cao; từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật giữa thành thị
và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Trang 8Ngày càng có nhiều hoạt động đầu tư của Nhà nước, nâng cao tỷ lệ ngân sách cho văn hóa, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa; coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, chú trọng các công trình văn hóa lớn, tiêu biểu; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các thiết chế văn hóa cơ sở
Công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc; phát huy tính thống nhất trong đa dạng, bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được đẩy mạnh Nhờ đó, phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học nghệ thuật, sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu phản ánh sức sáng tạo của nền văn hóa mới
2.2 Đánh giá quá trình xây dựng và phát triển của văn hoá Việt Nam thời kỳ 1986 - nay
Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ bên cạnh những mặt tích cực, cũng đem đến những tiêu cực trên lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ Sự bùng nổ về thông tin, truyền thông đi liền với quá trình mở cửa, đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa, áp lực từ việc du nhập các văn hóa phẩm vào nước
ta ngày càng gia tăng và khó kiểm còn hạn chế, dẫn đến lúng túng, bị động trong tổ chức thực hiện
Trước sức ép phải vượt qua những khó khăn về kinh tế, kiểm soát lạm phát, việc nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý và doanh nghiệp chưa đúng tầm; chưa nhận thức đúng mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế, văn hóa và chính trị trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước Nhiều cấp quản lý và người có trách nhiệm vẫn còn mơ hồ trong nhận thức vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chưa coi phát triển văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội Việc thể chế hóa đường lối của Đảng về phát triển văn hóa thành pháp luật và các chính sách còn chậm Các giải pháp cho phát triển văn hóa trong tương lai thường bị động, mang tính tình thế, vừa có biểu hiện buông lỏng, hữu khuynh, vừa mang tính áp đặt chủ quan, giáo điều, máy móc
Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu lý luận còn bất cập Chưa đưa ra được những
dự báo và định hướng chuẩn xác Chưa làm rõ nhiều vấn đề lý luận về phát triển văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, giữa phát triển văn hóa với công tác xây dựng Đảng, vấn đề bảo tồn và phát triển trong thời kỳ toàn cầu hóa, vấn
đề phát triển các ngành nghề sáng tạo và sản xuất văn hóa, phát triển công nghiệp và
Trang 9dịch vụ văn hóa Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa còn dàn trải, phân tán, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển đất nước Nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng, trong cơ quan Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được coi trọng đúng mức Tình trạng xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội tiếp tục gia tăng Các phong trào vận động xây dựng văn hóa còn mang nặng tính hình thức, chạy theo thành tích, gây lãng phí, hiệu quả thấp
Có thể thấy, với những giới hạn của mình, thể chế văn hóa Việt Nam chưa đủ mạnh để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và vững bước hội nhập quốc tế Những gì đang diễn ra trong quá trình cải cách thể chế cũng phản ánh một thực tế, mặc dù chúng ta đã tạo nên nhiều sự thay đổi tích cực
về phát triển văn hóa, song về thực chất, thể chế văn hóa của Việt Nam chưa tạo nên các động lực cần và đủ để thúc đẩy sự sáng tạo và hình thành nên các giá trị văn hóa hiện đại, tiên tiến, giàu bản sắc
Hiện nay nền công nghiệp văn hóa của chúng ta còn non yếu, công tác quản lý văn hóa còn nhiều vấn đề bất cập, các bước cải cách đột phá về phát triển thị trường văn hóa chưa xuất hiện trong khi các làn sóng văn hóa, sản phẩm văn hóa nước ngoài đang lấn sân mạnh trên thị trường nội địa và khả năng xuất khẩu các sản phẩm văn hóa made in Việt Nam còn khiêm tốn Điều đó đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương tiến hành các bước cải cách thực tế hơn, có chiều sâu hơn để tạo nên các khuôn khổ thể chế mới nuôi dưỡng, kích thích, thúc đẩy sự sáng tạo, hình thành các giá trị văn hóa tốt đẹp Vì bên cạnh các thách thức từ bên ngoài, các hạn chế nội tại của thể chế văn hóa, Việt Nam vẫn có những điểm mạnh về thể chế và cơ hội từ bên ngoài tác động tích cực tới các bước đi trong tương lai của văn hóa
