1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)

166 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 26,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đạt giải NCKH Eureka 2015 Tai nạn giao thông là quốc nạn tại Việt Nam khi hàng ngày số vụ tai nạn giao thông do phần lớn vi phạm tập trung vào thanh niên, mà lực lượng thanh niên chiếm gần một phần ba dân số TPHCM hiện nay. Nghiên cứu này tiên phong trong việc định lượng hóa về thực hiện pháp luật giao thông tại Việt Nam theo hướng nghiên cứu hàn lâm lặp lại (Loại III) dựa trên thuyết công bằng thủ tục. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tác động ảnh hưởng đến Thực hiện pháp luật giao thông mạnh nhất là Nguy cơ xử phạt, thứ hai là Đạo đức chủ thể, thứ ba là Bản sắc xã hội, thứ tư là Nhận thức pháp luật, thứ năm là Tính chính danh của cảnh sát và cuối cùng là Hiệu quả của cảnh sát. Dựa vào kết quả này các nhà nghiên cứu về giao thông có thể đưa ra được những hàm ý chính sách nhằm nâng cao thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên nói riêng và mọi người nói chung.

Trang 1

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

LẦN THỨ XVII NĂM 2015

TÊN CÔNG TRÌNH:

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

GIAO THÔNG CỦA THANH NIÊN TẠI TPHCM

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Xã hội và Nhân văn

CHUYÊN NGÀNH: Xã hội học – Triết học

Mã số công trình: ………

Trang 3

TÓM TẮT

Đây là đề tài tiên phong trong việc định lượng hóa về thực hiện pháp luật giao thông tại Việt Nam theo hướngnghiên cứu hàn lâm lặp lại (Loại III) với mô hình lặp lại nghiên cứu đã có của một số nước trên thế giới nhưng được bổ sung thêm để phù hợp với tình hình thực tiễn tại TP HCM Đề tài với mục đích là nghiên cứu một cách

có hệ thống các vấn đề lý luận để làm rõ bản chất thực hiện pháp luật giao thông, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông… bằng cách kiểm định thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết Qua đó nghiên cứu đã xác định mối quan hệ giữa các yếu tố, tầm quan trọng của các yếu tố đến thực hiện pháp luật giao thông, để từ đó nhóm tác giả đề xuất những hàm ý chính sách nhằm tăng cường đảm bảo an toàn giao thông tại TPHCM

Trên cơ sở kế thừa thuyết công bằng thủ tục nhóm tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu lặp lại có bổ sung (Loại III) Đồng thời nghiên cứu định lượng chính thức với 450 thanh niên đang sống, làm việc, học tập tại thành phố

có độ tuổi từ 17 đến dưới 30 tuổi Kết quả cho thấy 7 thành phần đều đạt được độ tin cậy và giá trị cho phép bao gồm: Nguy cơ xử phạt, Hiệu quả của cảnh sát, Tính chính danh của cảnh sát, Đạo đức chủ thể, Bản sắc xã hội, Nhận thức pháp luật và Thực hiện pháp luật giao thông Kết quả cũng cho thấy mô hình nhóm tác giả đưa ra phù hợp với

dữ liệu thị trường hay nói cách khác nghiên cứu đã định lượng hóa được các mối quan

hệ trong mô hình nghiên cứu, đồng thời kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tác động ảnh hưởng đến Thực hiện pháp luật giao thông (ELT) mạnh nhất là Nguy cơ xử phạt

(RSA), thứ hai là Đạo đức chủ thể (PEM), thứ ba là Bản sắc xã hội (SOI), thứ tư là Nhận thức pháp luật (LEA), thứ năm là Tính chính danh của cảnh sát (POL) và cuối cùng là Hiệu quả của cảnh sát (POE) Kết quả giúp cho các nhà nghiên cứu về

an toàn giao thông, Ủy Ban An Toàn Giao Thông… có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tầm quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên Từ đó trở thành cơ sở quan trọng để hoạch định các chính sách về giao thông, các giải pháp nâng cao an toàn giao thông…Cuối cùng kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung vào thuyết Công bằng thủ tục đã có thông qua một số mô hình ở một

số nước như Anh,Mỹ… cùng hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới trong các nghiên cứu về hành vi giao thông, an toàn giao thông,…đặc biệt là các

nước có trật tự giao thông phức tạp như Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC

- -

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 3

1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 4

1.3.1 Mục đích đề tài 4

1.3.2 Mục tiêu 4

1.3.3 Nhiệm vụ của đề tài 4

1.4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

1.4.1.1 Đối tượng nghiên cứu 5

1.4.1.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.4.2 Đối tượng khảo sát 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 5

1.5.2 Phương pháp thực hiện 5

1.6 Ý nghĩa của đề tài 6

1.6.1 Về mặt lý thuyết 6

1.6.2 Về mặt thực tiễn 7

1.7 Kết cấu của đề tài 7

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Một số khái niệm cơ bản 8

2.1.1 Khái niệm về thanh niên theo luật thanh niên 8

Trang 6

2.1.2 Tổng quan về pháp luật giao thông đường bộ 8

2.1.3 Thực hiện pháp luật giao thông 10

2.2 Cơ sở lý thuyết của nguyên cứu 12

2.2.1 Thuyết công bằng thủ tục (Procedural Justice) 12

2.2.2 Nghiên cứu thuyết công bằng thủ tục tại Anh 18

2.2.3 Mô hình thuyết công bằng thủ tục trong giao thông của Ben Bradford và cộng sự 19

2.2.4 Mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model) 22

2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25

2.3.1 Thực hiện pháp luật giao thông 26

2.3.2 Nguy cơ xử phạt 26

2.3.3 Tính chính danh của cảnh sát 26

2.3.4 Đạo đức chủ thể 26

2.3.5 Bản sắc xã hội 27

2.3.6 Nhận thức pháp luật giao thông 27

2.3.7 Hiệu quả của cảnh sát 28

2.4 Mô hình cạnh tranh 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Quy trình nghiên cứu 31

3.2 Nghiên cứu sơ bộ 31

3.2.1 Nghiên cứu định tính 31

3.2.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 32

3.3 Xây dựng và phát triển thang đo 32

3.3.1 Thang đo nguy cơ xử phạt (RSA) 32

3.3.2 Thang đo hiệu quả của cảnh sát (POE) 32

3.3.3 Thang đo tính chính danh của cảnh sát (POL) 33

3.3.4 Thang đo đạo đức chủ thể (PEM) 33

3.3.5 Thang đo bản sắc xã hội (SOI) 34

3.3.6 Thang đo nhận thức pháp luật (LEA) 34

3.3.7 Thang đo thực hiện pháp luật giao thông (ELT) 34

3.4 Nghiên cứu chính thức 35

Trang 7

3.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 35

3.4.2 Thu thập dữ liệu 36

3.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 37

3.5 Điều chỉnh thang đo 39

3.5.1 Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 40

3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Tổng quan về tình hình giao thông tại TP HCM 44

4.1.1 Tình hình TNGT và nguyên nhân TNGT trong năm 2014 tại TP HCM 44

4.1.2 Tình hình xử lý vi phạm giao thông trong năm 2014 tại TP HCM 45

4.2 Thông tin về mẫu nghiên cứu 46

4.3 Kết quả khảo sát sự hiểu biết pháp luật giao thông và thực trạng thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tham gia khảo sát 46

4.3.1 Thực trạng hiểu biết về pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM hiện nay 46

4.3.2 Thực trạng thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM 47

4.4 Kiểm định chất lượng thang đo 47

4.4.1 Thống kê mô tả các yếu tố 47

4.4.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha 48

4.4.3 Kiểm định thừa biến 50

4.5 Kết quả phân tích nhân tố khám pháEFA 50

4.6 Kiểm định thang đo bằng CFA 51

4.7 Kiểm định các mô hình nghiên cứu 55

4.7.1 Kiểm định mô hình lý thuyết nghiên cứu (Mt) 55

4.7.2 Kiểm định mô hình cạnh tranh (Mc) 57

4.7.3 Kiểm định Bootstrap 59

4.7.4 Kiểm định mô hình giả thuyết 59

4.8 Phân tích cấu trúc đa nhóm 63

4.8.1 Phân tích cấu trúc đa nhóm theo giới tính 63

4.8.2 Phân tích cấu trúc đa nhóm theo hộ khẩu thường trú 64

4.8.3 Phân tích cấu trúc đa nhóm theo ngành nghề 64

Trang 8

4.8.4 Phân tích cấu trúc đa nhóm theo phương tiện đi lại 65

4.9 Thảo luận kết quả nghiên cứu 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 70

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 71

5.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu chính thức 71

5.1.1 Kết quả đo lường và ý nghĩa 71

5.1.2 Kết quả về mô hình nghiên cứu 71

5.1.3 Kết quả về phân tích đa nhóm 72

5.1.4 Ý nghĩa kết quả đo lường và mô hình nghiên cứu 73

5.2 Hàm ý chính sách và đề xuất hoàn thiện chính sách đang áp dụng 73

5.2.1 Nâng cao trách nhiệm thực thi pháp luật 74

5.2.2 Nâng cao đạo đức cho thanh niên khi tham gia giao thông 77

5.2.3 Tuyên truyền giáo dục pháp luật, tuyên truyền bản sắc xã hội 80

5.2.4 Nâng cao tính rõ ràng và thống nhất trong pháp luật giao thông đường bộ và chế tài trong luật 86

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 94

5.4 Kết luận và kiến nghị 95

5.4.1 Kết luận 95

5.4.2 Kiến nghị 96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 5 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 2.1 Thống kê và so sánh luật GTĐB năm 2001 và 2008 8

Bảng 2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh

Bảng 3.7 Các biến quan sát đo lường “Thực hiện pháp luật giao thông

Bảng 4.1 Nguyên nhân TNGT trong năm 2014 tại TP HCM 44

Bảng 4.2 Một số hành vi thường vi phạm giao thông của người dân

Bảng 4.5 Kết quả Cronbach alpha các yếu tố trong mô hình nghiên cứu 48

Bảng 4.7 So sánh độ phù hợp trước và sau khi hiệu chỉnh (CFA) 52 Bảng 4.8 Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo (CFA) 52

Bảng 4.10 So sánh độ phù hợp trước và sau khi hiệu chỉnh (Mt) 55 Bảng 4.11 Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm trong Mc 57

Trang 10

(Chưa chuẩn hóa)

Bảng 4.17 Mối quan hệ giữa các khái niệm theo giới tính (Bất biến và

Bảng 4.19 Mối quan hệ giữa các khái niệm theo nơi sinh ra (Bất biến và

Bảng 4.21 Mối quan hệ giữa các khái niệm theo ngành nghề (Bất biến

Bảng 4.22 Phân tích đa nhóm theo phương tiện đi lại 66 Bảng 4.23 Mối quan hệ giữa các khái niệm theo phương tiện (Bất biến

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ



   

Biểu đô 1.1 Thống kê tình hình tai nạn giao thông tại TP HCM từ

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ Pareto nguyên nhân TNGT trong năm 2014 tại

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thống kê các hành vi thường hay vi phạm của

Biểu đồ 5.1 So sánh số vụ tai nạn, số người chết và bị thương trước

và sau khi NĐ 34/2010/NĐ-CP có hiệu lực 91

Trang 12

Hình 4.1 Mô hình tới hạn sau khi điều chỉnh (Chuẩn hóa) 53

Hình 4.2 Kết quả SEM mô hình nghiên cứu lý thuyết (Mt) sau khi

Hình 4.3 Kết quả SEM mô hình cạnh tranh (Mc) sau khi hiệu

Trang 13

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



   

18 RMSEA Root Mean Square Error of Approximation

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

- -1.1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay tai nạn giao thông (TNGT) đang được xem là một quốc nạn1, tính trung bình mỗi ngày tại Việt Nam có gần 100 vụ TNGT và làm chết 27 người Trong 6 tháng đầu năm 2014, cả nước xảy ra gần 13.000 vụ tai nạn, số người chết do TNGT là 4.600 người, nghĩa là số người chết do TNGT không có chiều hướng giảm.2

Có thể thấy, TNGT là một sự kinh hoàng của xã hội nói chung và những người tham gia giao thông nói riêng Đặc biệt tại TPHCM là trung tâm kinh tế thương mại, khoa học, công nghệ, văn hóa xã hội Tình hình an toàn giao thông có chiều hướng phức tạp, khi số lượng TNGT đang ở mức cao so với các tỉnh và thành phố khác

(Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả T8/2014)

Biểu đồ 1.1: Thống kê tình hình tai nạn giao thông tại TPHCM từ năm 2010 đến năm 2013

(Nguồn: Tổng hợp và thiết kế của nhóm tác giả T8/2014)

1Bản báo cáo của Chính Phủ gởi các đại biểu Quốc Hội ngày 21/11/2011, lần đầu tiên TNGT đã được gọi đúng tên “thảm

họa”, đặt đúng tầm của nó là “quốc nạn”

2 Ngọc Vỹ& Bá Đô 2014 4.600 người chết vì tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm, xem 10.06.2014

<http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/4-600-nguoi-chet-vi-tai-nan-giao-thong-trong-6-thang-dau-nam-3007291.html>

3 Thống kê dựa trên báo cáo UBND về số vụ TNGT, không tính số vụ va chạm Căn cứ theo khoản 1 điều 5 Thông Tư số

58/2009/TT-BCA(C11) thì TNGT là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới GTĐB vi

phạm các quy định về trật tự, an toàn GTĐB hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khoẻ của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân TNGT gồm: Va chạm giao thông; Vụ TNGT gây hậu quả ít nghiêm trọng; Vụ TNGT gây hậu quả nghiêm trọng; Vụ TNGT gây hậu quả rất nghiêm trọng; Vụ TNGT gây hậu quả

đặc biệt nghiêm trọng.

Trang 16

Nhìn vào bảng 1.1 và biểu đồ 1.1, nhóm tác giả nhận thấy: số vụ TNGT có xu hướng giảm nhưng vẫn còn ở mức cao Số người chết và bị thương vẫn còn ở mức cao

so với số vụ tai nạn chứng tỏ chiều hướng nghiêm trọng vẫn đang ở mức báo động TNGT và những thiệt hại do tai nạn gây ra đang là nỗi lo và vấn đề bức xúc của toàn xã hội Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt hại về nhân lực, trí tuệ… gây tổn thương về tinh thần xã hội, về vật chất, tiền của và cả nỗi đau thể xác, tinh thần dai dẳng TNGT có ảnh hưởng nặng nề đối với giới trẻ Việt Nam, có rất nhiều bạn trẻ trực tiếp bị TNGT gây tử vong hoặc thương tật nặng nề và còn có biết bao bạn trẻ khác bị ảnh hưởng gián tiếp bởi cha, mẹ bị TNGT cướp đi sinh mệnh hoặc tàn tật Theo thống

kê, những người thiệt mạng do TNGT chủ yếu là đàn ông, trụ cột của gia đình Những người vợ xót xa khi mất đi người chồng thân yêu, đứa con nghẹn ngào vì tới đây sẽ chẳng còn được vòng tay người cha dạy dỗ Họ mang đến sự thương tâm cho toàn xã hội4 Vì thế thiệt hại do TNGT gây ra theo nhóm tác giả bao gồm 2 loại thiệt hại là:

thiệt hại bề nổi (Thiệt hại về vật chất, thiệt hại trực tiếp do TNGT gây ra…) và thiệt hại bề chìm (Thiệt hại gián tiếp, thiệt hại về tinh thần,…)

Theo kết quả từ phòng PC67 Công An TPHCM cung cấp cho nhóm tác giả, cũng như trao đổi với cán bộ phận tiếp dântại phòng PC67 thì một trong các nguyên nhân gây TNGT hiện nay như: ý thức giao thông kém, cơ sở hạ tầng, do nguồn nguy hiểm cao độ5 gây ra… nhưng chủ yếu TNGT hiện nay do tác động trực tiếp từ phía con người, hay nói cụ thể hơn do thực hiện pháp luật giao thông chưa tốt

Trong đó, vi phạm giao thông tập trung phần lớn vào thanh niên, mà lực lượng thanh niên chiếm gần một phần ba dân số TPHCM hiện nay Nhóm tác giả nhận thấy rằng ý thức giao thông của thanh niên đang sinh sống và học tập tại TPHCM hiện nay đang bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động Trong khi lối sống văn minh đô thị ở TPHCM đang trong quá trình định hình lại và đan xen với lối sống nông nghiệp nông thôn của lối sống nhập cư từ mọi vùng đất nước, nên ý thức giao thông của người dân thành phố, đặc biệt là thanh niên chưa thật sự hiện diện để đảm bảo một lối sống văn minh đô thị, trong đó văn minh giao thông là một bộ phận quan trọng

4 Lê Phan Minh Hoàng 2009 Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để giảm thiểu tai nạn giao thông, xem 12.06.2014

<http://www.ngoquyen.gov.vn/tieuhoc/lehongphong/index/HOMEPAGE/39/2382/2327/aticle/2746>

5 Thiệt hai do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có nghĩa là tự tài sản, phương tiện gây ra Theo khoản 1 điều 623 Bộ Luật Dân

sự 2005 thì nguồn nguy hiểm bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, thú dữ…

Trang 17

Như vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM hiện nay? Để trả lời câu hỏi này, nhóm tác giả đã

nghiên cứu các đề tài liên quan đến an toàn giao thông, thực hiện pháp luật giao thông… Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Việt Nam mà nhóm tác giả được biết và đang tham khảo hầu như rất hạn chế về mặt định lượng Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng nghiên cứu và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên khi tham gia giao thông là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng Đó

chính là lý do nhóm tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực

hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM”

1.2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu

Một số đề tài có sự liên quan đến bài nghiên cứu mà nhóm tác giả lấy làm tài liệu tham khảo như sau:

Đề tài nghiên cứu: “Executethe Rules of the Road: Procedural Justice, Social Identity, and Normative Compliance”, (Tạm dịch: Thực hiện luật giao thông

đường bộ: Công lý thủ tục, bản sắc xã hội, sự tuân thủ quy phạm)của nhóm tác

giả: đứng đầu là Ben Bradford (ĐH Oxford, Anh), Katrin Hohl (ĐH Luân Đôn, Anh), Jonathan Jackson (Trường kinh tế Luân Đôn, Anh), và Sarah MacQueen (ĐH Luật Edinburgh, Anh) Đề tài đưa ra được mô hình các giả thuyết dẫn đến việc tuân thủ và chấp hành trong giao thông tại Anh Tuy nhiên đề tài có nhược điểm là không đưa vào mô hình biến nhận thức, hiểu biết về pháp luật để làm rõ ràng yếu tố pháp luật ảnh hưởng như nào đến tuân thủ và chấp hành của người dân tại Anh

Đề tài nghiên cứu: “Procedural Justice, Trust and Institutional Legitimacy”

(Tạm dịch: Công bằng thủ tục, niềm tin và sự hợp pháp của thể chế), của nhóm

tác giả:Mike Hough(Kings College London), Jonathan Jackson (London School

of Economics), Ben Bradford (Đại Học Edinburgh), Andy Myhill (National Policing Improvement Agency), Paul Quinton (National Policing Improvement Agency) Đây là đề tài dựa trên thuyết công bằng thủ tục (Procedural Justice) nhằm đưa ra các giả thuyết ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật và hợp tác với cảnh sát

Đề tài nghiên cứu: “Beyond general behavioral theories: Structural discrepancy in young motorcyclist’s risky driving behavior and its policy

Trang 18

implications” (Tạm dịch: Vượt ra khỏi những lý thuyết về hành vi chung: Sự

không nhất quán về cấu trúc được hàm ý trong các chính sách và cấu trúc thực

tế của các hành vi lái xe nguy hiểm của thanh niên), của nhóm tác giả: Yi-Shih Chung (Kainan University, Logistics and Shipping Management, No.1Kainan Road, LuzhuShiang, Taoyuan 33857, Taiwan), Jinn-Tsai Wong (National Chiao Tung University, Institute of Traffic and Transportation, 4F, 118 Chung Hsiao

W Rd., Sec 1, Taipei 10044, Taiwan) Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lái xe nguy hiểm hay vi phạm pháp luật của thanh niên khi

đi xe mô tô gắn máy tại Đài Loan

Đề tài nghiên cứu: “Attitudinal factors related to driving behaviors of young adults in Belize: An application of the precaution adoption process model”

(Tạm dịch: Các yếu tố về thái độ liên quan đến hành vi lái xe của thanh niên ở

Belize: Áp dụng mô hình tiến trình lựa chọn biện pháp phòng ngừa) của tác giả: Tiến sĩ triết họcIsmael A Hoare (Đại Học Nam Florida) Đề tài này xây dựng

mô hình ảnh hưởng đến hành vi của người tham gia giao thông tại Mỹ với 3 yếu

tố chính tác động: Sự chấp nhận, thái độ và nhận thức pháp luật (sự hiểu biết luật, đèn tín hiệu, bảng chỉ dẫn…)

1.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục đích đề tài

Mục đích chính của bài nghiên cứu là nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề

lý luận để làm rõ bản chất thực hiện pháp luật giao thông, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông… để đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên

1.3.2 Mục tiêu

Xác định và đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM

1.3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài cần có những nhiệm vụ sau:

• Phân tích, đánh giá tác động của từng yếu tố dựa trên phương pháp định lượng

và từ đó hiệu chỉnh lại mô hình phù hợp với thực tế

• Đưa ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên theo hướng thực tiễn và khả thi

Trang 19

1.4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.4.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng thực hiện pháp luật giao

thông của thanh niên tại TPHCM

1.4.1.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong địa bàn TPHCM

Trong đó nhóm tác giả quan tâm đến các địa bàn có tình hình trật tự giao thông phức tạp nhự quận 1, 3, 4, 7, 10, Thủ Đức, Tân Bình, Gò Vấp6

Về thời gian:

Thời gian nghiên cứu của đề tài bắt đầu từ tháng 06 năm 2014 đến tháng 04 năm

2015 Trong đó:

• Thời gian nghiên cứu tài liệu tham khảo từ tháng 06 đến tháng 07 năm 2014

• Thời gian tiến hành khảo sát định tính và định lượng từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014

• Thời gian còn lại dành cho nghiên cứu và viết báo cáo

1.4.2 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát (Khách thể nghiên cứu) là các thanh niên tham gia GTĐB tại TPHCM có độ tuổi từ 17 đến dưới 30 tuổi7 Cụ thể gồm 2 nhóm thanh niên:

Nhóm thứ nhất: Những thanh niên đang học tập, làm việc, sinh ra và lớn lên tại

TPHCM

Nhóm thứ hai: Những thanh niên đang học tập, làm việc tại TPHCM nhưng sinh

ra và lớn lên tại các tỉnh khác

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu (Nguồn dữ liệu)

Đề tài được nhóm tác giảthu thập từ hai nguồn: thứ cấp và sơ cấp (Điều tra trực tiếp với bảng câu hỏi được nhóm tác giả thiết kế)

1.5.2 Phương pháp thực hiện

Đề tài tập trung vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông8 và được thực hiện thông qua hai bước: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

Trang 20

Nghiên cứu sơ bộ: được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính (bằng

kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung) và nghiên cứu định lượng Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh, bổ sung các thang đo thành phần ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các thanh niên tại TPHCM thông qua bảng câu hỏi chi tiết Thông tin từ nghiên cứu định lượng sơ bộ nhằm sàng lọc các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm thành phần ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật giao thông Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu định lượng sơ bộ bao gồm: Phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua công cụ chính là phần mềm SPSS

Nghiên cứu chính thức: Được thực hiện thông qua phương pháp định lượng, dùng

kỹ thuật thu thập thông tin bằng phỏng vấn trực tiếp 450 thanh niên có độ tuổi từ 17 đến dưới 30 tại TPHCM Nghiên cứu sử dụng thống kê suy diễn phân tích kết quả thu thập từ mẫu Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này đầu tiên sẽ sàng lọc các biến quan sát không đạt chất lượng (biến rác) sử dụng hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua công cụ là phần mềm SPSS Sau

đó đánh giá độ tin cậy của thang đo các thành phần ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật giao thông bằng hệ số tin cậy tổng hợp (c), tổng phương sai trích được (vc), kiểm tra tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và giá trị liên hệ lý thuyết bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA Kế đến, nhóm tác giả kiểm định mô hình nghiên cứu lý thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và cuối cùng mô hình lý thuyết với biến kiểm soát được kiểm định bằng phương pháp phân tích cấu trúc đa nhóm thông qua công cụ thứ hai là phần mềm AMOS

1.6 Ý nghĩa của đề tài

1.6.2 Về mặt thực tiễn

8 Đây là nghiên cứu hàn lầm lặp lại (Loại III) với mô hình nghiên cứu đã được xây dựng trên cơ sở lý thuyết đã có sẵn trước

đó nhưng được bổ sung cho phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Trang 21

Một là, kết quả của bài nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà luật học, nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật, Ủy Ban An Toàn Giao Thông… có các quyết định, các cách nhìn mới để có thể đưa ra quyết định một cách chính xác và phù hợp hơn so với thực tế hiện nay

Hai là, kết quả của nghiên cứu này giúp cho các cơ quan về An toàn giao thông, các nhà nghiên cứu về giao thông… nắm bắt được những thành phần quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông Từ đó có thể thực hiện các dự án nghiên cứu và cách xây dựng các chương trình an toàn giao thông…

Ba là, bài nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp luận, mô hình nghiên cứu… cho các sinh viên và nhà nghiên cứu

1.7 Kết cấu của đề tài

Ngoài danh mục, các bảng biểu, các mô hình, sơ đồ, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo Bài nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

lẽ “Phải - trái, đúng – sai 9” theo hướng nhìn tư duy triết học hoặc hợp lẽ với cuộc sống Nếu có ý thức giao thông tốt, thanh niên sẽ có cách nhìn và xử lý những tình huống giao thông thực tế một cách có lý trí và điềmđạm.Chính vì vậy, việc nghiên cứu

và tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng mạnh mẽ đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM là điều rất cần thiết

9Michael Sandel, “Phải – trái, đúng – sai”, Nxb Trẻ Michael J Sandel là giáo sư ngành triết học chính trị tại Đại học Harvard

Trang 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

- -

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Khái niệm về thanh niên theo luật thanh niên

Theo điều 1 luật Thanh Niên 2005 (Luật số 53/2005/QH11) thì “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến dưới 30 tuổi”

Theo đó tại điều 3 luật Thanh niên 2005 thì thanh niên có quyền và nghĩa vụ sau:

• Thanh niên có các quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này

• Thanh niên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp đều được tôn trọng và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Ngoài ra trong chương II luật Thanh niên 2005 cũng đã cụ thể hóa quyền và nghĩa

vụ của thanh niên được quy định từ điều 9 đến điều 16 như sau: Quyền và nghĩa vụ

trong học tập (Điều 9), quyền và nghĩa vụ trong lao động (Điều 10), quyền và nghĩa vụ trong bảo vệ tổ quốc (Điều 11), Quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ tài nguyên, môi trường (Điều 12), Quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi, giải trí (Điều 13), Quyền

và nghĩa vụ của thanh niên trong bảo vệ sức khoẻ, hoạt động thể dục, thể thao (Điều

14 ), Quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong hôn nhân và gia đình (Điều 15), Quyền

và nghĩa vụ của thanh niên trong quản lý nhà nước và xã hội (Điều 16)

2.1.2 Tổng quan về pháp luật giao thông đường bộ

Năm 2001 Nhà Nước xây dựng và ban hành Luật GTĐB (Luật GTĐB) được Quốc Hội khóa X nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành và có hiệu lực kể

từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 Đến ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc Hội khóa XII nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua luật GTĐB gồm 8 chương với 89 điều

Bảng 2.1: Thống kê và so sánh luật GTĐB năm 2001 và 2008

Số chương: 9 chương 8 chương

Số điều: 77 điều 89 điều

Ngày hiệu lực: 01/01/2002 01/07/2009

(Nguồn: Nhóm tác giả thống kê)

Trang 23

So với luật năm 2001 thì luật GTĐB năm 2008 có nhiều thay đổi hơn, phù hợp với tình hình giao thông đã có nhiều biến đổi và diễn biến ngày càng phức tạp Quy định

rõ và bổ sung một số nguyên tắc trong hoạt động GTĐB cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh toàn diện hoạt động giao thông vận tải đường bộ

Một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTĐB hiện nay:

Về luật: Luật GTĐB 2008 (Luật số: 23/2008/QH12, ký ngày 23/11/2008)

 Tính rõ ràng và thống nhất trong pháp luật giao thông:

Pháp luật về GTĐB hiện nay đang được cải thiện bằng mọi mặt dựa trên tình hình thực tế Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, dù là pháp luật về hợp đồng, lao động, thương mại… thậm chí là về giao thông thì cần phải thỏa các tiêu chí sau:

Phải hiểu được và giải thích được

Phải rõ ràng và thống nhất Tại sao?

Không được trái với thực tiễn và phải phù hợp với thực tế10

Không được trái với thông lệ quốc tế

Nội dung phải đầy đủ dựa trên ý chí và lợi ích chung của nhân dân

Điều mọi người cũng như nhóm tác giả quan tâm hiện nay thì tại sao pháp luật về

giao thông lại phải được rõ ràng và thống nhất?

Từ thực tiễn, nhóm tác giả cho rằng: pháp luật cho dù ở lĩnh vực nào (hợp đồng, thương mại, dân sự, lao động, giao thông…) cũng cần phải được rõ ràng và thống nhất Nhưng trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả chỉ quan tâm đến pháp luật về GTĐB, vì thế pháp luật GTĐB cần phải rõ ràng và thống nhất bởi các lý do sau:

Thứ nhất, pháp luật càng rõ ràng và thống nhất thì “chi phí giao dịch” càng giảm.11

10Trong bối cảnh tình hình giao thông trở nên phức tạp và từng ngày thay đổi như hiện nay, xen vào sự thường xuyên thay đổi của xã hội, cả về biên độ lẫn chu kỳ thì pháp luật giao thông cũng cần phải “lăn bánh” theo nhịp vòng quay của xã hội Nếu pháp luật giao thông không có sự thay đổi, vẫn giữ tính cứng nhắc thì sẽ không còn phù hợp, bởi lẽ không tạo được sự

ổn định trong lưu thông mà còn ảnh hưởng đến trật tự của xã hội, ảnh hưởng đến kinh tế… thậm chí trong nhiều trường hợp

sẽ phá vỡ trật tự tốt đẹp của xã hội Nhóm tác giả cho rằng, trong tình hình hiện nay, muốn có sự ổn định và vận hành một cách có trật tự trong giao thông thì pháp luật về GTĐB cần phải có sự thay đổi theo tình hình thực tế, cần mềm dẻo, uyển chuyển hơn

phí Ví dụ: trong lĩnh vực giao thông, công ty thuê tài xế chở hàng, chi phí giao dịch thể hiện dưới dạng tiền lương, tiền

Trang 24

Thứ hai, pháp luật GTĐB càng rõ ràng và thống nhất thì các chủ thể tham gia giao

thông càng hạn chế rủi ro Nếu kém rõ ràng và thống nhất các chủ thể không lường trước được những rủi ro khi tham gia giao thông

Thứ ba, pháp luật GTĐB nói riêng và pháp luật khác nói chung càng rõ ràng thì sẽ

hợp với công lý.12

Nhận thức pháp luật thuộc về hệ tư tưởng pháp luật, trong khoa học pháp lý cho rằng nhận thức pháp luật là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật

Pháp luật giao thông chỉ có ý nghĩa đích thực khi được thực hiện, các quy định của pháp luật trở thành những hành vi thực tế của các chủ thể Do đó xây dựng pháp luật giao thông và thực hiện pháp luật giao thông là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ vớinhau, là hai giai đoạn của một quá trình từ khi mô hình hóa hành vi thành quy tắc,

từ quy tắc thành hành vi thực tế

2.1.3 Thực hiện pháp luật giao thông

Thực hiện pháp luật là hoạt động của các chủ thể pháp luật làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”13 Trong đó, Thực hiện pháp luật giao thông là một bộ phận của thực hiện pháp luật nói chung Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý chia ra thành những hình thức thực hiện pháp luật sau:

• Tuân thủ pháp luật

• Thi hành (chấp hành) pháp luật

• Sử dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật Chủ thể là cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền

Như vậy, dựa vào lý thuyết đã học, thì thực hiện pháp luật giao thông là hành vi hợp pháp14 của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ về giao thông được các quy định của pháp luật giao thông điều chỉnh

xăng xe, tiền lưu thông, tiền bảo hiểm… Tuy nhiên, có những thời kỳ không phải mất chi phí giao dịch (Chế độ cộng sản nguyên thủy) Để hiểu rõ hơn tại sao pháp luật càng rõ ràng và thống nhất thì chi phí giao dịch giảm thì nhóm tác giả có thể

so sánh như sau: Trong tự nhiên, mọi chuyển động phải chịu sự ma sát, vì thế các nhà vật lý phải tìm mọi cách để giảm thiểu sự ma sát (ví dụ như bôi trơn…) Vì vậy theo nhóm tác giả, pháp luật GTĐB cần phải được rõ ràng và thống nhất

Theo Kenneth Arrow: “các chi phí giao dịch là các chi phí vận hành hệ thống kinh tế”, nhưng nhóm tác giả chỉ xét về luật

giao thông và thực tiễn, thì chi phí giao dịch là mọi chi phí nhằm vào sự hoạt động giao thông của chủ thể tham gia giao thông

12Theo Eleanor Roosevelt: “Công lý không phải chỉ dành cho một phía, mà nó dành cho cả hai phía” Như vậy, trong pháp

luật về GTĐB và pháp luật ở các lĩnh vực khác nói chung thì cần phải rõ ràng và thống nhất Bởi khi xảy ra tranh chấp trong GTĐB, tai nạn… nếu pháp luật về giao thông không rõ ràng và thống nhất sẽ dễ dẫn đến tiêu cực, khi đó không tồn

tại công lý, bất công sẽ xảy ra Mà “tôi cho rằng nghĩa vụ đầu tiên của xã hội phải là công lý” (Alexander Hamilton).

13Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu, Lý luận Nhà Nước và pháp luật, Nxb Giao Thông Vận Tải.

Trang 25

Bảng 2.2: Các hình thức thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh niên

Nội dung

Là một hình thức thực hiện pháp luật giao thông, trong đó các chủ thể kiềm chế không thực hành những hoạt động mà pháp

luật ngăn cấm

Là hình thức thực hiện pháp luật giao thông, trong đó các chủ thể khi tham gia giao thông phải thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực

Các chủ thể khi tham gia giao thông được thực hiện những hành

vi cho phép theo quy định của pháp luật về giao thông

Còn theoBen Bradford (2014) thì Thực hiện pháp luật giao thông là hành vi thực

tế khi tham gia giao thông buộc mọi người tuân thủ và chấp hành luật giao thông

Thực tiễn cho thấy trong pháp luật giao thông đường bộ, ranh giới giữa Tuân Thủ, chấp hành hay sử dụng gần như giống nhau Vì vậy, trong các công tác tuyên truyền pháp luật giao thông thường chỉ nhắc đến các cụm từ “tuân thủ giao thông” hay “chấp hành tốt luật giao thông”… Còn trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả muốn khái quát rõ hơn theo phương diện khoa học pháp lý nên dùng thuật ngữ “thực hiện pháp luật giao thông”

Trong một số nghiên cứu của nhóm tác giả Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhillvà Paul Quinton (2014), hay Hough, Jackson, Bradford (2013)

mà nhóm tác giả sử dụng làm cơ sở lý thuyết thì “tuân thủ pháp luật giao thông” còn được hiểu bao hàm cả “chấp hành pháp luật giao thông” Hay có thể nói rằng “tuân

thủ ”, “chấp hành” hay “sử dụng” trong luật giao thông mang ý nghĩa tương tự nhau

Nhóm tác giả sử dụng thuật ngữ “thực hiện pháp luật giao thông” sẽ mang được

mức độ khái quát và phù hợp với khoa học pháp lý hơn15

Dựa vào khoa học pháp lý và những khái niệm liệt kê trên thì nhóm tác giả cho rằng thực hiện pháp luật giao thông đối với người dân nói chung và thanh niên nói

14Hành vi hợp pháp trong lĩnh vực giao thông là hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật giao thông, cũng có thể hiểu

là hành vi làm đúng theo những gì pháp luật giao thông quy định

15 Để hiểu rõ hơn nhóm tác giả lấy ví dụ như sau: A đi xe gắn máy, A dừng lại khi đèn tín hiệu chuyển sang màu đỏ Hành vi dừng lại của A có thể hiểu là tuân thủ vì đã không hành động bằng hành vi vượt đèn đỏ hay có thể hiểu là chấp hành vì đã hành động bằng cách dừng lại khi đèn tín hiệu chuyển sang màu đỏ

Trang 26

riênggồm 3 hình thức sau: Tuân thủ pháp luật giao thông, chấp hành pháp luật giao thông và sử dụng pháp luật giao thông.16

2.2 Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu

2.2.1 Thuyết công bằng thủ tục (Procedural Justice)

Các chính sách hìnhphạt và hình sự luôn phản ánh sự đối lập giữa những mô hình kiểm soát hành vi viphạmđơn giản và phức tạp Các yếu tố chính của những mô hình kiểm soát hành vi vi phạm đơn giản:

- Con người luôn đánh giá các lợi ích mà hành vi vi phạm mang lại để đưa ra quyết định có thực hiện hành vi đó hay không

- Sự ngăn chặn các mối đe dọa là công cụ chính của công lý hình sự

- Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi: Số lượng người vi phạm và tỉ lệ phạm tội phụ thuộc chủ yếu vào khả năng bị xử phạt Khả năng đó có thể thay đổi dựa trên sự chắc chắn, sự nghiêm trọng và sự nhanh chóng của hành vi vi phạm

- (Vì vậy) Việc tăng hình phạt và mở rộng phạm vi thi hành án được xem là những hình thứcđáp lại sự vi phạm

- Quyền của người vi phạm được xem là một hạn chếcủa mô hình này

Những mô hình tinh tế hơn về việc kiểm soát hành vi vi phạm cho rằng công lý hình

sự chính quy chỉ là một trong nhiều hệ thống quản lý xã hội mà phần lớn chúng đều có một hệ thống tiêu chuẩn dày đặc Ngành tội phạm học đã không tập trung nhiều vào câu hỏi tại sao con người tuân theo luật, mà nó lại tập trung quá nhiều vào tại sao con người vi phạm luật (cf Bottoms, 2002) Việc mất cân đối này rất đáng đượcchú ý vì những câu hỏi về lý do vi phạm luật thường có câu trả lời rơi vào khuôn khổ của mô hình kiểm soát tội phạm đơn giản Những câu trả lời đó đều dựa trên việc tính toán lợi

ích cá nhân của người thực hiện hành vi, hay nói cách khác là dựa trên việc tuân thủ có điều kiện (Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhill và Paul

Quinton, 2014)

Ngược lại, các câu hỏi về việc tuân thủ cho ra những câu trả lời thừa nhận sự giao thoa giữa các hệ thống quản lý xã hội chính quy và phi chính quy, cụ thểlà các hệ

16 Nhóm tác giả cho rằng thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh thiếu niên chỉ bao gồm 3 hình thức, bởi lẽ hình thức áp

dụng pháp luật thì chủ thể không phải là các thanh niên, chủ thể do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền Tình huống rơi vào chủ thể là thanh niên đang theo học ở hình thức áp dụng pháp luật là rất ít, đồng thời áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính giai cấp chính trị, mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực của Nhà Nước Chính vì vậy nhóm tác giả cho rằng thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh niên chỉ gồm 3 hình thức chủ yếu.

Trang 27

thống tiêu chuẩn trong định hướng của con người trước pháp luật Việc tuân thủ luật theo quy chuẩn xảy ra khi con người cảm thấy có sự ràng buộc về đạo đức hoặc tinh thần trong việc làm đó (Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhill

và Paul Quinton, 2014)

Đối với việc tuân thủ cơ quan có thẩm quyền của người dân, lý thuyết về công bằng quy tắc đưa ra các mối quan hệ giữa các yếu tố sau:

- Cách xử lý mà người dân nhận được từ cảnh sát và cơ quan công lý

- Lòng tin mà người dân có được từ cơ quan công lý

- Tính chính danh mà người dân ban cho cơ quan công lý, như là kết quả của sự tin tưởng đó

- Quyền mà cơ quan này có khi được coi là có tính chính danh

- Sự chuẩn bị của người dân khi tuân theo cảnh sát, tuân thủ luật và hợp tác với công lý

Tính chính danh là khái niệm trung tâm trong lý thuyết về công bằng thủ tục và có hai cách dùng cho thuật ngữ này Các triết gia chính trị thường cho rằng hệ thống chính trị có được từ việc mọi người cùng đồng ý nhiều tiêu chí khách quan một cách chính danh Ví dụ: đối với hệ thống bầu cử dân chủ, có sự tham gia của người cầm quyền, sự chi phối các nguyên tắc trong luật và không có sự tham nhũng thì các chuyên gia có thể phán xét rằng hệ thống công lý của Zimbabwe thiếu tính chính danh

vì nó thiếu tính trách nhiệm cộng đồng trên mọi phương diện Việc đánh giá này bao gồm việc phán xét chủ quan về bản chất của cái tốt cho xã hội (Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhill và Paul Quinton, 2014)

Nhưng ta vẫn có những câu hỏi về tính chính danh của hệ thống công lý hình sự trong mắt cộng đồng – liệu những người giám sát có thấy sự chính danh của cảnh sát Những câu hỏi này ở dạng mở và được trả lời dựa trên thực nghiệm Không xét đến việc hệ thống công lý đó có đạt được bất kì yếu tố khách quan nào được cho trên hay không, chúng ta nên tập trung vào nghiên cứu nó thông qua khảo sát và phương pháp định lượng để có thể có cái nhìn sâu hơn về thái độ, giá trị, hành vi và niềm tin của cộng đồng (Mike Hough, Jonathan Jackson, 2012)

Người giám sát có thể nhận thức được tính chính danh khi họ coi quyền hành là một thứ họ xứng đáng nhận được và nó bắt buộc họ phải tuân theo Nếu con người tự nguyện tuân theo hệ thống quyền hành mà nó kiểm soát tính chính danh thì những câu

Trang 28

hỏi về người điều khiển tính chính danh sẽ trở thành mối quan tâm trong chính trị Việcmột hệ thống quản lýkhông đạt được những tiêu chí của tính hợp pháp mà đã được các triết gia chấp nhận, lại có thể kiểm soát việc nhận thức tính chính danh ở mức độ cao bởi những người cầm quyền là điều có thể xảy ra.Ví dụ có thể được tìm thấy ở rất nhiều ở những chế độ chuyên chế và các nhà cách mạng chính trị ở thời xa xưa

Thuyết công bằng thủ tục hay công lý tố tụng (Procedural Justice) dựa trên tính chính danh và động lực quy phạm Theo mô hình công bằng thủ tục và tuân thủ (Tyler, 2008), bản chất của thể chế có thể ảnh hưởng đến đạo đức Khi người ta tin rằng đạo đức đơn giản chỉ là tuân theo pháp luật, mà pháp luật bản chất buộc mọi cá nhân phải thực hiện hành vi thích hợp, phù hợp với pháp luật quy định Từ tính chất bắt buộc này, họ sẽ nhận ra hành động cụ thể của mình là bất hợp pháp hay vô đạo đức Tin tưởng rằng nó là điều phải làm để tôn trọng các quy tắc pháp lý, nó như định hướng vào trong các thói quen của cuộc sống hàng ngày mà không cần phải suy nghĩ về đạo đức của những hành động cụ thể (Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhill và Paul Quinton, 2014)

Mô hình công bằng thủ tục tập trung vào quy chuẩn cơ bản của người dân trước pháp luật, công nhận sự tương tác giữa các hệ thống chính thức và không chính thức

có sự ảnh hưởng kiểm soát xã hội Tuân thủ pháp luật xảy ra khi mọi người cảm thấy mình có nghĩa vụ phải thực hiện cam kết về đạo đức Nếu cá nhân sẵn sàng nghe theonhà chức trách và coi đó là hợp pháp hay bản chất về tính hợp pháp của những người có trách nhiệm thực thi pháp luật (như cảnh sát) Những người có trách nhiệm thực thi pháp luật “điều khiển” tính chính danh của cơ chế trở nên có tầm quan trọng xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, các hành động này được cá nhân coi là hành động của chính quyền khi nhận thức được tầm quan trọng của tính chính danh (Mike Hough, Jonathan Jackson, Ben Bradford, Andy Myhill và Paul Quinton, 2014)

Một số nghiên cứu hỗ trợ thuyết công bằng thủ tục như nghiên cứu: “There is a

growing body of – largely North American” (cf Tyler và Huo, 2002; Tyler, 2003; Tyler, 2007) Tyler cho rằng việc tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực kinh tế có hiệu quả

và ổn định hơn theo thời gian Trên cơ sở khảo sát sự khác nhau của công chúng, Tyler

đã chứng minh rằng nhận thức của công chúng về sự công bằng của hệ thống tư pháp

ở Hoa Kỳ là rất quan trọng trong việc định hình tính chính danh của nó so với nhận

Trang 29

thức rằng nó có hiệu quả Một khác biệt quan trọng ở đây là giữa một ý thức công lý dựa trên quá trình và một dựa trên kết quả Những phát hiện của Tyler cho rằng công bằngtheo thủ tục (Procedural Justice) - đó là, đối xử công bằng và sau đó là tôn trọng các quy tắc - quan trọng hơn với người dân là có được kết quả đó phải thể hiện sự công bằngvà sự thuận lợi cho người dân Nói cách khác, trong cuộc làm việc với cảnh sát thì chất lượng xử lý là quan trọng hơn kết quả khách quan

Trọng tâm chính của Tyler nói về sự tương tác giữa các quan chức và người dân, giữa những hành vi tốt và tiêu cực của các quan chức ảnh hưởng đến tính chính danh

về thể chế Như Beetham (1991) đã lập luận, mọi người tuân thủ pháp luật không phải chỉ vì tính chính danh của người thực thi pháp luật mà còn là vì họ coi những người có trách nhiệm thực thi pháp luật là đại diện cho pháp luật được thực thi một cách công bằng và phù hợp với đạo đức (Hình 2.1) Hợp pháp chế không chỉ đơn giản là từ các yếu tố như sự công bằng về thủ tục của nó, nhưng cũng dựa vào nhận thức chung rằng làm theo những gì cảnh sát nói như là nghĩa vụ đạo đức của công dân (Tyler, T, R., 2007)

Hình 2.1: Mô hình thuyết công bằng thủ tục giữa nghĩa vụ tuân thủ và đạo đức

(Nguồn: Tyler, T, R 2007)

Không phải tính chính danh của cảnh sát là yếu tố duy nhất khiến người dân phải tuân theo mà phải được sự đồng ý và công nhận tính chính danh đó Thay vào đó, cảnh sát phải thể hiện “uy quyền đạo đức”, thể hiện một tinh thần chia sẻ Phải Trái – Đúng Sai17 (Không phải đòi hỏi họ có đạo đức hoặc để chứng minh tính ưu việt về đạo đức, nhưng nó đòi hỏi phải có trật tự thủ tục nhằm tối đa hóa sự đồng ý của người dân) Theo Beetham, ý nghĩa của sự liên kết về đạo đức này là trung tâm – một thành phần

17Nguyên bản của Mike Hough chỉ viết “right and wrong” (đúng và sai) Nhóm tác giả mở rộng diễn dịch thành Phải Trái – Đúng Sai nhằm thể hiện mức độ tổng quát cao hơn

Trang 30

cần thiết của chính quyền chính danh trong mắt dân chúng Nói rộng ra, theo mô hình công bằng thủ tục theo nghĩa của một lãnh đạo thì phải chia sẻ được cho người dân thông qua chất lượng các cảnh sát thể hiện qua các hành vi của họ trong tương tác cụ thể, và đặc biệt là thông qua sự công bằng về thủ tục của họ

Hình 2.2: Mô hình thuyết Công bằng thủ tục theo Sunshine & Tyler

(Nguồn: Sunshine & Tyler, 2003)

Theo mô hình “process-based policing” của Tyler (Sunshine & Tyler, 2003), tính chính danh sau đó phải phù hợp với luật pháp đầu tiên trong xã hội (và hệ thống tư pháp của nó) và có quyền ra lệnh cách thích hợp để hành xử: mặc dù chúng ta có thể không đồng ý với một số ý của các luật này, nhưng chúng ta phải làm theo họ vì chúng

ta nghĩ rằng việc tuân thủcác cơ quan ban hànhluậtlà điều phải làm Và thứ hai, nếu cá nhân nhìn thấy cảnh sát là thiếu 'chất xơ đạo đức' - quan trọng nhất của hành xử theo cách rõ ràng là không công bằng - thì có thể làm cho công chúng hoài nghi về pháp luật Theo Sampson &Bartusch (1998: 786), hoài nghi hợp pháp là ý thức, rằng

‘ pháp luật hoặc quy định không được coi là ‘ràng buộc trong những tồn tại, cuộc sống hiện tại của người trả lời’, và ‘ phê chuẩn của hành động theo những cách thuộc

“bên ngoài” của pháp luật và chuẩn mực xã hội’

Cảnh sát là trung gian dễ thấy nhất của kiểm soát xã hội và các tổ chức cao cấp nhất trong một hệ thống tư pháp được trao quyền để xác định hành vi đúng và sai Nếu cảnh sát lạm dụng quyền hạn của mình và vận dụng quyền hạn của mình theo những cách không công bằng; điều này có thể không chỉ làm hỏng cảm giác của người dân về nghĩa vụ phải tuân theo chỉ thị của họ (‘quyền hạn của mình’ theo nghĩa thông thường của từ này) mà nó còn có thể làm hỏng nhận thức của công chúng về quyền đạo đức của họ Từ đó, quyền đạo đức của pháp luật sẽ ra lệnh xử lýthích hợp Nói cách khác, nếu cảnh sát được nhìn thấy trong các hoạt động bên ngoài của chuẩn mực xã hội - mà

Trang 31

ra lệnh rằng các cơ quan này nên đối xử với những người mà họ phục vụ công bằng và nhân phẩm - thì điều này tạo ra một sự hoài nghi mạnh mẽ: “Liệu rằng cảnh sát có thể tùy nhiên hành xử chỉ để mang tính hình thức đối kháng”

Hình 2.3: Mô hình thuyết công bằng thủ tục trong việc tuân thủ pháp luật

(Nguồn: Jonathan Jackson)

Hình 2.3 tóm tắt các kết quả đầu tiên của nghiên cứu được sử dụng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính Tính chính danh của cảnh sát (Police Legitimacy) ở đây được đại diện bởi một cấu trúc biến tiềm ẩn duy nhất được đo bằng một loạt các câu hỏi về

nghĩa vụ phải tuân theo (ví dụ như đồng ý/ không đồng ý: "Bạn nên làm và ủng hộ

những gì cảnh sát nói với bạn, thậm chí nếu bạn không đồng ý") và một loạt các câu

hỏi về đạo đức liên kết (ví dụ như đồng ý/ không đồng ý: "Bạn chấp hành hiệu lệnh

CSGT như một nghĩa vụ đạo đức”) Trong khi tin tưởng vào tính hiệu quả của cảnh sát bằng nhận thức riêng của mình hay những nguy cơ, rủi ro về việc bị bắt thì kết quả nghiên cứu cho rằng các rủi ro nhận thức xử phạt không phải là yếu tố quan trọng trong việc dự đoán hành vi của người vi phạm Các dữ liệu của NPIA (The National Policing Improvement Agency - Cảnh sát quốc gia Anh) không cung cấp được những kết quả đem lại sự mong muốn đối với mô hình này mà cho rằng ít nhất là trong giới hạn của dữ liệu khảo sát và mô hình chỉ dừng lại ở báo cáo quan điểm, niềm tin, tính toán và hành vi của người vi phạm (Kết quả trùng với nghiên cứu của Pratt et al., 2006) Kết quả cho thấy rằng sự răn đe không phải là con đường hiệu quả để đảm bảo

sự tuân thủ

Hạn chế: Hạn chế thuyết công bằng thủ tục trong các nghiên cứu trên là chưa xác

định được mối tương quan giữa ý định và hành vi thực tế, trong khi thực tế nhiều nghiên cứu lại không đề cập đến ý định bên trong (Lyn Exum&Bouffard, 2010)

Trang 32

2.2.2 Nghiên cứu thuyết công bằng thủ tục tại Anh

Cơ quan cảnh sát quốc gia Anh - NPIA (The National Policing Improvement Agency) gần đây đã đưa ra câu hỏi về lòng tin của công chúng và tính chính danh của cảnh sát trong một nghiên cứu bao gồm các đại diện mẫu tại Anh và xứ Wales Cuộc khảo sát cho phép kiểm tra các mối liên hệ tồn tại giữa lòng tin của công chúng với tính chính danh của cảnh sát, các biện pháp về nhận thức tính chính danh và sự tuân thủ và chấp hành pháp luật của người dân, cũng như hợp tác với cảnh sát Ở hình 2.4 cho thấy những kết quả mang tính chất mới được nghiên cứu

Đầu tiên chúng ta xem xét sự khác biệt giữa thực hiện và quy định Các tuyến đường là nơi thể hiện sự thực hiện pháp luật bởi vì cảnh sát có thể xử phạt mạnh mẽ và các hình thức xử phạt được áp dụng Ngược lại một số tuyến đường không có sự hiện diện của cảnh sát thì người dân không sợ bị xử phạt nhưng họ vẫn tuân thủ vì họ cảm thấy đây là việc phải làm Dữ liệu của NPIA cho thấy: trong khi tin tưởng vào tính chính danh của cảnh sát là một yếu tố quan trọng của người dân về nguy cơ xử phạt Đồng thời các dữ liệu của NPIA đưa ra không cung cấp bất kỳ hỗ trợ nào trong việc ngăn chặn dựa trên những kiếm soát người vi phạm Điều này cho thấy sự răn đe không phải là lối đi nhanh nhất nhằm đảm bảo sự tuân thủ

Thứ hai, sự tin tưởng vào cảnh sát là một yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ vào sự nhận thức tính chính danh của cảnh sát Kết quả cho thấy cảm giác tin tưởng sự công bằng thủ tục của các cơ quan công quyền ăn sâu vào trong con người (và chia sẻ với mọi người xung quanh) Khi cảnh sát cung cấp cho người dân về những thông tin thích hợp (thông qua công bằng thủ tục), họ sẽ cảm thấy có ý thức hơn trong nghĩa vụ phải tuân theo cảnh sát và nhiều khả năng cảm thấy phù hợp với khuôn khổ đạo đức và luân lý

mà họ cho rằng cảnh sát thể hiện được Vì thế, người dân sẽ dễ dàng cảm nhận được tính chính danh của cảnh sát hơn

Thứ ba, tính chính danh của cảnh sát là một trong các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến thực hiện pháp luật, thậm chí quan điểm đạo đức cá nhân cũng không thay đổi Quan trọng hơn, hiệu quả thống kê này được trung chuyển qua sự hoài nghi của pháp luật Những cách thức trong đó có việc sử dụng quyền lực của cảnh sát nằm trong một phần tạo ra nhận thức tính chính danh của cảnh sát và nếu công chúng được đối xử một cách công bằng, tính chính danh sẽ được nâng lên và sự hoài nghi về tính pháp lý

Trang 33

sẽ giảm Điều này sau đó xem luật như một chuẩn mực mà mọi cá nhân đều phải bắt buộc

Hình 2.4: Mô hình thuyết công bằng thủ tục đối với cảnh sát tại Anh và xứ Wales

(Nguồn: Procedural Justice, Trust and Institutional Legitimacy)

Cuối cùng, yếu tố hoài nghi pháp lý, cảm nhận tính chính danh của cảnh sát và đạo đức chủ thể cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hợp tác với cảnh sát Sự hợp tác này là quan trọng với cảnh sát là kết quả của tính chính danh, được hiểu như là nghĩa vụ nhận thức phải thực hiện pháp luật và cảnh sát Hành vi hợp tác này có thể thể hiện qua sự củng cố các mối quan hệ giữa cảnh sát với công chúng và thúc đẩy quan điểm cho rằng giải quyết hành vi vi phạm pháp luật dựa trên sự hợp tác chứ không phải chỉ về cung cách ứng xử

Hạn chế: Cũng như hạn chế của các nghiên cứu khác, mô hình nghiên cứu thuyết

công bằng thủ tục tại Anh có dữ liệu điều tra thấp Ngoài ra đo lường thái độ và ý định chứ không phải hành vi Cá nhân với xã hội thường được cộng đồng hướng về niềm tin

và hành động của họ, với xu hướng tin vào sự phát triển và gắn kết của xã hội (Paterson, 2002) Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy mức độ gắn kết là khác nhau và phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi và trình độ học vấn, khu vực… Mối quan tâm tại đây là

có tiếp tục thử nghiệm trên một mẫu ít sai lệch không, trong khi bối cảnh tại đó có mức độ gắn kết xã hội tổng thể cao (Paterson, 2002)

2.2.3 Mô hình thuyết công bằng thủ tục trong giao thông của Ben Bradford và cộng sự

Tính chính danh của cảnh sát tồn tại trong con mắt người dân khi họ tin rằng chính quyền có những hành vi thích hợp và cảm thấy rằng có nhiệm vụ tuân thủ kèm theo

Trang 34

đó Tính chính danh theo nghĩa cụ thể còn hiểu là công dân đến các cơ quan công quyền như là một phản ứng tuyên bố rằng quyền lực là chính đáng và được cơ quan chức năng thực hiện, nơi mà quyền lực tồn tại trong con mắt người dân khi họ tin rằng

cơ quan chức năng có những hành vi, cách cư xử mang tính hợp lý và phù hợp với các giá trị đạo đức (Hough, Jackson, Bradford & 2013; Jackson et al, 2011)

Trung tâm của thuyết công bằng thủ tục là một liên kết tâm lý giữa các cách thức

mà người thực thi pháp luật họ vận dụng quyền hành cụ thể của mình để đối xử với cấp dưới và người dân (Sunshine & Tyler, 2003; Tyler, 2006; Tyler &Huo, 2002) Nhiều nghiên cứu đã cho thấy công bằng thủ tục tạo ra tính chính danh Đặc biệt quan trọng rằng, ý tưởng thực hiện thẩm quyền thông qua việc áp dụng các quy trình mang tính công bằng sẽ giúp tạo ra sự gắn kết mối quan hệ giữa chính quyền với người dân.Côngbằng thủ tục không khuyến khích chỉ là niềm tin rằng các tổ chức có "công bằng và hợp lệ của cơ quan pháp luật" (Papachristos, Meares, & Fagan, 2012, p 417), nhưng cũng xác định với các nhóm quyền đại diện (Xem hình 2.5)

Hình 2.5: Mô hình giả thuyết thực hiệnpháp luật giao thông của Ben Bradford

(Nguồn: Ben Bradford, 2014)

Theo thuyết công bằng thủ tục, khi người có trách nhiệm thực thi pháp luật xử công bằng và tôn trọng mọi người sẽ khuyến khích mọi người có cảm giác mình là người làm chủ đại diện như nhau trên phương diện giữa công dân với công dân Làm được như vậy sẽ tác động đến hành vi của người dân và các tổ chức xã hội, là động lực giúp mọi người hành động theo xu hướng đáp ứng các yêu cầu của vai trò cụ thể và rút ra được những giá trị từ hành vi đó(Tajfel& Turner, 1979) Phù hợp với sự mong đợi là vai trò xã hội cho phép mọi người thiết lập và duy trì mối quan hệ tự xác định cho mình, người khác và tổ chức xã hội (Kelman, 1958, p 53) Một khi quá trình như vậy

Trang 35

được tiến hành, thì tuân thủ các chuẩn mực và giá trị gắn liền với mối quan hệ đối ứng trong các tổ chức xã hội sẽ trở nên quan trọng đối với mọi người không phải chỉ vì họ đồng ý với các chuẩn mực và giá trị tiếp thu mà họ cảm thấy họ hành động như vậy là bản chất đáng phải làm, mà còn vì họ đạt được giá trịtừ mối quan hệ tự xác định với mọi người khác trong tổ chức và trong chính tổ chức đó (Tyler &Blader, 2000) Tính chính danh của chính quyền là một phần chuẩn mực xã hội mà các thành viên trong tổ chức phải thúc đẩy và tuân thủ (Horne, 2009).Nghiên cứu hỗ trợ các ý tưởng rằng nhận thức về tính chính danh của các tổ chức công lý đóng một vai trò trong việc tuân thủ các quy định của quy phạm pháp luật Một sự đồng ý về quyền tínhchính danh (một ý thức nghĩa vụ phải tuân theo) được đặt nền tảng trong tính chính danh, hợp lệ

về đạo đức (Hough et al, 2013; Tyler, 2006) Khi người dân công nhận tính chính danh

vì họ tin rằng: Chính quyền có quyền quy định và thực thi các hành vi thích hợp, và họcảm thấy đây là nhiệm vụ mong đợi nhằm phù hợp với thực tế đang sống Tính chính danh còn dẫn đến việc tôn trọng các nguyên tắc pháp lý thể hiện qua hành vi từng người, những hành vi này có phù hợp với quy định pháp luật hay không

Có khoảng (ít nhất) hai trái ngược về vị trí của bản sắc xã hội trong lý thuyết công bằng thủ tục trong khi tiền đề của các ý tưởng là cơ bản giống nhau và do đó chúng không trực tiếp mâu thuẫn cũng như đứng riêng biệt với nhau Cả hai chiếm vị trí quan trọng trong Cảnh Sát (Sunshine & Tyler, 2003) và là biểu tượng mạnh mẽ của cộng đồng hay quốc gia (Bradford, Murphy& Jackson, 2014; Loader &Mulcahy, 2003)

Mô hình đầu tiên của giá trị công bằng thủ tục là mô hình cảnh sát liên bang Mỹ,

mô hình này tùy vào mức độ nhận biết của người dân với cảnh sát, sức mạnh của nhận thức ảnh hưởng đến tính chính danh của cảnh sát (de Cremer & Tyler, 2005) Bản sắc

xã hội là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu trước hết vì tác động đến tính chính danh của cảnh sát cũng như đạo đức xã hội, nó là mối liên kết tính chính danh đến sự thực hiện pháp luật (Antrobus et al., 2014)

Bên cạnh đó, một số mô hình coi bản sắc xã hội là yếu tố tích cực chi phối các thành phần khác trong mô hình (Blader& Tyler, 2009) Ở đây công bằng thủ tục dưới những người thực thi pháp luật có thể làm thay đổi bản sắc xã hội của người dân, vì vậy "giả định rằng các thủ tục ảnh hưởng đến tự xã hội của con người bằng việc định hình tự định nghĩa của họ" (de Cremer & Tyler, 2005, p 162)

Trang 36

Với các nghiên cứu gần đây về công lý theo thủ tục và bản sắc xã hội ở Luân Đôn (Bradford, 2014) được thúc đẩy cũng như cách tiếp cận cùng nguồn gốc và hình thành bản sắc trong bối cảnh rộng lớn hơn (ví dụ, Blackwood, Hopkins, &Reicher, 2013; Stott, Hoggett, & Pearson, 2012) Bradford giả định rằng tính chính danh của cảnh sát thông qua hiệu quả của cảnh sát Bradford tiến hành trên cơ sở tính công bằng thủ tục

có thể tăng cường xác định với các nhóm đại diện, kết quả cho thấy có thể thúc đẩy việc hợp thức hóa của cảnh sát Khi mọi người xác định mạnh mẽ hơn về hiệu quả của cảnh sát, họ sẽ nhận thức được sự chính danh của những người thực thi pháp luật (cảnh sát) (Bradford et al., 2014) Bradford mô tả ở trên ý tưởng rằng tính chính danh của cảnh sát có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật Do đó bản sắc xã hội có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ thông qua tính chính danh Sau Tyler (2009),Bradford cũng đề nghị là bản sắc xã hội có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện pháp luật Ngoài ra, khi hiệu quả của cảnh sát càng cao thì nguy cơ xử phạt cũng sẽ cao khi người dân vi phạm luật giao thông (Burke & Stets, 2009) Theo kết quả nghiên cứu củaBradford, hiệu quả làm việc của cảnh sát càng cao thì khả năng bị xử phạt giao thông cũng cao và điều này làm cho người dân sẽ tuân thủ và chấp hành pháp luật hơn

Hạn chế: Mô hình của Ben Bradfordkhông xác định ảnh hưởng của các yếu tố

thuộc về nhận thức pháp luật (hiểu biết về luật, các bảng chỉ đường…) Trên thực tế nhận thức pháp luật nếu đúng đắn thì thực hiện hành vi sẽ phù hợp với pháp luật hơn Theo khoa học pháp lý thì thực hiện pháp luật chịu sự chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật (bao gồm nhận thức pháp luật) Vì vậy, bổ sung thêm yếu tố thuộc về hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức pháp luật) sẽ phù hợp với thực tế hơn

2.2.4 Mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model)

Dựa trên nghiên cứu của Tiến sĩ triết học Ismael A Hoare (Đại học Nam Florida)

đã sử dụng mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model) dựa trên tiền đề hành vi vi phạm giao thông củathanh niên ảnh hưởng bởi Thái độ chấp nhận rủi ro, nhận thức rủi ro và nhận thức về pháp luật (hiểu biết về luật, hiểu biết về các bảng hiệu, đèn tín hiệu) Nghiên cứu nhắm vào giảm thiểu tai nạn xe cơ giới (Motor vehicle

crashes - MVCs) với đối tượng khảo sát từ 18 đến 24 tuổi TheoIsmael A Hoarehành

vi vi phạm là hành vi không phù hợp với luật giao thông (Ismael A Hoare, 2007)18

18 Như vậy hành vi vi phạm theo Ismael A Hoare bản chất là hành vi không thực hiện pháp luật giao thông (Trái với thực hiện pháp luật giao thông)

Trang 37

Hình 2.6: Mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model)

(Nguồn: Ismael A Hoare)

Ngoài sử dụng mô hình PAPM, Tiến sĩ triết học Ismael A Hoare còn nghiên cứu lý thuyết truyền thống về hành vi sức khỏe, các học thuyết về lý luận hành động, lý thuyết về hành vi Planned Niềm tin về sức khỏe và lý thuyết xã hội nhận thức đã được

sử dụng để giải quyết hành vi bằng cách khám phá các yếu tố khác nhau góp phần hình thành hành vi thực tế (DiClemente, Crosby, &Kegler, 2002; Glanz, Rimer, Lewis & 2002; Schwarzer, 1999; Weinstein, Rothman, & Sutton, 1998; Weinstein & Sandman, 2002) Một số lý thuyết tìm cách xác định các tác động ảnh hưởng đến hành vi(Weinstein, 1988; Weinstein & Sandman, 2002) Những lý thuyết này còn được sử dụng thành công để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, tuy nhiên trong nghiên cứu về hành vi giao thông thì rất có ít lý thuyết và mô hình được công nhận rộng rãi nhằm làm giảm ảnh hưởng từ MVCs (Noar and Zimmerman, 2005; Trifiletti, Gielen, Sleet, & Hopkins, 2005)

Lý thuyết mô hình PAPM đã được sử dụng trước đó để áp dụng và nghiên cứu về phòng chống rủi ro tai nạn cho các gia đình (Trifilletti, 2003) PAPM có thể cung cấp một cách tiếp cận mới đối về các hành vi, chẳng hạn như thông qua các hành vi an toàn trong giao thông công chánh (Blalock et al., 1996) (Weinstein & Sandman, 1992; Weinstein & Sandman, 2002) và thực hành an toàn (Trifilletti, 2003).PAPM đề xuất và sau đó được sửa đổi vào năm 2002 bởi Weinstein và Sandman (Glanz, Rimer, Lewis & 2002; Rutter&Quine, 2002; Weinstein & Sandman, 2002) là một lý thuyết mà giai đoạn đó có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề về MVCs Các PAPM phát sinh

từ (1988) phê phán của các lý thuyết của Weinstein nơi ông đề xuất lý thuyết Sự phát triển của PAPM đã được hỗ trợ bởi nghiên cứu Weinstein về khảo sát mức độ ảnh hưởng từ MVCs Mô hình đề xuất rằng các quyết định sau một quá trình bảy giai đoạn:

Trang 38

Nhận biết về vấn đề (giai đoạn 1), Tìm hiểu vấn đề (giai đoạn 2), Quyết định về hành động (giai đoạn 3), Quyết định không hành động (giai đoạn 4), Quyết định hành động (giai đoạn 5), Hành động (giai đoạn 6) và Bảo trì (giai đoạn 7) (Weinstein& Sandman, 1992; Weinstein & Sandman, 2002)

Chấp nhận rủi ro (Risk Perception): Khả năng chấp nhận rủi ro sẽ xảy ra đến khi thực hiện hành vi vi phạm giao thông của lái xe, được xác định qua nhận thức về lý tính (Cognition-based Perception), nhận thức dựa trên cảm xúc (Emotion-based Perception) và nhận thức dựa trên mối quan tâm (Concern-based Perception) (Ismael

A Hoare, 2007)

Thái độ rủi ro (Risk-taking Attitudes): Thái độ đối với rủi ro khi thực hiện hành vi

vi phạm như thế nào Nghiên cứu dựa vào thái độ của người trẻ (thanh niên) với các hành vi như: lái xe quá tốc độ, uống rượu bia, không quan tâm người đi đường… (Ismael A Hoare, 2007)

Nhận thức pháp luật (Legal Awareness): Sự hiểu biết về pháp luật bao gồm luật, đèn tín hiệu, biển báo giao thông… (Ismael A Hoare, 2007)

Hạn chế: Hạn chế mô tả sự yếu kém về phương pháp hoặc các yếu tố có khả năng

làm suy yếu tính hợp lệ hoặc giải thích các kết quả của nghiên cứu (Heppner & Heppner, 2004; Pyrczak& Bruce, 2000) Nghiên cứu này có một số hạn chế được mô

tả trong phần dưới đây

Một là việc tham gia vào nghiên cứu này là tự nguyện và dựa trên sự tự báo cáo từ những người tham gia Công cụ khảo sát thu thập dữ liệu về các vấn đề mà có thể nhạy cảm với thiên vị mong muốn xã hội Việc tự báo cáo có thể làm tăng khả năng xảy ra thiên vị, mong muốn xã hội đã được tìm thấy trong các nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi và phỏng vấn Những người tham gia trong nghiên cứu này đã được giới hạn để thanh thiếu niên từ 18 đến 24 tuổi, người đã được ghi danh tại Đại học Belize trong 2006-2007 năm học Các dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong một khoảng thời gian hai tháng tại Đại học Belize và cung cấp một bản chụp của kinh nghiệm của người tham gia Kinh nghiệm này có thể bị ảnh hưởng bởi MVCs gần đây đã nhận được công khai lớn trong giới truyền thông Belize Công khai cao này có thể cung cấp gia tăng sự tham gia vào việc hoàn thành các mục câu hỏi và kết quả là có thể ảnh hưởng đến phản ứng cung cấp (Ismael A Hoare, 2007)

Trang 39

Hai là các câu hỏi đã được kéo dài và sự tham gia là tự nguyện, số lượng người tham gia mà từ chối tham gia là không cao như dự đoán vớitỷ lệ từ 20 đến 50 phần trăm Dữ liệu nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, tình trạng học sinh không được thu thập từ người tham gia để hoàn tất cuộc điều tra.Vìthếkhông thực hiệnđượcviệc xác định sự khác biệt tồn tại giữa những người tham gia và những người không được Do

đó, kết luận rút ra từ kết quả có những hạn chế đến tính chất của dữ liệu tương quan (Ismael A Hoare, 2007)

2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Qua những mô hình nghiên cứu thuyết công bằng thủ tục như các nghiên cứu của Ben Bradford và cộng sự (2014),cf Tyler và Huo (2002), Tyler (2003), Tyler (2007), Beetham (1991), Hough, Jackson, Bradford (2013); Papachristos, Meares, & Fagan (2012); de Cremer & Tyler (2005); Antrobus et al (2014) như đã trình bày trên; nhóm tác giả sử dụng mô hình của Ben Bradford và cộng sự (2014),vìmô hình thuyết công bằng thủ tục của Ben Bradford đưa ra được những điểm đồng nhất và khái quát nhất của một số mô hình trước đó, nó khắc phục một số hạn chế của những nghiên cứu trước (Bradford, Murphy& Jackson, 2014), kết hợp với thực tiễn nhóm tác giả bổ sung thêm yếu tố nhận thức pháp luật (Ismael A Hoare (2007)) vào mô hình nghiên cứu củaBen Bradford và hình thành nên mô hình nghiên cứu như hình 2.7 như sau:

Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất (Mt)

(Nguồn:Đề xuất của nhóm tác giả)

Trang 40

2.3.1 Thực hiện pháp luật giao thông

Theo Bradford và cộng sự (2014), Sunshine &Tyler (2003), Tyler and Huo (2002),

de Cremer & Tyler (2005), Jonathan Jackson (2012) thì thực hiện pháp luật giao thông

là hành vi hợp pháp chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp bởi các thành phần trong

mô hình 2.7 Thực hiện pháp luật bao gồm: (1) tuân thủ, (2) chấp hành và (3) sử dụng

2.3.2 Nguy cơ xử phạt

Theo Bradford và cộng sự (2014), Sunshine & Tyler (2003), Tyler and Huo (2002),

de Cremer & Tyler (2005), Jonathan Jackson (2012) thì yếu tố nguy cơ xử phạt ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi thực hiện pháp luật Nguy cơ xử phạt bao gồm (1) bị phạt khi không theo sự điều tiết người có trách nhiệm, (2) sẽ bị phạt khi vi phạm luật và (3)

bị phạt ở bất cứ nơi đâu Để đo lường mức độ ảnh hưởng của nguy cơ xử phạt đến hành vi thực hiện pháp luật giao thông, nhóm tác giả đưa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết sau:

H 1 : “Nguy cơ xử phạt” có mối quan hệ cùng chiều với thực hiện pháp luật giao thông

2.3.3 Tính chính danh của cảnh sát

Theo Bradford và cộng sự (2014); Bradford, Murphy & Jackson (2014); Jonathan Jackson (2012) thì yếu tố tính chính danh của cảnh sát ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi thực hiện pháp luật Tính chính danh của cảnh sát bao gồm: (1) tuân theo người có trách nhiệm thực thi như là nghĩa vụ về đạo đức, (2) ủng hộ quyết định như là nhiệm

vụ đạo đức dù không đồng ý, (3) tuân theo dù không hiểu nó Để đo lường mức độ ảnh hưởng của tính chính danh của cảnh sát đến hành vi thực hiện pháp luật giao thông, nhóm tác giả đưa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết sau:

H 2 : “Tính chính danh của cảnh sát” có mối quan hệ cùng chiều với thực hiện pháp luật giao thông

2.3.4 Đạo đức chủ thể

Theo Bradford và cộng sự (2014), Sunshine & Tyler (2003), Tyler and Huo (2002),

de Cremer & Tyler (2005), Jonathan Jackson (2012) thì yếu tố đạo đức chủ thể ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi thực hiện pháp luật Nguy cơ xử phạt bao gồm (1) đạo đức trong giao thông, (2) không muốn làm hại ai Để đo lường mức độ ảnh hưởng của đạo

Ngày đăng: 10/02/2017, 11:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thống kê tình hình TNGT tại TPHCM từ năm 2010 đến năm 2013 3 - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 1.1 Thống kê tình hình TNGT tại TPHCM từ năm 2010 đến năm 2013 3 (Trang 15)
Bảng 2.2: Các hình thức thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh niên - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật giao thông đối với thanh niên (Trang 25)
Hình 2.2: Mô hình thuyết Công bằng thủ tục theo Sunshine &amp; Tyler - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.2 Mô hình thuyết Công bằng thủ tục theo Sunshine &amp; Tyler (Trang 30)
Hình 2.3: Mô hình thuyết công bằng thủ tục trong việc tuân thủ pháp luật - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.3 Mô hình thuyết công bằng thủ tục trong việc tuân thủ pháp luật (Trang 31)
Hình 2.4: Mô hình thuyết công bằng thủ tục đối với cảnh sát tại Anh và xứ Wales - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.4 Mô hình thuyết công bằng thủ tục đối với cảnh sát tại Anh và xứ Wales (Trang 33)
Hình 2.5: Mô hình giả thuyết thực hiệnpháp luật giao thông của Ben Bradford - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.5 Mô hình giả thuyết thực hiệnpháp luật giao thông của Ben Bradford (Trang 34)
Hình 2.6: Mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model) - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.6 Mô hình PAPM (Precaution Adoption Process Model) (Trang 37)
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất (Mt) - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất (Mt) (Trang 39)
Hình 2.8: Mô hình cạnh tranh (Mc) - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Hình 2.8 Mô hình cạnh tranh (Mc) (Trang 44)
Bảng câu hỏi phỏng vấn nháp - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng c âu hỏi phỏng vấn nháp (Trang 45)
Bảng 3.1: Các biến quan sát đo lường “Nguy cơ xử phạt - RSA” - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 3.1 Các biến quan sát đo lường “Nguy cơ xử phạt - RSA” (Trang 46)
Bảng 3.6: Các biến quan sát đo lường “Nhận thức pháp luật - LEA” - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 3.6 Các biến quan sát đo lường “Nhận thức pháp luật - LEA” (Trang 48)
Bảng 3.8: Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 3.8 Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo (Trang 50)
Bảng 3.9: Kết quả Cronbach alpha sơ bộ - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 3.9 Kết quả Cronbach alpha sơ bộ (Trang 54)
Bảng 3.10: Phân tích EFA sơ bộ - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật giao thông của thanh niên tại TPHCM (Đề tài đạt giải Eureka 2015)
Bảng 3.10 Phân tích EFA sơ bộ (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w