1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ ở Việt Nam

11 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 296,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường trái phiếu là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hoá các công cụ đầu tư, giảm tải cho hệ thống ngân hàng, cung cấp phương tiện định giá chuẩn cho các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ -

NGUYỄN THỊ THỤY HƯƠNG

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI, 2006

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển thị trường tài chính nhằm tập trung và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế một cách hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam Thị trường trái phiếu là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hoá các công cụ đầu tư, giảm tải cho hệ thống ngân hàng, cung cấp phương tiện định giá chuẩn cho các nhà đầu tư nhờ vậy hỗ trợ sự phát triển cả thị trường tiền tệ và thị trường cổ phiếu và cuối cùng là kênh tác động chính sách của NHTW

Là một bộ phận của thị trường trái phiếu, thị trường TPCP Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước gánh vác được vai trò của mình là tạo kênh huy động vốn cho ngân sách để bù đắp bội chi ngân sách và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Theo dự báo của IFM về bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2001-2005 là 2,4% GDP, trong đó tài trợ trong nước khoảng 1,67%; giai đoạn 2006-2010 bội chi ngân sách là 2,3% GDP, trong đó tài trợ trong nước là 1,8% GDP Nếu nhu cầu vay trong nước được tài trợ thông qua phát hành TPCP thì nhu cầu vốn cần huy động thời kỳ 2001-2010 là 137.000 tỷ đồng Để thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện và xoá đói giảm nghèo thì lượng vốn cần huy động sẽ khoảng 840 đến 970 nghìn tỷ đồng

Dự báo nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vay vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu này và do vậy cần phải huy động thêm bằng phát hành TPCP Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù khối lượng TPCP phát hành qua các năm khá lớn song mức độ tài trợ vốn cho nền kinh tế chưa nhiều so với 44% GDP của tín dụng ngân hàng và so với tiềm năng huy động qua kênh này Cơ chế phát hành còn nhiều bất cập, hoạt động của thị trường thứ cấp kém sôi động, thiếu tính thanh khoản vì thế không tạo ra được đường cong lợi tức chuẩn với các kỳ hạn nợ khác nhau Đồng thời, do tính thanh khoản của thị trường thứ cấp kém cho nên không tạo ra được sự luân chuyển vốn trên thị trường và ảnh hưởng trở lại đến việc huy động vốn trên thị trường sơ cấp Điều này có nguyên nhân từ tính chất sơ khai của thị trường và chính nguyên nhân này lại là một trở ngại cho sự phát triển chung của thị trường tài chính

Với tốc độ phát hành khá nhanh từ năm 2002 đến nay, cùng với dự báo nhu cầu vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông thuỷ lợi của Chính phủ và các chính quyền địa phương, cũng như nhu cầu vốn để tài trợ cho các dự án kinh tế lớn của các doanh nghiệp trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ cần được hoàn thiện trên nhiều mặt để trở thành một thị trường theo đúng nghĩa và đảm nhiệm được vai trò to lớn trong nền kinh tế nước ta

Luận văn “Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu thực trạng, đánh giá

những yếu tố thị trường, phi thị trường trong phát hành và giao dịch trái phiếu ở Việt Nam; đồng thời đề ra một số giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu

Là một bộ phận không thể thiếu của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu nói chung,

thị trường TPCP nói riêng là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu như: „Sử dụng công cụ TPCP để huy động vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam‟- tác giả: Trần Xuân Hà, năm 2003; „Thị trường trái phiếu Công ty của một số nước Châu Á sau khủng hoảng và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam’- tác giả Vũ Chí Dũng, năm 2001; „Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam’ - tác giả: Phạm Trọng Bình, năm 2001…

Gần đây nhất, cuộc hội thảo „Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam’ đã được tổ chức;

trong đó, có một số tham luận về xây dựng thị trường TPCP ở Việt Nam Ngoài ra, việc xây dựng thị trường TPCP cũng là đề tài nghiên cứu phổ biến ở nhiều nước trên thế giới

Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu thị trường trái phiếu dưới những góc độ khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố thị trường và phi thị trường trong phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam Do vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện thị trường TPCP để nó thực sự trở thành kênh

huy động vốn hiệu quả của Chính phủ

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu bản chất và vai trò của thị trường TPCP trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam, từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCP, đánh giá thực trạng thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua thông qua hoạt động phát hành niêm yết và giao dịch TPCP qua đó làm rõ những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế, tồn tại để rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như những điều kiện cần thiết cho việc phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam để tăng cường vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời làm nòng cốt để phát triển thị trường

nợ nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các hoạt động liên quan đến thị trường phát hành và thị trường giao dịch TPCP trong nước Ngoài ra, Luận văn còn nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường TPCP của một số nước để có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, lôgíc và

Trang 4

phương pháp quy nạp, thống kê, so sánh Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Đảng

và Nhà nước về phát triển kinh tế định hướng XHCN

Trang 5

6 Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn

Luận văn cố gắng hệ thống hóa được một số khái niệm liên quan tới thị trường tài chính, thị trường nợ và thị trường trái phiếu Chính phủ mà trong một chừng mực nhất định còn là những khái niệm tương đối mới mẻ ở Việt Nam

Luận văn đã đưa ra được những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam và tổng quan các giai đoạn phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng thị trường TPCP, luận văn đã chỉ rõ những thành công của thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời cũng đưa ra được những hạn chế cần khắc phục của thị trường này trong hoạt động phát hành và giao dịch TPCP như là một thành phần cốt lõi để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục thành 3 chương với những nội dung sau :

Chương 1 : Phát triển thị trường TPCP cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 : Thực trạng phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

Chương 3 : Định hướng và giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1 PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Thị trường trái phiếu Chính phủ trong hệ thống tài chính

1.1.1 Khái quát về thị trường tài chính Việt Nam

Trong thời gian thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hệ thống tài chính của Việt Nam chủ yếu dựa vào hoạt động của hệ thống ngân hàng Đến giữa những năm 1980 (năm 1986), Việt Nam đã tiến hành công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường Điều này đòi hỏi hệ thống tài chính phải được thiết kế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Quá trình cải cách hệ thống hệ thống tài chính nước ta được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng vào tháng 5/1990, theo đó hệ thống Ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình hệ thống Ngân hàng hai cấp (NHTW Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ; hệ thống NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ) Cho đến nay, hệ thống tài chính Việt Nam, đặc biệt là NHTW và khu vực NHTM vẫn tiếp tục được cải cách, từng bước hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước Hiện nay, cơ cấu của thị trường tài chính Việt Nam gồm: Khu vực Ngân hàng (NHTM QD, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Quỹ tín dụng Nhân dân) và khu vực phi Ngân hàng (Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán)

Thị trường tài chính là nơi mua và bán các loại hình công cụ tài chính Có thể nói rằng, thị trường tài chính mang lại lợi nhuận quan trọng cho các thành viên tham gia vì thị trường có thể tái phân phối vốn trong hệ thống tài chính hay nói cách khác là dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi cần vốn Bên cạnh đó, thị trường tài chính cũng cho phép các đơn vị kinh tế điều chỉnh các loại nợ họ nắm giữ và phát hành để họ có thể đảm bảo khả năng trả nợ, quản lý rủi ro và có khả năng thanh toán; thực hiện phát hành nợ để có thể đa dạng hoá các loại hình tài sản và có khả năng thanh toán

Các thị trường cấu thành cơ bản của thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành tương đối đầy đủ

- Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, là nơi mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá

Các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc NHTW quy định trong từng thời kỳ

Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường nội tệ liên ngân hàng (được thành lâp và đi vào hoạt động năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc (hoạt động từ năm 1995), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000) Thị trường tiền tệ là cơ sở quan trọng để NHTW điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, là điều kiện

Trang 7

cần thiết cho thị trường vốn phát triển Từ khi Luật NHTW và Luật Các tổ chức tín dụng ra đời, hoạt động của thị trường tiền tệ từng bước được hoàn thiện Hệ thống cơ sở kỹ thuật, công nghệ ngân hàng nhất là hệ thống giao dịch và các công cụ giao dịch được hiện đại hóa và đa dạng Việc tự do hóa dần lãi suất đã khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia thị trường Các nghiệp vụ như cho vay qua đêm, thanh toán bù trừ điện tử, nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào áp dụng và sử dụng linh hoạt

Thị trường nội tệ liên ngân hàng từng bước được hoàn thiện và có những tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thành viên tham gia thị trường tăng từ 23 năm 1994 lên 59 thành viên năm 2004 Tỷ giá mua bán ngoại tệ (USD) giữa tổ chức tín dụng với khách hàng được dựa trên tỷ giá bình quân do NHTW công bố Tỷ lệ kết hối giảm từ 80% năm 1998 xuống còn 30% năm 2001 và 0% năm 2003 Hoạt động trên thị trường chủ yếu diễn ra một chiều Hình thức mua bán ngoại tệ chủ yếu là giao dịch giao ngay, mua bán kỳ hạn chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 10% tổng giao dịch

Tuy nhiên, đến nay thị trường tiền tệ phát triển ở mức độ thấp, quy mô giao dịch trên thị trường còn nhỏ Các công cụ tài chính chưa đa dạng về chủng loại và thời gian Thành viên tham gia thị trường chủ yếu là các tổ chức tín dụng có quy mô vốn lớn nhất là các NHTM Nhà nước Mối liên kết tác động qua lại giữa các thị trường cấu thành của thị trường tiền tệ còn yếu Mối quan hệ lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng với các thị trường khác như thị trường khác như thị trường tín phiếu kho bạc, thị trường tín dụng chưa rõ nét Vì vậy, lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa phải là lãi suất để các lực lượng thị trường điều chỉnh lãi suất và có các quyết định đầu, tư thích hợp Hiệu quả điều hành các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp còn hạn chế

- Thị trường tín dụng là thị trường được hình thành sớm nhất trong các thị trường cấu thành

của thị trường tài chính Đến nay tín dụng ngân hàng chính thức vẫn là kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế Dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2004 đạt khoảng trên 50% GDP Các NHTM nhà nước chiếm khoảng 75%-80% thị phần cho vay và huy động cũng như tài sản của toàn hệ thống ngân hàng Tiếp đến là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh (hơn 12%), NHTM cổ phần (gần 10%) Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng khá nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 25%/năm

Hoạt động tín dụng ngân hàng còn một số vấn đề cần lưu ý như: chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng còn thấp, chứa đựng nhiều rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn còn thấp so với thông lệ quốc tế,

hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế

Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng khá mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2004 khoảng 25%/năm, chủ yếu là nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm khoảng 50%, tiền gửi tiết kiệm chiếm khoảng 22% Nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng khoảng 70% Nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng thấp khoảng 30% tổng

Trang 8

nguồn vốn, chủ yếu là nguồn vốn có thời hạn từ 1 đến 2 năm, nguồn vốn có thời hạn từ 5 năm trở lên có tỷ trọng không đáng kể (khoảng 7% tổng nguồn vốn trung dài hạn)

- Thị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đã có

những đóng góp ban đầu trong việc huy động nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP HCM) là nơi niêm yết và thực hiện các giao dịch tập trung của thị trường chứng khoán Bên cạnh thị trường chính thức còn có thị trường phi chính thức Đây là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán không niêm yết như cổ phiếu của các

công ty nhỏ, của các công ty chuẩn bị niêm yết Thị trường trái phiếu- một bộ phận của thị trường chứng khoán bắt đầu hoạt động từ năm 1995 Trái phiếu ở Việt Nam được phát hành bao gồm 3

loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công ty Chính phủ là chủ thể phát hành trái phiếu lớn nhất của Việt Nam Các loại trái phiếu được giao dịch trên thị trường là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty Từ ngày hoạt động đến nay, trái phiếu công ty chỉ có duy nhất trái phiếu của ngân hàng Đầu tư và Phát triển giao dịch trên thị trường

1.1.2 Cấu trúc của thị trường tài chính

Theo cách thức huy động vốn, người ta có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường

nợ và thị trường vốn cổ phần

1.1.2.1 Thị trường vốn cổ phần

Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần Công cụ trên thị trường này là cổ phiếu không có kỳ hạn mà chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày đáo hạn Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá sản Cổ tức nhận được từ việc nắm giữ cổ phiếu chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Do đó cổ phiếu là công cụ có rủi ro cao

1.1.2.2 Thị trường nợ

Thị trường nợ là thị trường mua bán các công cụ nợ như tín phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay Các công cụ nợ đều có kỳ hạn nhất định, có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Mặc dù trái phiếu là công cụ tương đối an toàn, do các nghĩa vụ thanh toán của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của người phát hành song trái phiếu lại chịu rủi ro lãi suất và rủi ro lạm phát

Trong thị trường nợ, có hai bộ phận quan trọng là thị trường nợ Chính phủ và thị trường nợ Công ty (trái phiếu công ty) Công cụ nợ của Chính phủ có rất nhiều loại, mỗi loại đều có mục đích phát hành, thời hạn phát hành khác nhau, tuy nhiên phạm vi luận văn đề cập là thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam do vậy Luận văn sẽ chỉ xem xét nghiên cứu trên cục diện toàn bộ các công

cụ nợ của Chính phủ gồm cả các công cụ nợ ngắn hạn (tín phiếu) và dài hạn (trái phiếu)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

1 Báo cáo về công tác huy động vốn của Kho bạc Nhà nước (1991-2004) và Quỹ Hỗ trợ phát triển (2000-2005)

2 Bộ Kế hoạch và đầu tư (6/2005), “Kế hoạch phát triển kinh tế – XH 5 năm 2006-2010”

3 Bộ Tài chính (1995), Dự thảo "Đề án phát hành trái phiếu Chính phủ Việt Nam ra thị trường vốn quốc tế", Hà Nội

4 Bộ Tài chính (1998), "Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển tài chính 5 năm 2001-2005",

Hà Nội

5 Bộ Tài chính (2000), “Thông tư số 55/2000/TT- BTC ngày 09/6/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung”

6 Bộ Tài chính (2000), “Thông tư số 58/2000/TT- BTC ngày 16/6/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điểm về bảo lãnh và đại lý phát hành trái phiếu Chính phủ”

7 Bộ Tài chính (2003), "Đề án phát hành TPCP để đầu tư một số công trình thuộc hạ tầng kinh

tế - xã hội quan trọng của Nhà nước", Hà Nội

8 Bộ Tài chính (2003), “Thông tư số 88/2003/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định số 182/2003/QĐ-TTg ngày 05/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát hành trái phiếu Chính phủ để đầu tư một số công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng của đất nước”

9 Bộ Tài Chính (2004), "Thông tư 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 về thuế giá trị gia tăng

và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực chứng khoán"

10 Bộ Tài Chính (2004), "Thông tư số 21/2004/TT-BTC ngày 24/03/2004 hướng dẫn việc đấu thầu trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung"

11 Bộ Tài Chính (2004), “Thông tư số 29/2004/TT- BTC ngày 06/4/2004 hướng dẫn việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh

và trái phiếu Chính quyền địa phương”

12 Bộ Tài chính (2004), “Thông tư số 32/2004/TT-BTC ngày 12/4/2004 hướng dẫn việc phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước”

13 Bộ Tài chính (2004), “Thông tư số 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 hướng dẫn việc đấu thầu tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”

14 Bộ Tài chính (2006), “Quyết định 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 về việc tập trung đấu thầu TPCP tại TTGDCK Hà Nội kể từ ngày 20/6/2006 ”

15 Bộ Tài chính (2006), “Quyết định số 46/2006/QĐ-BTC ngày 06/8/2006 ban hành Quy chế phát hành TPCP theo lô lớn”

16 TS Phạm Trọng Bình (2001), "Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Hà

Nội

Trang 10

17 Chính phủ (1994), "Nghị định số 72/CP ngày 26/7/1994 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế phát hành TPCP"

18 Chính phủ (1995), "Nghị định số 23/CP ngày 22/3/1995 của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu quốc tế"

19 Chính phủ (2005), "Nghị định 161/CP (thay thế cho NĐ 22/CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán"

20 Chính phủ (2005), "Nghị định số 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 của Chính phủ về ban hành Quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ"

21 Chính phủ (2003), "Nghị định số 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương"

22 Chính phủ (2003), "Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán"

23 Chính phủ (2003), "Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương"

24 Chủ tịch nước (1999) “Lệnh của Chủ tịch nước số 04L/CTN ngày 08/5/1999 về việc công bố Pháp lệnh Phát hành công trái xây dựng tổ quốc và Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”

25 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia", Hà Nội

26 Lê Văn Hưng (2003), "Đổi mới nhận thức và quan điểm huy động vốn”

27 Trần Xuân Hà (2003), "Sử dụng công cụ TPCP để huy động vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam", Hà Nội

28 GS.TS Nguyễn Văn Nam, PGS.TS Vương Trọng Nghĩa (đồng chủ biên) (2002), “Thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội

29 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2000), "Quyết định số 85/2000/QĐ-NHTW ngày 9/3/2000 về việc ban hành quy chế nghiệp vụ thị trường mở"

30 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2001), “Quyết định số 53/2001/QĐ-NHTW ngày 17/01/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế đấu thầu tín phiếu kho bạc tại Ngân hàng Nhà nước”

31 Lê Văn Tề và Nguyễn Thị Xuân Liễu (2000), "Phân tích thị trường tài chính", Nhà xuất bản

Thống kê, Hà Nội

32 Thủ tướng Chính phủ (2000), "Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2000 về ưu đãi tạm thời thuế cho các đối tượng tham gia Thị trường Chứng khoán"

Ngày đăng: 08/02/2017, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w