Nhìn lại gần 30 năm thực hiện Đổi mới của Việt Nam, có thể thấy, từ việc kiên định cải cách tuần tự, tiệm tiến và điều chỉnh linh hoạt, nước ta đã hình thành các mô hình thể chế văn hóa mới nhằm giải phóng năng lực sáng tạo, tăng cường khả năng cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, từng bước nâng cao chất lượng văn hóa, thỏa mãn các đòi hỏi ngày càng đa dạng về nhận thức, hưởng thụ văn hóa của người dân và thúc đẩy văn hóa hội nhập sâu hơn vào quá trình toàn cầu hóa Nhưng những hạn chế nảy sinh trong quá trình triển khai thể chế văn hóa trong thời gian qua cũng cho thấy, Việt Nam vẫn chưa phát huy hiệu quả hệ thống pháp quy văn hóa, quá trình luật hóa trong đời sống còn chậm, phương thức chỉ đạo, quản lý văn hóa còn chồng chéo, cơ chế vận hành của các tổ chức văn hóa chưa hiệu quả dẫn đến tình trạng phát triển văn hóa chưa bắt kịp với phát triển kinh tế Từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Việt Nam đã xác định coi văn hóa vừa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển
Trang 10văn hóa cần phát triển đồng bộ với kinh tế - xã hội Trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu này, cải cách thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên các khuôn khổ, môi trường thuận lợi nhằm nuôi dưỡng, kích thích sự phát triển và hội nhập của văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ tổng hòa với cải cách thể chế ở các lĩnh vực khác
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà
nước nhằm nâng cao hiệu quả phát triển văn hóa
Muốn nâng cao hiệu quả phát triển văn hóa trong lĩnh vực văn hóa, Đảng cần đổi mới tư duy lãnh đạo văn hóa theo hướng: thay đổi thói quen chỉ coi văn hóa là hình thái ý thức và phủ nhận hình thái thương phẩm của nó, hoặc quan niệm quá chú trọng đặc tính thương phẩm của văn hóa mà phủ nhận tính hình thái ý thức của nó Việc xử
lý chính xác mối quan hệ này cần phải được thể hiện rõ ràng thông qua hệ thống các văn kiện chính thức của Đảng, tránh tình trạng diễn đạt mơ hồ, khó hiểu Để thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải thay đổi phương thức quản lý của Nhà nước theo hướng cải cách thủ tục hành chính, xác định rõ vai trò, quyền hạn, chức năng quản lý văn hóa giữa các ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, tránh chồng chéo, làm thay hoặc bỏ sót không làm
Cần ưu tiên bố trí, sắp xếp hợp lý hơn hệ thống quản lý báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, thông tấn, internet, văn hóa văn nghệ sao cho sự phối hợp quản lý giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Thông tin và Truyền thông thực sự có hiệu quả Trong lĩnh vực này, việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, luật pháp cần phải được đẩy mạnh theo hướng tiếp tục xây dựng và sửa đổi luật và các văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, quy định có liên quan đến lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình
Đối với ngành xuất bản, cần sớm sửa đổi, bổ sung Luật xuất bản, tạo điều kiện hình thành các loại hình xuất bản, in ấn Cụ thể hóa hơn nữa các thể chế quy định việc cấp phép, thu hồi giấy phép hoạt động xuất bản, báo chí, xuất nhập khẩu sách báo
và quyết định xét duyệt, kiểm duyệt cho phổ biến tác phẩm; thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành tiêu hủy xuất bản phẩm, văn hóa phẩm vi phạm pháp luật, phản động, đồi trụy
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và cải tiến thể chế quản lý văn hoá trong các thiết chế văn hoá hiện có (nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, cơ quan báo, tạp chí, nhà xuất bản, rạp chiếu bóng, nhà triển lãm, đội thông tin lưu động )