LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài "Quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên”, tôi đã nhận
Trang 1HOÀNG THỌ GIANG
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ XUÂN HOÀNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
"Quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên” là trung thực, là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi
Các tài liê ̣u, số liệu sử dụng trong luận văn do Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Thành phố Thái Nguyên cung cấp và do cá nhân tôi thu thập từ các báo cáo của NHNN&PTNT, sách, báo, tạp chí, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố Các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thọ Giang
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài "Quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều
cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân
và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu, đặc biệt Ban lãnh đạo NHNN&PTNT Chi nhánh Thành phố Thái Nguyên
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, các khoa, phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS Ngô Xuân Hoàng đã không quản vất vả hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại ho ̣c Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo NHNN&PTNT Chi nhánh Thành phố Thái Nguyên; cán bộ đồng nghiệp của tôi tại NHNN&PTNT - Chi nhánh Thành phố Thái Nguyên …
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thọ Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 2
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 6 1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 24
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng 24
1.2.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng 27
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng 47 1.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trên thế giới 49
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của NHTM tại Mỹ 49
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của NHTM tại Thái Lan 52
1.3.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của NHTM tại Singapore 53
1.3.4 Bài học đối với các Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh TP Thái Nguyên 54
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 57
2.2 Phương pháp nghiên cứu 57
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 57
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 57
2.2.3 Phương pháp phân tích 58
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 59
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tín dụng và chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Thái Nguyên 59
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Thái Nguyên 62
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN 65
3.1 Khái quát về ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông - chi nhánh TP Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên 65
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Thái Nguyên 65
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Ngấn hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái nguyên 67
3.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên 69
3.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh TP Thái Nguyên 69
3.2.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh TP Thái Nguyên 79
3.3 Đánh giá chung về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông - chi nhánh Thái Nguyên 97
3.3.1 Những kết quả đạt được 97
3.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 102
3.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản trị rủi ro tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh Thái Nguyên 107
Trang 7Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH
THÁI NGUYÊN 112
4.1 Định hướng kinh doanh tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 112
4.2 Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 115
4.2.1 Nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng cho cán bộ quản lý và cán bộ tác nghiệp 115
4.2.2 Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần hạn chế rủi ro và tổn thất 118
4.2.3 Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong quản trị rủi ro 120
4.2.4 Tăng cường quản trị rủi ro thông qua các biện pháp xác định các dấu hiệu nhận diện rủi ro 121
4.2.5 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng theo hướng lượng hóa 122 4.2.6 Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 125
4.3 Kiến nghị 127
4.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 127
KẾT LUẬN 132
PHỤ LỤC 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
Trang 8NHNN&PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
NHTM : Ngân hàng thương mại
PD : Xác suất vỡ nợ của khách hàng/ngành hàng đó là bao nhiêu QHKH : Quan hệ khách hàng
RRTD : Rủi ro tín dụng
TCTD : Tổ chức tín dụng
XHTD : Xếp hạng tín dụng
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2: Khung chính sách tín dụng 36
Bảng 1.3: Xếp hạng tín dụng của Moody 37
Bảng 3.1: Tình hình cấp tín dụng NHNN&PTNT - Chi nhánh Thái Nguyên 72
Bảng 3.2: Cơ cấu tín dụng theo nhóm nợ 78
Bảng 3.3: Số lượng hồ sơ cấp tín dụng 83
Bảng 3.4: Kết quả chấm điểm tín dụng khách hàng năm 2014 84
Bảng 3.5: Bảng xếp hạng khách hàng cá nhân 89
Bảng 3.6: Bảng xếp hạng khách hàng cá nhân năm 2014 89
Bảng 3.7: Tỷ lệ các biện pháp xử lý, thu nợ được áp dụng năm 2012 – 2014 96
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
HÌNH
Hình 3.1: Tình hình dư nợ theo lĩnh vực đầu tư 74
Hình 3.2: Tình hình dư nợ tín dụng theo thời gian 75
Hình 3.3: Tình hình dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế 76
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Cách thức dẫn đến rủi ro tín dụng 11
Sơ đồ 1.2: Các bộ phận của rủi ro tín dụng 17
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNN&PTNT Chi nhánh TP Thái Nguyên 67 Sơ đồ 3.2: Khái quát mô hình quản trị rủi ro tại NHNN&PTNT - Chi nhánh TP Thái Nguyên 80
Sơ đồ 3.3: Quy trình nhận biết rủi ro tín dụng 81
Sơ đồ 3.4: Quy trình chấm điểm xếp hạng tín dụng khách hàng 87
Sơ đồ 3.5: Quy trình quản trị nợ có vấn đề 90
Sơ đồ 3.6: Ngăn ngừa và xử lý khoản vay có vấn đề 95
Sơ đồ 3.7: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tín dụng tại chi nhánh 99
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề hội nhập Quốc tế là tất yếu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới Hội nhập Quốc tế bên cạnh những thách thức to lớn lại tạo ra cơ hội phát triển và áp dụng những tiến bộ của thế giới Trong
xu thế ấy hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng không chỉ là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân mà còn mang trong mình vận hội vươn rộng ra thế giới Điều đó đòi hỏi mỗi ngân hàng phải nâng cao năng lực tài chính, sức cạnh tranh, chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc tế
Ngân hàng Thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh tiền tệ trên các lĩnh vực: Huy động vốn, cho vay và các dịch vụ tài chính, ngân hàng…Tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM Việt Nam nói chung và của Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn nói riêng Nguồn thu nhập từ tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu cho các Ngân hàng Cũng chính vì vậy rủi ro tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới việc duy trì hoạt động của ngân hàng trong tương lai Một ngân hàng chịu nhiều rủi ro tín dụng là một ngân hàng yếu và sẽ bị
ăn mòn dần vốn và không thể tồn tại Nhưng hiện nay chúng ta phải chấp nhận cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, nên chúng ta sẽ còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro đa dạng hơn, phức tạp hơn Để được thị trường tài chính Thế giới đánh giá cao, các NHTM thực sự đầu tiên phải quản lý được rủi ro tín dụng của chính ngân
hàng mình
Với cơ cấu thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm trên 90% trong tổng thu nhập của Chi nhánh NHNN&PTNT Thành phố Thái Nguyên -Tỉnh Thái Nguyên hoạt động tín dụng có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược kinh doanh, đồng thời cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất của chi nhánh Mặc dù trong những năm gần đây, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng đã nhận được sự quan tâm của Ban Giám đốc, đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng, nhưng trên thực tế công tác này vẫn còn nhiều thiếu sót, yếu kém, đặt ra yêu cầu: nếu không nghiên cứu, tìm cách
Trang 12khắc phục thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến hoạt động và kết quả kinh doanh của Chi
nhánh Chính vì thế, đề tài: “Quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên” được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục tiêu chung
Tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên -Tỉnh Thái nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014
- Về không gian: Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
-Về nội dung: Quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái nguyên
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về lý luận: Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng
ngân hàng thương mại
Về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng,
quản lý rủi ro tín dụng của Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 13Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên để đưa ra một số giải pháp trong quản lý
rủi ro tín dụng cho ngân hàng
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, một số biểu, bảng, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn có kết cấu 4 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Thái Nguyên -Tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
Về mặt lịch sử, NHTM đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Từ các hoạt động cho vay tư nhân và cầm đồ xuất hiện trong thời kỳ cổ đại, các ngân hàng đã phát triển về quy mô, mở rộng về chức năng qua thời kỳ trung cổ và đạt tới sự phát triển rực rỡ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đến thế kỷ thứ 18, với sự can thiệp của Nhà nước, ngân hàng phát hành được tách riêng ra để trở thành ngân hàng trung ương của các nước, các ngân hàng còn lại không được phép phát hành tiền, có chức năng chuyên kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây chính là tiền thân của các NHTM
Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trường phát triển, NHTM đã trở thành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng vốn, đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng như chiết khấu thương phiếu, bảo quản tài sản, đồ vật quý, thanh toán cho khách hàng, tư vấn…Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, NHTM đã phát triển thành hệ thống nhiều chi nhánh, có vai trò rất quan trọng trên thị trường tài chính và ảnh hưởng lớn đến trạng thái kinh tế vĩ mô của quốc gia, quốc tế
Ngân hàng thương mại (NHTM) xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay cũng có rất nhiều quan điểm đưa ra những khái niệm về NHTM và quan điểm phổ biến nhất đều cho rằng: “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế”
Chính vì vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế, các ngân hàng có thể định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
Trang 15chúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên không ngừng thay đổi Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng) bằng cách
mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện dịch vụ khác
Có nhiều khái niệm về NHTM, một số nước tư bản như Mỹ, Nhật NHTM được định nghĩa như một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân và đơn vị kinh doanh (các công ty) và để cho vay lại các đối tượng đó Các ngân hàng này không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các nhóm ngành nghề riêng biệt đây là các ngân hàng hoạt động theo mô hình chuyên doanh Trong khi đó, một số nước ở Châu Âu như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ lại quan niệm rằng NHTM có thể kinh doanh đồng thời tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng, đó là mô hình ngân hàng đa năng
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, các ngân hàng thường hướng tới mô hình đa năng để có thể sử dụng được một cách hiệu quả nhất nguồn vốn mà ngân hàng huy động được Hơn nữa đây cũng là một hình thức phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa các nghiệp vụ
Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào khác trong nền kinh tế
Nhưng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2004 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “Ngân hàng thương mại là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, NHTM được coi là “trái tim lớn”, một doanh nghiệp thực sự - doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ” Cụ thể “NHTM
là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được phép thực hiện toàn bộ hoạt động
Trang 16ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế” Trên cơ sở dựa trên các
hoạt động chủ yếu, NHTM được hiểu là “loại hình doanh nghiệp được thành lập theo
các quy định của pháp luật, thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niềm về rủi ro tín dụng
Rất có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trường Theo Frank Knight: “Rủi ro là sự bất trắc không thể lường được”[9] ; Irving Preffer thì cho rằng “ rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thế đo lường được bằng xác suất”; còn theo Allan Wilett thì “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”[9] Tuy nhiên, các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được Như vậy, trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động Ngân hàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống nên kinh doanh trong ngân hàng rủi ro cao hơn so với doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác Những rủi ro mà ngân hàng thường gặp đó là rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái…
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại Trong hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa thể hiện ở khả năng khách hàng mua chịu không có khả năng thanh toán đúng hạn Đối với
