1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bản Lĩnh Hồ Chí Minh Trong Bài Thơ “Cảnh Khuya”

61 604 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 458,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thơ, một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống, có lúc trong bộn bề việc nước vẫn cất lên những vần thơ bay bổng thể hiện sự thanh thản, ung dung trước những tình thế

Trang 1

BẢN LĨNH HỒ CHÍ MINH TRONG BÀI THƠ “CẢNH KHUYA”

(Đọc bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh)

Đến với con người Hồ Chí Minh, ta thấy được sự thống nhất trọn vẹn giữa thơ và

đời, một bản lĩnh phi thường “xưa nay hiếm”

Về đời, hai mốt tuổi, nuôi chí lớn giải phóng dân tộc, chọn con đường đi riêng giữa bao ngã năm, ngã bảy cuộc đời trong sự so sánh cùng các bậc tiền bối yêu nước tài ba như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh

Về thơ, một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống, có lúc trong bộn bề việc nước vẫn cất lên những vần thơ bay bổng thể hiện sự thanh thản, ung dung trước những tình thế gay go, bức bách; hay có lúc minh chứng cho sự hi

sinh vì một mục đích cao cả, đã đặt mình trong sự lựa chọn đầy bản lĩnh của một

trái tim luôn hướng về đất nước Khám phá thơ Hồ Chí Minh, dù trong phạm vi

hẹp, chỉ một bài như “Cảnh khuya” cũng đủ thấy vẻ đẹp cao cả trong tâm hồn Người

Tìm hiểu bài thơ “Cảnh khuya”, ta thấy những nét vẽ lung linh huyền ảo đêm khuya Việt Bắc và nỗi niềm tâm trạng của vị lãnh tụ kính yêu đã được khắc họa rất

rõ nét :

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Một tâm hồn nghệ sĩ phát hiện cái đẹp, yêu cái đẹp đã tái hiện bức tranh cảnh khuya núi rừng Việt Bắc với vẻ đẹp mê hồn, xao xuyến lòng người Giáo sư Lê Trí Viễn đã phân tích vẻ đẹp hai câu thơ đầu đến độ uyên thâm chưa từng thấy (Sách

Tư liệu ngữ văn7-Trang 131-Nhà xuất bản giáo dục, do Đỗ Ngọc Thống chủ biên).

Theo Lê Trí Viễn, trước vẻ đẹp núi rừng Việt Bắc trong đêm khuya, nhân vật trữ tình “chưa ngủ vì đang mải mê với cảnh, cũng là một lí do đẹp, đó là cái chưa ngủ của nghệ sĩ.Ví thử bài thơ đến đó chấm dứt thì người đọc có quyền nghĩ rằng

đó là lí do duy nhất Nhưng không Chưa ngủ trước có thể nguyên nhân là vậy còn chưa ngủ sau lại như cái chính, đúng hơn, như bổ sung: chưa ngủ vì một lí do khác,

lí do chiến sĩ” Hay là: “Trong nỗi lo dằng dặc về nước nhà, Bác tạm ngừng một phút để lắng sâu vào cảnh vật và Bác đã bắt gặp cái đẹp giữa núi rừng khuya trong khoảnh khắc dành cho trái tim nghệ sĩ của mình”

Bài thơ chỉ có hai tám chữ mà dành cho thiên nhiên đến mười tám chữ, phần nối tiếp là cụm từ “chưa ngủ ”được đặt vào cuối câu thứ ba (3/4 câu trong cả bài); trong thời điểm thời gian đêm khuya, giữa ngổn ngang công việc, chủ thể trữ tình đang đối diện với vẻ đẹp mộng mơ của cảnh vật, chính những yếu tố này rất dễ dồn hút người tiếp nhận khai thác bài thơ theo cách mổ xẻ vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên

và cho rằng chủ thể trữ tình “chưa ngủ” với hai lí do,trong đó có lí do đang hướng vào cảnh vật ở tâm thế hướng ngoại Vì thế, xưa nay có rất nhiều bài viết đã phân tích theo hướng Bác “chưa ngủ” vì một trong những lí do “ tạm ngừng một phút để lắng sâu vào cảnh vật “của “trái tim người nghệ sĩ” Trong đêm khuya tĩnh mịch thanh vắng, thời điểm thời gian đủ cho thấy sự căng thẳng trong việc nước, nếu dành thời gian chút ít để hướng về thiên nhiên, chan hòa cùng cảnh vật, ấy cũng là

Trang 2

lẽ thường tình Nhưng đọc kĩ bài thơ, qua các tín hiệu ngôn ngữ, ta lại cảm nhận ở một khía cạnh khác, đó là chủ thể trữ tình không hề có giây phút “lắng sâu vào cảnh vật” theo như cách hiểu trên Và như thế, việc tiếp cận lại phải suy nghĩ theo chiều hướng khác, đó là dựa trên cơ sở khách quan ngôn ngữ để phân tích, mổ xẻ bài thơ một cách khoa học nhất

Bài thơ vừa nói đến vẻ đẹp thiên nhiên, vừa nói đến tâm trạng lo lắng việc nước, vậy Bác “chưa ngủ” là để hướng về thiên nhiên hay hướng về tâm trạng; hay

“chưa ngủ” để hướng về cả hai ?

Nếu như “chưa ngủ vì đang mải mê với cảnh”của nghệ sĩ và “chưa ngủ” vì “lí

do chiến sĩ” thì rõ ràng cụm từ này xuất hiện hai lần, bị xé lẻ ra để thể hiện hai nội dung khác nhau Như thế, việc lặp lại vô hình trung đã trở nên dài dòng, rắm rối trong diễn đạt Theo cách hiểu này, ngôn ngữ biểu đạt trong thơ trở nên rườm rà, dàn trải, thô thừa; cách dùng từ không mang tính nghệ thuật, vì thế đã thiếu đi độ lắng của dòng cảm xúc Trong khi đó, cách diễn đạt trong thơ tứ tuyệt lại cần kiệm lời, hàm súc Cho nên, với cụm từ “chưa ngủ” cần phân tích trên phương diện tu từ học, đặt trong hệ thống kết cấu bài thơ mới thấy được tính hữu dụng của nghệ thuật ngôn từ trong việc chú trọng thể hiện vẻ đẹp lòng yêu nước cao cả của Bác

Bài thơ tứ tuyệt xinh xắn, sau hai câu thơ đặc tả là cụm từ nhận xét về bức

tranh : cảnh khuya như vẽ Kết hợp miêu tả và bình luận, bức tranh núi rừng Việt

Bắc đêm khuya được thể hiện bằng cả cảm xúc và lí trí Ý thơ chặt chẽ, trong kết cấu chỉnh thể ấy, “chưa ngủ” đã thể hiện trạng thái cảm xúc hiện tại của chủ thể trữ tình Trong bài thơ, với cách sử dụng điệp ngữ nối tiếp “chưa ngủ”, cụm từ trước là tiền đề của cụm từ sau; cụm từ sau áp chồng lên cụm từ trước đã tạo nên một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc cho bài thơ Chính từ điểm sáng thẩm mĩ này, trạng thái

“chưa ngủ” đang dồn nén vào tâm trạng “lo nỗi nước nhà” của Bác Một lời giải

thích nhẹ nhàng bật ra rất tự nhiên, liền mạch chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà chứ

không phải hướng ra ngoại cảnh Như thế, với cụm từ “chưa ngủ”, phân tích ở phương diện tu từ và trong kết cấu mang tính logic đã làm cho ý thơ trở nên cô

đọng nhằm biểu đạt một nét nghĩa duy nhất trong sự lựa chọn của Bác: chưa ngủ

vì lo nỗi nước nhà Vì vậy, bức tranh thiên nhiên trong nét vẽ của Hồ Chí Minh lúc

này chỉ là cái cớ để Người bộc lộ nỗi lòng mình trong một hoàn cảnh đặc biệt Chính cách thể hiện này đã giúp ta thấy một tinh thần trách nhiệm cao cả, một tư tưởng lớn đẫm màu sắc chính trị mà không tỏ ra phô diễn, lên gân; trái lại còn được diễn đạt một cách khéo léo, mềm mại, uyển chuyển nhất

Bài thơ được viết vào năm 1947, khi tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, với cương vị chủ tịch nước trên vai nặng gánh sơn hà mà vẫn cất lên vần thơ bay bổng, lãng mạn, tao nhã, thanh nhẹ như thế cũng đủ thấy cái tĩnh, cái ung dung tự tại của Bác đến nhường nào! Tưởng chừng có sự mâu thuẫn giữa ngoại cảnh và chủ cảnh nhưng thực chất là một thể thống nhất trong ứng đối của Người Ngoại cảnh không xâm nhập được vào chủ cảnh; yếu tố khách quan không lay động được yếu tố chủ quan; chất thép bất biến trong nét vẽ thanh thoát mềm mại về bức tranh miêu tả sự vận hành của vũ trụ một cách uyển chuyển từ ngòi bút sắc sảo đủ thấy sự cứng cỏi vượt lên để chiếm lĩnh hoàn cảnh của Bác Trong tình thế đất nước vô cùng cam go nhưng Người vẫn cảm thức về thiên nhiên với tất cả vẻ đẹp của nó, điều đó chứng tỏ rằng dù trong hoàn cảnh nào Bác vẫn luôn bình tĩnh, chủ

Trang 3

động, nhẹ nhõm, sảng khoái, tỉnh táo để lo nghĩ việc nước Một trạng thái cân bằng tinh thần được tôi luyện trong thực tế đã bước vào thơ một cách nhẹ nhàng,

tự nhiên Bức tranh thiên nhiên càng đẹp, càng hấp dẫn, lôi cuốn, mê hoặc càng

chứng tỏ sự vững vàng về tinh thần trong con người Hồ Chí Minh Người đã đặt

mình trong sự lựa chọn nhẹ nhàng, thoải mái giữa thưởng thức thiên nhiên và

lo việc nước; một bản lĩnh chính trị rắn rỏi mà không hề khô cứng.

Càng đi sâu tìm hiểu bài thơ, ta càng thấy sự sâu sắc, ý vị trong cách thể hiện của Bác Nếu chỉ bằng cái nhìn cảm tính, ta tưởng chừng trong cách sử dụng ngôn ngữ, hai câu cuối mờ nhạt hơn so với hai câu đầu Nhưng phân tích tường tận, ta mới nhận thấy sự sâu sắc của một cây bút tài năng trong việc lựa chọn ngôn từ Là bài thơ tứ tuyệt, thông thường từ ngữ rất cô đúc, gọt giũa, nhưng ở bài thơ này, bên cạnh ngôn ngữ bác học uyên thâm, ta lại thấy tác giả đã dùng hư từ cùng những từ gần gũi như lời ăn tiếng nói giản dị của nhân dân

Trong tổ hợp từ chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, cách dùng quan hệ từ “vì” liệu

có làm giảm đi giá trị nghệ thuật trong bài thơ Đường luật vốn rất cô đọng, súc tích hay không? Trong thơ tứ tuyệt, việc dùng hư từ là rất hiếm, tuy nhiên vẫn có sự

ngoại lệ đối với những cây bút tài năng Hồ Xuân Hương trong bài Bánh trôi nước

đã dùng các quan hệ từ “mặc dầu”, “mà”, “vẫn” trong hai câu thơ Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Mà em vẫn giữ tấm lòng son đã mang lại giá trị thẩm mĩ cao nhằm tôn

lên vẻ đẹp người phụ nữ trong xã hội phong kiến dám đương đầu, thách thức để vượt lên ngoại cảnh, đưa vị thế bài thơ trong giá trị cách tân của nó Với bài thơ này, cũng nằm trong trường hợp ngoại lệ đó Việc nhà thơ dùng quan hệ từ “vì” xuất hiện sau điệp ngữ “chưa ngủ” không đơn thuần giải thích hiện tượng mà thể

hiện ở mặt bản chất nhất, đạt giá trị cao hơn trong cung bậc cảm xúc lo nỗi nước nhà của Bác Điều đó đã khẳng định sự tuyệt đối trong tâm thế hướng nội của một

trái tim nhiệt huyết luôn hướng về đất nước Như thế, bức tranh thiên nhiên Việt Bắc đêm khuya với bút pháp lãng mạn tuyệt đỉnh đầy cám dỗ nhưng đành bất lực trước một bản lĩnh thép phi thường!

Bức tranh thiên nhiên nhiên núi rừng Việt Bắc giữa đêm khuya vô cùng tinh

tế trong nét bút tài hoa của người nghệ sĩ đến đắm lòng Yêu đến thế, hiểu đến thế, vậy mà nhịp đập chỉ hướng vào trái tim người chiến sĩ Thật cảm động! Trong lúc này, dù một giây lát thưởng thức thiên nhiên cũng có nghĩa là đang hướng về cõi riêng trong tâm hồn nghệ sĩ Nhưng cái riêng đó được gác lại như một cách hy sinh bản thân, một sự quên mình để hướng về cái chung “nỗi nước nhà” bằng tinh thần trách nhiệm cao cả Tác giả đã lấy cái thực thiên nhiên nhằm lột tả cái thực tình huống nội tâm, đưa con người thoát ra sự mê hoặc của thiên nhiên, ngoại cảnh một cách nhẹ nhàng, êm ái để tư tưởng tập trung cho một mục đích lớn lao Một cá thể nhỏ nhoi giữa trời đất bao la, trong sự tương phản ấy, tưởng chừng vũ trụ sẽ chiếm

lĩnh con người Nào ngờ, một trái tim nóng bỏng yêu thương dành cho đất nước

đã lấn lướt không gian trong tâm thế chủ động, đến vũ trụ phải còn kiêng nể!

Bài thơ đi vào lòng người ở độ lắng sâu của nó Sự nhuyễn nhàng qua cách thể hiện vẻ đẹp lãng mạn và hiện thực, vậy sao người đọc còn ngẫm nghĩ, suy tư? Trong sử dụng ngôn ngữ có vẻ không hài hòa, đồng điệu nhằm dụng ý gì chăng? Trong hai câu thơ đầu, từ ngữ rất gọt giũa, như là cái đẹp của ngôn ngữ bác

học được hội tụ hết vào đấy để có được cảnh khuya như vẽ cốt minh chứng cho

Trang 4

bản lĩnh phi thường của Bác Hai câu thơ sau, từ ngữ lại rất đời thường, giản dị nhằm biểu đạt hoàn cảnh thực tế khách quan đang tác động mạnh mẽ đến nội tâm của nhân vật trữ tình giúp ta thấy được chiều sâu tâm trạng.

Đọc câu thơ cuối, ta nhận thấy sự xuất hiện liên tiếp của ba từ “vì”, “lo”,

“nỗi”, những từ vốn rất bình thường, thông dụng trong giao tiếp dân gian, đậm chất khẩu ngữ được nằm trong chỉnh thể logic của tổ hợp từ “vì lo nỗi nước nhà” đầy ẩn

ý Một sự kết hợp tự nhiên, khéo léo giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ chuẩn mực đã làm cho ý thơ thêm chặt chẽ, cô đọng, giàu sức khái quát Cách diễn đạt giản đơn mà rất đỗi cao siêu Cái bình thường đặt bên cạnh sự lớn lao; cái tình cao

cả được thể hiện một cách khiêm nhường nhất, đó chính là sự thống nhất, hài hòa trong con người Hồ Chí Minh Một lí tưởng cao cả, một khát vọng sống mãnh liệt

được thể hiện trọn vẹn trong một tứ thơ dung dị chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Chính sự dung dị ấy đã làm cho bài thơ thêm đậm chất trữ tình, ngân vút lên lan

tỏa giữa cuộc đời bởi chất thơ được toát lên từ hiện thực của một trái tim khát

khao dâng hiến đến tận cùng cho non sông, đất nước Đến với thơ Bác cũng là

đến với con người Bác bằng tất cả sự khâm phục, ngưỡng mộ và tôn kính Nhân loại luôn cảm nhận được ở Người, một lãnh tụ mang tầm vóc vĩ đại, thiêng liêng nhưng lại rất gần gũi, bình dị giữa đời thường từ trong cách viết cũng như trong

kiến thức- kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 9, tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa, Đinh Chí Sáng- Nhà xuất bản Giáo dục) Ở góc độ người tiếp nhận, ta có thể cảm

nhận được vẻ đẹp truyền thống trong tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam qua nhân vật Vũ Nương (Sách giáo viên Ngữ văn 9- tập1- Nhà xuất bản Giáo dục) theo quan điểm nho giáo hay không? Nếu có thì ở mức độ nào?

Trong quan điểm nho giáo, chuẩn mực vẻ đẹp người phụ nữ đó là công, dung, ngôn, hạnh Với Vũ Nương, điều dễ nhận thấy nhất ở nàng là chữ công, biểu hiện tình thương yêu, trách nhiệm của nàng dâu hiếu thảo trong việc nuôi con nhỏ và chăm sóc mẹ chồng chu đáo lúc đau ốm khi chàng Trương đi xa Mẹ chồng mất,

Trang 5

nàng đã lo liệu ma chay trọn vẹn Nhưng xem ra việc thể hiện chữ công như vậy

cũng chẳng có gì là khó khi nàng có ý thức nương tựa nhà giàu, không phải đối

mặt với sự thiếu thốn về vật chất So sánh những người phụ nữ khác cùng hoàn cảnh như nàng, đạt được chữ công là cả vấn đề phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một

sự hy sinh rất lớn, thậm chí cả tính mạng của mình Ca dao đã mượn hình ảnh con

cò để nói lên nỗi gian khó kiếm miếng ăn nuôi con, nuôi mẹ :

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Người phụ nữ gánh trên vai cả một nội nước lo toan để chồng yên tâm nơi

chiến trận Cuộc sống của họ lận đận lần bữa, một mình lẻ loi cô độc lên thác xuống ghềnh giữa không gian rộng lớn với bao nguy hiểm luôn rình rập Ban đêm

mò mẫm kiếm ăn, trong hoàn cảnh éo le lộn cổ xuống ao, nguy hiểm đến tính

mạng Cũng phận làm dâu, chữ công còn lớn gấp bội nàng khi những tấm gương

như Xuân Đào (Sân khấu Nhà hát tuồng Việt Nam), Thoại Khanh (Truyện nôm Tống Trân Cúc Hoa) đã sẵn sàng cắt thịt nuôi mẹ chồng khi không tìm kiếm nổi

miếng ăn Xa hơn nữa, trong điển tích Trung Quốc, tận cùng túng đói, khốn cùng, Quách Cự bàn vợ và họ đã thuận tình chôn con dành miếng ăn cho mẹ Đặt bên cạnh họ, chữ công của Vũ Nương quá đỗi bình thường

Nói về chữ dung, chỉ bằng nét chấm phá ước lệ ta cũng thấy được tạo hóa đã

ưu ái cho nàng Với vẻ đẹp nổi trội trời cho và đấng sinh thành chăm chút nấng nuôi, đáng ra dung nhan ấy, nàng sẽ tô điểm cho sắc màu cuộc sống đẹp đẽ hơn trong niềm tự hào của cha mẹ, chồng con Nhưng trái lại, nàng đã lựa chọn con đường giải thoát gieo mình xuống sông tự vẫn, đem lại nỗi đớn đau cho đấng sinh thành khi đeo đẳng tội nghiệp chướng tối kị theo quan niệm dân gian Người đời

đã tôn thờ, ngưỡng mộ vẻ đẹp của nàng; còn nàng, nàng không biết nâng niu, trân trọng, bảo tồn món quà tạo hóa ban tặng mà đã chối bỏ một cách nghiệt ngã khi vẫn có thể tìm lối thoát trong bế tắc, đó là vòng tay ôm ấp, chở che của hàng xóm, láng giềng Vậy ra, chữ dung của nàng cũng thật nhạt nhẽo, chẳng đáng gì mà nói.Trong chuẩn mực công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ phong kiến, chữ ngôn vừa thể hiện sự khéo léo, tài năng, cũng là một phần của vẻ đẹp tâm hồn Nàng đã bộc lộ chữ ngôn của mình một cách mềm mại, khéo léo nhất nhưng chỉ trong yên ả cuộc sống Còn trước biến cố cuộc đời, chữ ngôn đã vô hiệu hóa khi không đủ sức thuyết phục Trương Sinh Giá như chàng Trương sâu sắc, ghen tuông

ẩn náu theo kiểu đức ông chồng cao siêu có học, chì chiết, bóng gió lạnh lùng vô nguyên cớ thì việc gỡ tháo mới thật nan giải Đằng này, Trương Sinh đã bộc trực nói thẳng ra nguyên nhân sự giận dữ do ghen tuông, thì việc đối phó hoàn cảnh

không hoàn toàn là khó Ban đầu chàng chỉ la um cho hả giận, nàng đã không im

lặng, nhẫn nhục đợi cơn bốc lửa nguôi ngoai để dựa vào thời gian, dù chưa tìm ra ngọn nguồn cơn ghen thì sẽ chứng minh bằng cuộc sống của chính nàng, lẽ nào

không lay chuyển tình thế? Trái lại, nàng vội vàng cởi mối nghi ngờ, thúc dồn Trương Sinh hỏi chuyện kia do ai nói , như thế khác nào tự phanh phui mâu thuẫn,

tạo cơ hội cho cơn ghen bùng phát Qua xử sự của nàng, chữ ngôn không những trở nên vô hiệu quả mà còn là yếu tố đưa đẩy cơn giận chàng Trương theo chiều

Trang 6

hướng tăng tiến Anh hùng không qua ải mĩ nhân, trong hai năm đằng đẵng khát

khao tình vợ chồng chăn gối, với ưu thế dung nhan trời phú, nếu biết cách khôn

ngoan khéo léo, lựa lời mà nói thì cớ chi chàng Trương không mềm lòng Thế

nhưng nàng đã bó tay, bất lực, không biết cách xoa dịu, ứng đối trong lúc cần thiết Chữ ngôn đưa vào thử thách đầu tiên của cuộc đời, nàng không chứng tỏ được, sao

Cái chết nàng lựa chọn là một thái độ sống vô trách nhiệm với xóm làng và đặc biệt mẹ chồng nơi chín suối đau đáu một niềm tin vào nàng; với con thơ dại cút côi cần mẹ chăm bẵm và đấng sinh thành khổ đau vì cái chết phũ phàng nàng gieo nên Trước khi chết, nàng ước nguyện “làm ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ” cũng chỉ mong điều tốt cho riêng bản thân mình Một cái chết không ngoài mục đích minh chứng cho sự tròn trịa của nàng Qua hành động đủ thấy Vũ Nương là người phụ nữ đầy ích kỉ, không có đức hi sinh

Ích kỉ và không biết nhẫn nhục đã làm con người nàng trở nên khô cứng Chi tiết nghệ thuật đặc sắc chiếc bóng lúc này đã thể hiện tính hữu hiệu trong việc chứng minh nàng là người phụ nữ thiếu đi chữ nhẫn Chiếc bóng đã vận vào nàng nỗi oan khiên thì nó cũng trả lại công bằng cho nàng rất nhanh, đó là khoảng thời gian được tính bằng sự nhỏ dại của con thơ chưa biết phân biệt giữa người và bóng Giá như nàng kiên nhẫn và chờ đợi? Trong hoàn cảnh này, thời gian là thước

đo phẩm hạnh, nhưng do vội vã và thiếu hiểu biết triết lí sống dân gian về luật nhân quả, kèm theo ý thức sống nương nhờ, sống ảo nên trước thực tế cuộc sống khi phải đối mặt với thử thách nàng đã không nhẫn nhịn để vượt qua Giá lúc này nàng không vội vàng tìm nguyên nhân trong sự co kéo tay đôi theo cách đổ thêm dầu vào lửa để đẩy cơn giận dữ của Trương Sinh lên đỉnh điểm, nguyên cớ của hành động vũ phu? Mâu thuẫn lên đến tột độ, tại sao lúc này nàng không biết dùng chữ nhẫn chế ngự cơn nóng giận để chồng không có cơ hội gây tai họa? Khi cơn ghen đã đến cao trào của nó, chàng Trương không thể kiểm soát hành động của mình, sao nàng vội vàng đến mức lấy cớ đó, bình tĩnh, chủ động đến với cái chết? Lúc này chẳng phải chữ nhẫn hóa thân thành chữ đức để người đời soi xét? Như thế, rõ ràng cái bóng là nguyên nhân dẫn đến bi kịch; nhưng nếu biết nhẫn nhịn như bao người phụ nữ khác để cứu vãn tình thế thì bi kịch này không dẫn đến

nghiêm trọng, không tan nát đến mức thánh thần, trời phật cũng có thể an ủi bù đắp chút ít chứ không cứu lại được (Giáo sư Nguyễn Đình Chú - Nói thêm về Chuyện người con gái Nam Xương) Chính nàng không có ý thức tự cứu mình thì

ai có thể cứu nàng?

Dân gian có bao cảnh đời phụ nữ bế tắc, nhưng họ đã đặt mình trong sự lựa chọn đầy hi sinh Thị Kính đã tìm cách giải thoát bằng con đường đi tu và hóa

Trang 7

thành Phật Bà được nhân dân tôn thờ, ngưỡng mộ; hay như con cò tận cùng bế tắc

vẫn nhẫn nhục cầu xin, lựa chọn cái chết trong sạch: Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con nhằm để cái hậu mai sau con cháu có tiếng

thơm, tiếng thảo Oan khiên như Vũ Nương thế gian này không thiếu, nhưng nóng vội để xử sự theo cách của nàng thì quả thật hiếm có

Sự ích kỉ, thiếu nhẫn nhịn là nguyên nhân của bi kịch; còn sự vô cảm, lạnh lùng dẫn đến độ tàn nhẫn đã bổ sung hoàn hảo phần khiếm khuyết trong đức hạnh của nàng Chính nàng đã kiểm soát được hành vi của mình khi bình tĩnh đến mức còn tắm gội chay sạch, kèm theo những lời than phân trần, những ước nguyện tốt đẹp rồi mới gieo mình Nàng chết để chứng minh sự vô tội của mình đồng thời cảnh báo hành động của Trương Sinh, khác với những cái chết do căng thẳng, ức chế, bức tử, dồn ép Nàng quả thật táo bạo, vô cảm

Nguyễn Dữ là cây bút tài ba trong sáng tạo nghệ thuật khi thêm phần li kỳ trong tác phẩm để nàng sống tiếp ở thủy cung với dụng ý bóc trần cái thực của con người Vũ Nương một cách hoàn chỉnh, thống nhất Mặc dù đã bước sang cõi khác, nhưng trong những lời trò chuyện cùng Phan Lang, ta thấy nàng vẫn còn dai dẳng mối thù hận chàng Trương.Trước sự thuyết phục của Phan Lang, ngỡ nàng đã nguôi lòng khi gửi tín vật cho Trương Sinh để chàng lập đàn đưa Vũ Nương lại

chốn nhân gian Nhưng cuộc trở về nguy nga lộng lẫy, Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông đủ cho người đời nhận thấy trong tiếc nuối rồi nhanh chóng

biến mất trước sự ngỡ ngàng, bất ngờ! Sao nàng lại gieo hi vọng cho Trương Sinh

và cướp đi niềm hi vọng ấy trong một con người đã biết ân hận, sám hối, chờ đợi, khao khát đúng kiểu của con người? Sao nàng trở về và biến mất để thêm một lần khẳng định sự trong sạch của mình và thêm một lần trừng phạt Trương Sinh? Lạnh lùng đến độ tàn nhẫn! Kiểu đàn bà như nàng chỉ ôm một cái bóng- ảo ảnh để khỏa lấp chỗ thiếu vắng tinh thần và sống bằng ý thức nương nhờ nên khi đối mặt với thử thách trong thực tế, không thõa mãn sự tôn thờ (trong quan niệm của nàng), cơn nư nẩy đã trỗi dậy trong lớp vỏ bọc dịu dàng, hiền thục đem lại sự nhầm lẫn

cho bao người Nàng quả là kiểu người phụ nữ với bề ngoài thùy mị nết na

nhưng ẩn chứa trong đó một bản tính vô cảm, lạnh lùng đến tàn nhẫn mà đôi khi người đời đã coi đó như một chuẩn mực của đạo đức.

Theo phân tích, nhân vật Vũ Nương vẫn có đầy đủ yếu tố công, dung, ngôn, hạnh nhưng chỉ biểu hiện một cách mờ nhạt trong đời thường phẳng lặng,bình yên Một cách sống cá biệt khác xa với những người phụ nữ cùng thời đại của nàng Trong chế độ phong kiến nam quyền lộng hành, họ vẫn cam chịu trước những bi kịch cuộc đời bằng tất cả sự hi sinh, trách nhiệm và ý thức về phẩm giá như câu thơ quặn lòng, xa xót của Hồ Xuân Hương :

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Cõi nhân gian không có chỗ cho nàng vì đã con người, dù mềm yếu, mỏng

manh cũng không thể sống nương nhờ như cây tầm gửi hay theo kiểu ôm ấp ảo ảnh

để rồi tuyệt vọng khi cái thực hiển hiện Là con người ắt có lúc phải đối diện với những thử thách, chông gai của cuộc đời Điều quan trọng là ta phải chấp nhận nó,

Trang 8

phải ứng đối với nó bằng hiện thực của cuộc sống trong sự bảo tồn theo quy luật

xã hội, chứ không thể xử sự theo cách của Vũ Nương

Tìm hiểu truyện ngắn Chuyện người con gái Nam Xương, nhìn nhận từ bi

kịch, ta thấy những hành động củaVũ Nương là biểu hiện của sự, ích kỉ, lạnh lùng, tàn nhẫn mang tính cá biệt khi đặt nàng trong sự so sánh với người phụ nữ đương thời Như vậy, nhân vật Vũ Nương soi xét khách quan ở chiều thuận và chiều nghịch của nó trên mọi phương diện, ta có nên coi nàng là người phụ nữ lí tưởng trong xã hội phong kiến theo quan niệm xưa nay hay nên có cách nhìn nhận mới?

2 Một sự cảnh tỉnh trong bi kịch hôn nhân.

Càng tìm hiểu câu chuyện, ta càng có cảm giác hứng thú bởi sự sâu sắc của Nguyễn Dữ khi từ cái chết của Vũ Nương đã đưa ra một bức thông điệp nhằm cảnh tỉnh trong bi kịch hôn nhân

Câu chuyện cổ tích sinh hoạt Vợ chàng Trương phát triển thành truyện ngắn Chuyện người con gái Nam Xương là một sáng tạo của Nguyễn Dữ trên nhiều hình thức Cả hai đều xoay quanh bi kịch Vũ Nương, nhưng ở Người con gái Nam Xương ta nhận thấy chiều sâu ở đối tượng phản ánh Nếu Vợ chàng Trương chỉ nêu hiện tượng bi kịch thì Người con gái Nam Xương lại thêm những tình tiết, yếu

tố bổ sung vừa giải thích, chứng minh và khẳng định bản chất hiện tượng để người đọc chiêm nghiệm

Từ một câu chuyện cổ tích có nhan đề Vợ chàng Trương, đối tượng phản ánh

ở một phạm vi hẹp mang tính cá thể trong một gia đình, nhưng ở truyện ngắn của mình, qua nhan đề, phải chăng Nguyễn Dữ đã mở rộng phạm vi và đối tượng, đó là chuyện của người con gái Nam Xương? Phải chăng từ một vấn đề của một con người cụ thể đã trở thành chuyện để người đời soi chiếu? Phải chăng không còn là câu chuyện của người phụ nữ trong trong gia đình nữa mà là sự cảnh tỉnh với những người con gái cận kề hôn nhân cần có ý thức và thái độ sống phù hợp khi đang trói buộc trong chế độ phong kiến nam quyền?

Bi kịch Vũ Nương bao đời nay đã trở thành nỗi ám ảnh trong nhận thức của nhiều người Nhưng nhìn nhận một cách hiện thực nhất, điều trước tiên cần nói là bản thân nàng không hiểu thân phận, không đặt mình trong bối cảnh xã hội đang sống, đó là mỗi cảnh đời phụ nữ gánh chịu một bi kịch của cuộc đời Trong văn học dân gian cũng như văn học viết trung đại đều đề cập số phận đắng cay của người phụ nữ trên mọi khía cạnh Từ cung vua phủ chúa đến người nông dân lam

lũ, họ đều gánh chịu bi kịch của thân phận, bi kịch của hôn nhân, bi kịch về sự lộng hành gia trưởng nam quyền Nhà thơ Nguyễn Du, trong kiệt tác Truyện Kiều

đã viết nên những câu thơ đầy tính khái quát về số phận đớn đau của người phụ nữ phong kiến:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!

Hầu như người phụ nữ phong kiến đã chấp nhận số phận nghiệt ngã bằng tất

cả sự nhẫn nhục, cam chịu và hi sinh Còn Vũ Nương, trong ý thức sống dựa dẫm, khi đối mặt trước thử thách, nàng đã chạy trốn, muốn thoát li khỏi bể khổ để bảo

vệ cho cá nhân của nàng mà không hay nghĩ đến người khác

Suy cho cùng, thái độ sống dựa dẫm cùng sự ích kỉ đã làm nên bi kịch của chính cuộc đời nàng Nếu nàng không vịn vào cái bóng để bù lấp chỗ trống khi

Trang 9

chồng đi xa thì liệu có sự hiểu lầm của Trương Sinh hay không? Rồi khi đã sinh ra mâu thuẫn, tại sao nàng không nhẫn nhịn để kiềm chế, trái lại còn giằng co tìm câu trả lời nhanh nhất trong căng thẳng của xung đột và kết cục tìm đến cái chết? Trong trường hợp của nàng, nếu một người phụ nữ khác biết sống cam chịu, hi sinh và nhẫn nhục thì vẫn có thể hạn chế được bi kịch Hay có thể khi tận cùng của

bế tắc vẫn không tìm lối thoát bằng tự vẫn mà tìm hình thức khác như Thị Kính chẳng hạn! Người phụ nữ trong xã hội phong kiến nam quyền, hơn ai hết phải ý thức về thân phận, đồng thời truyền dạy cho thế hệ sau những kinh nghiệm, vốn sống để hạn chế bi kịch chủ quan và khéo léo ứng xử trước bi kịch khách quan

Vậy chẳng phải bi kịch Vũ Nương chính là sự cảnh tỉnh trong bi kịch hôn nhân hay sao?

Xung quanh bi kịch Vũ Nương đã được người đời luận bàn rất nhiều Yếu tố khách quan đầu tiên để người đời coi như cái cớ để vin vào là do chiến tranh đã tạo nên khoảng trống không gian và thời gian làm nên sự hiểu lầm, nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cái chết của nàng Lịch sử xã hội phong kiến, chiến tranh liên miên chống ngoại xâm hay trong nội lòng của nó, đâu chỉ mình Trương Sinh đi trận, đâu chỉ mình Vũ Nương sống cảnh gối chiếc chăn đơn! Cái bóng xen vào trong li tán là ngọn nguồn sự hiểu lầm dẫn đến ghen tuông, nhưng nó không có tội khi Vũ Nương

đã tự mượn nó để đánh lừa con, đánh lừa hạnh phúc chính bản thân mình Mỗi người có một cái bóng của chính mình nhưng ngoài nàng ra thử hỏi có ai nương vào cái bóng để đánh lừa cảm giác theo cách ấy? Nếu ai cũng như nàng, khi chồng

đi lính, vin vào cái bóng rồi xử sự kiểu nàng thì thất thoát về số lượng con người còn lớn hơn so với cuộc chiến! Nàng dùng chiếc bóng để khỏa lấp khoảng trống thời gian, không gian thực bằng ảo ảnh phi thực cũng có nghĩa nàng không dám đón nhận thực tế cuộc sống đời thường ở mặt thực tiễn của nó Khi chuyện xảy ra,

nàng xử lí theo cách của phận nương nhờ, của cuộc sống ảo, không bằng ý thức

giải quyết mâu thuẫn trong thực tế nhằm duy trì cuộc sống Vì thế, nàng đã sụp đổ, tuyệt vọng ngay khi cái thực cuộc sống chớm đến Mà cái thực cuộc sống thì luôn luôn xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi chứ đâu chỉ trong xa cách chiến tranh Cuộc sống đời thường, dù vợ chồng kề cạnh thì những hiểu lầm, những mâu thuẫn xung đột bất ngờ vẫn luôn xảy ra do yếu tố khách quan và cả chủ quan, chứ đâu phải xa nhau mới sinh ra, như Ô Ten Lô, một nhân vật trong vở kịch nổi tiếng của Sêchx- Pia chẳng hạn Như vậy, với trường hợp Vũ Nương, ta có thể loại trừ cái chết của nàng là do chiến tranh

Vậy có phải Trương Sinh đã đẩy nàng đến cảnh tuyệt tận hay không?

Trương Sinh đã có hành vi thô bạo đối với Vũ Nương khi không tìm hiểu, suy xét và thiếu niềm tin vào nàng Điều đó thật đáng trách nhưng cũng có thể cảm thông bởi nó xuất phát từ căn nguyên rất thật của con người, đặc biệt với đàn ông,

đó là ghen Mà cơn ghen của chàng cũng thật có lí Từ lời con trẻ: có một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả Xa nhà hai năm, nếu trong hoàn cảnh này, làm chồng

không ghen mới là điều bất thường Về nhân vật Trương Sinh, ta nên nhìn chàng với cái nhìn phóng khoáng hơn, bởi chàng đã sinh ra, tồn tại, hành xử trong cái thật nhất của con người đó là có sai, có đúng, có ân hận, có khao khát, có trước, có sau

Cơn ghen bắt đầu la um cho hả giận, sau đó đến mắng nhiếc rồi đuổi đi Nếu nàng

Trang 10

nhẫn nhịn, khéo léo xử sự để tháo gỡ trước những khúc mắc của cuộc đời thì chắc

sẽ không dẫn đến hậu quả đáng tiếc Mà Vũ Nương cũng thật cạn nghĩ, ngoài cơn ghen do hiểu lầm đem lại tổn thương cho nàng trong thời điểm hiện tại, nàng đã có những lợi thế khác mà trong xã hội của nàng mấy ai có được Đó là Trương Sinh xuất thân con nhà hào phú, giàu sang và có thế lực Mẫu thân chàng là người hiểu biết trong việc đánh giá mặt ưu điểm của Vũ Nương Đặc biệt bà đã xóa nhòa quan niệm môn đăng hộ đối, biết tạo sự gần gũi mẹ chồng nàng dâu là điều hiếm thấy trong xã hội phong kiến bấy giờ Còn bản thân Trương Sinh đã chọn lựa Vũ Nương

bởi mến vì dung hạnh, chàng đã biết đặt cái đẹp hình thức bên cạnh cái đẹp đức

hạnh, cũng đủ thấy chàng không hề dại dột Như thế, dù không học thì chàng vẫn thuộc con nhà dòng giống ở mặt ưu thế nhất Nếu Vũ Nương biết xử sự đúng mực, biết nhẫn nhục, hi sinh, chờ đợi cơn bão tố qua đi thì nàng quả là người may mắn Những biến cố xung đột do ghen tuông như thế hẳn không thiếu trong mỗi gia đình Dù không có lợi thế như nàng, nhưng để bảo tồn cuộc sống, ít ai xử sự theo kiểu của nàng

Nói đến hành động vũ phu của Trương Sinh, vậy tại sao thường ngày nàng vẫn khéo léo, dịu dàng trong ăn nói, nhưng lúc xảy ra chuyện, nàng không vận dụng vào thực tế để kiềm tỏa chồng? Mà Trương Sinh, chàng cũng có nhiều ưu điểm như ân hận tìm vớt thây nàng dù đang trong giận dữ chưa hiểu trắng đen, ôm nỗi đau khi biết nàng oan trái, khao khát chờ đợi nàng Như thế đâu phải Trương Sinh

vô cảm đến mức không thể thuyết phục Sự hiểu lầm dẫn đến bi kịch bắt đầu từ cái bóng, mà cái bóng chẳng phải là yếu tố chủ quan do nàng tạo nên hay sao? Rồi nàng vội vã đến với cái chết trong lúc vẫn có lối thoát khác Nếu một phụ nữ khác đặt trong hoàn cảnh nàng sẽ không có kết thúc bi thảm Như thế, cái chết này có liên quan đến Trương Sinh chứ không phải Trương Sinh tước đoạt cuộc sống của nàng Loại trừ yếu tố khách quanh, cái chết của Vũ Nương hoàn toàn thuộc về chủ quan của chính bản thân nàng Từ cái chết này giúp ta nhận thức hơn về cuộc sống Cha ông đã nhìn nhận người phụ nữ ở góc độ đầy cảm thông, thấu hiểu:

Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

Trong chế độ nam quyền, người phụ nữ vốn đã rất đau khổ khi phải sống lệ thuộc hoàn cảnh Nhưng còn khổ đau hơn nữa trong sự hiểu lầm ghen tuông vì đối

với ghen tuông, người khôn hay người phàm đôi khi không có ranh giới Làm

người phụ nữ, người vợ, trong căng thẳng xung đột biết biến chữ nhẫn thành chữ đức như một sự hi sinh

Tất cả bi kịch của cuộc sống, bi kịch ghen tuông vẫn dễ cảm thông nhất Dù

ở hình thức này hay hình thức khác thì ghen tuông là mặt hạn chế của con người trong mọi thời đại, như một câu chuyện muôn thuở, mãi mãi không có đáp án, dù bạn là người thông minh nhất!

CÁI “HÓM” TRONG BÀI THƠ “BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ”

(Đọc bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến)

Trang 11

Bạn đến chơi nhà là bài thơ đặc sắc nói về tình bạn của Nguyễn Khuyến Bài

thơ nôm gần gũi, giản dị, diễn đạt nhẹ nhàng nhưng thâm sâu và cũng rất

“hóm”qua việc tiếp bạn theo cách riêng của nhà thơ Khi mà Nguyễn Khuyến không còn danh lợi thì việc bạn đến chơi nhà đã trở thành một sự kiện, một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời, đủ khẳng định sự chân thành, trong sáng trong tình bạn

Đó là sự khao khát tình cảm, tìm đến nhau để tâm giao, chia sẻ chứ không vì một

lẽ gì khác Đấy cũng chính là mạch nguồn cảm hứng để nhà thơ bộc lộ cảm xúc chân thật, sâu thẳm nơi lòng mình, đồng thời gửi gắm quan niệm sống về tình bạn

Mở đầu bài thơ mở ra bầu không khí thân mật: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà; kết thúc bai thơ là sự nâng cấp về tình bạn: Bác đến chơi đây, ta với ta! đầy tính

triết lí Từ cảm xúc đến lí trí để đưa ra vấn đề mang tính khái quát về triết lí nhân sinh, rõ ràng phải có sự minh chứng Nghe ra cứng nhắc, nhưng cái lí đó được thi nhân thể hiện một cách tài tình, độc đáo nhất trong sáu câu thơ giữa:

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ.

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Đầu trò tiếp khách trầu không có,

Một sự phá cách trong kết cấu đã làm nên nét đặc biệt hiếm thấy của bài thơ Nôm Đường luật trong sự thể hiện hóm hỉnh của Nguyễn Khuyến

Bạn đến chơi nhà, chính từ sự kiện, thời điểm và tình cảm này đã khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ một cảm xúc mãnh liệt Từ cảm hứng trữ tình này, cách tiếp bạn của nhà thơ mang phong cách riêng, đậm chất thi sĩ Một tình huống cảm xúc

không hề khó xử tí nào, càng không phải hoàn cảnh hoàn toàn không có một thứ vật chất gì để đãi khi bạn đến chơi, mà trái lại đó là cách đùa vui, cái hóm của

Nguyễn Khuyến đã mang đến cho bài thơ một giá trị thẩm mĩ cao nhằm khẳng định vẻ đẹp tình bạn trước éo le cuộc sống Hóm hỉnh mà sâu xa, nhà thơ tạo dựng một tình huống giao tiếp đầy nghịch lí, dí dỏm để người đọc cảm nhận một tiếng lòng, trắc ẩn mà thanh thoát Vậy nhưng nhiều tài liệu đã diễn giải một cách “trần

trụi” yếu tố nghệ thuật đặc sắc này vì thế đã làm mất đi vẻ đẹp văn chương Lâu ngày bạn mới đến chơi nhà mà không có trẻ ở nhà để sai bảo, không gần chợ để mua sắm thứ này đến thứ khác, không chài được cá vì ao quá sâu, không bắt được

gà vì vườn quá rộng, rào lại thưa, không có cải vì cải chửa ra cây, không có cà vì

cà mới nụ, không có bầu vì bầu vừa rụng rốn, không có mướp vì mướp đương hoa

Kể cả miếng trầu tiếp khách cũng không có nốt (Sách giáo viên Ngữ văn 7- tập một, Nhà xuất bản Giáo dục) Hay là Không có trẻ sai bảo, không gần chợ để mua sắm, không chài cá được vì ao sâu, không bắt được gà vì vườn rộng, rào thưa, không có cải vì cải chưa mọc, không có cà vì cà mới nụ, không có bầu vì bầu vừa rụng rốn, không có mướp vì mướp mới ra hoa, đến cả trầu cau cũng không có (Sách Thiết kế dạy học Ngữ văn 7- tập một, Nhà xuất bản Giáo dục, tác giả Trương

Dĩnh ) Ẩn sau lớp ngôn ngữ đời thường là sắc thái hóm hỉnh, chiều sâu tâm trạng

mà đôi khi thiếu sự nhạy cảm, người đọc sẽ rất khó trong nhìn nhận, mổ xẻ vấn đề trong việc lí giải chung chung, đại khái tạo nên cách hiểu mơ hồ dẫn đến việc áp đặt khi tiếp nhận tác phẩm

Trang 12

Phân tích tình huống nghệ thuật đặc sắc trong thể hiện cái hóm, điều đầu tiên ta nhận thấy là cách cởi bỏ lễ nghi giao tiếp trong sự đùa vui thoải mái.

Tình bạn gặp gỡ trong khao khát, có nên lễ nghĩa, phép tắc theo thủ tục thông thường? Cụ Nguyễn đã cởi bỏ ràng buộc xã giao, không rập khuôn theo cách

miếng trầu là đầu câu chuyện như dân gian, đảo trật tự giao tiếp, đưa ra cuối cùng

của cái gọi là thứ tự liệt kê trong những thứ “định” đưa ra tiếp bạn Nhưng càng bất

ngờ hơn trong cách diễn giải trầu không có, điều đáng ra cần day dứt mà câu thơ

cứ nhẹ tênh, dửng dưng cũng đủ thấy cái hóm của Nguyễn Khuyến đến nhường nào! Phải chăng trong cái tưởng chừng như “xuề xòa” đó là một sự khẳng định về mức độ chân thành của tình bạn?

Cởi bỏ nghi thức rất tự nhiên, mở đầu tình huống tiếp bạn, tác giả loại trừ

đối tượng giao tiếp một cách nhẹ nhàng Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa, nhưng đôi khi người tiếp nhận dễ nhầm lẫn đó là sự thông báo trẻ thời đi vắng Có trẻ nhưng vắng nhà, cái khó đầu tiên trong tiếp bạn khi vắng trẻ, yếu tố khách quan bất khả

thi đã loại trừ yếu tố chủ quan trong tính hợp lí nhất tạo nên sự hóm hỉnh trong

màn giao tiếp đầu tiên Tưởng chừng bế tắc, chuyển “nguy” thành “an” là một ngụ

ý tài tình của tác giả mà chỉ có tình bạn khao khát trong bối cảnh hiện tại mới thấy hết giá trị của nó Liệu đây có phải điều nhà thơ muốn giãi bày? Đôi bạn tìm đến

nhau đầy tính thế sự trong hoàn cảnh ở ẩn của chủ thể trữ tình thì sự kín đáo, yên

bình chẳng phải là yếu tố cần thiết nhất hay sao? Một cuộc tâm giao mở đầu bằng

cơ hội thuận lợi như “ý trời” sắp đặt thì còn gì thoải mái hơn thế!

Sau đối tượng giao tiếp là khả năng vật chất cũng nằm trong tính chủ quan

và khách quan, lấy yếu tố này loại trừ yếu tố kia một cách khéo léo, tạo sự tò mò, hấp dẫn cho khả năng khám phá

Khả năng vật chất vườn nhà Nguyễn Khuyến phải nói là phong lưu, được

“trưng bày” đầy đủ ở các cấp độ nhưng lại trở thành hiện tượng phi vật chất trong

giao tiếp Về mặt chủ quan, Nguyễn Khuyến có đầy đủ mọi thứ nào cá, nào gà, nào cải, cà, bầu, mướp; từ sang trọng đến bình thường Có khả năng vật chất, vậy mà

không thể sử dụng được trong thời điểm hiện tại! Cá/ao sâu, nước cả; gà/vườn rộng, rào thưa; cải/chửa ra cây; cà/mới nụ; bầu/vừa rụng rốn; mướp/ đương hoa Thật dí dỏm, song song bên một khả năng vật chất, tác giả đã đưa ra một lí do khách quan chính đáng để loại trừ một cách hiệu quả Thật khéo léo, tài tình khi lấy yếu tố khách quan để vô hiệu hóa yếu tố chủ quan (Có lí do nào để trách cứ !?) Với tài năng nghệ thuật và sự thanh cao trong tâm hồn, tất cả, từ nghi thức xã giao đến nhu cầu vật chất đã được nhà thơ vô hiệu hóa đến tận cùng nhằm khẳng định tình bạn cao cả đã vượt lên trên tất cả mọi thứ thông thường của cuộc sống

Nói đến sự độc đáo của tác giả trong việc tạo dựng tình huống giao tiếp, không thể không nói đến sự tương phản giữa nội dung giao tiếp và hình thức thể

hiện Tìm hiểu điều này, ta mới thấy hết cái hóm trong bài thơ Bạn đến chơi nhà.

Với thi liệu đời thường, thân mật mà gần gũi; ý thơ vẻ như phân trần, giải bày, day dứt nhưng giọng điệu thơ lại rất nhẹ nhàng, vui tươi, thanh thoát, tưng tửng như một nghịch lý liệu có làm mất đi khuôn phép Đường luật nghiêm trang và cốt cách nho gia hay không? Sự tương phản giữa nội dung biểu đạt và hình thức thể hiện đã tạo nên tiếng cười thoải mái, vui vẻ Cố tình dựng lên tình huống khó

xử khi bạn đến chơi, nhưng giọng điệu nghe cứ nhẹ tênh tênh theo cách hóm hỉnh

Trang 13

để đùa vui cốt để cười cho cái sự đời vo ven danh lợi không trói buộc được hồn người Phải chăng chất trào lộng toát lên trong thi phẩm đã thể hiện khí khái của một ẩn sĩ đương thời?

Một tình huống giao tiếp trong hoàn cảnh đặc biệt, khi tất cả những nhu cầu

của đời thường bị đẩy ra ngoài lề cuộc sống, vậy mà nhà thơ vẫn tạo cho khách thể cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm, thỏa mãn trong một không gian giao tiếp Vì

sao?

Loại trừ vật chất, nhà thơ đã tiếp bạn một bữa tiệc tinh thần mĩ mãn Một khuôn viên vườn tược trong hai cặp thơ đối nhau đã tạo nên sự hài hòa, cân xứng, hữu tình tựa như một bức tranh đa màu sắc, sống động, đậm đà phong vị quê hương

Có gì hơn thế nữa, khi hai người bạn cùng chung thế giới nội tâm, hòa hợp bên nhau đang chiêm ngưỡng, tận hưởng vẻ đẹp cảnh vật, cỏ cây, hoa lá nhu nhú, căng tràn nhựa sống Chất thơ trỗi dậy từ hình ảnh thơ mộc mạc, bình dị chốn điền viên thôn dã! Một giá trị tinh thần trong sự khao khát, tìm kiếm, sẻ chia đã đẩy cung bậc tình bạn đến độ thăng hoa tâm hồn, toát lên vẻ đẹp chân nguyên của con người đậm chất thi sĩ, vượt lên tất cả rào cản cuộc sống Một sự thoát tục, lánh đục khơi trong đầy thanh thản, hầu như không còn sự ràng ríu, vướng néo của trần đời! Một thế giới riêng đậm chất thi ca trong sự thưởng thức của những tâm hồn thuần khiết, thanh tao!

Sau tình huống độc đáo, nhà thơ đã hạ một câu kết thật đắc địa: Bác đến chơi đây, ta với ta! Cả bài thơ là dòng cảm xúc của đôi bạn thắm thiết, ta với ta!,

phải chăng đó là sự dồn nén xúc cảm để rồi vỡ lẽ một điều lớn lao hơn, đó là nhận

thức về tình bạn như một khái niệm Nghệ thuật đòn bẩy đã đưa tình bạn lên cao

trào cảm xúc, rung đến cung bậc thanh cao của tình bạn: Tri âm Một tình bạn đậm

đà, thắm thiết, ta với ta thấu hiểu nhau nơi sâu thẳm đáy lòng, một sự hòa quyện

trong nhau cả tâm tư, ý nghĩ, trong sáng đến mức không chút bụi đời nào len vào được

Sự lắng đọng, sâu sắc đầy chất nho gia song song bên cái đơn thuần, bình dị của cuộc sống đời thường đem đến cho bài thơ một sắc màu dân dã nhưng đậm nét thâm sâu trong tình ý để ta thấy được vẻ đẹp thanh tịnh trong tâm hồn thi nhân, một vị quan đang tìm cách lánh xa thế sự

Ẩn sau không gian chốn điền viên dân dã, ngôn ngữ, hình ảnh thơ bình dị là chiều sâu tâm trạng, cốt cách của một ẩn sĩ Mượn sự kiện bạn đến chơi nhà để bộc bạch nỗi lòng và thể hiện quan niệm sống của nhà thơ cũng đủ thấy chất nho nhã của Nguyễn Khuyến toát lên trong bài thơ đến nhường nào!

“LÃO HẠC”,MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

(Đọc tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao)

Trang 14

Đọc văn Nam Cao, ta nhận thấy một tài năng nghệ thuật, một tấm lòng yêu thương dành trọn nơi cuộc đời đã cho người đọc thưởng thức một loạt tác phẩm kiệt xuất Chính sự kiệt xuất ấy mà việc lần tìm bức thông điệp ẩn chứa trong mỗi tác phẩm vẫn luôn là sự thách đố của nhiều thế hệ bạn đọc Đến với Nam Cao, muốn khám phá vẻ đẹp tác phẩm để tìm ra sự hàm ẩn trong tầng ngầm của nó trên

cơ sở khoa học đích thực và khách quan đang còn là cả một vấn đề của diễn đàn văn chương.Văn chương không có quy tắc, công thức cứng nhắc nhưng lại có cái lí trong nét đẹp thẩm mĩ mềm mại của nghệ thuật ngôn từ Tiếp cận sáng tác của Nam Cao, thông qua tác phẩm Lão Hạc để tìm ra cái lí, biết là không dễ, nhưng với

sự đam mê,hứng thú cùng khả năng khám phá biết đâu ta lại chạm vào được nỗi lòng sâu thẳm nhất của nhà văn!

Tiếp cận truyện ngắn này, từ cách đặt nhan đề đến việc xây dựng nhân vật dễ dàng dẫn dắt người đọc theo hướng tìm hiểu vấn đề chính trong tác phẩm là vẻ đẹp

và bi kịch lão Hạc; sự xuất hiện của lão Hạc, hình ảnh tiêu biểu về người nông dân trước cách mạng như một nhân vật trung tâm bởi nhân vật lão Hạc được xây dựng khá đậm nét so với những nhân vật khác trong tác phẩm Nhưng phân tích một cách thấu đáo, ta lại thấy nhà văn đang mượn nhân vật lão Hạc để gửi gắm tâm sự, nỗi niềm Nếu như thế thì vấn đề chính đặt ra trong tác phẩm lại theo một hướng khác Ý nghĩ này đã gợi mở sự tò mò, hứng thú trên con đường đi tìm cách lí giải

Vấn đề chính được đặt ra trong truyện ngắn ‘Lão Hạc’ là gì? Nhân vật nào trung tâm?

Tìm hiểu truyện ngắn này, ta bắt đầu từ câu chuyện tỏ lòng của lão Hạc với ông giáo vì dù trực tiếp hay gián tiếp thì xuyên suốt tác phẩm, hai nhân vật ông giáo và lão Hạc luôn song song bên nhau Nhìn qua họ rất gần gũi, sẻ chia trong giao tiếp, nhưng thực chất là một sự rời rạc, khập khiễng không ăn nhập ở một loạt tình tiết nối tiếp nhau một cách chặt chẽ như là sự minh chứng cho cái nhìn hời hợt

mà đáng ra với tư cách cầm bút, ông giáo không thể như thế

Trong những lần trò chuyện, ông giáo đã như không để ý; rồi có để ý cũng không hiểu sâu xa nỗi lòng khát khao chia sẻ của lão Lời tâm sự day dứt : “Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!”.Với lão Hạc, việc này đang thực sự được cân nhắc, tính toán suy xét bằng một quá trình và được xem là vấn đề quan trọng; còn với ông giáo, việc này nghe đã “nhàm rồi”, tỏ ra không muốn nghe và “rất dửng dưng” Nghe nhiều lần, đến mức “nhàm”mà không hề có sự suy đoán nào thì quả thật vô can Dồn nén trong lòng, lão bộc bạch nỗi âu lo: “Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy ông giáo ạ!” Lòng lão Hạc đang bung lung từ việc bán chó đến việc lo lắng về con lâu nay không có tin tức, nhưng với ông giáo lại trong tâm trạng như sực tỉnh: “À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão”.Ông giáo có tập trung lắng nghe đâu, thờ ơ đến mức lão phải “vội cắt nghĩa cho tôi hiểu”, cũng là lúc lão đang muốn tạo sự chú ý từ phía ông giáo

Tiếp tục cuộc giao tiếp rời rạc này là sự dằn vặt, trăn trở của lão Hạc: “Con chó là của cháu mua đấy chứ! Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt ” đã không được ông giáo hiểu đúng trọng tâm nội dung câu nói Lão Hạc đang nói đến mối quan hệ gắn bó thân thiết, máu thịt, là đời sống tinh thần của cậu Vàng đối với gia đình lão bằng sự giằng xé trong lòng thì ông giáo lại quay sang vấn đề từ chữ “định ”nghe thật vô tâm, khô khốc Đến khi: “tôi hiểu tại sao lão

Trang 15

không muốn bán con chó vàng của lão”, cứ ngỡ ông giáo đã rõ mọi chuyện, nhưng hóa ra không hề nhận thức được bản chất vấn đề là gì Với cách nghĩ, lão Hạc không muốn bán chó vì “để làm khuây”,“những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút”, như thế làm sao ông giáo thấy được trong nội lòng lão Hạc đang bị cắt cứa, rứt ra từng mảnh.

Mọi day dứt trong lòng, lão Hạc đều tìm đến ông giáo để chia sẻ Báo về việc bán chó bằng tất cả sự đau khổ trong tâm can, lão đã nhận được lời “an ủi” của ông giáo: “Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu gì đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chẳng bán hay giết thịt” Sự an ủi như thế, nếu có thể, chỉ mới làm nguôi ngoai hiện tượng chứ nỗi lòng dày vò đau đớn của lão Hạc chưa hề được xoa dịu, bởi sau đó lão vẫn nằm trong tâm trạng “chua chát”, đang tìm cách tự trấn an

Chuyển mạch câu chuyện, lão đột nhiên “nghiêm trang”, chuẩn bị đưa ra một việc hết sức hệ trọng, đó là nhờ vả ông giáo giữ vườn cho con và giữ tiền ma chay khi lão qua đời Ông giáo“bật cười ”, rồi “lão nằn nì mãi”, ông giáo mới “đành nhận” Một sự trao gửi, kí thác vô điều kiện những gì lão có về vật chất mo mót, vo vón cả đời người bằng giá trị của sự kiêng nể, của niềm tin yêu, vun đắp Sau cái

“bật cười ”nông cạn, ông giáo “đành nhận” sự phó thác một cách miễn cưỡng, không mảy may xúc động trước tính toán, lo xa, đầy trăn trở của lão Xem ra, trong bối cảnh trao-nhận còn khập khiễng về ý nghĩ

Tiếp cận, mổ xẻ vấn đề một cách sâu sắc, theo một góc nhìn khách quan, đến đây ta có thể hiểu, mối quan hệ trong phạm vi hai người, qua một số tình tiết liên tiếp trong giao tiếp còn rời rạc, không ăn khớp với nhau.Về phía ông giáo đã nhìn nhận bản chất sự việc vô cùng hời hợt, chưa hiểu gì về tâm tư lão Hạc Về phía độc giả đã hiểu được nỗi đau tinh thần -bi kịch nội tâm của lão Hạc bằng tất cả sự đồng cảm Như vậy, nhân vật lão Hạc đã được nhà văn Nam Cao đưa ra một cách khách quan như để so sánh quá trình nhận thức giữa ông giáo và bạn đọc trong cùng một đối tượng Đã đến lúc người đọc đưa ra câu hỏi: Tại sao người “nhiều chữ nghĩa” như ông giáo lại hạn chế trong việc nhận thức vấn đề như thế? Là người cầm bút, không hiểu tâm tư, nỗi lòng nhân vật thì làm sao có thể tìm sự đồng vọng trong tâm hồn! Lão Hạc là đối tượng được đưa ra phản ánh, ông giáo không hiểu thấu về lão, như vậy có phải tinh thần trách nhiệm người cầm bút còn hạn chế hay sao? Phải chăng lão Hạc là cái cớ để soi chiếu vào nhân vật ông giáo?

Liên tưởng đến những sáng tác của Nam Cao trên con đường mày mò để tìm lối đi riêng, luôn tìm cách tự hoàn thiện mình, ông đã viết nhiều về người trí thức qua các tác phẩm Sống mòn, Trăng sáng, Đôi mắt như một sự gửi gắm cách nhìn của chính bản thân Vì thế, Lão Hạc cũng không ngoài khả năng này, là tác phẩm nằm trong chuỗi sáng tác về đề tài người trí thức tiểu tư sản của giai đoạn văn học trước cách mạng

Hành trình trên con đường tìm cách lí giải một cách khách quan, không khiên

cưỡng, áp đặt, đến đây ta đủ khẳng định vấn đề trọng tâm của tác phẩm là thái

độ,trách nhiệm,nhận thức của người cầm bút;nhân vật chínhcủa truyện là ông giáo

Nam Cao càng chứng tỏ sự dày dặn của mình trong việc bộc lộ tư tưởng chủ

đề tác phẩm bằng cách tạo ra những tình huống éo le để ngầm định vấn đề mang tính tư tưởng: với người cầm bút, sự suy nghĩ nông cạn sẽ dẫn tới nguy hại, ảnh

Trang 16

hưởng rất lớn trong việc đánh giá nhân cách con người Ông giáo là người tốt, nhưng cái tốt chỉ ở mức độ thương cảm một cách trực cảm, chưa đạt đến độ hiểu được cái tốt ẩn chứa trong tâm hồn con người, kể cả ngay bên cạnh mình; càng chưa đạt đến độ nhân văn mà người cầm bút cần trải lòng trong tác phẩm Dù tốt, nhưng do hạn chế trong tầm nhìn nên đã có những cách hiểu lệch lạc, hồ nghi ,vô

tình dẫn đến bi kịch ngay trong chính bản thân mình, bi kịch thiếu niềm tin vào

lòng tốt của con người.

Để chứng minh cho sự nguy hiểm của người có trách nhiệm còn đang hạn chế

về nhìn nhận, nhà văn Nam Cao đã mở rộng phạm vi giao tiếp, đặt nhân vật lão Hạc trong hệ quy chiếu của ba nhân vật trong mối liên quan: vợ ông giáo, Binh Tư

và ông giáo.Mỗi nhân vật nhìn nhận về lão Hạc với một góc nhìn khác nhau.Vợ ông giáo nhìn lão Hạc ở góc độ so sánh của người cùng cảnh ngộ trong cảnh sống

bế tắc, túng quẫn Bởi thế thị đã gạt phắt đi khi ông giáo nói về cuộc sống hiện tại của lão Hạc: “Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ

ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói ”

Vợ ông giáo đã nhìn nhận về lão Hạc theo quan điểm riêng, không đồng tình với ông giáo Mặc dầu cách xử sự của thị hơi nặng nề nhưng chính thị đã đưa ra một cách nhìn đầy thẳng thắn, khách quan, một suy nghĩ rất thực tế trong bối cảnh chung của xã hội lúc này.Thị không gần gũi lão, không hiểu nội tình tâm tư lão thì sao có thể thông cảm, sẻ chia với lão theo cách của ông giáo Như thế,lão Hạc qua cái nhìn của vợ ông giáo cũng chỉ là cái nhìn bình thường trong cuộc sống của đời thường

Lão Hạc trong cái nhìn của kẻ bất lương như Binh Tư thì sao? BinhTư nhìn nhận lão Hạc ở góc độ tương đồng, đã nhận xét về lão Hạc cùng với những thông tin ẫm ờ :

“Lão làm bộ đấy!Thật ra thì lão tẩm ngẫm thế,nhưng cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu: lão vừa xin tôi một ít bã chó ”

“Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão Lão định cho nó xơi một bữa Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.”

Đằng sau dấu chấm lửng bỏ ngỏ trong lời thoại của Binh Tư, ta ngầm nhận được sự đắc ý, khỉnh khầm của kẻ chuyên làm nghề trộm chó luôn bị coi khinh đã tìm ra đồng lõa; mà kẻ đồng lõa ấy không ai khác là lão Hạc, một người trong mắt người đời đang được kính trọng Việc lão Hạc xin bã chó của Binh Tư cùng với lời giải thích như vậy thì sự nhận xét của Binh Tư, kẻ đã đánh mất quyền làm người từ lâu, đã nhìn nhận về lão Hạc như chính mình không có gì là lạ Lấy hiện tượng để đánh giá bản chất theo kiểu của hắn là lẽ đương nhiên!

Lão Hạc trong cách nhìn của vợ ông giáo và Binh Tư, những nhân vật trần trụi của đời thường tuy còn phiến diện, nông nổi, và ảnh hưởng của nó chỉ mang tính chất cá nhân nên sự nguy hại sẽ ở mức độ hạn hẹp Với ông giáo thì như thế nào?

Nếu như Nam Cao đặt nhân vật vợ ông giáo và BinhTư trong cái nhìn của con người đời thường thì với ông giáo lại đặt trong cái nhìn suy ngẫm, trách nhiệm của người cầm bút Hơn ai hết, người trí thức phải tự tìm lối thoát cho mình trong bế tắc để nhìn nhận cuộc đời bằng cái nhìn thấu suốt của lí trí, chứ không chỉ bằng lòng thương, sự cảm thông

Trang 17

Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng bất ngờ về nhân vật ông giáo trong cái nhìn hạn hẹp, nông cạn Nhạy cảm và suy xét, người đọc sẽ nhận ra ông giáo đã không hiểu, vô tình đánh giá thấp lão Hạc trong biểu hiện thứ nhất: “Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão Lão từ chối một cách gần như là hách dịch.Và lão cứ xa tôi dần dần ” Nhìn cái kiểu của ông giáo thực lòng muốn giúp lão Hạc bằng “giấu giếm vợ”, “ngấm ngầm”; đến khi bị lão từ chối thì suy nghĩ “hình như lão cũng biết vợ tôi cũng không ưng giúp lão”; “những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế” đủ cho ta thấy hạn chế của ông giáo trong cách nhìn nhận một con người Một người sâu sắc đến mức đang sống mà đã tính đến lo liệu cả việc ma chay thì lẽ nào bây giờ lại vo vén cho xong việc mình để rồi đi phiền lụy, nhờ vả kẻ khác như là một sự mót bòn.Một sự

hé mở của Nam Cao về tai hại trong mức độ nhận thức của ông giáo Chính cử chỉ, hành động, suy nghĩ của ông giáo trong việc giúp đỡ đã làm tổn thương lòng tự trọng của lão Hạc một cách vô thức Lão “từ chối gần như hách dịch” đâu phải vì biết vợ ông giáo “không ưng giúp lão” hay vì “tự ái”, mà chính vì trách nhiệm với bản thân mình Một con người đã nghĩ đến trách nhiệm khi chỉ còn là cái xác trong việc ma chay thì huống gì khi đang sống với tất cả phần hồn tròn trịa! Đáng buồn cho lão Hạc hay buồn vì tình thương vô tình của ông giáo? Điều nhầm lẫn đáng tiếc của ông giáo trước thái độ sống của lão Hạc đã tạo nên khoảng trống về khoảng cách giữa hai người “Và lão cứ xa tôi dần ” Cả hai đều tốt, vậy mà cứ không thể gần gũi để tâm tư!

Sự nhầm lẫn của ông giáo trong biểu hiện của sự giúp đỡ như thế chưa có gì đáng nói bởi thực chất đó là tình thương chân thành muốn sẻ chia của cái nhìn nông cạn mà thôi Điều đáng nói ở đây là biểu hiện sự nghi hoặc của ông giáo trong nhìn nhận về nhân cách lão Hạc Phải chăng Nam Cao đã để tình huống truyện được bật

ra một cách tự nhiên nhằm sáng tỏ cốt lõi vấn đề về sự thiển cận của ông giáo trong chuỗi tiếp nối logic cái nhìn còn hạn hẹp?

Một sự hụt hẫng của người đọc khi nỗi lòng ông giáo, một trí thức được người đời nể trọng lại đi phàn nàn , giãi bày, chia sẻ với hạng người bất lương như Binh Tư! Càng ngỡ ngàng hơn về cái biểu hiện đau đớn của ông giáo trước những thông tin mà Binh Tư hé lộ chứ không phải là ai khác (Chắc hẳn người đọc không chờ đợi điều này!) Một kẻ lưu manh làm gì có quyền nhận xét, đánh giá một người trong sạch! Tiếc thay ông giáo không có những phản ứng tức thì để biện hộ cho lão Hạc trước những tin thất thiệt của Binh Tư mà ngay lúc ấy lại tin răm rắp lời hắn Miếng

bã chó trong tay lão Hạc là sự mở dạ, hả lòng của Binh Tư; là nỗi đớn đau rỉ nhói trong tim ông giáo Một sự đối lập về trạng thái cảm xúc nhưng ta lại cảm nhận được sự trùng hợp khi cả hai đều nghĩ lão Hạc đang trên con đường tha hóa Lão Hạc đã mất lòng tin trong lòng ông giáo thế sao? Hay ông giáo đã đánh mất niềm tin vào lòng tốt của con người?(Trong lúc đó, với lão Hạc, dù “xa dần” nhưng không một thoáng nghi ngờ, vẫn đau đáu một niềm tin về việc phó thác những gì còn lại trên cõi đời cho ông giáo một cách có ý thức Một niềm tin đầy bản lĩnh! ) Ông giáo

đã thốt lên trong sự kinh hoàng “Hỡi ơi lão Hạc!”thì cớ chi người đọc không thốt lên “Hỡi ơi ông giáo! ”.Trong nỗi bàng hoàng của ông giáo, một niềm tin mong manh, một sự bấu víu đang cố níu kéo sau những dấu chấm lửng của đoạn văn độc

Trang 18

thoại nội tâm :“Một người như thế ấy! Một người đã khóc vì trót lừa một con chó! Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư?” như những “hiệp thở” không ra hơi, chới với, chơi vơi Nam Cao đã khéo léo trong việc thể hiện nội tâm ông giáo theo trật tự thời gian hợp lí bằng cách chuyển đổi tự nhiên từ đối thoại sang độc thoại để chúng ta thấy rằng ông giáo đang bị dày

vò trong suy nghĩ Nỗi đau, sự dằn vặt trăn trở của ông giáo về một niềm tin đang bị lung lay là sự thật, là điều không thể phủ nhận.Nhưng ở góc độ tiếp nhận, người đọc

có thể hùa theo để đồng cảm với nỗi đau của ông giáo hay không?

Nam Cao sâu sắc đến mức trong cái nghẹn ngào của ông giáo, người đọc phải tỉnh táo đi tim sự thật, chân lí (mà đáng ra là trách nhiệm của người trí thức, người cầm bút-ông giáo!) bởi đó chỉ là một nguồn tin không lương thiện phát ra từ kẻ bất lương Ông giáo “đáng buồn”về lão Hạc, còn người đọc thì thất vọng về ông giáo Hơn ai hết, ông giáo là người kề cận lão Hạc, dù không hiểu hết tâm tư nhưng cũng

đủ hiểu lòng tốt, nhân cách lão trong cuộc sống thường ngày, trong những cuộc buồn vui trò chuyện, vậy mà sao không đủ lòng tin để cố gắng phân tích bản chất vấn đề mà soi xét một người bạn từng gắn bó? Thà con người đời thường như Binh

Tư hay vợ ông giáo, đằng này một người cầm bút viết sách như ông giáo, trước một hiện tượng cuộc sống mà không nắm bắt được bản chất vấn đề, có cái nhìn bản năng, sai lệch thì sẽ trở nên nguy hại đến mức nào Nếu trước khi chết, lão Hạc mà biết được những dòng suy nghĩ của ông giáo lúc này thì sẽ đau đớn đến nhường nào,

sẽ kéo xuống nấm mồ cả một sự tuyệt vọng khôn lường! Thế mới biết sự cẩn trọng của những người cầm bút như ông giáo là điều vô cùng cần thiết

Nam Cao đã rất chặt chẽ trong việc thể hiện sự trải bày mọi suy nghĩ, nhìn nhận của ông giáo về Lão Hạc một cách thống nhất Rồi vẫn theo thứ tự thời gian (chứ không phải ý định đi tìm kiếm sự nghi hoặc), ông giáo đã có câu trả lời thích đáng về nhân cách lão Hạc Những nút thắt lòng được mở ra từ suy nghĩ của ông giáo: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng đáng buồn theo một nghĩa khác.” Ta đọc được trong nội tâm ông giáo hai vấn đề thật rõ ràng: một là, lão Hạc không theo gót Binh Tư; hai là cái chết lão Hạc lựa chọn trong cảnh cùng đường Như vậy, trong cái chết của lão Hạc không mảy may liên quan đến ông giáo hay sao? Lẽ nào nhà văn Nam Cao đơn giản đến thế ! Không phải ngẫu nhiên trong cách xây dựng nhân vật, cả chặng đường dài, ông giáo luôn bên cạnh Lão Hạc, đã trở thành chỗ dựa của lão Hạc về tinh thần Vậy mà lộ hành lão Hạc trong chặng cuối con đường giữa dòng đời bế tắc lâu nay đã thiếu bóng dáng của ông giáo Đã từng thân thiết, sao việc lão Hạc xa “ dần dần”, ông giáo cứ đành vậy? Có phải ông giáo đã không nhún nhường một chút để tìm cách gần gũi, sẻ chia người bạn già đang trong sự dày vò về tinh thần, kiệt quệ về vật chất hay vì chút tự

ái trong việc từ chối “gần như hách dịch” mà bỏ mặc bạn bè ? Xét về lí, không có quyền trách cứ ông giáo trong việc này Nhưng về tình, ông giáo đã từng gắn bó thân thiết, nếu như lão Hạc đang bước vào con đường tha hóa thật thì ông giáo cứ để mặc thế ư? Tại sao ông giáo không có ý thức trong việc tìm kiếm cho ra nhẽ trước một vấn đề hệ trọng ảnh hưởng đến nhân cách của người bạn đã cùng mình nếm trải cay đắng, ngọt bùi? Hay tại sự cố chấp, bảo thủ đang níu giữ trong lòng đã đánh mất

đi sự khoáng đạt trong tâm hồn khiến ông giáo không đủ dũng cảm để bước qua

Trang 19

chính mình? Nếu ông giáo gần gũi, liệu lão Hạc có phải sống cô quạnh trong những ngày tháng cuối đời hay là sự lựa chọn cái chết thảm khốc đến thế? Nam Cao để cho ông giáo chứng kiến cái chết của lão Hạc trong sự quẫy đạp dữ dội của cô độc, bế tắc và cũng đầy ám ảnh như để gim vào lòng ông giáo một nỗi niềm trăn trở với cuộc đời, để khi tìm ra phương hướng của mình, mỗi khi cầm bút, hình ảnh Lão Hạc giãy lên quằn quại sẽ như một sự nhắc nhở sâu lắng trong cõi lòng Đành rằng không thể áp đặt cho ông giáo trong cái chết của lão Hạc, vậy nhưng trong suy nghĩ của người đọc cứ lởn vởn câu hỏi: tại sao ông giáo không đồng hành cùng lão Hạc khi lão bế tắc nhất? Phải chăng ông giáo đang thiếu đi cái độ lượng của người cầm bút?

Một loạt dấu chấm cảm bày ra trong cảm xúc của ông giáo trước cái chết thật thương tâm của lão Hạc: “Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng

mà nhắm mắt!”.Hãy lắng nghe lời thầm thì an ủi từ cõi tâm can ông giáo Với mong nguyện hương hồn lão Hạc được thanh thản là tấm lòng chân thành của ông giáo dành cho người bạn quá cố của mình.Và ông giáo cũng tin lão Hạc sẽ thanh thản khi ông giáo trọn vẹn trong việc trông coi mảnh vườn và giữ tiền cho con lão

Nhưng ông giáo có biết lão cần hơn ở ông cái gì không? Khi tận cùng của đói khổ, cái con người cần là tinh thần, giá trị của sự thấu hiểu, trân trọng chứ không chỉ đơn thuần về vật chất Lão Hạc “xa dần” là để nhắc nhở người bạn trí thức của mình

mà ông giáo chưa nhận ra đó thôi Bởi thế, khi chết, lão làm sao mà yên lòng được!

Dù rằng ông giáo sẽ thực hiện sự gửi gắm của lão một cách yên tâm nhất nhưng điều đó chỉ có lợi cho riêng lão Sự “xa dần” của lão Hạc trong quan hệ với ông giáo phải chăng cũng là một cách hy sinh trong tình bạn để ông giáo có khoảng lặng thời gian suy ngẫm, tìm tòi? Có như thế thì mỗi khi cầm bút, ông giáo sẽ trăn trở trong việc khám phá tâm tư con người, hiểu một cách sâu sắc đời sống nội tâm của họ để

không còn cái bi kịch thiếu niềm tin về lòng tốt của con người-sự giật mình của

người cầm bút Được như thế, lão Hạc chắc rất mãn nguyện khi tài năng và tấm lòng ông giáo sẽ đưa đến lợi ích cho muôn người và kể cả bản thân ông giáo trên con đường tự hoàn thiện mình

Viết về ông giáo bằng cách ẩn sau tấm lòng yêu thương rộng lớn dễ nhận thấy

là sự hạn chế trong nhìn nhận mà nếu không tinh tế và nhạy cảm thì mạch ngầm câu chuyện mãi mãi là bí ẩn.Một sự tài tình, khéo léo, độc đáo đến mức người đọc mọi thế hệ xưa nay hầu như bằng lòng về nhận thức của mình khi tìm hiểu tác phẩm theo cách truyền thống Ở một góc nhìn mới, ai ngờ rằng trong cái gọi là “giá trị nhân đạo sâu sắc”, cái biểu hiện của tình thương yêu sẻ chia ông giáo dành cho lão Hạc chính là lớp vỏ bọc dày kín đang ẩn náu một chiếc gai lòng ung ủ, nhưng nhức luôn khát khao chờ đợi đôi bàn tay mềm mại, khéo léo chạm vào! Thế mới biết có những lúc giữa tình thương yêu và bi kịch khó tìm ra ranh giới

Tiếp xúc tác phẩm, ta thán phục sự khéo léo của nhà văn Nam Cao khi ém gửi một triết lí sâu sắc, đầy ấn tượng trong đoạn văn trữ tình ngoại đề: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn

dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…” Bức thông điệp nhẹ nhàng mà chí lí như một sự cảnh tỉnh, mãi mãi bám đậu trong lòng độc giả

và đặc biệt là đối với người cầm bút Tác phẩm sống mãi với thời gian, luôn luôn

Trang 20

mới mẻ và luôn luôn khởi đầu cho sự khám phá, sáng tạo Dù ở thời đại nào, nếu vẫn còn bóng dáng ông giáo thì vẫn còn bi kịch Dù bi kịch ẩn sâu đi chăng nữa, như kim mò đáy biển thì cũng sẽ có những thợ lặn tài ba lần tìm ra nó.

Đưa ra nhân vật ông giáo để người đời mổ xẻ, phân tích cũng đủ thấy dù tài năng đến độ xuất chúng như Nam Cao cũng vẫn luôn trăn trở, tìm tòi khám phá và đặc biệt không hề bảo thủ Đó cũng chính là sự phóng khoáng trong suy nghĩ, sự giàu có trong tâm hồn của một trái tim luôn nóng bỏng khao khát đưa cái tài, cái tâm dâng tặng cho cuộc đời Sự già dặn, sâu sắc, giàu kinh nghiệm của nhà văn Nam Cao luôn luôn tạo ra hương vị mới mẻ trong sáng tác của mình để rồi dù hàng trăm, hàng nghìn lần đọc tác phẩm cũng không bao giờ có cảm giác nhàm chán, cứ luôn thôi thúc khả năng khám phá và tìm kiếm

Ở góc độ người tiếp nhận cũng thật phải dũng cảm và bản lĩnh để tìm cho mình một lối đi riêng!

SANG THU CỦA LÒNG NGƯỜI

(Đọc bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh)

Đến với bài thơ Sang thu, hầu hết các tầng lớp tiếp nhận đều khai thác ở

khía cạnh biến đổi, chuyển mùa của thiên nhiên khi bắt đầu sang thu, rồi đến khổ cuối mới lướt đến nét tâm trạng như một sự áp đặt Từ một bài thơ trữ tình có cấu

tứ rất chặt chẽ, logic đã trở thành bài miêu tả thiên nhiên có nêu cảm nghĩ Bài thơ

là sự biến đổi của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu (Sách giáo viên -Ngữ văn 9 và

các tài liệu khác viết về bài thơ này), hay là sự ngập ngừng dùng dằng của một tâm hồn, một cuộc đời trong buổi giao thời khi bắt đầu “sang thu” ở một góc nhìn mới?

Có thể nói, thời gian nghệ thuật của bài thơ Sang thu không chỉ tính bằng

năm tháng mà tính bằng độ chín của tâm hồn trong sự gặp gỡ đồng điệu giữa bạn đọc và thi nhân, vì vậy nên tiếp nhận bài thơ theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình để tìm ra vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ gửi gắm trong tác phẩm qua lớp vỏ ngôn từ.Hãy đến với bài thơ bằng tất cả sự tinh tế trong cảm nhận:

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về

Từ bỗng mở đầu bài thơ thông báo sự xuất hiện đột ngột của sự vật trong

không gian Nhân vật trữ tình chợt cảm nhận bao điều trong sự xuất hiện ấy Đó là cảm nhận bằng khứu giác hương thơm của ổi Hương vị ấy không còn là “thoảng”

là “bay” nữa mà ngào ngạt, đậm đặc như thành luồng đang phả vào trong gió se

Đó là cảm nhận bằng xúc giác qua cơn gió se, gió đã khô và lạnh của khí thu Đó

là sự cảm nhận bằng thị giác qua hình ảnh Sương chùng chình qua ngõ Từ tượng hình chùng chình gợi cảm giác sương thu như đang ngưng lại mịt mù hơi nước

chưa kịp lan tỏa vào không gian

Như vậy qua các giác quan, dấu hiệu mùa thu đã rất rõ Bỗng nhận ra mà tất

cả đã rõ ràng, đã hiện hữu cụ thể trong không gian ngõ hẹp, đang xích lại gần cố đánh thức hồn người Vậy sao nhân vật trữ tình lại đầy lưỡng lự qua cách phủ nhận

Trang 21

lấp lửng hình như thu đã về ? Hình như, sao mà nghe cứ dửng dưng, cứ vô tình đến vậy Một sự mâu thuẫn đầy dụng ý! Bỗng nhận ra , đó là sự khẳng định, thừa

nhận một cách khách quan, vậy mà trong khoảnh khắc thời gian, cuối khổ thơ, qua

cách nói hình như đã tạo nên một cảm giác hụt hẫng vô cùng Một sự hụt hẫng

đáng cảm thông bởi nhân vật trữ tình đang “cố tình” lảng tránh khi chưa dám đối diện với mùa thu -với chính mình! Phải chăng một không gian hạ nắng đang rạo rực cả tâm tư?

Không gian mùa thu không chỉ là ngõ nữa mà là cả trời thu:

Sông được lúc dềnh dàng

Chim bắt đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ

Vắt nửa mình sang thu

Không gian mùa thu mở rộng dần ngày càng đậm nét hơn qua hình ảnh sông dềnh dàng, chim vội vã - hình ảnh rất chân thực về thiên nhiên mùa thu Cả trời thu mênh mang, vậy mà đám mây mùa hạ (hiểu theo nghĩa ẩn dụ) ấy chỉ vắt nửa mình sang thôi Chưa bước hẳn sang thu nhưng đã một cách thừa nhận (dù chưa dứt khoát) khi đã vắt nửa mình sang thu Rõ ràng, chỗ đứng của nhân vật trữ tình vẫn đang nơi mùa hạ Cái buổi giao thời từ hạ sang thu sao mà miễn cưỡng, dùng dằng đến thế! Vẫn không sao bước nổi Sang thu !

Thật chẳng dễ dàng bước qua thời gian để Sang thu, khi lòng còn vấn vương

nơi mùa hạ :

Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi.

Nếu như ở hai khổ thơ đầu, dấu hiệu mùa thu đã rất rõ qua không gian, thời gian, để cho nhân vật trữ tình trực diện với mùa thu thì ở khổ thơ cuối, dấu hiệu

mùa hạ qua nắng , mưa, sấm đang vẫn còn, chỉ vơi, bớt mà thôi Đó chính là sự khẳng định sức sống mãnh liệt của tâm hồn dù đã Sang thu vẫn còn rạo rực, nồng

nàn hạ nắng

Cấu tứ bài thơ theo trình tự tự nhiên hợp lí, đó cũng chính là mạch cảm xúc

của nhân vật trữ tình trong buổi giao thời Sang thu Từ chỗ lảng tránh Hình như thu đã về đến chỗ chấp nhận nhưng chưa dứt khoát Vắt nửa mình sang thu, và cuối cùng chấp nhận “sang thu” Hàng cây đứng tuổi, cũng đủ thấy sự dùng dằng

của tâm tư trước sự biến đổi quy luật thời gian Điều đáng quý, đáng trân trọng là

cả bài thơ đã toát lên nét sôi nổi trẻ trung của một hồn thơ đầy niềm tin vào chính bản thân mình, vào cuộc đời Gửi cả nỗi niềm vào bài thơ khi cuộc đời đã bắt đầu

Sang thu, ta bắt gặp một hồn thơ, một nguồn thi cảm không bao giờ vơi cạn trước

thiên nhiên, cuộc sống Bài thơ chính là sự cưỡng lại, níu kéo thời gian, một sự dùng dằng khó tả của một tâm hồn không hề già theo năm tháng!

CON NGƯỜI BIẾN DẠNG HAY SỰ TRỪNG PHẠT TRONG

Trang 22

(Đọc truyện cổ tích “Ông lão đánh cá và con cá vàng”của A Pu-skin, dựa theo bản dịch của Vũ Đình Liên và Lê Trí Viễn)

Từ một câu chuyện dân gian Nga, Đức, sang thế kỉ 19, Ông lão đánh cá và con cá vàng được đại thi hào Pu-skin sáng tạo với tất cả sự mới mẻ của nó trên mọi phương diện Tìm hiểu truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pu-skin,

ta nhận thấy tác giả đã gửi gắm trong đó một triết lí nhân sinh sâu sắc và thấm thía.Gần hai trăm năm tồn tại, tác phẩm đã đi vào lòng người bởi sức hấp dẫn trong nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Pu-skin Chính tài năng đó đã tạo sự cuốn hút nhiều đối tượng nghiên cứu, và đó cũng là lí do nảy sinh những ý kiến khác nhau Trong các nhân vật chính của truyện, sự tham lam, độc ác của mụ vợ ai cũng nhận thấy Nhưng nhân vật ông lão, qua các tầng lớp tiếp nhận cũng như tài liệu

định hướng giảng dạy trong nhà trường được coi là đại diện cho lòng tốt,cho cái thiện (Sách giáo viên Ngữ văn lớp 6-tập 1, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, giáo

sư Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên); hay nhân vật ông lão tiêu biểu cho cái thiện, nhân hậu và tốt bụng (sách Ngữ văn nâng cao lớp 6, nhà xuất bản giáo dục

Việt Nam, tác giả Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Việt Hùng, Vũ Băng Tú), như thế phải chăng còn cảm tính, phiến diện trong đánh giá? Trong cách hiểu chưa đồng thuận, thống nhất ấy, ở góc độ người tiếp nhận đang tìm con đường lí giải phù hợp để thấy ẩn ý của tác giả gửi gắm trong tác phẩm

Đến với Ông lão đánh cá và con cá vàng, nhìn nhận nhân vật ở tổng thể hoạt

động của nó trong việc phân tích các chi tiết, sự việc vừa mang đặc trưng của truyện dân gian lại vừa thể hiện cá tính sáng tạo của Pu-skin để tìm hiểu một cách khách quan về các đặc điểm, hiện tượng nhân vật trong truyện Từ kết cấu truyện cũng như các nhân vật, tình tiết đều nằm trong mối liên quan, ảnh hưởng lẫn nhau,

vì thế khi tìm hiểu nhân vật, sự việc này là cũng để soi chiếu vào nhân vật, sự việc kia

Nhìn nhận trên nhiều bình diện về các nhân vật chính của truyện, ta thấy một

sự lộ diện bản chất của mụ vợ- kẻ cơ hội, và ông lão- kẻ hèn nhát, thiếu chính kiến

bị điều khiển, lợi dụng

Vợ ông lão, một người đàn bà cơ hội, vụ lợi, có lòng tham vô đáy Bà vốn là người chăm chỉ, cam phận với cuộc sống thiếu thốn, không có đòi hỏi nào vượt quá giới hạn đời sống thực tại Nhưng một cơ hội đã đến quá dễ dàng, bản năng thực dụng trỗi dậy và bà ta trở nên tham lam, độc ác, tàn nhẫn Mụ vợ ông lão vô cùng ghê gớm, nhưng chỉ là cái ghê gớm của kẻ chộp lấy cơ hội một cách bản năng, so với kẻ thủ đoạn có ý thức tự tạo ra cơ hội, chiếm lĩnh cơ hội để trục lợi thì

sự ghê gớm ấy chưa thấm vào đâu Mụ vợ phải gánh chịu hậu quả và tự chịu trách nhiệm trước hành động tham lam của mình Nhưng giá như ông lão không tạo điều kiện thì người đàn bà ấy làm sao có cơ hội lộng hành để rồi dẫn đến kết cục bi đát như thế? Chủ nghĩa cơ hội là mặt tiêu cực, bùng phát hay không do quan niệm, ý thức sống cá nhân của mỗi người Cũng như mụ vợ, sự thỏa mãn nhu cầu vật chất

và tinh thần là điều dễ thấy trong cuộc sống con người, vì thế lòng tham cũng có thể bùng phát bất kì lúc nào Nên chăng nhìn vào bài học tự trói mình của người đàn bà có lòng tham không đáy để cảnh giác, dè chừng, đó cũng là cách bảo vệ chính bản thân và làm cho cuộc sống thiện lương hơn

Trang 23

Nếu như mụ vợ đáng bị lên án thì bản thân ông lão không thể người ngoài cuộc Ở góc độ tiếp nhận, ta nên khám phá tác phẩm một cách hệ thống từ các tình tiết, sự việc bằng cái nhìn xâu chuỗi, tổng quát để tìm ra đặc điểm chính của nhân vật Đầu tiên, ông lão đã có biểu hiện của sự nhân từ Trước lời kêu van của cá

vàng: Ông sinh phúc thả tôi trở về biển, tôi sẽ xin đền ơn ông, ông muốn gì cũng được, ông đã thả cá thật vô tư :Ta không đòi gì cả, ta cũng chẳng cần gì Một

tương lai tốt đẹp hiếm thấy mở ra trước mắt của con người suốt đời chịu cảnh chật vật, thiếu thốn, nhưng ông lão đã cự tuyệt (Trang sách như ngưng lại trong sự thán phục, ngưỡng mộ của độc giả!) Nhưng tiếc rằng điều đáng trân trọng, đáng quý ấy của ông lão chỉ tồn tại trong khoảng thời gian rất ngắn tính từ thời điểm bắt được

cá vàng rồi rời biển trở về nhà Đúng lúc này, ta nhận thấy mạch truyện bắt đầu thay đổi, chuyển hướng Câu chuyện được cá và thả cá đã mở rộng thêm đối tượng

mụ vợ, và cũng từ đây xuất hiện tính hai mặt của vấn đề, đó là ngay sau khi về nhà, trước đòi hỏi của mụ vợ, không làm chủ được bản thân, ông trở ra biển đòi cá vàng đền ơn Như thế, ông đã trực tiếp trao cơ hội cho một kẻ tham lam, đó chính là mầm mống tai họa do tự ông gieo nên

Ông lão luôn được coi là người nhân hậu qua hành động thả cá vàng không cần đền ơn Nhưng nếu như sự việc thả cá chứng tỏ ông lão là người nhân hậu thì hành động trở ra biển theo yêu cầu của mụ vợ lại cho ta thấy sự tốt bụng của ông chỉ được thực thi khi nằm ngoài vòng kiểm soát Thử lật lại vấn đề: Khi cá vàng van xin, nếu có sự xuất hiện của mụ vợ (hay áp lực tương tự như thế) thì điều gì sẽ xảy ra? Hẳn lúc ấy, một là ông thoái thác việc ấy cho mụ vợ tự giải quyết, hai là không từ chối việc cá vàng trả ơn, ba là ông sẽ xin xuống đại dương sống cùng cá vàng khi không vượt qua lực cản trong thực tế(!?)

Điều này hoàn toàn có lí bởi ông là người thiếu bản lĩnh, thiếu chủ kiến, dễ dàng đánh mất lòng tự trọng của con người, phản bội chính bản thân mình đến nỗi trong khi đã khước từ sự đền ơn của cá vàng mà vẫn hèn nhát chấp thuận vô điều kiện trước đòi hỏi của mụ vợ Không chủ ý nhưng đó chính là hành động tiếp tay, tạo kẽ hở đầu tiên cho kẻ cơ hội lộng hành để mụ vợ leo thang từ thấp đến cao, từ vật chất đến quyền lực một cách quá thuận lợi Dù gián tiếp, nhưng là kẻ đang nắm trong tay quyền hạn, vậy sao ông dễ dàng “cho” một cách bừa bãi như thế ? Tại sao khi lòng tham của mụ vợ trỗi dậy, ông lão không tìm cách ngăn chặn; hay là tìm cách phân giải để mụ nhận thức đúng sai, thay đổi suy nghĩ theo chiều hướng tốt lên; hoặc là đấu tranh không thỏa hiệp trước sự đòi hỏi của mụ? Thực chất, lòng tốt của ông lão chỉ là sự mủi lòng trong biểu hiện thả cá chứ chưa thể hiện cội rễ bản chất của nó một cách đúng nghĩa là ngăn chặn, đấu tranh trước cái xấu

Có quyền hành trong tay, do vô ý thức dẫn đến sai lầm trong việc tạo cơ hội cho mụ vợ đạt mục đích, ông lão trở thành kẻ nô lệ bị điều khiển; thất thế quay lại làm kẻ tay sai bợ đỡ, nịnh nọt Thật thê thảm, xót xa trong bộ dạng tiều tụy, khom

mình của lão như một sự trừng phạt: Kính chào phu nhân Kính chào nữ hoàng Đó phải chăng là cái giá phải trả cho kẻ có quyền hạn đã hèn nhát, vô trách

nhiệm trong việc ban phát bừa bãi để tạo cơ hội cho lòng tham, cái ác lộng hành? Trong mỗi lần đòi hỏi của mụ vợ và sự chấp nhận của ông lão, trước khi ra gặp cá vàng, cảnh biển đã luôn luôn thay đổi, ngày càng dữ dội Nghệ thuật tăng tiến đầy

Trang 24

dụng ý trong sáng tạo của Pu-skin đã thể hiện sự phẫn nộ của biển cả trước đòi hỏi ngày càng tăng của mụ vợ và sự tiếp tay của ông lão cho lòng tham và cái ác.

Mụ vợ tham lam, ông lão hèn nhát, nhu nhược tạo cơ hội, tiếp tay cho cái ác lộng hành, chính những hành động này đã nhồi nặn con người đến mức biến dạng

và trở nên sa thoái, băng hoại về đạo đức

Muốn gì cũng được, nắm quyền trong tay, giá như ông lão có chủ kiến, không dễ

dãi đánh mất mình, không tạo cơ hội cho mụ vợ đòi hỏi bắt đầu từ cái máng? Phải chăng sự trỗi dậy bắt đầu từ cái “được” nhỏ nhặt ấy là nguy cơ, tai họa bùng phát cuồng tham của kẻ cơ hội? Nếu như ông lão không tạo điều kiện cho mụ vợ thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao thì liệu mụ vợ có đến nông nỗi như thế hay không? Ai ngờ rằng chỉ một áp lực nhỏ ông đã dễ dàng biến mình thành tay sai để hủy hoại người khác và ngay cả bản thân mình

Sự biến dạng của mụ vợ là hệ quả từ sự nhu nhược, hèn nhát, thiếu bản lĩnh sống của ông lão Dù vô ý thức, nông cạn hay thiếu bản lĩnh trước cuộc sống thì ông lão cũng phải chịu trách nhiệm trước sự tha hóa, biến chất của mụ vợ Còn sự biến dạng của bản thân ông lão, ông tự chuốc lấy từ trong cái vô thức của cách sống bản năng tự đánh mất cả bản thân mình, đó là sự trừng phạt tất yếu Sự biến dạng của mụ vợ được phanh phui trần trụi, trở thành nỗi ám ảnh ghê sợ trong tiềm thức người đọc như một điều tồi tệ đáng phỉ nhổ Nhưng tiếc thay, sự méo mó, què quặt

của tâm hồn ông lão, trong nhận thức nhiều người vẫn được ngợi ca là tiêu biểu cho cái thiện, lòng tốt, phải chăng đó là cách nhìn nhận cảm tính, phiến diện cần

suy ngẫm!

Một sự trừng phạt thật nghiệt ngã và đau đớn trong cuộc sống khôn lường Đôi vợ chồng già trong điều kiện khó khăn về vật chất, trước thách thức không gian, thời gian vẫn sống bình thường, cam phận Vậy mà lên lão, chỉ một tình huống xảy ra trong cuộc sống, thiếu suy nghĩ tỉnh táo đã đánh mất đi bản ngã con người để rồi cả hai đều phải gánh chịu bi kịch Câu chuyện thức dậy trong ta ý thức sống cá nhân, mỗi con người phải luôn tự chịu trách nhiệm về chính bản thân mình Lòng tham, cái ác và sự nhu nhược, hèn nhát để kẻ khác điều khiển, lợi dụng, cả hai đều đáng bi phê phán, lên án một cách nghiêm khắc Phải chăng đó là bài học sâu sắc, là ý thức cảnh tỉnh trong cuộc sống để khi soi mình vào đó ai cũng phải sửng sốt, giật mình?

Còn nhân vật cá vàng, càng theo dõi, càng suy ngẫm, càng thấm hiểu về cách phân xử thâm sâu trong diễn biến câu chuyện

Tại sao mụ vợ ngày càng tham lam, độc ác mà cá vàng vẫn đáp ứng yêu cầu tột đỉnh của trần gian, không cho mụ điểm dừng ở những đòi hỏi trước đó? Hoặc là tiếp tục thỏa mãn khi mụ muốn làm Long vương, nơi vượt quá giới hạn con người?

Cá vàng, biểu hiện của cán cân công lí luôn thể hiện đúng chức năng của mình một

cách có ý thức Trực tiếp nắm quyền hành trong tay, cá vàng đã biết hành động rất đúng lúc, đúng chỗ trong việc cố ý cho mụ hưởng thụ tận cùng vật chất, quyền lực

để rồi từ điểm rơi ở vị trí cao nhất xuống chỗ xuất phát với sự gặm nhấm đau đớn nỗi tuyệt vọng Mụ trở về như xưa, chỉ là sự định vị trong không gian, giống nhau

về hiện tượng nhưng mặt bản chất đã hoàn toàn thay đổi Nếu trước đây mụ chăm chỉ quay tơ dệt vải trong túp lều nát bên cái máng lợn sứt mẻ với sự bằng lòng, an

Trang 25

phận thì giờ mụ đang tê dại, nuối tiếc, đau khổ tột cùng Kẻ cơ hội khi mất chỗ dựa

sẽ bị sụp đổ về vật chất và tinh thần, tự hành hạ bản thân là điều không tránh khỏi.Câu chuyện đền ơn của cá vàng, không chỉ là mô típ trong truyện dân gian mà

đã trở thành đề tài phổ biến trong văn học nhân loại Cách đền ơn trong Ông lão đánh cá và con cá vàng không theo hình thức vay-trả, cho-nhận đơn thuần mà ẩn

trong đó một cách lí giải, một giá trị nhận thức về cuộc sống

Khi cá vàng thực hiện những mong muốn của ông lão, thực chất không phải

sự đền ơn, đó chính là ý đồ trong cách thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm Giá trị vật chất và quyền lực nhận được từ cá vàng là miếng mồi nhử thử lòng để bóc trần

rõ nét từng nhân vật, từng kiểu dạng con người một cách hoàn hảo, sâu sắc nhất

Một sự trả ơn thực sự có ý nghĩa dành cho ông lão đó là khi cá vàng không nói gì, quẫy đuôi lặn sâu xuống đáy biển trước đòi hỏi vượt quá giới hạn của con người

Khi thế giới con người-mụ vợ và ông lão đã đi quá ngưỡng thực tế thì cá vàng-yếu

tố thần kì với phép nhiệm mầu, biến hóa đã thực hiện chức năng của nó trong việc giúp con người quay lại cuộc sống của mình, dù có khi cũng đã muộn mằn! Sự trả

ơn thực sự có ý thức của cá vàng là một quan niệm sống đúng đắn giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn trong mọi quan hệ ứng xử, tránh xảy ra những nhầm lẫn đáng tiếc

Như vậy, dựa trên cơ sở chân lí khoa học khách quan để phân tích, mổ xẻ, ta thấy tác phẩm đã hoàn thành xuất sắc khi mỗi nhân vật trong truyện như một “bản sao” về một số kiểu dạng con người mang tính sát thực trong thực tế Tác phẩm có sức sống bền chặt bởi đang còn xã hội loài người thì đang còn kẻ cơ hội và kẻ bị lợi dụng Nhìn nhận, bóc trần ra nó đã khó, đấu tranh chống lại nó lại càng khó hơn, đó là vấn đề mang tính xã hội đang thách thức ý thức sống của tất thảy chúng

ta , có khi đánh đổi bằng hy sinh, mất mát để thanh sạch, hoàn thiện nhân cách con người

Truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pu-skin nằm trong thời điểm chế

độ Nga hoàng đang áp đảo quyền lực đày đọa con người, vì thế hầu như trong các

tầng lớp tiếp nhận xưa nay đều cho rằng tác giả đã gửi gắm thái độ chống lại chế

độ Nga hoàng (mụ vợ độc ác tượng trưng cho Nga hoàng tàn bạo, ông lão tượng trưng cho nhân dân Nga hiền lành, chất phác) Nhận xét này còn suy diễn, áp đặt,

may chăng chỉ đúng phần nào trong cách nhìn nhận về hiện tượng Thiết nghĩ, tác phẩm mang sức sống vĩnh viễn, vượt thời gian và không gian bởi hình ảnh mụ vợ

và ông lão dường như đã bước ra khỏi trang sách, hóa thân vào những con người bằng xương, bằng thịt ở mọi lúc, mọi nơi, từng ngõ ngách để mỗi khi nhìn vào đó

ai cũng phải chùn lại trong cái ngưỡng của thế giới Con Người

Trong hai thế kỉ tồn tại, câu chuyện đã hấp dẫn bao thế hệ bạn đọc nhờ yếu tố thần kì đan xen vào thực tại, mở ra những cảnh tượng của ảo giác rồi cuối cùng thắt lại trong hiện thực đời thường để những nhân vật hiện hình, bước ra giữa cuộc đời như một sự cảnh báo về nhận thức lối sống

Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pu-skin dựa trên câu chuyện dân gian, vì

thế, nhờ yếu tố thần kì, dù kết thúc nghiệt ngã nhưng chưa hoàn toàn bế tắc khi lòng tham và cái ác đang có điểm dừng Trong thực tế, khi kẻ cơ hội nắm trong tay quyền lực, lòng tham cái ác ngày càng vô độ, tăng tiến sẽ không có cái phanh nào giữa cuộc đời kìm hãm được tốc độ, ngoại trừ yếu tố thần kì Hình tượng cá vàng

Trang 26

phát sáng trong câu chuyện, mang dáng dấp những Bao Công giữa cuộc đời, như ngọn hải đăng dẫn đường để con người biết chọn lựa, phân định rạch ròi trong cuộc hành trình tìm lẽ sống để neo đậu Bến Người một cách ý nghĩa nhất.

Một tác phẩm thực sự có giá tri kinh điển chỉ khi mà mỗi nhân vật trong

truyện là nơi trú ngụ đời sống thực của con người Trong câu chuyện Ông lão đánh

cá và con cá vàng, mỗi nhân vật gần gũi với con người đến mức ta tưởng chừng

như vừa bắt gặp ở đâu đây!

Vịnh vật, đa nghĩa, đó là một đặc điểm nổi bật của thơ Hồ Xuân Hương, vì thế

tiếp cận Bánh trôi nước, tìm hiểu bài thơ ở tầng nghĩa thứ hai để thấy được ý đồ

nhà thơ gửi gắm trong tác phẩm Từ bánh trôi nước, một món ăn dân giã, truyền thống của người Việt, để thể hiện một nội dung tương đồng, mang nghĩa ẩn dụ- hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nhưng lại có tính cá biệt, đủ thấy tài năng của Hồ Xuân Hương đến mức nào!

Bài thơ nôm với hình thức nghệ thuật đặc sắc qua cách thể hiện kết cấu đầu cuối tương ứng đã làm nên vẻ đẹp bài thơ Mở đầu bài thơ là vẻ đẹp hình thức:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn, kết thúc bài thơ là vẻ đẹp phẩm giá: Em vẫn giữ tấm lòng son, trọn vẹn và hoàn hảo!

Bài thơ hiểu theo nghĩa ẩn dụ, mượn hình ảnh bánh trôi để nói về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nhưng có phải người phụ nữ nói chung hay mang tính cá biệt?

Một hình tượng nghệ thuật có sức sống khi nó mang tính khái quát, điển hình cho những hình mẫu phổ biến nhất định trong xã hội Nhưng với bài thơ này lại đặc biệt hơn, bởi nhân vật trữ tình sống trong xã hội này mà lại đang cố vượt ra nơi khác bằng một sức sống tiềm tàng, như thể cái xã hội ấy không trói buộc nổi một tâm hồn với khát khao sống mãnh liệt để gìn giữ, vươn tới cái đẹp Bản lĩnh

ấy, trong xã hội phong kiến với những luật lệ khắt khe, liệu ai có được như thế?

Trang 27

Phải chăng điều đó đã làm cho bài thơ trong cổ điển đã thể hiện tính hiện đại, đưa lại giá trị cách tân cho một thời kỳ văn học?

Khám phá bài thơ trong hình thức kết cấu của nó, mở đầu là niềm tự hào khi giới thiệu vẻ đẹp hình thể:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Ca dao, khi nói về người phụ nữ, đã dùng cụm từ thân em rất quen thuộc, vì

thế khi tìm hiểu bài thơ, hầu như bạn đọc đều liên tưởng sự vận dụng của Hồ Xuân

Hương trong việc sử dụng cụm từ này Với cách nhìn nhận cụm từ thân em như thế, nên sách giáo khoa đã có bài tập luyện tập: Hãy ghi lại những câu hát than thân đã học ở Bài 4 (kể cả phần Đọc thêm) bắt đầu bằng hai từ “Thân em” Từ

đó, tìm mối liên quan trong cảm xúc giữa bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương với các câu hát than thân thuộc ca dao, dân ca (Sách Ngữ văn 7- tập 1)

Điều đó hoàn toàn dễ hiểu khi người tiếp nhận đã coi hình ảnh người phụ nữ trong

bài thơ mang bi kịch thân phận Qua nghệ thuật ẩn dụ tài tình trong phạm vi một bài thơ tứ tuyệt cô đọng, hàm súc, học sinh hiểu được thân phận chìm nổi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ( Sách Thiết kế dạy học Ngữ văn 7 theo hướng tích hợp- Nhà xuất bản Giáo dục của tác giả Trương Dĩnh ) Hay Hồ Xuân Hương đã thể hiện thái độ vừa trân trọng đối với vẻ xinh đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt, thủy chung, vừa cảm thương cho thân phận chìm nổi, bấp bênh, bị

lệ thuộc vào xã hội của người phụ nữa xưa (Sách giáo viên Ngữ văn 7- tập 1).

Ở góc nhìn khác, tiếp nhận, khám phá bài thơ theo hướng vừa mang tính kế

thừa: Hồ Xuân Hương đã thể hiện thái độ vừa trân trọng đối với vẻ xinh đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt, thủy chung, đồng thời đưa ra một cách lí giải mới, đó là

hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ không mang tính bi kịch, mà tác giả lấy bi kịch để minh chứng cho sức sống tiềm tàng của người phụ nữ trong việc bảo vệ

phẩm giá Trong ca dao, dù thân em chịu như trái bần trôi hay được như tấm lụa đào đi chăng nữa thì cũng là biết tấp vào đâu hay biết vào tay ai, luôn nằm trong

sự định đoạt số phận, không làm chủ nổi bản thân Còn thân em trong bài thơ Bánh trôi nước có chấp nhận một bề hay đang vùng vẫy?

Với cách hiểu cụm từ thân em theo kiểu than thân như ca dao, coi vấn đề đặt

ra trong tác phẩm mang tính bi kịch, thì như thế bài thơ đã được tìm hiểu theo mạch tự sự bởi người tiếp nhận đã theo trật tự thứ tự các câu thơ bằng cách giới thiệu vẻ đẹp hình thức, nói đến bi kịch cuộc đời, và tiếp đến là vẻ đẹp phẩm giá

của em như một sự liệt kê Chỉ bốn câu thơ thôi mà xem ra sắp xếp “lộn xộn”,

không rành mạch theo chủ đề, cách biểu ý thiếu tính liên kết? Như thế bài thơ đâu còn vẻ đẹp hình thức, đâu còn cá tính sáng tạo của Hồ Xuân Hương! Vì thế, theo hướng tiếp nhận mới, tìm hiểu bài thơ theo mạch cảm xúc trữ tình trong hình thức

kết cấu đầu cuối tương ứng để thấy em đang trong niềm tự hào về vẻ đẹp trọn vẹn,

một vẻ đẹp hình thức được tạo hóa ban tặng đầy tính khách quan và một vẻ đẹp tâm hồn đầy ý thức chủ quan trong sự đấu tranh bảo vệ phẩm giá của mình

Một sự “khoe mình” đấy chứ! Tính từ miêu tả đầy gợi cảm “trắng”, “tròn”

cùng cách điệp phó từ vừa, vế sau sử dụng hai phó từ liên tiếp “lại”, “vừa” tạo nên nốt nhấn để khẳng định vẻ đẹp bất biến về ngoại hình của em Bài thơ có đề cập

đến bi kịch trong sự gian nan vất vả, lận đận và sự trói buộc, định đoạt của chế độ nam quyền lộng hành:

Trang 28

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Đó chỉ là cái cớ để em bộc lộ thái độ sống một cách rõ ràng nhất Dù chịu bi kịch, nhưng em đã quẫy đạp để thoát vượt ra ngoài bằng nghị lực bản thân cốt sao giữ tấm lòng son Như thế bi kịch đối với em đã trở nên vô nghĩa Chuỗi quan hệ từ

“mặc dầu”, “mà”, “vẫn” liên tiếp, em hiển hiện một cách cứng cỏi, rắn rỏi, quyết

đoán đến thế, xem ra tương phản với vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, thuần khiết của em? Trong xã hội ấy, nếu không mạnh mẽ, quyết liệt thì đâu bảo vệ được phẩm giá của mình Chính sự cứng cỏi ấy đã làm nên vẻ đẹp tâm hồn của em Bài thơ khép lại nhưng vẻ đẹp trắng trong, son sắt mãi mãi lan tỏa giữa cuộc đời để mỗi khi soi mình, ai cũng khao khát vươn tới

Qua cách sử dụng hình thức kết cấu đầu cuối tương ứng cùng chuỗi quan hệ

từ, đến đây, người đọc cảm nhận được bi kịch đang bị chìm xuống trước một bản

lĩnh sống phi thường, quyết liệt và có phần liều lĩnh để tấm lòng son đọng mãi vào thời gian trong niềm kiêu hãnh! Phải chăng cá tính mạnh mẽ của em mới đủ sức

chống chọi với cay nghiệt cuộc đời? Cái nghiệt ngã đó, người phụ nữ trong xã hội

phong kiến cam chịu, còn em thì không, dám đối mặt, dám thách thức để thoát ra khỏi sự định đoạt của số phận Vậy thân em, chẳng phải là chủ thể, là cái tôi trữ tình, một bản ngã sống cá nhân đang trỗi dậy mãnh liệt hay sao? Một cái tôi khác

xa cái cái ta được nói đến trong văn học đương thời Như thế, cách lí giải cụm từ thân em không còn mang nét nghĩa trong ca dao, mà đó là chủ thể trữ tình, cái tôi

cá nhân tác giả, điều hiếm thấy trong thơ trung đại Vì thế, vấn đề chính đặt ra trong bài thơ là ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ trong xã hội phong kiến với sức sống

mạnh mẽ như để thoát ra mọi sự ràng buộc hiện tại Sao em “vùng vẫy” đến thế? Phải chăng là sự phản ứng quyết liệt với một xã hội bất công, ngang trái Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn mà em là hiện thân của bi kịch?

Với Hồ Xuân Hương, một cá tính mạnh mẽ, cái tôi không phải ẩn dấu, duy

nhất mà có khi tự xưng, rất rõ trong Mời trầu :

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,

Này của Xuân Hương mới quệt rồi.

Một người con gái mảnh mai, đứng trước xã hội quyền lực phong kiến ngự trị,

trong một bài thơ của mình đã dùng quạt để Mát mặt anh hùng khi tắt gió/ Che đầu quân tử lúc sa mưa Dám nhấn cả lũ đấng mày râu rạp xuống dưới câu thơ : Chành

ra ba góc da còn thiếu ấy thì sao phải ẩn mình?

Bài thơ bốn câu, hai câu nói về vẻ đẹp, hai câu nói đến bi kịch, nhìn qua có vẻ cân đối trong biểu đạt nội dung, nhưng bi kịch đã chìm lặn xuống để cho vẻ đẹp ngời lên, tỏa sáng Nằm trong đặc điểm chung của thơ Hồ Xuân Hương, nhìn nhận một cách khách quan hình thức thể hiện tác phẩm, ta có thể khẳng định trong bài

thơ Bánh trôi nước, thân em không phải cụm từ chỉ thân phận, mà đó là sự tự hào

về những người phụ nữ kiên trung, dám thách thức ngoại cảnh để giữ lấy vẻ đẹp chính mình Phải chăng bóng dáng Hồ Xuân Hương hiện lên trong bài thơ rất rõ nét?

Nét độc đáo trong nghệ thuật bài thơ qua cách sử dụng hình thức kết cấu đầu cuối tương ứng và chuỗi quan hệ từ liên tiếp đã khắc họa rõ nét hình ảnh người phụ

Trang 29

nữ trong xã hội phong kiến mang vẻ đẹp trọn vẹn, một vẻ đẹp vượt ra ngoài giới hạn, luật lệ của nó để sống bằng ý thức cá nhân, bằng bản ngã của mình!

Mượn thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật cổ điển, nghiêm trang, khuôn phép để bộc lộ một thái độ sống mạnh mẽ, một sự bứt phá dữ dội đầy tính hiện đại cũng đủ thấy khát khao sống mãnh liệt, dâng hiến tận cùng cái đẹp cho cuộc đời

mà không một rào cản nào ngăn nổi Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn Hồ Xuân Hương luôn mang hơi thở mới cho cuộc đời Người đời luôn trân trọng và ngưỡng mộ khi

mà Hồ Xuân Hương, trong rất nhiều bài thơ của mình, đã bắc được nhịp cầu nối hai thời đại thi ca!

VẺ ĐẸP NHÂN VĂN TRONG BÀI THƠ ÁNH TRĂNG

(Đọc bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy)

Trên dòng chảy thời gian, có lúc ta chững lại trước biến cố cuộc đời và thốt

lên câu hỏi Tại sao trong khôn cùng của bế tắc Nhưng đó không phải là ngõ cụt

khi ta biết nhận thức được hành vi của mình, dù có khi nó đã nằm ngoài vòng kiểm soát.Văn là đời, hiện thực đã bước vào văn chương để ta chiêm nghiệm về lẽ sống

mà Ánh trăng của Nguyễn Duy là một trong những bài thơ tiêu biểu.

Bài thơ ra đời năm 1978, vấn đề đặt ra trong tác phẩm hoàn toàn mới mẻ, vì thế cũng có nhiều hướng tiếp cận khác nhau Theo cách truyền thống, bài thơ được khám phá theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại, nhắc nhở con người biết sống thủy chung, tri ân với quá khứ, suy ngẫm về lẽ sống Nhưng ở góc độ tiếp nhận mới, bài viết đã thể hiện hướng tiếp cận từ thực tại trở về quá khứ để nhận thức về lối sống, tìm ra vẻ đẹp tâm hồn trong bước thăng trầm để vươn tới điều tốt

đẹp trong cuộc đời Điều đó đã làm nên vẻ đẹp nhân văn của Ánh trăng

Đọc Ánh trăng, ta nhận thấy mạch nguồn cảm hứng bắt đầu từ một tình huống éo le chợt đến, khi mà nhân vật trữ tình đang cố quẫy đạp từ bế tắc Thình lình đèn điện tắt/ phòng buyn-đinh tối om Từ nhịp sống ào ạt, xô bồ, nhân vật trữ

tình trong sự thay đổi môi trường sống đã chọn lựa sự hơn thua giữa vầng trăng và ánh điện (cách chọn lựa hình ảnh diễn đạt theo lối so sánh ẩn dụ về mức độ chênh lệch ánh sáng) Bắt đầu từ dấu mốc xuất hiện ánh điện, trên quãng đường chạy đua

theo cái lợi, một biến cố trớ trêu cuộc đời xảy thình lình không kịp trở tay, một phản xạ vô điều kiện vội bật tung cửa sổ để níu kéo sự tồn tại

Nếu không xuất hiện “sự cố” trên đường đời thì quá khứ với những gì đẹp đẽ mãi mãi khép lại yên ắng và nhân vật trữ tình không bao giờ nhận ra ân tình, thủy chung của nó Chính thời điểm này làm thay đổi suy nghĩ của con người:

xuất hiện đột ngột như một sự đúng lúc, kịp thời, cần thiết trong bối cảnh hiện tại

Nhưng không Quá khứ-vầng trăng không hề đột ngột, bởi cuộc sống ân nghĩa luôn

Trang 30

dõi theo mỗi bước thăng trầm mà ta vô tình không nhận ra đó thôi Quá khứ đã hiện ra trong dòng cảm xúc hồi tưởng của nhân vật trữ tình :

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường

Một quá khứ đẹp đẽ, ân tình Hồi nhỏ sống với đồng cái vầng trăng tình nghĩa đầy nuối tiếc và một quá khứ sai lầm, chệch hướng Từ hồi về thành phố như người dưng qua đường trở về trong kí ức bằng tất cả sự ăn năn

Nếu theo cách hiểu Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian (Sách Ngữ văn- Giáo viên lớp 9, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), hay Bài thơ là một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại, gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người (hồi nhỏ- hồi chiến tranh- từ hồi về thành phố) (sách Một số kiến thức- kĩ năng và

bài tập nâng cao Ngữ văn 9, nhà xuất bản Giáo dục, tác giả Đinh Thị Mai Hoa và Đinh Chí Sáng) thì sẽ có những điểm bất cập trong cách tìm hiểu thơ nói chung và

Ánh trăng nói riêng.Trong bài thơ, dấu hiệu về trình tự thời gian rất rõ nét nhưng

nó chỉ xuất hiện trong mạch hồi tưởng Khi phòng buyn-đinh tối om, chủ thể trữ tình nhận thấy sự xuất hiện đột ngột vầng trăng tròn, đó là nơi bắt đầu nguồn mạch

cảm hứng trữ tình để quá khứ ùa về theo dòng mạch cảm xúc Như thế, với bài thơ này, yếu tố tự sự đã có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ mạch hồi tưởng để thời gian lắng lại trong suy ngẫm của nhân vật trữ tình trước hiện thực cuộc sống Nếu không có lá chắn trong gấp khúc cuộc đời thì câu chuyện quá khứ ấy liệu có thức dậy hay không khi mà nhân vật trữ tình đang chạy đua theo thời gian để dành

giật cái lợi? Vì thế Ánh trăng không thể là Một câu chuyện nhỏ được kể theo trình

tự thời gian Nếu theo cách hiểu ấy thì độ lắng của cảm xúc sẽ trở nên mờ nhạt, sự

thất bại của nhân vật trữ tình sẽ không tạo nên dấu ấn đặc biệt của sự trải nghiệm đầy ý nghĩa để trở thành bài học đáng nhớ trên chặng đường đời! Một bài thơ trữ tình giàu tính triết lí Mạch cảm xúc bắt đầu từ cao trào của bế tắc cần một sự giải thoát, từ đó nhân vật trữ tình nhận ra sự hiển nhiên, lạnh lùng của cuộc sống Trên đường đời vấp ngã, ai là người bên cạnh bạn?

Ngược dòng thời gian, quá khứ ăm ắp những tình cảm đẹp đẽ của một thời vô

tư, trong sáng vẹn nguyên trong kí ức đang ùa về Nó hiện hữu từ những mốc thời

gian cụ thể: Hồi nhỏ, hồi chiến tranh; từ không gian mở: quê hương đồng, sông, bể đến đất nước chiến tranh ở rừng; từ tâm hồn mộc mạc, chân chất, trong sáng: trần

Ngày đăng: 09/02/2017, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w