Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyệnphương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề; góp phần phát triểntrí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khả năng ứn
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC “GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN” Ở LỚP MỘT
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và pháttriển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người ViệtNam Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán
có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ởtiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho ngườilao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở tiểu học và chuẩn bịviệc học tốt môn Toán ở bậc trung học Môn Toán giúp học sinh biết nhậnbiết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giớihiện thực Nhờ đó mà học sinh có được phương pháp nhận thức một số mặtcủa thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong học tập vàtrong đời sống Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyệnphương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề; góp phần phát triểntrí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khả năng ứng xử và giảiquyết những tình huống nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống; nhờ đó
mà hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất cần thiết và quantrọng của người lao động mới Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói về vị
trí vai trò của bộ môn Toán: “ Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán
học giữ một vị trí nổi bật Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất
và chiến đấu Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: Cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý” Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội
đặt ra, Giáo dục và đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi vềnội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp Hội nghị
Trang 2BCH trung ương khoá VIII lần thứ 2 đã chỉ rõ: " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học” Trong luật Giáo dục, Khoản 2, điều 24
đã ghi: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đổi mới cách thực hiện phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của
chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới cáchthực hiện hiện phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làmcủa các thế hệ học trò - chủ nhân tương lai của đất nước Như vậy, đổi mới hiệnphương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục vàđào tạo Nó tạo ra sự hiện đại hoá của quá trình này Đổi mới phương pháp dạyhọc thực chất không phải là sự thay thế các hiện phương pháp dạy học cũ bằngmột loạt các hiện phương pháp dạy học mới Về mặt bản chất, đổi mới hiệnphương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mớiphương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưuđiểm các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằmphát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Mục đích củađổi mới phương pháp dạy học chính là làm thế nào để học sinh phải thực sựtích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quátrình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm pháttriển và hoàn thiện nhân cách của mình Mặt khác môn toán thiết thực gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả năng củamôn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng toán học
cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao động
Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, làđiểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các
em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều
Trang 3em trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ trở thành nhữngngười lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống; trên tay cómáy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi nhưng không bao giờ các
em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết 1, 2, 3 học các phép tính cộng, trừ Các em không quên được vì đó là kỷ niệm đẹp
đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những phép tính ấycần thiết cho suốt cả cuộc đời
Đối với mạch kiến thức: "Giải toán có lời văn”, là một trong những
mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học Thông quagiải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổnghợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Toán có lời văn là mạch kiến thứctổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ đượcgiải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đạilượng Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữatoán học với các môn học khác Đó cũng là danh dự và trách nhiệm của ngườigiáo viên nói chung và người giáo viên dạy lớp Một nói riêng
Trang 4và học sinh giải quyết xong ngay tại lớp Thế nhưng vẫn còn một số giáo
viên còn coi việc dạy cho học sinh “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp 1 là
đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng dạy cóhiệu quả, chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huyđược tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạy học truyền thống đã
ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày nên khi giảng dạy cho họcsinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt như với các lớp trên làm học sinh lớp 1 khóhiểu và không thể tiếp thu được kiến thức và không đạt kết quả Tốt trong việcgiải các bài toán có lời văn Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp
để dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt Một
số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy theo phươngpháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là “thầy truyềnthụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”. Một số giáo viên chưa biết cách dạy loại Toán
có lời văn, không muốn nói là làm cho bài toán trở nên phức tạp, khó hiểuhơn Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, kĩ năng sử dụngcông nghệ thông tin trong giảng dạy còn hạn chế, ngại tóm tắt bằng sơ đồhình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trongviệc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu Giáo viêncòn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề Việc hiểu chưasâu ý đồ của từng bài toán dẫn đến việc khai thác, mở rộng thêm kiến thức
để bồi dưỡng học sinh có năng khiếu thì giáo viên chưa làm được Từ đódẫn đến việc phát triển đề toán bồi dưỡng học sinh có năng khiếu hoặc cungcấp thêm cho học sinh thuộc đối tượng học sinh học hai buổi trên ngày gặpkhó khăn
Trang 5Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũngnhư các đối tượng học sinh trong quá trình học.
2 Về học sinh
Trong các nội dung kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì
nội dung kiến thức “Giải toán có lời văn” là nội dung kiến thức khó khăn
nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi
vì đối với lớp Một: vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tưduy lôgic của các em còn rất hạn chế, các em vừa mới bắt đầu làm quen vớidạng toán này lần đầu tư duy còn mang tính trực quan, kinh nghiệm thực tếcủa học sinh lớp 1 chưa có Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinhchưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực, tự giác Những tiếtđầu tiên của giải toán có lời văn, số học sinh biết nêu lời giải, viết phéptính, đáp số còn rất ít Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thểđặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tạisao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiện nay cho thấy, các
em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tómtắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biếttổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic Ngôn ngữ toánhọc còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoahọc, chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán mộtcách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước
Khả năng kiên trì của học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chung cũng
như học “Giải toán có lời văn” nói riêng còn chưa cao.
2.1 Kết quả khảo sát năm học 2014-2015
Đề bài: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có
tất cả mấy bạn? (Bài 2 trang 118 – Toán lớp 1)
Trang 6Trình bày còn bẩn, câu lời giải chưa chuẩn.
Chỉ làm đúng phép tính, và đáp số đúng, sai tên đơn vị, saicâu lời giải
27,532,5
Chưa
hoàn
thành
Dưới5
- Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp
- Một số học sinh chưa biết cách đặt câu lời giải phù hợp
- Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đếnkhông làm được bài
3.Về đồ dùng dạy học :
Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để học sinh học tốt
“Giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ dùng thiết bị dạyhọc để minh hoạ
Trong những năm qua, các trường tiểu học đã được cung cấp khá nhiềutrang thiết bị và đồ dùng dạy học đồng bộ để dạy cho cả cấp học và những
Trang 7bộ va-li để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫnchưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạy “Giải toán có lời văn”.
- Năm học 2012 - 2013 tôi được phân công dạy lớp 18 Trong suốtnăm học tôi tìm hiểu, ghi chép tập hợp những ưu điểm, thiếu sót của học
sinh trong lớp về " Giải toán có lời văn” Tôi đã mạnh dạn trao đổi cùng
Ban giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài trường về những ưu
điểm và thiếu sót của học sinh lớp 1 nói chung trong việc " Giải toán có lời văn", đồng thời trao đổi, bàn bạc và đề xuất một số ý kiến để phát huy ưu
điểm và khắc phục thiếu sót của học sinh và giáo viên
- Năm học 2013- 2014 tôi tiếp tục dạy lớp 1 Tôi mạnh dạn áp dụngmột số kinh nghiệm, đồng thời tiếp tục tìm hiểu thêm những vướng mắc của
học sinh cũng như của giáo viên về "Giải toán có lời văn", bổ sung thêm
cách tháo gỡ, tích luỹ thêm kinh nghiệm và áp dụng vào thực tế
- Năm học 2014- 20015 tôi tiếp tục áp dụng và tích lũy thêm nhữngkinh nghiệm đã có được trong hai năm qua
Từ cơ sở lý luận, qua thực tế giảng dạy tôi xin mạnh dạn đề xuất một số
kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy - học “Giải toán có lời văn” ở lớp
Một
II CÁC NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1 Nội dung chương trình
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lời văn" nói
riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chươngtrình, sách giáo khoa Nhiều người nghĩ rằng Toán tiểu học, và đặc biệt làtoán lớp 1 thì ai mà chả dạy được Đôi khi chính giáo viên đang trực tiếpdạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy Qua dựgiờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốtkhai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan giáo viên
nắm không thật chắc Người ta thường nói "Biết 10 dạy 1” chứ không thể " Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1 nữa
Trang 8a Trong chương trình toán lớp Một giai đoạn đầu học sinh còn đang
học chữ nên chưa thể đưa ngay "Bài toán có lời văn" Mặc dù đến hết tuần
21, học sinh mới được chính thức học cách giải "Bài toán có lời văn" song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài "Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập)" ở tuần 7.
* Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy vềphép cộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng
"Nhìn tranh nêu phép tính" ở đây học sinh được giáo viên hướng dẫn làmquen với việc:
- Xem tranh vẽ
- Nêu bài toán bằng lời
- Nêu câu trả lời
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh)
Ví dụ: Bài 5 trang 46:
Sau khi xem tranh vẽ, giáo viên gợi ý bằng các câu hỏi sau:
- Có mấy quả bóng trắng? (Có 1 quả bóng trắng)
- Thêm mấy quả bóng xanh? (Có 2 quả bóng xanh.)