NHTM, rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp)
phát sinh khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán Lưu ý rằng, trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng
thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi
Trang 17Khi thực hiện giao dịch tín dụng, từ lúc giải ngân cho đến khi thu hồi vốn (gốc
và lãi), ngân hàng không biết chắc chắn được giao dịch đó có hoàn thành hay không; nó có khả năng hoàn thành cũng có khả năng không hoàn thành Do đó, rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch đó Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính, bao thanh toán…Lúc quyết định cấp tín dụng, ngân hàng chưa thể biết chắc được khả năng thu hồi khoản tín dụng ấy hay không, đơn giản vì lúc đó việc thu hồi khoản tín dụng đó chưa xẩy ra
Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau:
Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Theo Hennie van Greuning -Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng
Theo Timothy W.Koch, ông quan niệm về rủi ro tín dụng như sau: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.[10]
Còn theo tài liệu “Financial Institutions Management - A modern perspective”, A.Saunders và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số
Trang 18lượng và thời hạn Cũng có định nghĩa khác cho rằng, rủi ro tín dụng xẩy ra khi xuất hiện khi các biến cố không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết đã thoả thuận đối với ngân hàng Nói chung đối với hầu hết mọi người thì rủi
ro ám chỉ một kết cục không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ - NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (sau đây gọi tắt là “rủi ro”) là khả năng xảy
ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không
thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Từ các định nghĩa chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
- Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh
- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản
Rủi ro là khả năng tổn thất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Tổn thất trực tiếp là những tỏn thất về lợi nhuận hoặc về vốn Tổn thất gián tiếp là những áp lực hạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu kinh doanh của một ngân hàng Những hạn chế gây ra rủi ro thông việc hạn chế khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc khai thác các cơ hội kinh doanh
Rủi ro tín dụng được rất nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm
Trang 19- Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết Đây là khái niệm được nêu tại Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được chấp nhận và áp dụng một cách phổ biến trong hoạt động tín dụng hiện nay
Vậy, rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NH phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện các điều khoản trong hợp đồng tín dụng
đã ký tức là nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi không hoàn trả đầy đủ cho NH do nguyên nhân khách quan và chủ quan Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NH đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ và nguy cơ phá sản
Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó, không được né tránh nó Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạn tranh các doanh nghiệp không còn con đường nào khác phải đương đầu với rủi ro có thể xẩy ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xẩy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra
Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, cung cấp tín dụng là chức năng cơ bản của NHTM Đối với hầu hết các NHTM, dư nợ tín dụng thường chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản Có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ 1/3 đến 1/2 tổng thu nhập Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi
ro với những tổn thất nặng nề cho các NHTM Khoản tín dụng có rủi ro mang các đặc trưng sau:
- Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết vay vốn đã hết hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng có chiều hướng xấu dẫn tới khả năng ngân hàng không thu hồi được vốn gốc và lãi
- Giá trị tài sản bảo đảm không đủ trang trải nợ gốc và lãi
- Thông thường, các khoản nợ này quá hạn từ 90 ngày trở lên
Trang 20Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí không được hoàn trả, và hậu quả là
sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị tổn thương trong hoạt động của ngân hàng
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khỏan trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị TSĐB
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và các hoạt động cho vay, bao gồm cả hệ thống xếp hạnh rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục là hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục được chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các dặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc trong ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát
từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đới với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Trang 211.1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Sơ đồ 1.1: Cách thức dẫn đến rủi ro tín dụng
a Nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Trình độ quản trị ngân hàng: được thể hiện ở 3 nội dung
+ Hoạch định chiến lược và phương án kinh doanh của ngân hàng
+ Tổ chức thực hiện
+ Kiểm tra, giám sát
Bất kỳ một nội dung nào trong ba nội dung trên được thực hiện một cách yếu kém cũng sẽ dẫn đến RRTD Chẳng hạn nếu chiến lược khách hàng không đúng đắn thì NHTM sẽ có đối tượng khách hàng xấu Hoặc nếu ngân hàng chấp hành không nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay thì không thể ràng buộc chặt chẽ nghĩa vụ trả nợ của khách hàng Hoặc nếu khâu kiểm tra, giám sát không hiệu quả sẽ dẫn đến không phát hiện, ngăn ngừa được các bộ phận, các nhân thực hiện không đúng chính sách, mục tiêu kinh doanh đề ra và làm xuất hiện các khoản vay có vấn đề…
Công tác quản lý yếu kém còn thể hiện ở sự tập trung quá mức vào một khu vực khách hàng, thiếu sự điều chỉnh danh mục tín dụng trước những diễn biến kinh tế
Dùng quỹ DPRR và xoá sổ
Mất dần vốn ngân hàng
Ngân hàng đi đến đóng cửa
Trang 22bất lợi, thiếu chuẩn mực đánh giá khách hàng và những rủi ro đạo đức nghề nghiệp tiềm năng Hậu quả là đẩy các ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng cao
- Thiếu quy trình quản lý rủi ro hữu hiệu: Cho đến nay hầu như chưa có
NHTM nào của nước ta ban hành và thực hiện được chiến lược, chính sách phát triển và quản lý rủi ro tín dụng một cách khoa học, với những dự báo theo tháng, quí, năm theo các chỉ tiêu định tính và định lượng Nếu các biện pháp giảm thiểu rủi
ro không được thực hiện trong từng nghiệp vụ riêng lẻ, chưa xây dựng được quy trình phòng ngừa RRTD… thì tần suất và quy mô tác hại của RRTD sẽ không được kiểm soát, phòng ngừa, quy mô thiệt hại của ngân hàng sẽ không thể lường được
- Nội dung và quy trình tín dụng: Rủi ro tín dụng trước hết phát sinh do ngân
hàng chưa thiết lập được một quy trình tín dụng chặt chẽ từ khâu lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, ra quyết định cấp tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ đến khâu thanh lý tín dụng Giữa các giai đoạn có mối quan hệ hộ trợ cho nhau, việc phân đoạn này tạo điều kiện cho việc xác định rõ ràng các thao tác nghiệp vụ ở mỗi giai đoạn và phân định trách nhiệm cho nhân viên thực hiện
- Chiến lược và chính sách tín dụng: Trong môi trường cạnh tranh gay gắt,
các NHTM thực hiện chính sách mở rộng tín dụng để chiếm lĩnh thị phần bằng cách đơn giản hóa thủ tục cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng sẽ dễ gặp phải rủi ro tín dụng
Cơ chế trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không hợp lý: Nguồn dự phòng rủi
ro được trích lập hàng năm của ngân hàng được xác định là một nguồn quan trọng
để bù đắp những mất mát khi không thu hồi được nợ Quỹ này được dùng để xử lý các khoản nợ theo danh mục cụ thể khi đáp ứng những điều kiện trong quy định của từng quốc gia
- Nguyên nhân do cán bộ ngân hàng:
+ Trình độ yếu kém của cán bộ ngân hàng chưa được đào tạo đầy đủ, không
am hiểu các lĩnh vực ngân hàng định đầu tư, không am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế Một cán bộ tín dụng trình độ yếu kém không đánh giá được hết khả năng rủi
ro liên quan đến khoản vay và dẫn đến quyết định cho vay sai lầm và nguy cơ phát sinh nợ xấu cao
Trang 23+ Do đạo đức nghề nghiệp: Có những cán bộ yếu kém về phẩm chất, tư tưởng đạo đức đã lợi dụng vị trí của mình để tham ô, trục lợi nên đã gây tổn thất tín dụng cho ngân hàng
+ Chấp hành quy trình nghiệp vụ không nghiêm túc, phân tích tín dụng không chuẩn xác, thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác về khách hàng, từ đó dẫn đến những quyết định cấp tín dụng sai đối tượng
- Phân tích khách hàng: Việc phân tích khách hàng một cách phiến diện,
quá quan tâm đến điều kiện đảm bảo tín dụng như: tài sản thế chấp, cầm cố bảo lãnh mà coi nhẹ tính khả thi, khả năng hoàn vốn của dự án cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng
b Nguyên nhân từ phía khách hàng
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại Các nguyên nhân đó bắt nguồn từ:
- Năng lực, trách nhiệm quản lý, đạo đức của người vay vốn: Trong nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranh gay gắt và phải nỗ lực hết mình trong những quan hệ phức tạp của xã hội để tồn tại và phát triển Nhìn chung,
đa phần các doanh nghiệp muốn giữ mối quan hệ tín dụng tốt đẹp với ngân hàng để được hưởng những ưu đãi đối một khách hàng được xếp loại tín nhiệm Song không tránh khỏi có một số khách hàng cố tình lừa gạt ngân hàng để mưu lợi không chính đáng Mưu kế lừa đảo có nhiều dạng, có nhiều doanh nghiệp do thiếu năng lực quản trị tài chính và không có tài sản thế chấp hợp lệ, không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, đã chế biến các số liệu, giấy tờ hoặc làm giả hồ sơ giả mạo để qua mắt ngân hàng nhằm để vay vốn ngân hàng Nếu ngân hàng không phát hiện ra thì khả năng gặp nợ khó thu hoặc thu không được là rất lớn Trường hợp khác, người vay lợi dụng ngân hàng không thể kiểm soát hết được hoạt động kinh doanh của mình
đã sử dụng vốn vay của ngân hàng vào mục đích khác với hợp đồng đã cam kết thì toàn bộ giá trị thẩm định trước khi tiến hành cho vay của ngân hàng trở thành vô nghĩa Trên thực tế, các hoạt động đó thường là mạo hiểm, chứa đựng quá nhiều rủi
ro vượt quá giới hạn cho phép của ngân hàng, và rủi ro của các khoản tín dụng đã cho vay được đặt ở mức báo động
Trang 24Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp do kinh doanh kém hiệu quả hoặc do đạo đức kém đã cố ý chây ỳ, không trả nợ cho ngân hàng, thậm chí còn bỏ trốn để chạy nợ Trong trường hợp này ngân hàng hoàn toàn bị thua thiệt và chỉ còn trông chờ vào việc xử lý tài sản thế chấp và can thiệp của pháp luật
- Sự sụp đổ của các đối tác kinh doanh: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có
rất nhiều mối quan hệ với các tổ chức kinh tế khác và cũng giống ngân hàng, doanh nghiệp cũng có thể bị rủi ro từ phía các đối tác của mình làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ cho ngân hàng Bản thân doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro từ thị trường, tức các quyết định sai lầm trong các dự án không do ngân hàng tài trợ, hoặc từ sự thay đổi chính sách của chính phủ…Sự sụp đổ của doanh nghiệp này kéo theo sự sụp đổ của doanh nghiệp khác cũng có thể tạo phản ứng dây chuyền làm cho ngân hàng mất vốn ở quy mô lớn Đây là loại rủi ro tín dụng gây tổn thất lớn nhất đối với ngân hàng
- Sản phẩm và công nghệ lạc hậu: Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhanh
như hiện nay, công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp nhanh chóng trở nên lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra không có khả năng cạnh tranh cao, dần đến nguy cơ khó tiêu thụ sản phẩm và doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đúng hạn Để khắc phục, ngân hàng có khả năng cấp vốn tín dụng đầu tư chiều sâu để doanh nghiệp cải thiện khả năng tiêu thụ của mình, nhưng quy mô RRTD từ các doanh nghiệp này sẽ lớn hơn nếu doanh nghiệp không có khả năng đởi mới cao Nhìn chung, các doanh nghiệp của nước ta có công nghệ lạc hậu, khả năng đổi mới công nghệ cũng không cao, nên RRTD của ngân hàng
về phương diện này lớn hơn các nước khác
- Thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh: Vốn tự có của các doanh nghiệp ở
nước ta thường rất thấp so với nhu cầu kinh doanh hoặc dự án xin vay Đối với cho vay ngắn hạn hiện nay vốn ngân hàng tham gia đến 75% nhu cầu vốn; dự án trung, dài hạn vốn ngân hàng tham gia 60% Do vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỷ lệ thấp trong dự án vay vốn, nên khi dự án thất bại, rủi ro mất vốn của ngân hàng sẽ rất lớn Mặt khác, ở nước ta còn có tình trạng một dự án mới phát sinh không được đáp ứng đủ nhu cầu về vốn, doanh nghiệp liền sử dụng vốn của các dự án trước cho dự
án này Việc sử dụng các khoản vay không đúng mục đích đã cam kết vừa dẫn tới thâm hụt tài chính của doanh nghiệp, vừa tăng rủi ro từ phía kém hiệu quả của dự
án Những hậu quả đó làm cho xác suất RRTD của ngân hàng tăng cao
Trang 25c Nguyên nhân khác
- Môi trường tự nhiên: Nền kinh tế chịu tác động trực tiếp của môi trường tự
nhiên Các diễn biến không dự đoán của thiên nhiên, nhất là thảm họa như lũ lụt hạn hán, dịch bệnh, hỏa hoạn… gây tác hại nặng nề đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các hộ sản xuất hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… và làm cho họ không có khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro cho NHTM
- Môi trường kinh tế: Có tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh doanh của
ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế lạm phát, suy thoái, mất ổn định, sức mua giảm sút, hàng hóa ứ đọng, làm cho các doanh nghiệp khó khăn, thua lỗ và ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng Thậm trí, khi lãi suất thị trường thay đổi không như NHTM dự kiến cũng dẫn đến rủi ro tín dụng
Ngoài ra, các chính sách quản lý vĩ mô của Chính phủ cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và của ngân hàng Chẳng hạn khi Chính phủ giảm thuế nhập khẩu mặt hàng nào đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tiêu thụ các sản phẩm tương tự trong nước, làm cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước kém sức cạnh tranh, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm đó sẽ khó khăn trong trả nợ đúng hanh cho ngân hàng…
- Môi trường chính trị - văn hóa - xã hội quốc gia:
Môi trường chính trị- xã hội ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển Ngược lại, doanh nghiệp hoạt động trong tình trạng bất an, tệ hại nhất là chiến tranh, cấm vận, chính trị bất ổn, tệ nạn xã hội lan tràn… thì sẽ gặp rủi ro rất lớn trong họa động kinh doanh Mọi rủi ro của doanh nghiệp đều dẫn đến trình trạng tài chính sa sút, làm cho doanh nghiệp khó khăn không có khả năng trả nợ
Đối với văn hóa của một nước, của một địa phương liên quan đến sự hiểu biết và thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng, thói quen sử dụng, cất trữ tiền mặt, thói quen tiêu dùng theo mùa vụ…đều ít nhiều ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng nói chung và đến RRTD nói riêng
Trang 26- Môi trường pháp lý: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải dựa trên nền
tảng pháp lý vững vàng, đầy đủ và chặt chẽ Bởi vì, tín dụng ngân hàng dựa trên niềm tin rằng khách hàng sẽ trả cả vốn và lãi cho ngân hàng khi đến hạn Ngày nay, niềm tin đó chỉ có được dựa trên cơ sở sự bảo hộ của luật pháp Nếu nhà nước xây dựng được một hệ thống pháp luật chặt chẽ, có hiệu lực thực thi sẽ tạo cơ sở lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp khác nhau, trong đó có quan
hệ giữa các doanh nghiệp với ngân hàng, do đó RRTD của ngân hàng sẽ giảm Ngược lại, hệ thống pháp luật lỏng lẻo, kém hiệu lực là cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp xấu lừa đảo, chây ì trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, qua đó làm tăng RRTD Trong nhiều trường hợp, do hiệu lực pháp luật kém, nhiều khách hàng tốt cũng có xu hương lây lan sự chây ì, giảm trách nhiệm hoàn trả nợ ngân hàng, do đó RRTD càng có xu hướng xảy ra nhiều hơn
- Môi trường quốc tế: Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một xu thế tất
yếu và chính điều này khiến cho môi trường quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và ngân hàng Nếu tình hình kinh tế - tài chính của khu vực và thế giới ổn định và phát triển thì sẽ tác động thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và ngược lại, nếu quan hệ kinh tế của doanh nghiệp ở nước ngoại bị đổ vỡ thì sẽ làm cho ngân hàng phải hứng chịu RRTD cùng khách hàng Quan hệ kinh tế mở rộng ra các nước đã tạo ràng buộc về kinh tế của doanh nghiệp và ngân hàng vào nước ngoài, nhất là ràng buộc về pháp luật, do đó làm tăng quy mô và tăng các nguyên nhân dẫn đến RRTD của ngân hàng Điều này đã được chứng minh, trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở các nước Đông Nam Á, sau đó lan ra toàn Châu Á
- Chiến lược hoạt động và quy hoạch phát triển của toàn hệ thống ngân hàng đang trong quá trình hình thành, chiến lược kinh doanh của các NHTM chưa rõ ràng
về mặt định tính và định lượng, nguồn lực tài chính, quy mô vốn tự có còn nhỏ bé nên không có nguồn bù đắp cho những tổn thất, thất thoát
- Các nguyên nhân bất khả kháng khác như: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh,
sự biến động của thị trường, thay đổi về lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực và trên thế giới… cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Trang 27Khi bàn về rủi ro tín dụng của ngân hàng đã tóm tắt các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng như mô tả ở sơ đồ 1.2, trong đó rủi ro tín dụng có thể được chia làm hai loại
Sơ đồ 1.2: Các bộ phận của rủi ro tín dụng
1.1.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
a Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
- RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia: NHTM là
một bộ phận, có thể nói là một bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia, có chức năng không chỉ kinh doanh tiền tệ mà còn đảm bảo sự lưu thông
Rủi ro tín dụng
(Rủi ro mất vốn)
(Rủi ro liên quan đến việc theo dõi một khoản cho vay)
Rủi ro bảo đảm
(Rủi ro liên quan
đến chính sách
và hợp đồng cho vay)
Rủi ro
cá biệt
(Rủi ro liên quan đến từng loại cho vay)
Rủi ro tập trung cho vay
(Rủi ro liên quan đến việc kém đa dạng hóa cho vay)
Trang 28bình thường của dòng tiền tệ phục vụ quán trình tái sản xuất xã hội trôi chảy Nếu một NHTM lớn gặp rủi ro, dẫn đến mất khả năng thanh khoản, thì tình trạng đó của ngân hàng có thể tác động xấu không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đến với cả khách hàng của ngân hàng và các ngân hàng khác, tạo ra phản ứng tiêu cực dây truyền cho nền kinh tế Chính vì thế, ngân hàng trung ương của tất cả các nước đều có chính sách buộc các NHTM phải đảm bảo an toàn ở mức độ nhất định nhằm giảm tác động tiêu cực của rủi ro từ một ngân hàng tới nền kinh tế
- RRTD có thể gây hậu quả tiêu cực tới đời sống xã hội: RRTD có thể gây ra
hậu quả tiêu cực tới một đối tượng trong xã hội, thậm chí khởi đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, gây tâm lý hoang mang, tạo môi trường cho các tệ nạn xã hội phát triển RRTD làm giảm lòng tin của quần chúng vào sự lành mạnh và vững chức của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền tệ của nhà nước, dẫn đến khuynh hướng tiêu dùng và tích lũy cho đầu tư không hiệu quả
b Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại
- RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Những khoản tín dụng gặp rủi
ro sẽ gây cho NHTM những thiệt hại rất lớn về mặt tài chính Bởi vì rủi ro không chỉ làm cho NHTM không có lãi, mà còn làm cho ngân hàng mất một khoản vốn rất lớn, rất khó khăn để bù đắp lại Thậm chí, phần vốn rủi ro không sinh lợi cũng làm cho ngân hàng thua lỗ phần lãi huy động, lỗ chi phí huy động, hậu quả là làm giảm lợi nhuận của các NHTM Khi ngân hàng lâm vào tình thế mất vốn, RRTD có thể làm NHTM phá sản
RRTD cũng làm chậm quá trình chu chuyển vốn của các NHTM Trong trường hợp may mắn, khi ngân hàng thu được lãi hay nợ quá hạn, thì RRTD cũng làm ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năng mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
- RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: RRTD đã khiến cho
việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp khó khăn Các khoản đầu tư, cho vay bị thất thoát, chậm thu hồi đều ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, thông qua đó làm giảm mức tín nhiệm của NHTM
Trang 29- RRTD làm giảm uy tín của ngân hàng: RRTD làm giảm uy tín của ngân
hàng và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng NHTM gặp nhiều rủi
ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Điều này làm cho uy tín của ngân hàng bị giảm sút Đây là một vấn đề rất tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi Tình thế này vừa gây khó khăn cho việc huy động vốn của ngân hàng, vừa làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng NHTM gặp rủi ro cũng sẽ làm mất lòng tin đối với các ngân hàng bạn, ngân hàng nước ngoài nên rất khó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết Ngoài ra, ngân hàng không có uy tín sẽ khó có thể có quan hệ đại lý tin cậy làm cầu nối trong thanh toán quốc tế, do đó khó phát triển các dịch vụ của ngân hàng
- RRTD là nguy cơ dẫn đến phá sản ngân hàng: Ngân hàng gặp RRTD đã
làm giảm sút lòng tin của khách hàng giao dịch, đặc biệt lòng tin của dân chúng Họ
lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một số ngân hàng khác Trong trường hợp nghiêm trọng khi có quá nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời điểm thì ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho khách hàng tin rằng ngân hàng có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền, kết cục làm ngân hàng phá sản thực sự
1.1.2.5 Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Việc kinh doanh khó có thể thất bại qua một đêm, do vậy mà sự thất bại đó thường có một vài dấu hiệu báo động Có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý chúng Nhưng cần phải chú ý là các dấu hiệu này đôi khi được nhận ra qua một quá trình chứ không hẳn là một thời điểm do vậy cán bộ tín dụng phải biết cách nhận biết chúng một cách có hệ thống
Chúng ta có thể xếp các dấu hiệu của rủi ro tín dụng thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm có dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
- Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quy trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm:
Trang 30 Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối
Khó khăn trong thanh toán lương
Sự dao động các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi
Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản
Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn
Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí
Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn
- Các hoạt động cho vay
Mức độ vay thường xuyên gia tăng
Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi
Thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn
Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
- Phương thức tài chính
Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho hoạt động phát triển dài hạn
Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, ví dụ thường sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả
Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu
Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu
Có biểu hiện giảm vốn điều lệ
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán
- Cách thức hoạch địch của khách hàng có biểu hiện:
Được hoạch định bởi Hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm
Hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật
Trang 31 Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, của chủ nợ
Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên
Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém; xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi
- Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ
- Quản lý có tính gia đình: Có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đù đảm đương vị trí then chốt
- Có tranh chấp trong quá trình quản lý: Bao gồm các mối quan hệ tranh chấp giữa Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành với các cổ đông khác, chính quyền địa phương, nhân viên, người cho vay, khách hàng chính
- Có các chi phí quản lý bất hợp lý: Tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, Ban giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân
Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh
Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: Khách hàng bị ấn tượng bởi một khách hàng có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc; Ban giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm đạt được hợp đồng lớn
Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm đẹp mà không chú ý đến các yếu tố khác
Sự cấp bách không thích hợp như do áp lực nội bộ dẫn tới việc tung sản phẩm dịch vụ ra quá sớm; các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế; tạo mong đợi trên thị truồng không đúng lúc
Nhóm 4: Nhóm có dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại
Khó khăn trong phát triển sản phẩm
Thay đổi trên thị trường: Tỷ giá, lãi suất, thay đổi thị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh
Những thay đổi từ chính sách của nhà nước: Đặc biệt chú ý sự tác động của chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động, môi trường
Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao
Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế
Trang 32Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính, kế toán
Chuẩn bị không đẩy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy
Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên
Khả năng tiền mặt giảm
Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có
Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp
Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán
Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán
Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ được kéo dài
Hoạt động lỗ
Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ
Không hoạch toán đúng tài sản cố định
Làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình
Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng
Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản
Phân bố nợ không thích hợp
Lệ thuộc vào sản phẩm bất thường để tạo lợi nhuận
Sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh cũng là một dấu hiệu
Nơi lưu giữ hàng hóa quá nhiều, hư hòng và lạc hậu
Trong tất cả các dấu hiệu đó dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất là chậm thanh toán khoản cho vay
Ta cũng có thể nhận biến các dấu hiệu RRTD trên góc độ của ngân hàng và khách hàng
Trang 33a Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng
- Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
Xu hướng của các tài khoản của khách hàng tại ngân hàng: dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi, khó khăn trong thanh toán lương, thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn
Các hoạt động cho vay: Mức độ cho vay thường xuyên gia tăng, trì hoãn hoặc gây khó khăn đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột ngột tình hình sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn
Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, giảm các khoản phải trả, tăng các khoản phải thu, các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu
- Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng
Rủi ro xảy ra khi khách hàng có sự thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành, hệ thống quản trị và ban điều hành luôn bất đồng
về mục đích, quản trị điều hành độc đoán, hoặc ngược lại quá phân tán, việc lập kế hoạch không đầy đủ, quản lý có tính gia đình, có tranh chấp trong quá trình quản lý
- Nhóm các dấu hiệu liên quan xử lý thông tin về tài chính kế toán của khách hàng
Nếu khách hàng có sự chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc số liệu chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính hoặc những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, khả năng tiền mặt giảm, tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có, điều này cho thấy khách hàng đang có dấu hiệu rủi ro
- Nhóm các dấu hiệu thuộc các vấn đề kỹ thuật và thương mại
Các dấu hiệu thuộc về vấn đề kỹ thuật và thương mại thể hiện: khó khăn trong phát triển sản phẩm, thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thay đổi thị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, chính sách thuế, điều kiện thành lập và môi trường
Trang 34b Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía ngân hàng
- Nhóm dấu hiệu xuất phát từ trình độ và năng lực quản lý của nhân viên tín dụng và người quản lý ngân hàng:
Nhóm dấu hiệu này bao gồm: đánh giá và phân loại không chính xác về mức
độ rủi ro của khách hàng: cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm, tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh và vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn ngân hàng, cho vay dựa trên những sự kiện bất thường có thể xảy ra, ví dụ như sát nhập, thay đổi địa vị pháp lí của chi nhánh
- Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách của ngân hàng
Nhóm dấu hiệu này thể hiện qua chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẻo để khe hở cho khách hàng lợi dụng, cho vay hỗ trợ mục đích đầu cơ ( mua bất động sản, kinh doanh chứng khoán), chính sách cho vay ưu đãi, cho vay theo chỉ định, quy trình tín dụng không chặt chẽ
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
1.2.1.1 Khái niệm
Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận Theo khái niệm này thì nội hàm của quản lý rủi ro tín dụng bao gồm một hệ thống:
- Chiến lược hoạt động tín dụng
- Các chính sách của NHTM trong hoạt động tín dụng
- Các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ thống NHTM nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn
“Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi
ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn” (Basel Committee on Banking Supervision, 2000)
Trang 35Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản lý rủi ro tín dụng ở các góc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học, chúng ta
có thể diễn giải khái niệm: Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình các Ngân hàng tiến
hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của Ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận
1.2.1.2 Sự cần thiết phải thực hiện công tác quản lý rủi ro tín dụng
RRTD là căn nguyên chủ yếu tạo ra các vấn đề của Ngân hàng
Sự đổ vỡ hàng loạt Quĩ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989- 1990
do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được Những năm 1999 -
2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số ngân hàng vào tình trạng giám sát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của các ngân hàng từ năm 2000 về trước đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó đòi Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ đông Nam Á
đã làm cho nhiều Ngân hàng ở Châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sáp nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng tăng cao Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillippines 14%, Malaysia 10% Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn sóng cho vay thế chấp nhà đất rủi ro cao đã minh chứng rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở vấn
đề của Ngân hàng là RRTD Vì vậy, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn
đề sống còn của NHTM
Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng
Tính cấp thiết của quản trị RRTD không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp
và nguy cơ rất lớn của RRTD mà còn do xu hướng kinh doanh của Ngân hàng ngày nay càng trở nên rủi ro hơn Theo nghiên cứu của các chuyên gia, trong giai đoạn từ
1970 đến 1995, trên thế giới trung bình một năm có một cuộc khủng hoảng Ngân hàng; thì trong giai đoạn 1980 đến 1995, tỉ lệ này là 1,44
Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng ngày càng gia tăng:
Trang 36Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng qui định trong hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn thế giới Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng Trong lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống Tác động này làm cho các ngân hàng ngày càng có xu hướng mở rộng qui mô kinh doanh để bù đắp sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng qui mô tín dụng đồng nghĩa với việc RRTD cũng có nguy cơ gia tăng Bên cạnh đó, qui luật đào thải của cạnh tranh sẽ làm tăng mức độ phá sản của các khách hàng của ngân hàng kéo theo sự thiệt hại cho Ngân hàng
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới Trong lĩnh vực tín dụng các sản phẩm tín dụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm tín dụng truyền thống Các sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ tín dụng, cho vay cá thể…luôn chứa đựng rủi ro mới Nhưng dưới áp lực của cạnh tranh thì việc mở rộng và đa dạng hoá sản phẩm cũng như phạm vi của hoạt động tín dụng trở nên cấp thiết hơn, mang ý nghĩa sống còn với các ngân hàng Với sự đa dạng phức tạp của sản phẩm tín dụng cũng như RRTD càng đòi hỏi quản trị RRTD phải được chú trọng nâng cấp tương xứng
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt công tác quản trị RRTD là một công việc tối quan trọng
Quản trị rủi ro tốt là một lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị của NHTM
“Hãy nói cho tôi biết bạn quản trị rủi ro ra sao, tôi sẽ nói Ngân hàng bạn thế nào?” - Tiến sĩ S L Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc - nơi cung cấp các giải pháp học tập trực tuyến (e-learning) về tài chính có trụ sở tại California, Hoa
Kỳ - nói như vậy để mở đầu câu chuyện về quản trị rủi ro trong Ngân hàng Dù nền
Trang 37kinh tế thế giới đang hứng chịu hậu quả của sự “sơ suất” trong công tác quản trị rủi
ro của các Ngân hàng, song điều ông Srinivasulu muốn nói là: Hãy quay về những
gì đơn giản nhất Từ lâu, công tác quản trị rủi ro được xem như là một chức năng nhằm thoả mãn yêu cầu tuân thủ pháp chế và kiểm soát nội bộ Dưới góc nhìn này, rủi ro được xem như là “điều không mong muốn nhưng phải chấp nhận” trong kinh doanh, và hoạt động quản trị rủi ro được coi là một trung tâm chi phí Ông Srinivasulu cho rằng các Ngân hàng nên chuyển hướng tiếp cận ngược lại: Quản trị rủi ro tốt chính là một nguồn lợi thế cạnh tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn
Tóm lại, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung, trong hoạt động tín dụng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của mỗi ngân hàng Nếu công tác quản lý rủi ro tín dụng được thực hiện tốt, sẽ hạn chế được những rủi ro xảy ra đối với ngân hàng, làm tăng thu nhập của ngân hàng Ngoài ra, công tác quản trị rủi ro nếu được thực hiện tốt còn tạo điều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung Vì khi rủi ro được hạn chế, tức là ngân hàng đã cung cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế và đó chính là động lực phát triển nền kinh tế
1.2.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 nội dung: nhận biết rủi ro; đo lường rủi ro; ứng phó rủi ro, kiểm soát rủi ro Mặc dù có sự phân đoạn trong quy trình quản
lý rủi ro tín dụng song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra trong quy trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp quản
lý theo dõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ rủi ro mới và công việc của quản trị rủi ro lại được lặp lại
1.2.2.1 Nhận biết rủi ro
Đây là việc làm của bản thân ngân hàng thương mại Một số quan điểm cho rằng ngân hàng nhìn nhận từ phía khách hàng vay vốn để nhận biết rủi ro qua các dấu hiệu báo trước Đồng thời, có quan điểm cho rằng ngân hàng phải nhìn nhận từ chính mình để thấy nguy cơ rủi ro có thể xảy ra Do đó, công việc quản lý rủi ro tín dụng sẽ được xét trên 2 góc độ: Từ phía ngân hàng và từ phía khách hàng
Trang 38Từ phía ngân hàng: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, và dự phòng rủi ro Do đó, khi các yếu tố này có
xu hướng thiên lệch như: quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản trị của ngân hàng, hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết… Khi đó, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ rủi ro
Từ phía khách hàng: Khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả được nợ tới hạn, tình hình tài chính xấu, nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra Lúc dó, ngân hàng cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để ra quyết định kịp thời
Như vậy, để nhận biết rủi ro có khả năng xẩy ra, những công việc mà ngân hàng cần phải làm:
Thứ nhất, phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng
Phân tích chung toàn bộ danh mục của ngân hàng để nhận biết những rủi ro
về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về ngành, về loại tiền Cần kết hợp với dự báo kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chung của toàn bộ danh mục tín dụng
Thứ hai, phân tích đánh giá khách hàng
Phân tích đánh giá khách hàng nhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể Phân tích đánh giá khách hàng được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách hàng, phân tích trong quá trình cho vay và phân tích sau khi cho vay Để có thể phân tích đánh giá khách hàng cần:
* Thu thập thông tin về khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay Hiện nay, việc khai thác thông tin về khách hàng thường dựa vào báo cáo tài chính trong những năm gần đây của khách hàng Bên cạnh việc thu thập thông tin từ khách hàng, cần thu thập thông tin về đối tác của khách hàng, từ những ngân hàng mà ngân hàng có quan hệ từ cơ quan quản lý khách hàng, từ Trung tâm phòng ngừa rủi ro…
* Nội dung phân tích khách hàng theo các chỉ tiêu định lượng và định tính để có những kết luận chính xác về tình trạng của khách hàng
- Các chỉ tiêu định tính: Tiêu chí định tính là tiêu chí không lượng hóa bằng
con số mà chỉ phản ánh tính chất, đặc điểm của khách hàng Các tiêu chí này được thể hiện rõ nét qua phương pháp 6C
Trang 39(1) Character (tư cách người vay): Cán bộ tín dụng phải đánh giá tính đúng đắn và hợp lý của mục đích xin vay, xác định xem có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không Thậm chí, cho dù mục đích xin vay là tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có thiện chí và nỗ lực hoàn trả nợ vay khi đáo hạn Trong thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân có khả năng trả nợ nhưng không thanh toán cho ngân hàng, mà chiếm dụng vốn với mục đích cá nhân
và các khoản đầu tư kiếm tìm lợi nhuận khác
(2) Capacity (năng lực của người cho vay): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng, người đại diện đặt bút ký phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty, có tư cách pháp nhân
(3) Dòng tiền mặt (Cash flow).): Nhìn chung, người vay có 3 khả năng tạo ra tiền: tiền từ doanh thu bán hàng hay lợi nhuận thu nhập; tiền từ thanh lý tài sản; tiền
từ chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Ngân hàng ưu tiên hơn về khả năng trả nợ của khách hàng theo nguồn thu từ khoản vay đầu tiên, vì việc thanh lý tài sản sẽ làm cho năng lực khách hàng trở nên yếu đi, ngoài ra đó cũng là một biểu hiện không lành mạnh trong kinh doanh, khiến quan hệ tín dụng trở lên có vấn đề
(4 )Collateral (bảo đảm tiền vay): khách hàng được cấp tín dụng dựa trên giá trị tài sản bảo đảm: cầm cố, thế chấp, tín chấp, hay bảo lãnh từ bên thứ ba,…Việc nhận bảo đảm tín dụng nhằm 2 mục đích: thứ 1 là nếu người đi vay không trả nợ theo đúng thỏa thuận, thì ngân hàng sẽ thanh lý tài sản đó để thu hồi nợ đọng; thứ 2
là để ràng buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay
để thu hồi tài sản bảo đảm của mình, tạo uy tín và trở thành khách hàng thân thiết của các ngân hàng
(5) Conditions (các điều kiện): Cán bộ tín dụng và các chuyên gia phân tích tín dụng phải nhận biết được những xu hướng tiến triển gần đây của khách hàng cũng như của ngành mà khách hàng hoạt động, thấy được mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với khoản cho vay Một khoản cho vay dường như rất tốt trên giấy tờ nhưng có thể giá trị của nó bị sụt giảm do doanh thu hay thu nhập của khách hàng giảm trong thời kỳ suy thoái kinh tế hoặc do lãi suất tăng cao trước sức ép của lạm phát…
Trang 40(6) Control (kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi trong luật pháp có ảnh hưởng đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của quản lý về chất lượng tín dụng không
- Các chỉ tiêu định lượng: Hầu hết các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp đều có thể tính trực tiếp từ các báo cáo tài chính của công ty Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp và các nguồn thông tin khác, cán bộ tín dụng tiến hành phân tích tình hình tài chính của khác hàng Các bước công việc cụ thể như sau:
Một là, thu thập thông tin và phân tích tình hình tài chính khách hàng
+ Nhóm chỉ tiêu về thu nhập:
Doanh thu của doanh nghiệp: bao gồm các khoản thu có thể thu được từ hoạt động của doanh nghiệp, để trang trải các chi phí và tạo lợi nhuận của doanh nghiệp Để phản ánh sự tăng trưởng của doanh thu, người ta sử dụng chỉ tiêu thay đổi doanh thu
Tốc độ tăng doanh thu = Doanh thu năm t - Doanh thu năm t-1
Doanh thu năm t-1 Chi phí của doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Chi phí doanh nghiệp phản ánh cụ thể qua chỉ tiêu:
Tỷ lệ % chi phí hoạt động trên doanh thu =
Chi phí hoạt động Doanh thu Lợi nhuận của doanh nghiệp: là thước đo cuối cùng trong quá trình đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Các chỉ tiêu lợi nhuận là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, là căn cứ để xây dựng kế hoạch tài chính
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần =
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có =
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản có bình quân
Tỷ suất lợi nhuận vốn
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân