1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp phát huy tính sáng tạo giúp học sinh lớp 1 học tốt giải toán có lời văn

26 521 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 9,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy họcgiải toán có lời văn giúp học sinh: - Nhận biết về các dạng toán có lời văn ở lớp 1.. Nhữn

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Môn Toán là một trong những môn học giữ vị trí quan trọng trong chươngtrình đào tạo của bậc Tiểu học Môn học này góp phần to lớn trong việc thực hiệnmục tiêu giáo dục toàn diện Bên cạnh đó khả năng giáo dục của môn toán rấtphong phú còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận trau dồitrí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác Nó còn giúp học sinh pháttriển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, kích thích óc tò mò, tự khám phá vàrèn luyện học tập một cách khoa học Yêu cầu đó rất cần thiết cho học sinh, gópphần giáo dục ý trí, đức tính chịu khó, nhẫn nại, cần cù trong học tập

Dạy học toán có lời văn là một bộ phận kiến thức toán học hoàn chỉnh cho

HS tiểu học Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống có vấn đề buộc các em phải

tư duy, suy luận và phân tích tổng hợp để giải quyết vấn đề Nếu các em làm tốtđược bài toán thì những vấn đề mà các em gặp phải trong cuộc sống sẽ được các

em vận dụng toán học để tìm ra giải pháp giải quyết tình huống Bởi vậy, việc dạyhọc giải toán cần được xác định rõ ràng ngay từ những lớp đầu cấp về mục đínhyêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học

Trong dạy toán ở tiểu học nói chung và lớp 1 nói riêng, giải toán có lời văn

là một trong nội dụng dạy học quan trọng bậc nhất vì nó được coi là hoạt độngnhằm hai mục tiêu: Thứ nhất giải toán có lời văn giúp học sinh củng cố vận dụngnhững kiến thức giải toán, phát triển kỹ năng, kĩ sảo đã được hình thành Thứ hai,giải toán có lời văn giúp phát triển tư duy cho học sinh

Ở lớp Một các em chưa hình thành được kĩ năng tìm hiểu đề toán và cáchgiải loại toán này Vì ở lứa tuổi học sinh lớp Một các em rất hồn nhiên ngây thơ,ham chơi, bởi vậy vốn kiến thức ngôn ngữ, nói, viết còn hạn chế Chính vì thế nênđôi khi các em ghi được phép tính nhưng không nêu được câu lời giải Một mặt các

em chưa quen nề nếp học tập Chưa biết xác định đúng về nhiệm vụ và tầm quantrọng của việc học tập, chưa có hứng thú học tập cao dẫn đến chưa xác định đượccác dạng toán giải có liên quan đến lời văn

Qua nhiều năm giảng dạy lớp 1, tôi nhận thấy học sinh thường mắc lỗi như

Trang 2

+ Đa số các em còn lúng túng khi quan sát tranh viết phép tính.

+ Học sinh đọc không hiểu bài toán hỏi gì? Cho biết gì?

+ HS chưa nêu được lời giải của bài toán

+ Viết sai đơn vị hoặc thiếu đơn vị

+ Không biết tóm tắt hoặc tóm tắt không đúng

+ Cách trình bày bài giải chưa đẹp, chưa khoa học

+ Đa số các em khá giỏi làm bài còn rập khuôn

Với thực trạng trên khi khảo sát giữa học kì I kết quả môn Toán của lớp tôicòn rất thấp

TSHS 9 -10 % 7 - 8 % ĐẠT ĐIỂM5 - 6 % 4 - 3 % 2 - 1 %

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong thời gian qua bản thântôi đi sâu tìm hiểu, học hỏi và nghiên cứu ra những biện pháp mới để giảng dạymôn Toán nói chung và giải toán có lời văn lớp 1 nói riêng, giúp học sinh tiếp thu

bài một cách nhẹ nhàng Tôi đã mạnh dạn áp dụng “Một số biện pháp phát huy tính sáng tạo giúp học sinh lớp 1 học tốt giải toán có lời văn’’ nhằm nâng cao

chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 1

II MỤC ĐÍCH - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

1 Mục đích nghiên cứu:

Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy họcgiải toán có lời văn giúp học sinh:

- Nhận biết về các dạng toán có lời văn ở lớp 1

- Nhìn tranh nêu được bài toán phù hợp theo tranh

- Nhận biết về cấu tạo của một bài toán có lời văn lớp 1

- Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài toán.

- Giải toán đơn về thêm (bớt ) bằng một phép tính cộng (trừ)

- Trình bày bài giải gồm câu lời giải + phép tính + đáp số

- Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau

2 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 1.

Trang 3

PHẦN II NỘI DUNG

I/ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

1/ Đối với chương trình sách giáo khoa:

+ Toàn bộ chương trình gồm 140 tiết, 4 tiết/ 1tuần, được sắp theo 4 chương

+ Các bài toán có lời văn lớp 1 được dạy từ tuần 7 Các dạng toán có lời văn

được sắp xếp theo một cách lôgic Từ trực quan đến tư duy Mặc dù đến tuần 22học sinh mới chính thức học cách giải bài toán có lời văn Nhưng ngay từ học kì 1

từ bài “ Phép cộng trong phạm vi 3” ở tuần 7 đến tuần 16 hầu hết các tiết dạy vềphép cộng trừ trong phạm vi 10 đều có các bài tập thuộc dạng : “Nhìn tranh vẽ viếtphép tính thích hợp”

2/ Đối với giáo viên:

Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước Những bàinhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học sinh đềulàm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉtập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của học sinh mà quên mất rằng đó lànhững bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này

Giải toán có lời văn là một nội dung dạy học thường mất nhiều thời gian, lạithường ở cuối giờ nhưng tâm lý giáo viên muốn giờ học phải giải được nhiều bàitoán Vì thế giáo viên thường nói trước cách giải hoặc chỉ cho học sinh phép tính

để tìm ra kết quả mà chưa quan tâm đến việc khai thác hết những tiềm năng của bàitoán

Một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng dạy còn lúng túng, chưaphát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, phương pháp dạy họctruyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học hàng ngày Một số giáo viêncòn ngại đầu tư làm thêm đồ dùng dạy học để phục vụ cho tiết dạy, ngại tóm tắtbằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợptrong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn khó hiểu

Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy họcnhưng đôi khi cũng ngại không dám “thoát li” các gợi ý của sách giáo khoa, sáchtham khảo vì sợ không đủ thời gian cho một tiết học

Trang 4

3/ Đối với học sinh:

Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các

em còn mang tính trực quan là chủ yếu, nhìn vào tranh vẽ không xác định đượcphép tính cần điền là phép tính gì? Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọcthông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các

em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều lầnnhưng vẫn chưa hiểu bài toán Vì vậy học sinh không làm đúng cũng là điều dễhiểu

Ngoài ra học sinh lớp 1 còn gặp khó khăn trong vấn đề phương pháp giảitoán Đối với các em bài toán dễ hay khó còn phụ thuộc vào việc học sinh đã giảibài toán nào tương tự hay chưa Nếu khi giải một bài toán mới học sinh biết dẫndắt bài toán đó về một bài toán mà các em đã biết thì vấn đề trở nên dễ dàng.Nhưng nếu gặp các bài toán mà trước đó các em chưa giải những bài toán tương tựvới nó thì học sinh thường lúng túng không làm được.Vậy làm thế nào để học sinhnắm được cách giải một cách chắc chắn chính xác?

III/ MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

1/ Điều tra phân loại học sinh:

Giáo viên điều tra, phân loại, nắm chắc từng đối tượng học sinh: học sinhđọc thông viết thạo, học sinh đọc còn đánh vần và học sinh cá biệt Nắm chắc đốitượng học sinh, giáo viên sẽ đề ra được kế hoạch dạy học phù hợp với từng đốitượng học sinh Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất giúp học sinh tiếp thu bài chậmbiết làm toán, dạng toán có lời văn

2/ Hướng dẫn học sinh học các dạng toán có lời văn lớp 1:

Dạy học giải toán chính là cách thức giúp học sinh hình thành được các thaotác để giải một bài toán theo đúng yêu cầu với những dạng toán khác nhau Trongdạy học giải toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 1 nói riêng vấn đề đặt ra là làm thếnào để một mặt giúp học sinh giải được từng bài toán cụ thể với chất lượng cao.Mặt khác các em phải biết mình đang làm dạng toán nào, thuộc thể loại nào trongdạng toán đó và vì sao lại làm như vậy Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy họcgiải toán có lời văn ở lớp 1 nói riêng, dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung thìđiều cần thiết là giáo viên phải biết hệ thống hoá và phân dạng bài tập, cũng như

Trang 5

cách giải cho dạng bài tập đó Đặc biệt cần giúp học sinh nắm được bài toán thuộcdạng nào và phương pháp giải các bài toán đó Sau đây là những dạng toán có lờivăn lớp 1:

Dạng 1: Bài điền khuyết: Quan sát hình vẽ rồi viết phép tính thích hợp vào

ô trống

Từ tuần 7 các em được làm quen với dạng bài điền khuyết quan sát tranhviết phép tính vào ô trống Để giúp học sinh hiểu và làm được dạng toán này, giáoviên phải có đầy đủ tranh ảnh phục vụ cho bài dạy

Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tínhthích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường xuyên rèncho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán Có thể tập cho những em họcsinh giỏi tập nêu câu trả lời trước, các em yếu nhắc lại Cứ như vậy trong mộtkhoảng thời gian ngắn học sinh đều biết nêu đề toán Khi học đến phần bài toán cólời văn học sinh sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giảiđúng

Ví dụ: Dạy bài : Luyện tập

Bài tập 5a: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 46)

Sau khi quan sát tranh vẽ giáo viên hướng dẫn học sinh tập nêu bằng lời: “

Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh Hỏi có tất cả mấy quả bóng?”, rồi tập

cho các em nêu miệng câu trả lời: “Có tất cả 3 quả bóng” Như vậy các em đã

được làm quen với bài toán ở dạng quan sát hình minh hoạ rồi viết phép tính thích

hợp vào ô trống Dạng bài này là bước khởi đầu của dạng bài toán có lời văn các

em sẽ được học ở tuần 22 nên tôi hướng dẫn các em quan sát hình vẽ minh hoạ rất

kĩ và nêu câu hỏi gợi mở giúp các em làm miệng 3 - 5 lần để hình thành bài toán,

Trang 6

từ đó đã bồi dưỡng cho các em vốn ngôn ngữ Bước đầu giúp các em biết diễn đạtbài toán bằng lời văn Sau đó viết phép tính vào ô trống:

Ví dụ : Dạy bài: Phép cộng trong phạm vi 4

Bài tập 4: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 47)

- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh vẽ và trả lời câu hỏi:

+ Trên cành cây có mấy con chim? Giáo viên kết hợp chỉ vào tranh

+ Có mấy con chim đang bay đến? Giáo viên kết hợp chỉ vào tranh

+ Có tất cả bao nhiêu con chim? Giáo viên kết hợp chỉ vào tranh

- Giáo viên cho học sinh nhìn tranh nêu lại đề toán.

+ Học sinh nêu: Có 3 con chim đậu trên cành cây, 1 con chim bay đến Hỏi

có tất cả mấy con chim?

+ Gọi vài học sinh nêu bài toán - cả lớp đọc đồng thanh.

+ Gọi học sinh nêu phép tính - giáo viên nhận xét.

+ Giáo viên cho học sinh nêu và viết phép tính vào ô trống

Đối với các bài toán liên quan đến phép tính cộng hầu như các em đều viếtphép tính và kết quả đúng Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trang quá tải với họcsinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có thể có nhiềucách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống trong sách giáo khoa

Ví dụ : Dạy bài: Luyện tập

Bài tập 4 a: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 53)

Trang 7

- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh vẽ và nêu bài toán chẳng hạn:

+ Cách 1: Có 2 con ngựa thêm 1 con ngựa Hỏi có tất cả bao nhiêu conngựa?

+ H c sinh vi t phép tính: ọc sinh viết phép tính: ết phép tính:

quá trình đặt câu hỏi khai thác tranh - giáo viên phải kết hợp chỉ rõ ràng từng chi

tiết và dấu hiệu của tranh thì mới đạt hiệu quả cao, thành công tiết dạy

Ví dụ : Dạy bài: Phép trừ trong phạm vi 3.

Bài tập 3: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 54)

+ Lúc đầu trên cành cây có mấy con chim? giáo viên phải vừa hỏi vừa kếthợp chỉ tất cả số con chim có trong tranh vẽ

Trang 8

+ Có mấy con chim bay đi? giáo viên vừa hỏi kết hợp chỉ vào 2 con chimbay đi.

+ Trên cành cây còn lại mấy con chim? Giáo viên vừa hỏi vừa kết hợp chỉvào số con chim trên cành

+ Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán

+ Bài toán: Có 3 con chim, bay đi 2 con chim Hỏi còn lại mấy con chim?

( Nhiều học sinh nhắc lại bài toán)

+ Giáo viên cho học sinh nêu và viết phép tính vào ô trống

Ở dạng toán trừ học sinh dễ nhầm lẫn nhất Nếu giáo viên không hướng dẫn

kĩ học sinh sẽ viết phép tính: 2 - 1 = 1.

Ví dụ : Dạy bài: Phép trừ trong phạm vi 5

Bài tập 4 a: Viết phép tính thích hợp:(SGK Toán 1 - trang 69

- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh vẽ và đặt câu hỏi:

+ Có tất cả bao nhiêu quả táo? giáo viên phải vừa hỏi vừa kết hợp chỉ tất cả

số quả táo có trong tranh vẽ

+ Bạn hái đi mấy quả ? giáo viên vừa hỏi kết hợp chỉ vào theo hướng mũitên và 2 quả trên tay

+ Còn lại trên cành cây mấy quả? Giáo viên vừa hỏi vừa kết hợp chỉ vào sốquả táo còn lại trên cành

- Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán - cả lớp nhắc lại bài toán

+ Bài toán: Có 5 quả táo, bé hái 2 quả táo Hỏi trên cành còn lại mấy quả

táo?

Trang 9

+ Giáo viên cho học sinh nêu và viết phép tính vào ô trống.

Hoặc:

- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh vẽ và đặt câu hỏi như sau:

+ Có tất cả bao nhiêu quả táo? giáo viên phải vừa hỏi vừa kết hợp chỉ tất cả

số quả táo có trong tranh vẽ

+ Trên cành còn mấy quả? Giáo viên vừa hỏi vừa chỉ số quả táo trên cành.+ Vậy bé đã hái mấy quả táo? Giáo viên vừa hỏi vừa chỉ số táo trên tay bé?

- Sau đó giáo viên cho một số em nhắc lại bài toán - cả lớp nhắc lại bài toán

+

+ Giáo viên cho học sinh nêu và viết phép tính vào ô trống

Với cách hướng dẫn rõ ràng tỉ mỉ và cụ thể từng chi tiết thể hiện ở hình vẽnêu trên sẽ giúp các em hình dung ngay được phép tính cần viết vào ô trống làphép trừ, các em không bị nhầm lẫn với phép cộng, hoặc viết phép tính sai

Chú ý: Với mỗi tranh, học sinh có thể nêu các phép tính khác nhau, điều

chủ yếu là giúp học sinh chọn phép tính phù hợp với bài toán nêu ra

Ví dụ : Dạy bài Luyện tập.

Bài tập 3: Viết phép tính thích hợp: (SGK Toán 1 - trang 85)

- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, sau đó mô tả lại bức tranh.

- Giáo viên cho cả lớp đặt đề và viết phép tính tương ứng theo đề toán mà

học sinh đặt

Trang 10

+ Cách 1 : Có 7 con vịt dưới ao và 3 con vịt trên bờ Hỏi có tất cả mấy con

Lưu ý : Khi hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ, giáo viên nên chỉ cụ thể

bên trái, bên phải, bên trên hay bên dưới, bên ngoài, bên trong hoặc dấu hiệu thểhiện trên hình vẽ (người, con vật) đang đứng hay đang đi đến, đang đậu, đang bay

đi hay bay đến,…để các em không nhầm lẫn khi viết phép tính

Ở dạng này giáo viên cần hướng dẫn các em thực hiện theo các bước cụ thể:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Và viết phép tính thích hợp với tình huống trong tranh.

Dạng 2 : Đọc tóm tắt viết phép tính thích hợp:

Từ tuần 16 học sinh làm quen với tóm tắt bằng lời Ở dạng bài này yêu cầucao hơn, không có tranh minh hoạ mà phải đọc tóm tắt rồi viết phép tính thích hợp

Trang 11

vào ô trống Học sinh từng bước làm quen với lời thay hình vẽ, học sinh thoát lykhỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán.

Ví dụ: Dạy bài Luyện tập chung ( SGK- trang 87)

có thể liên hệ thực tế: Có thể đây là Hồng có, hoặc Bình có, hay chị có;… còn

cho ở đây có thể là cho Hà, Huệ hoặc cho em, anh,…qua đó hướng dẫn các em

nêu thành bài toán như sau:

+ Hồng có 10 quả bóng, Hồng cho Huệ 3 quả bóng Hỏi Hồng còn lại mấyquả bóng?

Hoặc: + Anh có 10 quả bóng, Anh cho em 3 quả bóng Hỏi Anh còn lại

mấy quả bóng ?

Đây là bài đầu tiên nên giáo viên hướng dẫn kĩ cho học sinh hiểu: Có 10 quảbóng, cho 3 quả bóng, phần này là phần cho biết của bài toán Còn quả bóng?đầy là phần câu hỏi của bài toán Muốn trả lời câu hỏi ta phải dựa vào phần chobiết của bài toán để làm

- Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh trả lời:

+ Bài toán cho biết gì? (có 10 quả bóng, cho 3 quả bóng)

+ Bài toán hỏi gì? (còn lại mấy quả bóng)

+ Cho đi ta làm phép tính gì? (trừ)

+ Lấy mấy trừ mấy? (10 – 3)

+ Vậy 10 - 3 = ? (Giáo viên cho h c sinh t làm sau đó lên b ng ch a bài) ọc sinh viết phép tính: ự làm sau đó lên bảng chữa bài) ảng chữa bài) ữa bài)

Trang 12

Ví dụ: Dạy bài Luyện tập chung ( SGK trang 89)

Ở bài này giáo viên có thể liên hệ thực tế: Có thể đây là mẹ có, hoặc bà

có, hay chị có;…còn quả ở đây có thể là quả cam, hay na, hay lê,…qua đó

hướng dẫn các em nêu thành bài toán như sau:

+ Mẹ có 5 quả cam, mẹ mua thêm 3 quả nữa Hỏi mẹ có tất cả mấy quảcam?

Hoặc: + Bà có 5 quả na, bà mua thêm 3 quả nữa Hỏi bà có tất cả mấy quả na?

Giáo viên có thể cho các nhóm thi nêu đề toán dựa và tóm tắt Sau đó giáoviên nhận xét chỉnh sửa cho bài toán đúng hơn

Tóm lại: Ở dạng này giáo viên phải hướng các em dựa vào tóm tắt nêu đề

toán sau đó mới viết phép tính thích hợp vào ô trống theo từng bước cụ thể sau:

Bước 1: Yêu cầu vài em nêu tóm tắt bài toán

Bước 2: Hướng dẫn học sinh nêu đề toán.

Bước 3: Hướng dẫn các em nêu phép tính thích hợp.

Bước 4: Hướng dẫn học sinh viết phép tính vào ô trống.

Qua đó các em đã được làm quen dần và cũng là cầu nối với dạng bài toán

có lời văn ở tuần 22 Có bài được cài sẵn “cốt câu” hỏi, lời giải vào tóm tắt để các

em có thể dựa vào đó mà viết câu lời giải

Dạng 3: Bài toán còn thiếu số và câu hỏi (cái đã cho, cái phải tìm)

- Bước đầu nhận biết bài toán có lời văn gồm các số (điều cần biết) và câu

hỏi (điều cần tìm) Điền đúng số, đúng câu hỏi của bài toán theo hình vẽ

- Dạy dạng toán này giáo viên phải xác định làm thế nào giúp các em điền

đủ được các dữ kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu

Trang 13

các em hiểu được bài toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho vàđâu là cái cần tìm

Ví dụ : Dạy bài giải toán có lời văn ( SGK trang 117- 118)

* Bài toán còn thiếu số (cái đã cho)

Bài toán 1: Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?

- Giáo viên đặt câu hỏi học sinh trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm

để có bài toán Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài toán mẫutrên bảng lớp

+ Bạn đội mũ đang làm gì? (đang giơ tay chào)

+ Thế còn 3 bạn kia? (3 bạn đang đi tới chỗ bạn đội mũ)

+ Vây lúc đầu có mấy bạn? (1bạn đội mũ)

+ Về sau có thêm mấy bạn đang đi tới? (3 bạn)

- Giáo viên cho học sinh điền số vào bài toán, đọc cá nhân - đồng thanh Bài toán 1: Có 1 bạn, có thêm 3 bạn đang đi tới Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?

- Sau khi học sinh quan sát tranh minh hoạ sách giáo khoa rồi đọc bài toán,

giáo viên cần giúp học sinh xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm Giáo viên đặtcâu hỏi để tìm dữ kiện bài toán:

+ Bài toán cho biết gì? (Có 1 bạn, có thêm 3 bạn nữa )

+ Nêu câu hỏi của bài toán? (Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn)

+ Theo câu hỏi này ta phải làm gì? (Tìm xem có tất cả bao nhiêu bạn)

- Học sinh trả lời giáo viên dùng phấn màu gạch chân dữ kiện bài toán.

- Giáo viên vừa nói vừa chỉ bảng: Như vậy bài toán có lời văn bao giờ cũng

Ngày đăng: 10/02/2017, 11:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w