- Tất cả có mấy quả bóng? (Có tất cả 3 quả bóng)
Từ đó học sinh có thể tập nêu bài toán bằng lời: "Có 1 quả bóng trắng
và 2 quả bóng xanh Hỏi có tất cả mấy quả bóng?" rồi tập nêu miệng câu trả lời : "Có tất cả 3 quả bóng", sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phép
tính :
1 + 2 = 3
Trang 9* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọctóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phéptính thích hợp vào dãy năm ô trống ở đây không còn tranh vẽ nữa (xem bài3b - trang 87, bài 5 - trang 89).
* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn
là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì
vậy, ngay sau các bài tập "nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống" chúng ta chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả
lời miệng
Ví dụ (Đối với học sinh lớp tôi trực tiếp giảng dạy): Từ bức tranh
"Trên cành có 3 con chim, 1 con chim bay tới" ở trang 47 - SGK, sau khi
học sinh điền phép tính vào dãy ô trống:
3 + 1 = 4 Tôi sẽ tiến hành hỏi tiếp: "Vậy có tất cả mấy con chim?" để học sinh trả lời miệng: "Có tất cả 4 con chim"; hoặc "Số chim có tất cả là bao nhiêu?” (Số chim có tất cả là 4)
Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giảibằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu lời giải sau này
* Trước khi chính thức học "Giải các bài toán có lời văn" học sinh
được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thànhphần chính là những dữ kiện đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa
biết) Vì khó có thể giải thích cho học sinh "Bài toáncó lời văn là gì?" nên
mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bàitoán có lời văn:
+ Những cái đã cho (dữ kiện)
+ Và cái cần phải tìm (câu hỏi)
Để làm việc này trong bài “Giải toán có lời văn” trang 115, sách
Toán 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là bốn đề toán: 2 đề còn thiếu dữkiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện lẫn câu hỏi (biểu thị bằngdấu ) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó điền số vào
Trang 10chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi (còn để trống) Từ đó giáo viên
giới thiệu cho các em " Bài toán thường có hai phần”:
+ Những số đã cho
+ Số phải tìm (câu hỏi)
Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của "Bài toán có lời văn”
b.Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán
"Thêm - Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:
- Bài toán "Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?", dạng này khá phổ
Bài giải
Số con gà nhà An có tất cả là:
Trang 115 + 4 = 9 ( con gà ) Đáp số : 9 con gà
* Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời
gian cho trẻ viết câu lời giải Chẳng hạn trước đây trong 1 tiết " Bài toán nhiều hơn” học sinh phải giải 8 bài toán (4 bài mẫu, 4 bài luyện tập), thì bây giờ trong tiết " Giải toán có lời văn (thêm)” học sinh phải giải 4 bài (1
bài mẫu, 3 bài luyện tập)
* Để lường trước về vốn từ và khả năng đọc hiểu của học sinh khi "Giải bài toán có lời văn" chương trình toán 1 đã có những giải pháp: - Hạn chế dùng các vần khó và tiếng khó trong đề toán như: thuyền, quyển, Quỳnh, tăng cường dùng các vần và tiếng dễ đọc, đã học, dễ viết như: lá cờ, cam, gà, Lan, trong các đề toán - Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa một chút xíu thôi là được ngay câu lời giải - Cài sẵn từ cơ bản của lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt mà viết câu lời giải - Cho phép (thậm chí khuyến khích) học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lời giải khác nhau Chẳng hạn, với bài toán: "An có 4 quả bóng Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?"; Học sinh có thể đặt câu lời giải theo rất nhiều cách như: + Cả hai bạn có:
+ Hai bạn có:
+ An và bình có:
+ Tất cả có:
+ Số quả bóng tất cả là:
2 Sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học.
Như chúng ta đã biết, con đường nhận thức của học sinh tiểu học là:
"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng trở lại thực tiễn” Đồ dùng thiết bị dạy học là phương tiện vật chất, phương tiện hữu hình cực kỳ cần thiết khi dạy "Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp
Trang 12Một Cũng trong cùng một bài toán có lời văn, nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt,dùng lời để hướng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất vả tốn công, vừa khônghiệu quả và sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với dùng đồ dùng thiết bị, tranhảnh, vật thực để minh hoạ Chính vì vậy rất cần thiết phải sử dụng đồ dùng
thiế bị dạy học để dạy học sinh "Giải bài toán có lời văn”
Hiện nay bộ đồ dùng trang bị đến từng lớp đã có khá nhiều các đồ
dùng mẫu vật cho việc sử dụng dạy "Giải toán có lời văn” song vẫn là thiếu
nếu giáo viên thực sự có trách nhiệm Mỗi nhà trường cần có kế hoạch mua
bổ sung, từng tổ khối, cá nhân giáo viên cần sưu tầm, làm thêm các thiết bịnhư: vật thực, tranh ảnh làm đồ dùng, dùng chung và riêng cho từng lớp Một điều hết sức quan trọng là một số giáo viên còn ngại, hoặc lúng
túng sử dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy "Giải toán có lời văn” nói riêng Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý
thức chuẩn bị sử dụng đồ dùng dạy học trước khi lên lớp Cần cải tiến nộidung sinh hoạt chuyên môn để đa việc thống nhất sử dụng đồ dùng dạy học
và phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học
3 Biện pháp thực hiện dạy – học "Giải bài toán có lời văn" ở lớp Một
3.1 Quy trình “ Giải bài toán có lời văn”
GV dạy cho học sinh giải bài toán có lời văn cần thực hiện tốt các bướcsau:
- Đọc và tìm hiểu đề toán: Tìm hiểu đề toán cho biết những gì? Đề toányêu cầu tìm gì?
- Tóm tắt đề bài: tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng đó
là định hướng cho học sinh cách giải bài toán Vì vậy cần được luyện kỹ để họcsinh nắm được các thông tin, dữ liệu của bài toán đầy đủ, chính xác
- Tìm cách giải bài toán
- Cách trình bày bài giải ( Bài giải, câu lời giải, phép tính, đáp số)
- Kiểm tra lại kết quả bài của bài toán giải
Nội dung của quy trình " Giải bài toán có lời văn " như sau:
a Đọc và tìm hiểu đề toán
Trang 13Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọngđầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viêncần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng
như " thêm, và, tất cả, "hoặc" bớt, bay đi, ăn mất, còn lại, " (có thể kết
hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cầngạch chân các từ ngữ chính trong đề bài Một số giáo viên còn gạch chânquá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tómtắt Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn
Ví dụ:Trong vườn có 12 cây chuối Bố trồng thêm 3 cây chuối Hỏi
có tất cả bao nhiêu cây chuối?
Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng
cách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào câu trả
lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêulại đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán học sinh sẽ nắm vững đề toán Biếttóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bài toán có lời văn
Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nêncho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi Ví dụ, với bài 3 trang 118, giáoviên có thể hỏi:
- Em thấy dưới ao có mấy con vịt? ( có 5 con vịt)
- Trên bờ có mấy con vịt? ( có 4 con vịt)
- Em hãy nêu đề bài toán? ( )
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáokhoa
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên cóthể gắn mẫu vật (gà, vịt, ) lên bảng (bảng cài, bảng nỉ, )sử dụng côngnghệ thông tin để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồđoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán
* Thông thường có các cách tóm tắt đề toán:
- Tóm tắt bằng lời:
Ví dụ1: Nga: 3 quyển
Trang 14Hằng: 2 quyển
Cả hai bạn có: quyển? (A)
Ví dụ 2: Hạnh có: 35 que tính ? que tính
Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tácdụng gợi ý cho học sinh lựa chọn phép tính giải
Có thể lồng từ cơ bản của lời giải vào trong tóm tắt, hoặc các câu lời
giải mẫu như trong sách giáo khoa và vở bài tập Toán, để dựa vào đó họcsinh dễ viết câu lời giải hơn Giáo viên có thể cho học sinh một số mẫu câulời giải để các em vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nội dung bàitoán Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể viết
ngay câu lời giải là: "Cả hai bạn có:” hoặc "Số vở cả hai bạn có:” hoặc:
"Cả hai bạn có số vở là:” Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu? lên
trước các từ như quyển, quả, Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực
về mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi