Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội làm việc, một mặt là để phát huy tiềm năng lao động - nguồn nội lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, mặt khác giải quyế
Trang 1Giải quyết việc làm trong quá trình phát triền kinh tế - xã hội ở Nghệ An
Đặng Thành Chung NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương
2 CHXHCNVN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
4 CNH : Công nghiệp hoá
5 DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
6 CNKT : Công nhân kỹ thuật
7 HĐH : Hiện đại hoá
8 HĐKTTX : Hoạt động kinh tế thường xuyên
9 HĐND : Hội đồng nhân dân
10 LĐTB & XH : Lao động thương binh và xã hội
11 LLLĐ : Lực lượng lao động
12 THCN : Trung học chuyên nghiệp
13 THPT : Trung học phổ thông
14 PTCS : Phổ thông cơ sở
15 TW : Trung ương
16 UBND : Ủy ban nhân dân
17 VLTX : Việc làm thường xuyên
18 XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại nói chung, của mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng Thúc đẩy mục tiêu tạo việc làm đầy đủ cho người lao động
để tạo thu nhập chính đáng qua đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta khẳng định "giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản" [24, tr.104]
Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn lấy con làm trung tâm, coi phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội làm việc, một mặt là để phát huy tiềm năng lao động - nguồn nội lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, mặt khác giải quyết việc làm cho người lao động là hướng cơ bản để xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả phát triển bền vững Đặc biệt, trong điều kiện đất nước ta: tài nguyên, đất đai không nhiều, nguồn lực tài chính hạn hẹp, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại đang trong quá trình tiếp cận với nền kinh tế tri thức và tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá Vì vậy, giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh
tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Nghệ An là một tỉnh ở Bắc Trung bộ với diện tích tự nhiên 16.487 km2
, tính đến 31 – 12 - 2004 dân số trên địa bàn tỉnh Nghệ An ước đạt 3.003.170 người, mật
độ dân số 182 người/ km2 Thu nhập bình quân đầu người thấp, kết cấu hạ tầng kém, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng Chất lượng lao động thấp, hầu hết là lao động phổ thông phần lớn chưa qua đào tạo nghề, vấn đề đảm bảo
Trang 3việc làm đã và đang là một thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế ở tỉnh Nghệ An Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng dân số của tỉnh còn khá cao, mức đầu tư thấp trong khi ngành, nghề, dịch vụ kém phát triển đã và đang là nguồn gốc làm nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt giữa cung và cầu về lao động của tỉnh, tạo nên những bức xúc ngày càng lớn về việc làm ở Nghệ An hiện nay
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An hiện nay nhằm đánh giá đúng thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu
để sử dụng hợp lý nguồn lao động trên địa bàn của tỉnh đang là một đòi hỏi cấp
bách, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận lẫn thực tiễn Do đó, tôi chọn đề tài: "Giải quyết việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An" làm đề tài
nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách Do đó, đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu và công bố tiêu biểu như: Sử dụng nguồn lao động và việc làm của Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991; Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu Dũng và TS Trần Hữu Trung (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Một số giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của Trần Tuấn Anh, Luận văn thạc sỹ, khoa Kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Lao động việc làm nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới của Biên tập khoa học: Nolwen Henaff Jean - Yves Martin, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2001; các công trình khoa học khác như: Điều tra về lao động và việc làm ở Việt Nam do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê triển khai hàng năm (từ 1996 đến nay); Hội thảo về lao động việc làm do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức Cùng với các công trình khoa học trên còn có nhiều
Trang 4bài viết được đăng tải trên các sách báo, tạp chí khoa học như bài: Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam của GS TS Đỗ Thế Tùng, Tạp chí Lao động và Công đoàn (6), 2002; Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của các tác giả GS TS Phạm Đức Thành, PGS TS Phạm Quý Thọ, ThS Thang Mạnh Hợp, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (76), 2003; Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng, Tạp chí Cộng sản (23), 2003 v.v Tỉnh Nghệ An hàng năm có báo cáo về tình hình giải quyết việc làm, điều tra lao động việc làm hàng năm của Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về chuyên
đề này dưới dạng một luận văn khoa học, để đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm
sử dụng hợp lý nguồn lao động dôi thừa ở Nghệ An hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài:
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An
Phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm
2010
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về lao động, việc làm và thất nghiệp
+ Tìm hiểu, phân tích những nhân tố tác động đến giải quyết việc làm
+ Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An từ năm
2000 - 2004
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 5Đề tài tập trung chủ yếu vào vấn đề có tính chất trọng điểm, nổi cộm trong giải quyết việc làm ở Nghệ An từ năm 2000 - 2004, thông qua một số giải pháp giải quyết việc làm chủ yếu trong thời gian từ nay đến 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các Văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các khoá xung quanh vấn đề này Bên cạnh đó, đề tài kế thừa và sử dụng có chọn lọc một số đề xuất và
số liệu thống kê của một số công trình có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: khảo sát, điều tra, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu và phân tích để làm sáng tỏ vấn
đề đặt ra
6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động ở Nghệ An từ 2000 đến nay
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm từng bước thúc đẩy hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho người lao động ở Nghệ An
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 9 tiết
Trang 6
Chương 1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆC LÀM VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1 Khái quát về lao động, việc làm và thất nghiệp
Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt lao động là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong quá trình đó con người cải biến những vật thể tự nhiên làm cho nó thích ứng với nhu cầu của mình, mặt khác lao động luôn luôn được tiến hành trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa con người với con người trong quá trình tác động vào tự nhiên
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những vật phẩm tự nhiên thành các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
đã đề cập nhiều đến phạm trù này trong các nghiên cứu của mình, theo C Mác, lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kì hình thái kinh tế xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên, vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với giới tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người
Ph Ăngghen viết: " các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên
là giới cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [30,
tr 641]
Trang 7Hoạt động lao động của con người không những làm biến đổi giới tự nhiên tạo ra của cải, mà còn hoàn thiện, phát triển cả bản thân con người Trong quá trình
ấy con người tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức của mình, hoàn thiện bản thân cả về thể lực và trí lực
Lao động là hoạt động bản chất nhất và là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt động bản năng của loài vật C Mác viết: "Con nhện làm những động tác giống như động tác người thợ dệt và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn phải làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi" [32, tr 266]
Đặc trưng chủ yếu của lao động là sáng tạo ra giá trị và của cải cho phép đáp ứng nhu cầu của con người và những nhu cầu này phát triển vô hạn Song, những nhu cầu này không chỉ thuộc lĩnh vực kinh tế, vật chất như: nhu cầu sinh tồn, phát triển, hưởng thụ về vật chất mà còn có các nhu cầu về tinh thần, nhu cầu hoạt động lao động sản xuất vật chất càng phát triển thì càng đòi hỏi phải nâng cao nhân tố con người trong quá trình sản xuất, càng đòi hỏi ở con người chức năng sáng tạo và luôn đề ra cho lao động những yêu cầu mới cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Vậy nên, lao động bao giờ cũng là nhân tố đầu tiên, cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội loài người Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động luôn nắm giữ vị trí quan trọng hàng đầu Họ không những là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra những yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất xã hội Trong một quốc gia, một vùng hay một địa phương cụ thể thì người lao động được thể hiện ở nguồn lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực Đó là tổng thể toàn bộ thể lực và trí lực của
bộ phận dân cư của đất nước có khả năng về thể chất và tinh thần có thể sử dụng trong quá trình lao động Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng hợp thành tiềm
Trang 8lực của đất nước Những tiêu chuẩn cơ bản để xếp dân cư vào nguồn nhân lực là độ tuổi và tình trạng sức khoẻ Ở Việt Nam, nguồn nhân lực bao gồm số người trong
độ tuổi lao động theo Bộ Luật lao động quy định: Nam từ 15-60 tuổi, Nữ từ 15-55 tuổi có khả năng lao động Tuy nhiên, không phải toàn bộ những người thuộc nguồn nhân lực đều tham gia sản xuất xã hội cả mà cần trừ đi (theo quy ước): những người không có khả năng lao động (chẳng hạn do tàn tật); những người nội trợ trong gia đình; học sinh sinh viên đang học; quân đội (do tính chất đặc thù của hoạt động quân sự) Sau khi trừ đi khỏi nguồn nhân lực bốn bộ phận này số còn lại trong kinh tế gọi là lực lượng lao động Lực lượng lao động được thống kê theo hai
bộ phận, đó là: những người có việc làm và những người thất nghiệp, muốn làm việc, đang tìm việc làm trên thị trường lao động Đặc trưng của nguồn nhân lực là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, cụ thể: chỉ tiêu về số lượng, độ tuổi, trình
độ học vấn, giới tính, số người đang đi học, số người đang làm việc trong nền kinh
tế quốc dân và sự phân bố theo ngành, theo lĩnh vực, lãnh thổ Mức tăng nguồn nhân lực là sự chênh lệch giữa số dân cư đến độ tuổi lao động (15 tuổi) và số dân
cư đến độ tuổi nghỉ hưu (nam 60, nữ 55 tuổi) Để đánh giá nguồn nhân lực người ta thường dùng các chỉ tiêu về trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ quản lý, phong cách làm việc và sức khoẻ Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Trong thực tiễn, không phải thiếu lao động mà là thiếu việc làm Việc làm chỉ là cái vỏ xã hội, cái khung pháp lý mà trong đó lao động được diễn ra Trong xã hội có giai cấp thì xã hội chịu sự chi phối bởi lợi ích của giai cấp thống trị và hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở lợi ích của giai cấp đó hoạch định Do đó, lao động thuộc về nhu cầu vô hạn của con người như là một cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội, còn việc làm lại là phạm trù giới hạn và bị lợi ích giai cấp chi
Trang 9phối Trong thực tiễn, vì lợi ích kinh tế những giai cấp nắm trong tay các vật chất của lao động (đối tượng lao động, tư liệu lao động) có thể thu hút nhanh chóng những khối lượng lớn sức lao động vào các quá trình sản xuất nhưng cũng vì lợi ích kinh tế của giai cấp họ sẵn sàng sa thải hàng loạt người lao động, nên việc làm của xã hội bị thu hẹp Bởi lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động, quá trình đó chỉ có thể diễn ra khi đã được giả định những tiền đề vật chất cho quá trình đó đã đầy đủ Trên bình diện một quốc gia cụ thể thì quá trình lao động sản xuất (việc làm) của bộ phận dân cư có sức lao động lại được giả định trên cơ sở số lượng việc làm
Do đó, việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
mà cả mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, trong đó liên quan đến các lợi ích kinh tế và pháp luật khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật chất
để quá trình làm việc diễn ra Việc làm là một trong những vấn đề có ý nghĩa kinh
tế, xã hội, chính trị rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế như Việt Nam
Ở Việt Nam trước đây (trước 1980), nền kinh tế vận động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương Trong cơ chế này chúng ta thường quan niệm người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đến nay, quan niệm về việc làm đã có sự thay đổi một cách căn bản Theo điều 13 chương II của Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: " Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [9, tr 15]
Theo quy định này việc làm bao gồm hai yếu tố: lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm Như vậy, quan niệm mới về việc làm được quy định trong
Bộ Luật lao động đã xoá bỏ quan niệm cũ về việc làm khi cho rằng việc làm chỉ có
Trang 10trong khu vực nhà nước, xoá bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo nhiều việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, quan niệm mới về việc làm còn thể hiện rõ đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam ở chỗ: cho phép công dân Việt Nam được làm những việc
mà pháp luật không cấm Ví dụ: nghề giúp việc gia đình, nghề thu gom rác thải phế liệu là những nghề mà trước đây chưa được xã hội tôn trọng và thừa nhận, thì nay
đã trở thành việc làm đáng được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ Ngược lại, Bộ Luật lao động cũng quy định rõ mọi công dân không được làm những việc
mà pháp luật cấm như: buôn lậu, mãi dâm, buôn bán ma tuý, vũ khí Với quan niệm việc làm như vậy sẽ làm cho nội dung của việc làm được mở rộng tạo tiền đề
để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời ngăn chặn những việc làm phi pháp nảy sinh trong điều kiện kinh tế mở
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo môi trường và các điều kiện thuận lợi để các ngành kinh tế, các hình thức kinh tế, các vùng kinh tế phát triển, trên cơ
sở đó đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới đáp ứng yêu cầu về việc làm, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của người lao động, song trong điều kiện phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay, ở nước ta hiện tượng thiếu việc làm, thất nghiệp dưới những hình thức khác nhau đã và đang còn tồn tại Hiện tượng này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng, điều đó đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan chức năng và người lao động cần phải quan tâm giải quyết Cần thiết phải thống nhất các khái niệm thiếu việc làm, thất nghiệp
Thiếu việc làm có những hình thức và nguyên nhân khác so với thất nghiệp Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hay thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn Như vậy, người thiếu việc làm là người không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc là làm những công việc có thu nhập