Với nhận thức rằng hộ gia đình là đơn vị phù hợp trong bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, chính sách của Chính phủ đưa ra gần đây đã chuyển quyền sử dụng đất từ hình thức Nhà nước sang hộ gia
Trang 1Bài 18 Luật tục địa phương và luật pháp của Nhà nước trong quản lý rừng: nghiên cứu trường hợp tại một cộng đồng người Dao ở miền núi phía Bắc, Việt Nam
Thạc sĩ Tô Xuân Phúc
Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp
Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
Tóm tắt
Bài viết trình bày các kết quả nghiên cứu về cộng đồng người Dao tại bản Yên thuộc vùng miền núi phía Bắc của Việt Nam Đối với người dân ở bản, rừng là nhà, là nguồn sống Rừng là nơi để họ canh tác, chăn thả gia súc, cung cấp các sản phẩm gỗ và phi gỗ Rừng còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Đối với người dân ở đây, rừng là tài sản chung
và mọi người trong bản đều có quyền tiếp cận Để bảo vệ nguồn tài nguyên vật chất và văn hoá này, người dân đã thiết lập những quy định để bảo vệ nguồn tài nguyên này
Trong khi đó, chính phủ coi rừng là nguồn tài nguyên vật chất quan trọng cần phải được bảo vệ về gỗ, rừng đầu nguồn nhằm tối đa hoá trong sử dụng tiềm năng, điều này được thực hiện thông qua rất nhiều các chính sách khác nhau Với nhận thức rằng hộ gia đình là đơn vị phù hợp trong bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, chính sách của Chính phủ đưa ra gần đây đã chuyển quyền
sử dụng đất từ hình thức Nhà nước sang hộ gia đình Những chính sách này không cho phép duy trì hình thức canh tác nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép
Sự khác nhau giữa luật tục địa phương và chính sách của Nhà nước làm cho nguồn tài nguyên rừng trở nên suy thoái Thêm vào đó, các nhóm người và cá nhân có vị trí trong địa phương lợi dụng sự khác nhau này để thu lợi cho chính bản thân mình thông qua việc khai thác và buôn bán trái phép nguồn tài nguyên gỗ rừng
Giới thiệu
ở Việt Nam, quan niệm về rừng giữa chính phủ và người dân địa phương còn khác nhau
Đối với Chính phủ, rừng là những tài nguyên không những bảo vệ môi trường mà còn là nơi cung cấp các nhu cầu về xã hội, kinh tế, sinh thái cho tất cả mọi người Do vậy, rừng cần phải được bảo vệ vì sự bền vững của toàn xã hội Để làm được điều này, Chính phủ đã ban hành các quy
định cũng như thực hiện các chương trình để xoá bỏ những gì được coi là các nguyên nhân dẫn
đến suy thoái nguồn tài nguyên rừng: canh tác nương rẫy, khai thác gỗ, khai thác quá mức các sản phẩm phi gỗ Đối với người Dao - nhóm dân tộc thiểu số hiện đang sống ở bản Yên, xã Tân Minh, huyện Đà Bắc, Hoà Bình, rừng không phải chỉ là một nguồn sống mà còn đóng vai trò rất quan trọng về văn hoá và xã hội Để bảo vệ rừng người Dao đã thiết lập những luật tục địa phương nhằm sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên này một cách hợp lý, phù hợp với họ
Tuy nhiên, những luật tục địa phương khác với những chính sách của Nhà nước Sự khác nhau này dẫn tới sự thay đổi trong chu kỳ canh tác nương rẫy, làm nghèo đất từ đó dẫn đến sự
Trang 2suy giảm năng suất cây trồng, làm giảm nguồn tài nguyên rừng, và gây ra tranh chấp giữa người dân và cán bộ địa phương và giữa những người dân với nhau Những người có vị trí xã hội lợi dụng
sự khác nhau này làm lợi ích riêng cho mình, làm giảm nguồn tài nguyên rừng Trong lúc đó, chính quyền địa phương thất bại trong việc thực thi các quy định cần thiết
Bài viết phân tích sự khác nhau giữa chính sách của Nhà nước và luật tục địa phương Thêm vào đó, bài viết sẽ tìm hiểu các ảnh hưởng của sự khác nhau này đối với việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên rừng
Bài viết sẽ chia thành 5 phần chính, phần 1 mô tả các điều kiện về dân số, giáo dục, y tế,
điều kiện sinh thái, sản xuất nông nghiệp, khai thác các sản phẩm gỗ và phi gỗ Phần 2 tìm hiểu các luật tục địa phương về sử dụng và quản lý đất rừng Phần 3 phân tích chính sách và tiến trình thực hiện chính sách tại địa phương Phần 4 đánh giá tác động của chính sách đối với nguồn tài nguyên rừng, tập trung chủ yếu vào đất rừng, khai thác gỗ và các sản phẩm phi gỗ Phần cuối cũng sẽ phân tích tác động của sự khác nhau tới tài nguyên rừng và cuộc sống của người dân
I Đặc điểm về cộng đồng
I.1 Các đặc điểm chung
Bản Yên là một trong 10 bản của xã Tân Minh Bản nằm cách trung tâm huyện 32 km và cách Hà Nội 123 km Bản nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm ở độ cao 300 m so với mặt nước biển, trong phạm vi rừng đầu nguồn sông Đà nơi duy trì các điều kiện sinh thái cho cư dân ở miền Tây Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng Hiện tại, tổng số hộ là 45 với số dân là 213 người
Con đường 433 là con đường độc nhất chạy qua bản, là cầu nối giao thông giữa bản với các địa bàn khác Trong bản còn có một con đường thứ cấp, trời mưa không thể đi lại bằng phương tiện gì trừ đi bộ Bản chưa được tiếp xúc với điện lưới quốc gia mặc dù nhà máy thuỷ điện Hoà Bình - một trong những nhà máy điện lớn nhất Đông Nam á - nằm tại trung tâm tỉnh Bản vẫn chưa có trung tâm y tế, trong bản chỉ có một trường cấp I duy nhất, học sinh muốn học cấp II phải
đi tới trường tại trung tâm xã, cách bản 6 km Học sinh cấp III phải học tại trung tâm huyện, cách bản 32 km Nhìn chung, người dân trong bản có trình độ học vấn thấp, trung bình chỉ hết lớp 3, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của quốc gia Tỷ lệ mù chữ khoảng 18%, cao hơn nhiều
so với mức trung bình của cả nước
I.2 Đặc điểm sinh thái
Trên đỉnh núi cao là diện tích rừng thứ sinh, phía dưới là diện tích nương rẫy, trên nương ngoài cây lương thực, người dân còn trồng thêm các loại cây gỗ như xoan, bồ đề Hình 1 mô tả lát cắt sinh thái của bản Yên
Trang 3Hình II.18.1 Lát cắt sinh thái bản Yên
Đặc điểm
thảm thực
vật
Rừng gỗ, nứa,
cọ, rừng thứ sinh
Suối,
đường, ruộng nước
Nhà, trường học
Rừng nứa
Nương rẫy (lúa, sắn, ngô trồng xen với xoan,
bồ đề
Rừng tre nứa
Đặc điểm
địa hình
Núi cao Bậc thang Núi thấp,
thung lũng
Núi thấp
Núi thấp Núi
cao
phẳng
-500
I.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Canh tác truyền thống của người Dao là canh tác nương rẫy Canh tác lúa nước chỉ mới
được người Dao sử dụng từ khi thành lập hợp tác xã trong những năm 1960, sau khi có chính sách "hạ sơn" của Chính phủ Do dân số tăng nhanh (3,2% một năm trong thập kỷ 80) và do tác
động của chính sách, người Dao đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống của họ và sử dụng cả 2 phương thức canh tác Hiện nay, hầu hết người dân vẫn duy trì hình thức canh tác nương rẫy trong khi vẫn tiếp tục cấy lúa Bảng 1 thể hiện lịch mùa vụ
Bảng II.18.1 Lịch mùa vụ Tháng
Cây trồng
Lúa nước
Lúa nương
Ngô
Sắn
Trong một năm, người dân trải qua 2 giai đoạn đói: từ tháng 2 tới tháng 4, và từ tháng 7 tới tháng 9 Diện tích lúa nước rất nhỏ, tổng diện tích là 2,6 ha Trong những tháng đói, người dân phải đi vào rừng chặt gỗ, thu các sản phẩm phi gỗ bán lấy tiền mua lương thực
I.2.2 Khai thác các sản phẩm gỗ và phi gỗ
Gỗ và các sản phẩm phi gỗ như nấm, cây thuốc đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của người dân ở đây Bảng 2 thể hiện mức độ quan trọng của các sản phẩm rừng
Trang 4Bảng II.18.2 Tầm quan trọng của các sản phẩm rừng Sản phẩm Mục đích Thời gian thu
hoạch
Mức độ quan trọng
Khoảng cách
từ nhà
Mức độ sẵn có
Nguồn: PRA tại bản Yên, 2000
Mức độ quan trọng: 10 - Quan trọng nhất 1 - ít quan trọng nhất
Khoảng cách từ nhà: 10 - Xa nhà nhất 1 - Gần nhà nhất
Mức độ sẵn có: 10 - Nhiều nhất 1 - ít nhất
II Luật tục của người Dao về sử dụng và bảo vệ rừng
II.1 Quản lý đất rừng
Sống với rừng núi từ xa xưa, người Dao nói chung đã tích luỹ cho mình những kiến thức truyền thống về sản xuất nông nghiệp và cách thức riêng để quản lý đất rừng Đối với người Dao tại bản Yên, rừng có ranh giới rõ ràng, được đánh dấu bằng suối, đường phân thuỷ, cây to thông thường các ranh giới này chỉ tương đối và được người dân công nhận mặc dù không có những chứng nhận và cam kết bằng văn bản
Trong bản, trừ đất ở và đất nương rẫy được các hộ gia đình quản lý riêng, các loại đất khác như đất rừng, sông suối thuộc về tất cả mọi người Tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận đối với các tài nguyên này Khi một người nào đó chọn một mảnh đất nào đó và đánh dấu bằng một cây gậy cắm xuống đất, anh ta có quyền sử dụng mảnh đất đó Những người khác muốn sử dụng mảnh đất đó thì phải hỏi ý kiến của người chủ
Luật tục của người Dao ở đây không cho phép người bên ngoài bản tiếp cận với đất rừng và nguồn tài nguyên rừng thuộc địa phận của người Dao Một người mới chuyển đến bản sẽ không
được nhận đất trừ khi anh ta được già làng và tất cả mọi người trong bản chấp nhận Khi được chấp nhận, anh ta sẽ phải mang rượu, cơm và thịt tới cúng tổ tiên và ma rừng Anh ta cũng phải chiêu đãi tất cả mọi người trong bản Giống như mọi người khác trong bản, anh ta cũng phải làm những công việc chung của bản và giúp đỡ người khác khi trồng trọt, làm cỏ, và thu hoạch
Trang 5II.2 Sử dụng đất
Theo Nguyễn Văn Thắng (1995), người Dao nói chung có cách riêng để bảo vệ rừng Theo tác giả, người Dao tại một số địa phương đã áp dụng hình thức trồng xen canh trên cùng một mảnh nương để hạn chế xói mòn đất, ngoài ra họ cũng trồng những băng cây Cấu trúc theo lớp này không những bảo vệ được đất mà còn cung cấp chất dinh dưỡng cho đất Người Dao cũng có những đồi quế, tùng rất rộng, họ cũng trồng các loại cây có củ như khoai sọ, các loại cây họ
đậu để tăng độ màu mỡ của đất
Những điều mà Nguyễn Văn Thắng quan sát thấy cũng được thể hiện qua người Dao tại bản Yên Người dân ở đây thường chọn mảnh nương của họ ở rừng già nơi có đất tốt, họ cũng chọn nương ở nơi rừng tre nứa vì khi đốt sẽ tạo ra nhiều tro, tốt cho đất Nương thường nằm ở phía chân đồi và phía đỉnh đồi người dân giữ lại cây gỗ nhằm hạn chế xói mòn và duy trì độ ẩm cho
đất
Khi phát nương, người dân ở đây không phát sạch (một số dân tộc như Tày, Mường khi phát nương thường phát sạch) Khi phát, họ không chặt sát gốc cây mà để lại một phần khoảng 50-60
cm trên mặt đất Phương pháp này có 3 ưu điểm, thứ nhất hệ thống rễ cây duy trì độ ẩm cho đất, thứ 2, hệ thống rễ mạnh cho phép sự tái sinh rừng diễn ra nhanh hơn, thứ 3, hệ thống làm tăng các điều kiện đất, làm giảm sự xói mòn Chu kỳ canh tác thường diễn ra trong vòng 3 năm, sau
đó thời gian bỏ hoá khoảng 10 - 15 năm, điều này cho phép rừng được phục hồi đầy đủ
II.3 Tục lệ và tín ngưỡng trong sử dụng và quản lý đất
Cuộc sống của người Dao gắn liền với rừng Đối với người Dao, rừng là tài sản chung của mọi người, ngoài vai trò về vật chất, rừng còn có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân (Bế Viết Đẳng và cộng sự 1971)
Người Dao tại bản Yên có rất nhiều những tục lệ và tín ngưỡng trong việc sử dụng và quản
lý đất rừng, đây là một phần của luật tục truyền thống của họ Ví dụ trước vụ gieo trồng, già làng yêu cầu tất cả mọi gia đình trong bản mang rượu, thịt và cơm tới nhà mình và già làng tổ chức nghi lễ truyền thống Già làng cũng là người xác định thời gian gieo trồng và thu hoạch, tất cả mọi gia đình trong bản phải theo quyết định của già làng
Trong chu kỳ canh tác nương rẫy - từ khâu chọn nương cho tới khi thu hoạch - mỗi gia đình phải chuẩn bị đồ cúng lễ riêng cho mình (ví dụ rượu, thịt, và xôi) để cúng thần Đối với người Dao
ở đây, cái gì cũng có thần Canh tác nương rẫy ở trong rừng làm động chạm tới thần đất, nước và cây do vậy để làm nương cần phải có sự cho phép của các thần, nếu không người dân sẽ phải chịu các hậu quả nghiêm trọng như hạn hán, lụt lội hay chết chóc
Trong tháng thường có các ngày đặc biệt mà người dân gọi là ngày "chủ nhật thôn bản" Theo luật tục truyền thống của người dân ở đây, người dân không được phép đi nương hoặc đi vào rừng trong những ngày này, nếu không các thần sẽ trừng phạt làm mùa vụ thất bát hoặc làm hại người Ví dụ vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch không ai được phép đi vào rừng chặt cây bởi vì người dân tin rằng nếu chặt cây vào ngày này thì sẽ làm kinh động tới thần sấm và sẽ có những hậu quả nghiêm trọng cho con người Vào ngày 7 tháng 7 âm lịch, lúa trai và lúa gái cưới nhau và
Trang 6đêm đó là đêm tân hôn, vì vậy không người nào được đi thăm nương trong ngày này nếu không lúa sẽ xấu hổ và sẽ không đậu thành hạt
Phần trên đã cho thấy rằng những tín ngưỡng văn hoá của người Dao được kết gắn rất chặt chẽ với rừng Nếu các nghi lễ và tín ngưỡng này được thực hiện đúng cách và nghiêm túc thì cả cộng đồng sẽ được bình an và thịnh vượng, ngược lại cuộc sống của người dân sẽ không được yên ổn nếu các nghi lễ và tín ngưỡng không được thực hiện đầy đủ Bởi vậy, rừng là nơi linh thiêng, nơi mà tổ tiên và linh hồn cư ngụ, nơi người dân nương tựa về mặt tinh thần
III Chính sách đất đai và thực hiện tại cộng đồng
Đối với Nhà nước, rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên duy trì bền vững các điều kiện sinh thái cho cả miền núi và đồng bằng Canh tác nương rẫy là hình thức làm tổn hại đến hệ sinh thái
Từ quan điểm Nhà nước, hình thức canh tác nương rẫy đơn thuần chỉ là một phương thức canh tác với vị trí nương cố định, đường ranh giới rõ ràng, hiệu quả kinh tế thấp (Hoàng Xuân Tý 1995) Hình thức canh tác này là một trong những nguyên nhân làm xói mòn đất, hạn hán ở vùng cao và
lũ lụt ở vùng đồng bằng
Sự quan tâm của Nhà nước về cách thức truyền thống của người dân địa phương còn hạn chế Trải qua rất nhiều thế hệ, người Dao sống phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên rừng Rừng là nơi làm nương rẫy, và là nơi cung cấp các sản phẩm gỗ và phi gỗ Canh tác nương rẫy bảo đảm an ninh lương thực cho hộ gia đình Đối với người dân, canh tác nương rẫy không chỉ là nguồn kế sinh nhai duy nhất mà còn là phương thức có giá trị về mặt văn hoá, đối với họ, vị trí nương không cố định tại một địa điểm mà luôn thay đổi từ một điểm này sang một điểm khác, với thời gian bỏ hoá 10 - 15 năm đủ để rừng phục hồi trở lại
Trước những năm 1960, khi hợp tác xã chưa thành lập, chưa có một chính sách cụ thể nào quy định việc quản lý nguồn tài nguyên rừng, mà hình thức chủ yếu là cộng đồng tự quản lý Trong thời gian này, người dân chưa canh tác lúa nước, canh tác nương rẫy là nguồn sinh kế duy nhất của người Dao ở đây Tuy nhiên từ đó trở đi hệ thống quản lý tài nguyên của người Dao được hình thành một cách dần dần thông qua hệ thống chính sách của Nhà nước
Vào những năm 60 khi HTX được thành lập, đất đai và các phương tiện sản xuất khác được hợp tác xã quản lý Mọi người làm việc theo tập thể và sản phẩm thu hoạch được chia cho từng người dựa trên số công mà họ đóng góp cho HTX Trong thời gian này, canh tác nương rẫy được coi là có hại cho môi trường Chính sách của Nhà nước vì thế đã hạn chế hình thức canh tác nương rẫy và khuyến khích canh tác lúa nước Hình thức HTX đã tác động một cách tiêu cực đến phương thức sản xuất truyền thống của người Dao
Vào những năm 1980, hình thức khoán đã được áp dụng Hình thức quản lý chặt chẽ của HTX đã không khuyến khích được khả năng làm việc của người dân từ đó dẫn đến hiệu quả thấp (Sikor, 2000) Hộ gia đình dần dần được tự chủ hơn trong việc canh tác trên diện tích ruộng của HTX Sau đó đất được giao cho các hộ và các hộ trực tiếp chịu trách nhiệm về sản xuất của mình trong cả năm
Luật đất đai được Quốc hội phê chuẩn năm 1993 cho phép đất đai được giao lâu dài cho hộ gia đình Hộ gia đình được sử dụng đất trong thời gian 20 năm đối với đất trồng cây hàng năm và
Trang 750 năm đối với cây lâu năm Trong luật cũng trao cho hộ gia đình 5 quyền cơ bản: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Hộ gia đình khi nhận đất được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn gọi là sổ đỏ
Tháng 1 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định 02/CP hướng dẫn việc giao đất lâm nghiệp Theo nghị định này, đất rừng được phân làm 3 loại37: rừng đặc dụng, rừng sản xuất và rừng bảo vệ Bộ Lâm nghiệp (nay là bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã ban hành những quy định cụ thể về quản lý và sử dụng đối với mỗi loại rừng này (Sikor, 2000) Theo như Nghị
định, đất có rừng có thể giao cho hộ trong thời gian 50 năm, đất trống có thể giao trong thời gian lâu hơn
Tại bản Yên, đất được giao cho hộ gia đình năm 1995 Uỷ ban nhân dân huyện giao cho Chi cục kiểm lâm là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc giao đất Tại xã đã thành lập nhóm giao rừng với các thành viên là người của Chi cục kiểm lâm và cán bộ xã, và chủ tịch xã là trưởng nhóm Trước khi giao đất, nhóm tiến hành họp dân trong bản để giải thích mục đích, các hoạt
động của giao đất Các hộ gia đình khai báo với trưởng bản diện tích và vị trí đất mà hộ muốn nhận Trưởng xóm sau khi đã thống kê danh sách gửi danh sách này cho nhóm Đất được giao dựa trên hiện trạng sử dụng đất của hộ Diện tích đất được giao tỷ lệ thuận với số lao động sẵn có trong hộ Khi nhận đất hộ gia đình phải ký vào văn bản nhận đất với sự chứng kiến của đại diện của bản, uỷ ban nhân dân xã và kiểm lâm
Vào cuối năm 1995, nhóm giao đất đã hoàn thành công việc của mình tại xã Tân Minh nói chung và bản Yên nói riêng Gần 592 ha đất rừng sản xuất và bảo vệ đã được giao cho 35 hộ gia
đình trong bản Trong số 35 hộ, 1 hộ nhận đất rừng sản xuất nhưng không có rừng bảo vệ, 2 hộ nhận đất rừng bảo vệ nhưng không có rừng sản xuất, 32 hộ còn lại nhận cả đất rừng sản xuất và bảo vệ Trong tổng số diện tích đã giao cho hộ, 39% (229 ha) là rừng sản xuất, 61% (364 ha) là rừng bảo vệ Trong diện tích rừng sản xuất, 78% (179,3 ha) là diện tích đất trống HTX cũng được nhận 36 ha là để cho HTX tự quản lý
Theo nghị định 02/CP, đất rừng sản xuất (bao gồm cả đất trống) được giao cho các hộ với mục đích lâm nghiệp Đất rừng bảo vệ được giao cho các hộ với mục đích để bảo vệ Không có diện tích nào được giao với mục đích sản xuất nông nghiệp Trong Nghị định cũng quy định rằng
hộ gia đình nhận đất trống sẽ nhận chương trình giúp đỡ của Chính phủ để trồng rừng
Tháng 9 năm 1992 Chính phủ ban hành Nghị định 327 (hay còn gọi là chương trình 327) với mục tiêu tăng năng suất của đất trống thông qua những hướng dẫn kỹ thuật cụ thể, các ưu đãi
về tài chính, các khoản trợ cấp và các chương trình phát triển miền núi
Tại huyện Đà Bắc, chương trình 327 được thực hiện bởi Ban Định canh Định cư năm 1995
Uỷ ban nhân dân huyện đưa ra một chương trình lớn đầu tư cho xã Tân Minh, tuy nhiên ngân sách thực tế cho xã chỉ là hơn 74 nghìn USD, chỉ chiếm 25% ngân sách dự kiến ban đầu Các hoạt động bị rút ngắn từ khoảng thời gian dự kiến là 5 năm xuống chỉ còn 3 năm Tổng số 1084
37 Đất lâm nghiệp được chia làm 3 loại: (1) Đất rừng đặc dụng: các nơi như công viên quốc gia, nơi bảo tồn thiên nhiên Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý là Chi cục kiểm lâm huyện hoặc Cục kiểm lâm tỉnh (2) Đất rừng bảo vệ: loại đất này là những nơi quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, giảm xói mòn đất và thiên tai, bảo vệ sinh thái và môi trường Đất này được giao cho hộ dưới sự quản lý của cục/chi cục kiểm lâm hoặc các lâm trường quốc doanh (3) Đất rừng sản xuất: chia 2 loại - đất có rừng và đất trống Loại đất trống được giao cho hộ gia đình và hộ được nhận quyền sử dụng đất
Trang 8ha đất trống đã được giao để trồng rừng, tuy nhiên Tân Minh chỉ nhận được 6% (60,51 ha), và bản Yên đã không nhận được kinh phí cho hạng mục trồng rừng này Tuy nhiên, người dân bản Yên lại nhận được cây con (đào, mận) miễn phí Khi nhận số cây giống về, người dân đem trồng trên diện tích nương của mình Hiện tại tất cả số cây này đã bị chết, nguyên nhân là do (1) thiếu hướng dẫn cụ thể về kỹ thuật trong việc trồng và chăm sóc cây; (2) đất đai nghèo nàn; và (3) chăn thả tự do Mặc dù người dân yêu cầu một số cây bản địa như tre, luồng, mép - những loại cây có thể tiêu thụ tại địa phương, nhưng Ban chỉ cung cấp cho họ cây ăn quả với hy vọng rằng sản phẩm sẽ được thương mại hoá một cách rộng rãi, nhưng điều hy vọng đã không trở thành hiện thực
Trong khuôn khổ của chương trình 327, ngoài hạng mục trồng cây còn có hoạt động bảo vệ rừng Một số hộ đã được lựa chọn và được trả tiền công bảo vệ Tổng số 1080 ha đã được giao cho 16 hộ gia đình được lựa chọn từ 35 hộ trong bản Tuy nhiên, không phải tất cả diện tích này
đều được bảo vệ bởi vì người dân thiếu lương thực và nguồn thu nhập của hộ lại từ nguồn rừng Thêm vào đó, mặc dù số tiền bảo vệ ban đầu là 50.000 đồng/ha/năm, tuy nhiên số tiền này đã bị trừ đi phần tiền cho thiết kế tại huyện, tiền quỹ xóm, các các chi phí khác do vậy 1 ha thực nhận chỉ khoảng dưới 40.000 đồng
Một số vấn đề đã nảy sinh trong khi thực hiện Ví dụ diện tích rừng giao cho hộ bảo vệ lại nằm trong diện tích đất giao cho hộ khác, hộ không được chọn, do vậy hộ này, tuy rằng rừng nằm trên diện tích của nhà mình, nhưng lại không được nhận tiền công Ví dụ khác là 2 hộ gia đình có
đất gần nhau, chất lượng rừng giống nhau, trong khi 1 hộ được nhận tiền công bảo vệ thì hộ kia lại không được nhận
Luật tục của người Dao cho rằng rừng là tài sản chung của cộng đồng và mọi người đều có quyền tiếp cận ngang nhau Do vậy, tuy rằng chỉ có 16 hộ gia đình ký hợp đồng bảo vệ, số tiền công bảo vệ rừng được trưởng xóm gom lại và chia đều cho tất cả các hộ trong bản (bao gồm cả
hộ ký hợp đồng và không ký hợp đồng) Ví dụ trong năm 1999, tất cả 41 hộ gia đình trong xóm
được nhận tiền công bảo vệ mặc dù phần lớn số hộ không được chọn Điều này thể hiện rõ ràng rằng luật tục của người Dao đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ và tác động mạnh
mẽ tới chính mục tiêu của dự án của Chính phủ Nhìn nhận từ khía cạnh này có thể thấy rằng chính sách của Chính phủ đã không làm giảm được sự khai thác tài nguyên rừng
IV Những tác động của sự khác nhau giữa luật tục địa phương
và chính sách
IV.1 Canh tác nương rẫy: thực tế không thể tránh khỏi
Khi đất được giao cho hộ năm 1995, chính quyền địa phương kiểm soát rất gắt gao việc canh tác nương rẫy của người Dao Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các hộ gia đình ở đây vẫn duy trì hình thức này
Diện tích đất lúa nước quá nhỏ để cung cấp đủ lương thực ổn định cho gia đình, do vậy người dân phải xâm canh rừng của Phú Thọ - một tỉnh tiếp giáp với tỉnh Hoà Bình - để làm nương Trước năm 1995, người Dao hầu như tự do làm nương trên diện tích rừng của Phú Thọ, tuy nhiên sau khi đất ở Phú Thọ được giao cho các hộ, người dân bản Yên đã gặp phải khó khăn Chi cục
Trang 9kiểm lâm Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giám sát chặt chẽ và hạn chế hoàn toàn tình trạng làm nương trái phép của người Dao trên địa bàn Phú Thọ Do vậy, các hộ gia đình quay trở lại rừng của xóm
để làm nương Nhiều hộ gia đình đã bị Chi cục kiểm lâm phạt vì lý do duy trì hình thức canh tác này Ví dụ năm 1998 tất cả các hộ gia đình trong bản bị phạt (40.000 đồng/hộ), tuy nhiên cố gắng của Chính quyền địa phương vẫn không hạn chế được tình trạng canh tác nương rẫy, và canh tác nương rẫy vẫn tồn tại như một điều tất yếu
Dần dần chính quyền địa phương nhận ra rằng cố gắng của họ để hạn chế canh tác nương rẫy của người dân sẽ không thành công nếu không cung cấp cho dân nguồn sinh kế khác thay thế Chính quyền địa phương dàn xếp với người dân và đồng ý rằng trước vụ gieo trồng người dân cần phải hỏi ý kiến của chính quyền địa phương để được phép canh tác nương rẫy Dựa trên nhu cầu của dân, chính quyền địa phương dành một diện tích nhất định cho người dân để làm nương, người dân được tự do canh tác trên khu đất này Tuy nhiên, diện tích cắt cho dân lại quá nhỏ, do vậy các hộ tiến hành làm nương trên diện tích dành cho chăn thả để tránh bị chính quyền địa phương phạt Nương của các hộ ở khu chăn thả được rào xung quanh để tránh trâu bò phá hoại, diện tích chăn thả bị giảm, từ đó làm nảy sinh tranh chấp giữa các hộ gia đình trong bản Gần đây quy định của bản là cấm các gia đình chăn thả tự do, tuy nhiên quy định này không được người dân tuân theo, nương của các gia đình vẫn bị trâu bò phá thường xuyên
Thêm vào đó, rất nhiều hộ vẫn tiếp tục làm nương trong rừng bảo vệ Thông thường vị trị của nương thường ở sâu trong rừng, nơi đi lại rất khó khăn Hầu hết những người có nương dựng lán tại nương của họ và họ ở lại lán như là nhà của họ trong thời gian trồng trọt, làm cỏ và thu hoạch Do vị trí của nương rất xa, chính quyền địa phương không thể giám sát được
Theo luật tục địa phương của người Dao, người dân có thể làm nương ở bất cứ nơi nào mà
họ thấy phù hợp, bất kể diện tích đất đó đã giao cho các hộ cá nhân quản lý Và khi làm nương, người dân không sợ bị báo cáo lên chính quyền địa phương vì luật tục địa phương không cho phép người nhận đất được quyền làm như vậy Từ đó cho thấy việc giao đất cho hộ gia đình không bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đảm bảo nguồn tài nguyên rừng được bảo vệ theo cách bền vững Trong bối cảnh này luật tục địa phương của người Dao chứng tỏ đã quan trọng hơn chính sách của Nhà nước
IV.2 Khai thác gỗ
Kể từ khi có chính sách đổi mới của Chính phủ năm 1986, bản Yên đã nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế thị trường Thị trường tự do khuyến khích sự lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ
từ vùng đồng bằng lên miền núi và ngược lại Vùng cao đáp ứng nhu cầu về gỗ cho vùng đồng bằng, kết quả là những mắt xích luân chuyển gỗ đã được thiết lập giữa các cộng đồng vùng cao
và thị trường vùng đồng bằng Để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường đồng bằng về lâm sản, gỗ
đã được khai thác mạnh mẽ tại địa bàn Yên trong những năm gần đây Hiện tại, tất cả thanh niên trong xóm đều tham gia vào hoạt động khai thác gỗ mặc dù Chính phủ đã có chính sách đóng cửa rừng Luật tục địa phương của người Dao đóng vai trò như là động lực chính để mọi người khai thác vì nó đã cho phép mọi người có quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên này Cho đến nay nguồn gỗ quý đã hoàn toàn biến mất trong địa bàn bản và để khai thác được gỗ có giá trị thương mại cao người khai thác phải xâm canh rừng của Phú Thọ Không giống như việc canh tác nương rẫy, chính quyền địa phương tỉnh Phú Thọ không thể kiểm soát được tình hình
Trang 10Những người khai thác và người trung gian hình thành tổ chức riêng để hoạt động Trước khi
đi vào rừng khai thác gỗ, người trung gian cho người khai thác vay một số tiền với cam kết miệng rằng số gỗ khai thác được sẽ được bán cho họ sau này Số gỗ khai thác được bán cho trung gian
và chuyển cho tư nhân hoặc các ông chủ nhỏ Có nhiều ông chủ khác nhau, những người phụ trách việc vận chuyển gỗ từ bản tới thị trường Tuy rằng từ bản đến thị trường có rất nhiều cơ quan chức năng của Nhà nước với vai trò kiểm soát sự lưu thông các sản phẩm lâm sản (quản lý thị trường, kiểm lâm, thuế ), các mắt xích lưu thông và kiểm soát lâm sản được thể hiện qua hình 2 Tại bản và làng, các cơ quan chức giám sát sự lưu thông lâm sản bao gồm kiểm lâm, cán
bộ xã, đội thuế, quản lý thị trường, tương tự như vậy đối với cấp huyện và tỉnh Tuy nhiên, một số cá nhân trong các cơ quan này đã không hoàn thành nhiệm vụ và bổn phận của mình, để cho những người vận chuyển lưu thông lâm sản lợi dụng
Hình II.18.2 Lưu thông gỗ và mạng lưới kiểm soát
Có sự phân chia không đồng đều về lợi nhuận giữa các thành viên tham gia vào quá trình lưu thông Theo chiều dọc, đại lý cấp I là người vùng đồng bằng hưởng khoảng 30% lợi nhuận, đại
lý cấp II khoảng 25%, cấp III khoảng 20%, người trung gian môi giới khoảng 15%, và người khai thác (thợ xẻ) hưởng khoảng 10% Lợi nhuận được chia theo hình 3
Lực lượng giám sát
Đại lý cấp I
Đồng bằng
Đại lý cấp II (vùng cao) Cấp tỉnh
Đại lý cấp III Cấp huyện
Trung gian Cấp xã, bản
Người khai thác
Tỉnh đồng bằng: quản lý thị trường, thuế, công an
Cấp tỉnh: Cục kiểm lâm, quản lý thị trường, công an
Cấp huyện: Chi cục kiểm lâm, thuế, quản lý thị trường công an
Xã/bản: kiểm lâm, quản lý thị trường, thuế, cán bộ xã/xóm, tổ bảo vệ
Nhu cầu/dòng tiền Lực lượng giám sát Dòng lưu thông gỗ Lưu thông