1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh châu Âu (EU) và tác động của nó đến Việt Nam

11 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 373,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới tác động đa chiều của các biến cố trong nền kinh tế thế giới, mối quan hệ hợp tác thương mại giữa Trung Quốc và EU đang bộc lộ những xu thế phát triển rất phức tạp.. Có thể nói, mối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

***********

VŨ THỊ NGUYỆT NGA

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – LIÊN MINH CHÂU

ÂU (EU) VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

Mã số : 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Tạ Kim Ngọc

Hà Nội - 2005

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế thế giới trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 được khắc họa bởi rất nhiều đặc điểm phát triển mới, trong đó nổi bật là: các nền kinh tế quốc gia lớn, nhỏ ngày càng tương thuộc chặt chẽ với nhau và đang kết nối thành một mạng lưới thống nhất trên quy mô toàn cầu; các nền kinh tế quốc gia và khu vực đang xúc tiến quá trình liên kết, hội nhập và mở cửa theo hướng tự do hoá

Theo xu hướng trên, xuất hiện hàng loạt các mô hình liên kết kinh tế khu vực và thế giới nhiều cấp độ Trong các mô hình liên kết kinh tế hiện nay, mô hình có hiệu quả nhất là mô hình liên kết của liên minh Châu Âu (EU) Cho đến nay, EU đã trở thành một tổ chức của 25 quốc gia Châu Âu có tính thống nhất cao về kinh tế, chính trị và xã hội Và đặc biệt là vấn đề thống nhất tiền tệ và đẩy mạnh việc thành lập và hoàn thiện thị trường nội bộ EU thống nhất Với xu thế phát triển trên, EU ngày nay đã trở thành một cực kinh tế có vai trò rất quan trọng trên thế giới

Cũng trong những năm cuối của thế kỷ 20, tình hình thực tế của đất nước và bối cảnh quốc tế đã buộc Trung Quốc phải thay đổi phương thức quản lý, tiến hành cải cách, mở cửa, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Với định hướng phát triển đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng của Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc và EU đã xác định được một quan hệ bền chặt hợp tác và cùng phát triển mọi mặt, trước nhất và quan trọng nhất là trên lĩnh vực thương mại Mối quan hệ này đã được hai bên xác định trong các chiến lược phát triển của mình

Dưới tác động đa chiều của các biến cố trong nền kinh tế thế giới, mối quan hệ hợp tác thương mại giữa Trung Quốc và EU đang bộc lộ những xu thế phát triển rất phức tạp Quan hệ giữa Trung Quốc và EU không dừng ở mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc với các quốc gia thành viên EU mà còn là ở mối quan hệ giữa Trung Quốc và toàn EU với tư cách là khối liên kết kinh tế lớn trên thế giới Có thể nói, mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU đã phản ánh rất đầy đủ tất cả các xu thế phát triển về kinh tế nói chung và thương mại nói riêng trên thế giới hiện nay Hơn thế nữa, mối quan hệ này còn có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế

Trang 3

giới Vì vậy, những nhận định về mối quan hệ thương mại Trung Quốc và EU không chỉ những phán đoán thông thường mà phải là kết quả của việc nghiên cứu nghiêm túc trên các cơ sở khách quan và một góc nhìn toàn diện

Trong quá trình phát triển, Trung Quốc và Việt Nam đã bộc lộ nhiều đặc điểm tương đồng Tiến trình và kết quả của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU tác động trực tiếp tới quá trình phát triển hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam hiện nay

Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như vậy nên tôi chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc

sỹ của mình là: “Quan hệ thương mại Trung Quốc - Liên minh Châu Âu (EU) và tác động của

nó đến Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những thập kỷ gần đây, cả Trung Quốc và EU đang nổi lên là những đối trọng lớn trong nền kinh tế thế giới Những động thái của hai chủ thể này là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Trung Quốc và

về EU Có thể kể đến các công trình sau:

- “Chiến lược của EU từ sau chiến tranh lạnh đến nay” của PGS.TS Kim Ngọc thuộc công trình khoa học cấp Nhà nước (KHXH06-02)

- “ Quan điểm và đối sách của EU trong việc Trung Quốc gia nhập WTO” của PGS.TS Kim Ngọc - đề tài khoa học cấp Nhà nước

- “Chính sách lâu dài của Liên minh Châu Âu đối với Trung Quốc và quan hệ mậu dịch song phương”, theo tạp chí “Kinh tế thế giới” (Trung Quốc) số 8-1999

- “Kinh tế và chính sách của EU mở rộng” của Giáo sư Carlo Altomonte và Giáo sư Mario Nava, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2004

- “EU- Trung Quốc: quan hệ đối tác quan trọng”, quan điểm của Uỷ viên Châu Âu về quan hệ đối ngoại Chris Patten - theo TTXVN (Brucxen 11/11)

- “Tình hình và triển vọng kinh tế Trung Quốc” của các tác giả Trung Quốc: Mã Hồng

và Tôn Tượng Thanh do NXB Chính trị quốc gia, HN, 1998

Trang 4

- “Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU” của Th.S Đỗ Thanh Hà, theo tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 15(58) tháng 4/2005 Cùng một số tác phẩm được xuất bản trong các tạp chí chuyên ngành khác

Tuy nhiên, phần lớn các công trình này đều chỉ là những nghiên cứu độc lập hoặc về Trung Quốc hoặc về EU, có rất ít tác phẩm nghiên cứu về mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU Vả lại, các tác phẩm này mới chỉ đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và EU ở một số khía cạnh nhất định Vì vậy, một nghiên cứu mang tính hệ thống và khái quát tất cả các đặc điểm của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc – EU và tác động đến Việt Nam là một vấn đề hoàn toàn mới và cần thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: quan hệ thương mại Trung Quốc - EU, bao gồm cả các mối quan

hệ song phương và đa phương.Tác động của mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc – EU tới Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU đã hình thành từ lâu, nhưng thực sự khởi sắc từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (từ năm 1990 trở đi) và bộc lộ những xu thế vận động rõ nét Vì vậy, tôi chọn phạm vi nghiên cứu là từ năm 1990 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp so sánh và áp dụng phương pháp thống kê học để xử lý số liệu

5 Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hoá lý thuyết về thương mại quốc tế, làm rõ cơ sở thực tiễn của mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

- Phân tích thực trạng mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU,

- Phân tích những tác động của mối quan hệ thương mại Trung Quốc - EU tới Việt Nam

- Khuyến nghị về những giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam - EU

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Trang 5

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế và sự cần thiết khách quan của quan hệ thương mại Trung Quốc - EU

Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Trung Quốc - EU trong giai đoạn từ

1990 đến nay và tác động của nó đến Việt Nam

Chương 3: Giải pháp của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam -

EU

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC – EU

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thương mại quốc tế

Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán Sự trao đổi đó là một hình thức của quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia

Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trường của nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu, ở đó diễn

ra các hoạt động mua bán hàng hoá của các bên tham gia trao đổi

Trang 6

Các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác quốc gia, có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể hoặc tư nhân.Mục đích tham gia thương mại quốc tế của họ là có lợi trong việc trao đổi

Hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất, hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế hàng hoá vật chất gọi là thương mại hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại thương Hàng hoá vật chất là những hàng hoá tồn tại dưới dạng vật chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực phẩmvà phi lương thực thực phẩm Trong trao đổi, người mua và người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hoá Do có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Cùng với các nghiệp vụ mua, bán hàng hoá có cả dịch

vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế…

Trao đổi quốc tế hàng hoá dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ Hàng hoá dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định lượng được, không dự trữ được Quá trình cung cấp diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ Trong trao đổi, người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch

vụ Do có sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, hàng hoá dịch

vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên giới

Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa người mua và người bán là đồng tiền

có khả năng chuyển đổi

Vai trò của thương mại quốc tế

Ngày nay, khối lượng thương mại thế giới thông qua xuất khẩu tăng lên rất nhanh Thông qua xuất nhập khẩu đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mà ở nền kinh tế tự cung tự cấp không bao giờ có được Đặc biệt với các nước đang

