Ở THPT môn công nghệ là môn học tích hợp của nhiều môn học khác như: toán học, vật lí học, hóa học…, nó cùng với các môn học khác tạo nền tảng ban đầu để phát triển con người toàn diện.T
Trang 1và bảo vệ tổ quốc” Ở THPT môn công nghệ là môn học tích hợp của nhiều môn học khác như: toán học, vật lí học, hóa học…, nó cùng với các môn học khác tạo nền tảng ban đầu để phát triển con người toàn diện.
Trên thực tế phần động cơ đốt trong của môn công nghệ 11 gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, quân sự… do đó mỗi người học sinh tốt nghiệp THPT, cần có kiến thức cơ bản về phần này, không những giúp ích cho các em trong việc tiếp tục học lên hoặc bổ trợ cho quá trình lao động sản xuất Cụ thể ở vùng tây nguyên, con người gắn liền với sản xuất nông nghiệp, làm việc với rất nhiều loại máy móc như máy cày, máy xúc, máy phát điện, công nông, ô tô, xe máy…được trang bị kiến thức về động cơ đốt trong đối với học sinh THPT nói riêng và mỗi người dân nói chung là điều hết sức quan trọng
Trên đây là những vấn đề vừa là cơ sở lý luận, vừa là cơ sở thực tiễn làm động lực cho mỗi giáo viên công nghệ THPT có niềm đam mê hơn với môn học, tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, giúp các em khắc sâu hơn kiến thức về phần động cơ đốt trong nói riêng và môn công nghệ nói chung
Trang 2THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU
Như chúng ta đã biết, hằn sâu vào tâm trí của mỗi con người việt đó là truyền thống học tập, việc học luôn được mọi người hết sức chú trọng, quan tâm và khuyến khích, nhưng cũng chỉ là những môn học có liên quan đến thi tốt nghiệp, đại học, còn những môn học khác như công nghệ,… thì được coi
là môn phụ Quan điểm đó đã khắc sâu vào tất cả phụ huynh và học sinh, nhất
là học sinh THPT, các em đua nhau thi vào đại học, cao đẳng, trong khi đó hiện nay con số thất nghiệp của sinh viên đại học, hay số lượng con em không nghề nghiệp sau THPT chiếm tỉ lệ rất cao, nhiều phụ huynh, học sinh đang hoang mang trước tình trạng này và chỉ mong muốn có được một nghề để kiếm sống Trong khi đó, nội dung phần động cơ đốt trong lại rất quan trọng nhưng quá trừu tượng, khối lượng kiến thức tương đối nhiều, không được trang bị đầy đủ về trang thiết bị, nên việc dạy và học chỉ là thụ động, chưa mang lại kết quả như mong muốn
Nguyên nhân chính ở đây, một phần là tinh thần học của học sinh, sự thiếu sót về thiết bị, PPDH của giáo viên Với vai trò là người lái đò, giáo viên cần phải luôn đổi mới phương pháp để thay đổi cách học của học sinh Không ngừng học tập, tìm hiểu về nội dung bài dạy để tiết học trở nên sinh động, tạo hứng thú học tập cho học sinh, từ đó chất lượng của việc dạy và học mới được nâng cao
Với kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục của tôi, cùng với kinh nghiệm
học hỏi được từ đồng nghiệp tôi xin mạnh giản đề xuất sáng kiến: “Nâng cao chất lượng dạy và học phần động cơ đốt trong môn công nghệ 11” nhằm
góp phần vào sự phát triển chung của nền giáo dục nước nhà
NỘI DUNG
I PHẦN LÝ THUYẾT
Trang 31 Thực trạng dạy học lý thuyết phần động cơ đốt trong
Truyền thống dạy học phần động cơ đốt trong mà các giáo viên hay sử dụng nhất đó là thuyết trình có minh họa, sử dụng các câu hỏi mà câu trả lời sẵn có ở sách giáo khoa hoặc những nội dung nguyên lí làm việc chỉ nhìn vào
sơ đồ trong sách để trình bày… Những phương pháp dạy học này chỉ có tác dụng tức thời trên lớp, không có tính chất khắc sâu kiến thức cho các em Một phần do phương tiện dạy học của phần này rất hạn chế, cả về giáo viên và nhà trường, mặt khác giáo viên chưa thật sự tâm huyết để có thể đầu tư về phương pháp dạy học cho phần động cơ đốt trong này
Theo tôi, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, nếu chúng ta biết phối hợp giữa các phương pháp dạy học tích cực sẽ nâng cao chất lượng dạy và học phần động cơ đốt trong Vì PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
2 Phương pháp dạy học tích cực phần lý thuyết động cơ đốt trong 2.1 Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp ( đàm thoại ): là phương pháp dạy học trong đó giáo viên đặt
ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với
cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, Vấn đáp giải thích – minh hoạ, Vấn đáp tìm tòi
Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận đây chỉ là phương pháp giúp các em nhớ lại kiến thức cũ
Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có
Trang 4sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn Đây là phương pháp giúp học sinh khắc sâu được kiến thức.
Vấn đáp tìm tòi: giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Phương pháp này giúp học sinh có khả năng tư duy, phân tích và tổng hợp cao, kết quả đạt được sẽ mang lại niềm hứng thú học tập cho các em
2.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Trong nội dung dạy học giáo viên luôn đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề yêu cầu các em giải quyết sẽ giúp các em có khả năng giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa có được tri thức mới, vừa có được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề.
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh.
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết.
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết.
+ Lập kế hoạch giải quyết.
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Kết luận:
+Thảo luận kết quả và đánh giá.
Trang 5+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra.
+ Phát biểu kết luận.
+ Đề xuất vấn đề mới.
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện
cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề
Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát
hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình
hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Tất nhiên, tùy theo từng nội dung bài dạy, tùy theo năng lực của học sinh để chúng ta chọn mức độ đặt và giải quyết vấn đề nào là phù hợp nhất, đem lại kết quả cao nhất cho học sinh
2.3 Phương pháp trực quan
Dạy học trực quan là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Hình thức trực quan: PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày
- Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bức tranh, hình vẽ trên bảng,
Trang 6- Trình bày thường gắn liền với việc trình bày cấu tạo, nguyên lý làm việc như mô hình, vật thật, ảnh động… Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức - học tập của học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn Thông qua sự trình bày của giáo viên, học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn học tập được những thao tác mẫu của giáo viên từ đó hình thành
kỹ năng, kỹ xảo
Ưu điểm của phương pháp trực quan:
Trực quan tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật
Ví dụ: dùng ảnh động sẽ giúp học sinh phân biệt được các quá trình trong một chu trình làm việc của động cơ đốt trong, tương ứng với các quá trình làm việc là sự đóng mở của các xu páp, sự chuyển động của cơ cấu trục khuỷu thanh truyền…
Đồ dùng trực quan phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, óc tư duy và ngôn ngữ của học sinh
Hạn chế của phương pháp trực quan:
Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, giáo viên cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định
Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không hợp lí sẽ làm phân tán sự chú ý của học sinh, dẫn đến học sinh không lĩnh hội được những nội dung chính của bài họcKhi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là khi quan sát tranh, ảnh động,
mô hình, nếu giáo viên không định hướng cho học sinh quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng học sinh sa vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng
Nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quan:
Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học, năng lực nhận thức của học sinh để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học
Trang 7Phải đảm bảo được tất cả học sinh đều quan sát được.
Phát huy tính tích cực của hs khi sử dụng đồ dùng trực quan bằng cách đặt học sinh vào tình huống có vấn đề
Đảm bảo kết hợp lời nói sinh động với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng và
sử dụng đồ dùng trực quan
3 Phương tiện dạy học
Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giản hóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp, giúp làm sinh động nội dung học tập
Phương tiện dạy học, bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.Phương tiện dạy học nâng cao hứng thú học tập, giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy )
Các phương tiện dạy học phần động cơ đốt trong:
Phương tiện truyền tin: phần động cơ đốt trong cần sử dụng Máy chiếu
để mô tả hình ảnh thật, mô hình, sự chuyển động hay nguyên lý làm việc của động cơ Phần động cơ đốt trong cần phải đưa công nghệ thông tin vào với từng nội dung, ở đây người giáo viên phải trình chiếu, mô phỏng các sơ đồ cấu tạo, nguyên lý làm việc của các cơ cấu và hệ thống để học sinh khắc sâu kiến thức
ví dụ: mô phỏng nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong để học sinh thấy được các quá trình diễn ra trong một chu trình làm việc và sự đóng mở của các xu páp…, nguyên lý làm việc của hệ thống đánh lửa để học sinh thấy được thứ tự nổ của các máy…Ngoài ra, việc mô phỏng này người giáo viên
có thể làm từng bước chậm lại để học sinh quan sát kỹ hơn, từ đó tìm ra được các vấn đề nảy sinh và giải quyết các tình huống đó một cách sâu sắc hơn Ví dụ: giải quyết vấn đề đặt ra là: vì sao giữa pít tông và xi lanh luôn chế tạo có
Trang 8khe hở nhất định? Đầu pít tông lắp các xéc măng nhằm mục đích gì? hoặc giải thích vì sao trong cơ cấu phân phối khí số vòng quay trục cam chỉ bằng ½ số vòng quay trục khuỷu?
Những phương tiện mang tin gồm có các loại như sau:
Các tài liệu in: Những tài liệu chép tay, vở viết, các tài liệu in Sách giáo khoa, sách chuyên môn, tài liệu tham khảo Chương trình môn học
Những phương tiện mang tin thị giác: Tranh vẽ, sơ đồ khối Ảnh chụp: ảnh đen trắng và màu
Những phương tiện mang tin dùng cho việc hình thành khái niệm:
Mô hình (tĩnh và động) của động cơ đốt trong
Tranh lắp ghép hoặc dán các cơ cấu và hệ thống của động cơ
Như vậy việc sử dụng phương tiện dạy học đối với phần động cơ đốt trong là hết sức cần thiết, nếu dạy “chay” phần này chỉ cung cấp cho học sinh khối lượng kiến thức trên cơ sở lý thuyết, xa rời với thực tiễn
II PHẦN THỰC HÀNH
1 Thực trạng dạy học thực hành phần động cơ đốt trong
Hiện nay, nội dung thực hành phần động cơ đốt trong ở các trường THPT chưa được chú trọng, trong phân phối chương trình, nội dung thực hành rất ít, hơn nữa điều kiện của giáo viên, nhà trường và xã hội tại các trường cho phần thực hành này rất hạn chế Vì thế, hầu như giáo viên chỉ cho học sinh quan sát tranh, ảnh về mô hình động cơ đốt trong ở sách giáo khoa, như thế các em chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề
Theo tôi, nội dung thực hành của phần động cơ đốt trong rất quan trọng, vì phần này gắn liền với thực tiễn hàng ngày của chúng ta, có thể áp dụng chúng để giải quyết một số tình huống xảy ra trong cuộc sống Vì vậy, chú trọng vào nội dung thực hành phần này là rất thiết thực, mỗi giáo viên công nghệ cần phải biết lựa chọn những phương pháp thực hành vừa phù hợp với điều kiện hiện có của khách quan, vừa phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh
Trang 92 Phương pháp dạy học thực hành phần động cơ đốt trong
Có rất nhiều phương pháp dạy học thực hành mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên không phải nội dung nào, môn học nào cũng sử dụng một phương pháp mà có hiệu quả cao, phải tùy vào từng nội dung, điều kiện dạy và học của từng trường, năng lực của từng giáo viên và học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học thực hành phù hợp nhất, mang lại hiệu quả cao nhất cho phần động cơ đốt trong Nội dung thực hành của phần động cơ đốt trong chỉ ở mức
độ tìm hiểu về mô hình động cơ đốt trong; quy trình tháo lắp động cơ đốt trong Vì thế phương pháp dạy học thực hành phần này chủ yếu là thuyết trình
có minh họa và phương pháp hoạt động nhóm kết hợp trực quan
Phương pháp hoạt động nhóm kết hợp trực quan:
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 học sinh, trong nhóm tự phân công công việc cho nhau Chia nhóm nhỏ yêu cầu mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không ỷ lại cho người khác Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Giáo viên phải quan sát, nhắc nhở các nhóm làm việc, tránh tình trạng một số cá nhân không làm việc Kết quả được các nhóm cử người đại diện trình bày trước lớp
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, bởi ý thức tự giác của học sinh, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý Ý nghĩa của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác, đoàn kết, hỗ trợ nhau giữa các thành viên trong tổ chức lao động
Trang 103 Hình thức tổ chức dạy học thực hành
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học
cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học Có nhiều hình thức tổ chức dạy học đối với THPT, nhưng với nội dung thực hành động cơ đốt trong chủ yếu là hình thức tổ chức lớp – bài và hình thức thăm quan ngoại khóa
Hình thức tổ chức dạy học lớp – bài:
Dạy học lớp - bài là hình thức dạy học mà với hình thức đó trong suốt thời gian học tập được quy định một cách chính xác và ở một địa điểm riêng biệt, giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất tập thể ổn định, có thành phần không đổi, đồng thời chú ý đến đặc điểm của từng học sinh để sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững tài liệu học
Hình thức tổ chức dạy học lớp bài sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng kiểm
soát các em về mọi mặt, làm chủ được thời gian và kiến thức dạy học Hình
thức này, giáo viên sẽ kết hợp các phương pháp dạy học tích cực, trong đó chọn phương pháp trực quan làm phương pháp dạy học chủ đạo, phương tiện của quá trình dạy học là tranh ảnh và máy chiếu
Hình thức tổ chức dạy học ngoại khóa:
Ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp có kế hoạch,
có phương hướng xá định, được học sinh thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên, nhằm bổ sung, cũng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức đã được học chính khóa, đồng thời góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh
Hoạt động ngoại khoá không chỉ giúp học sinh phát triển nhanh về tư duy, mà còn tạo cho học sinh khả năng ứng dụng tốt, vận dụng kiến thức linh hoạt vào thực tế Thông qua hoạt động ngoại khoá, học sinh củng cố, mở rộng các kiến thức đã học, tìm kiếm các kiến thức mới, phát triển hứng thú nhận thức các môn học, do đó, kiến thức và kĩ năng của các em vững hơn, sâu và
Trang 11rộng hơn Hình thức tổ chức ngoại khóa phải được tổ chức trên cơ sở kiến thức các em đã được học chính khóa, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh, đồng thời phải phù hợp với điều kiện hiện có của địa phương.
Phương pháp ngoại khóa phù hợp nhất cho phần động cơ đốt trong chính là “thăm quan” Sau khi học sinh có được kiến thức lý thuyết về phần động cơ đốt trong, việc thăm quan tới các xưởng sản xuất, xưởng sửa chữa hoặc các trung tâm dạy nghề cơ khí động lực là con đường ngắn nhất để các
em khắc sâu kiến thức, gắn liềnlý thuyết với thực tiễn
III QUÁ TRÌNH THỬ NGHIỆM
1 Tiến hành thử nghiệm
1.1 Nội dung lý thuyết
Thử nghiệm 1: Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cho phần
“nguyên lý làm việc của động cơ Điêzen bốn kì” Đồ dùng trực quan là ảnh chụp hình dạng bên ngoài của động cơ đốt trong, ảnh của mô hình động cơ đốt trong thể hiện kết cấu bên trong thân máy Hình ảnh mô tả bốn quá trình làm việc của động cơ đốt trong bằng tranh vẽ phóng to của hình 21.2.a,b,c,d SGK, ảnh động về nguyên lý làm việc của động cơ điêzen bốn kì và hình vẽ thể hiện góc mở sớm, đóng muộn của các xu páp Phương tiện là máy chiếu, nội dung bài học được trình chiếu bằng PowerPoint
Hoạt động 1: cho học sinh quan sát ảnh chụp về hình dạng bên ngoài của
động cơ đốt trong: Động cơ Điêzen bốn kì, làm mát bằng nước Dùng cho máy xây dựng
Trang 12
Nhằm cung cấp cho học sinh kiến thức khái quát về hình dạng bên ngoài của động cơ
- Cho học sinh quan sát mô hình động cơ đốt trong (Động cơ nhiêu xi lanh),
nhằm thể hiện vị trí, hình dạng, cấu tạo của các chi tiết như: Pít tông, thanh truyền, trục khuỷu, xi lanh, xu páp…
Trang 13Hoạt động 2: tìm hiểu về quá trình nạp khí mới vào xi lanh
- Trực quan: cho học sinh quan sát hình vẽ
phóng to 21.2.a và yêu cầu học sinh điền tên
của các chi tiết trong hình vẽ Kết hợp với
hình vẽ minh họa của giáo viên
1.Trục khuỷu 2.Thanh truyền 3.pít tông
4.Xi lanh 5.ống nạp 6 Xupap nạp
- Phát vấn: + pít tông di chuyển từ vị trí nào
tới vị trí nào? Pít tông di chuyển được nhờ sự
dẫn động từ đâu?
+ Trục khuỷu quay được bao nhiêu độ?
+ Hai xu páp ở trạng thái gì?
+ Các yếu tố như: áp suất, thể tích xi lanh
thay đổi như thế nào?
+ Không khí đi vào xi lanh của động cơ bằng
cách nào?
a Kì 1: Nạp
- Nhờ sự dẫn động của trục khuỷu, pít tông đi từ ĐCT
xuống ĐCD, tương ứng trục khuỷu quay được 1800,
xu páp nạp mở, xu páp thải đóng
- Khi pít tông đến ĐCD, xu páp nạp đóng, kết thúc kì nạp
Hoạt động 3: Tìm hiểu về quá trình nén
- Trực quan: cho học sinh quan sát tranh vẽ
phóng to hình 21.2.b
b Kì 2: Nén
- Nhờ sự dẫn động của trục
Trang 14
7 Vòi phun
Phát vấn:
+ Pít tông di chuyển từ đâu đến đâu? Nhờ sự
dẫn động của yếu tố nào?
+ Trục khuỷu quay được bao nhiêu độ?
+ Hai xu páp ở trạng thái gì?
+ Các yếu tố như: áp suất, thể tích, nhiệt độ
trong xi lanh thay đổi như thế nào?
+ không khí trong xi lanh lúc này diễn biến ra
sao? Cuối kì nén diễn ra quá trình gì?
+ Vì sao nhiên liệu được phun vào với áp suất
cao?
khuỷu, pít tông đi từ ĐCD
xuống ĐCT, tương ứng trục khuỷu quay được 1800, hai xupap đều đóng
- Thể tích xi lanh giảm dần,
áp suất xi lanh tăng dần, nhiệt độ tang dần
- Không khí bị nén, cuối kì nén vòi phun phun một lượng nhiên liệu điêzen vào với áp suất cao hòa trộn với không khí tạo thành hòa khí
- Nhiên liệu được phun vào với áp suất cao vì trong xi lanh lúc này áp suất cao, và các hạt nhiên liệu sẽ được
xé tơi ở dạng sương mù dễ dàng hòa trộn với không khí
- Khi pít tông đến ĐCT kết thúc kì nén
Hoạt động 4: Tìm hiể về quá trình cháy- giãn nở - sinh công
- Trực quan: cho học sinh quan sát tranh vẽ
phóng to hình 21.2c
c kì 3: Cháy - giãn nở - sinh công
- Hòa khí với điều kiện áp suất cao, nhiệt độ cao cùng với tỉ số nén của điêzen cao nên tự bốc cháy