Trang 7

phát triển, nhờ thương mại quốc tế, họ có được cơ hội tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tạo ra tích luỹ, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Các nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và quốc tế hoá theo hướng hình thành một thị trường thế giới đông nhất nên sự phụ thuộc giữa các quốc gia thông qua thương mại ngày càng tăng lên

Thương mại quốc tế là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng giữa các nước Chính vì vậy mà nó có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước:

+ Thương mại quốc tế tác động vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theo hướng phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

+ Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước hay nói cách khác là nó làm thay đổi phương thức sản xuất và phương thức tiêu dùng Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn của khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ tự cung, tự cấp, không buôn bán

+ Thương mại quốc tế còn làm cho thu nhập GDP tăng lên, cải thiện đời sống của nhân dân

+ Thương mại quốc tế giúp cho các nước thoả mãn nhu cầu về văn hoá, nâng cao trình độ văn hoá, quan hệ với nhiều nước trên thế giới, nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế

+ Thương mại quốc tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một số lý thuyết thương mại quốc tế

Các lý thuyết về thương mại quốc tế đã có một lịch sử lâu đời Các lý thuyết dau bổ sung

và hoàn thiện những lý thuyết trước nhằm giải thích sâu sắc hơn bản chất và những yếu tố quyết định thương mại quốc tế Sau đây, tôi xin trình bày một số lý thuyết thương mại quốc tế điển hình

Học thuyết trọng thương

Quan điểm của trường phái Trọng thương về thương mại quốc tế ra đời vào cuối thế kỷ

15, đầu thế kỷ 16 Học thuyết Trọng thương cho rằng, mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ; muốn gia tăng khối lượng tiền tệ của một nước thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương tức là phát triển buôn bán với nước ngoài; lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt Trong trao đổi phải có một bên thua và một bên được và trong thương mại quốc tế thì dân tộc này làm giầu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác; phái Trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ, cụ thể là Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối của Adam Smith bắt đầu từ giữa thế kỷ

18 Adam Smith đã đưa ra các giả thiết sau:

+ Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng

+ Chi phí vận chuyển bằng 0

+ Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia

+ Thương mại là hoàn toàn tự do

Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hoá và những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó cho phép họ sản xuất sản phẩm với

Trang 8

chi phí thấp hơn các nước khác Hạn chế của lý thuyết này là không giải thích được hiện tượng: Một nước có lợi thế hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế nào cả thì chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mại quốc tế sẽ diễn ra như thế nào đối với các nước này

Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh của David Ricardo

Để xây dựng lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế so sánh, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết sau:

+ Chỉ có hai quốc gia và hai loại sản phẩm

+ Thương mại tự do

+ Không có chi phí vận chuyển

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

Carlo Altomonte và Mario Nava (2004), Kinh tế và chính sách của EU

mở rộng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Cao Thượng Toàn (1997), “Kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21”, Hướng

đi của nền kinh tế Trung Quốc trong thế kỷ 21, Viện kinh tế thế giới, Hà

Nội

Lê Đăng Doanh (2003), “Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh

tranh của sản phẩm Việt Nam”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế, Tr 55 – 60

Du Minh Khiêm (2003), “Trung Quốc gia nhập WTO một năm nhìn lại”,

Nghiên cứu Trung Quốc, số 3

Trương Giang (2003), “Cải thiện tính cạnh tranh để hội nhập”, Việt Nam

với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 61 – 62

Đỗ Thanh Hà (2005), “Quan hệ thương mại Trung Quốc – EU”, tạp chí

Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 15(58), Tr 19-23

Hoa Ngọc Khiết (2004), “Về chính sách cấm vận vũ khí đối với Trung

Quốc của Liên minh châu Âu”, Kinh tế và chính trị thế giới, Trung

Quốc

Trang 9

Vũ Khoan (2003), “Nâng cao khả năng cạnh tranh để hội nhập thành

công”, Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 9 –13

Bùi Huy Khoát (2001), Liên minh Châu Âu (EU) với thị trường châu Á

và thị trường Việt Nam, Trường ĐH Ngoại Thương, Hà Nội

Vân Kiều (2003), “ Những khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường EU”,

Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 311

Vũ Chí Lộc – Nguyễn Thị Mơ (2004), Luận cứ khoa học xây dựng chiến

lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu

Âu giai đoạn 2001 – 2010, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội

Võ Đại Lược – Tạ Kim Ngọc (1996), Các khối kinh tế và mậu dịch trên

thế giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Mã Hồng và Tôn Tượng Thanh (1998), Tình hình và triển vọng kinh tế

Trung Quốc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Phạm Kim Nga (2001), “Trung Quốc gia nhập WTO Những ảnh hưởng

gợi mở đối với Việt Nam và các nước thành viên mới ASEAN”, Nghiên

cứu Trung Quốc, Số 3(37), Tr6 – 17

Tạ Kim Ngọc (2002), Chiến lược của EU từ sau chiến tranh lạnh đến

nay, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội

Nhà xuất bản Văn hoá thông tin (1999), Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ

21, Tr 560 – 570

Niên giám thống kê Trung Quốc (1978, 1980, 1989), Tài liệu dịch từ

nguyên bản tiếng Trung Quốc, Thư viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện khoa học xã hội Việt Nam

Chris Patten (2002), “EU- Trung Quốc: quan hệ đối tác quan trọng”,

Thông tấn xã Việt Nam, Brucxen

Paul RKrugman – Maurice Obstfeld (1991), Kinh tế học quốc tế Lý

Trang 10

thuyết và chính sách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Nguyễn Phú Thái (2004), Vai trò của ngoại thương đối với phát triển

kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách và mở cửa, Luận án tiến sĩ kinh tế,

Viện kinh tế và chính trị thế giới, Hà nội

Nguyễn Xuân Thắng (2003), Một số xu hướng phát triển chủ yếu hiện

nay của nền kinh tế thế giới, NXB KHXH, Hà Nội

Trần Văn Thọ (2003), “Làm gì trước thách thức và thời cơ mới”, Việt

Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 63 – 65

Định Tích (2003), “Quan hệ hợp tác Việt Nam và Liên minh Châu Âu”,

Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tr 307 – 313

Tổng cục thống kê (2000), Niên giám thống kê, NXB Thống kê, Hà Nội Viện kinh tế và chính trị thế giới (2004), Trung Quốc gia nhập tổ chức

thương mại thế giới (WTO) Thời cơ và thách thức, NXB KHXH, Hà Nội

Vụ Âu Mỹ – Bộ thương mại (2001), Thị trường EU và những yêu cầu

của thị trường với hàng xuất khẩu của Việt Nam, Trường ĐH Ngoại

Thương, Hà Nội

TIẾNG ANH

Elena Lanchovichina and Will Martin (2002), “Economic Impacts of

China’s Accesion to the WTO”, Http://www.worldbank.org

United Nation, Conferrence on trade and development (UNCTAD) (1997), Trade and development report, New York and Geneva

United Nation, Conferrence on trade and development (UNCTAD) (1999), Trade and development report, New York and Geneva

United Nation, Conferrence on trade and development (UNCTAD) (2000), Trade and development report, New York and Geneva

United Nation, Conferrence on trade and development (UNCTAD)

Ngày đăng: 08/02/2017, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w