Nhu cầu tất yếu của phát triển bền vững Cùng với sự phát triển kinh tế để đáp ứng sự phát triển xã hội của loài người, đã gây ra những tác động mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên cũng như c
Trang 1BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI HẢI PHÒNG
Sở Tài nguyên và Môi trường, Tháng 12/2012
I LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1 Nhu cầu tất yếu của phát triển bền vững
Cùng với sự phát triển kinh tế để đáp ứng sự phát triển xã hội của loài người, đã gây
ra những tác động mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên cũng như các hệ sinh thái trên trái đất
Từ những năm đầu của thập niên 60, các nhà sinh thái học đã kéo hồi chuông báo động về nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và tình trạng suy thoái môi trường Mối quan tâm thật sự đối với các vấn đề môi trường bắt đầu nóng lên tại Hội Thượng đỉnh lần thứ nhất (Stockholm, 1972) về môi trường và con người, là hành động đầu tiên đánh dấu
sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc
và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường Ngoài ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập
Năm 1987, Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới đưa ra Báo cáo Brundtland) Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền
vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài
Cùng với những vấn đề nhức nhối khác như hạn hán, lũ lụt, mưa axít, tình trạng ô nhiễm không khí và nước, suy thoái ồ ạt tài nguyên đất, sự phá huỷ cảnh quan, sự mất đi nhanh chóng nhiều loài động thực vật, sự suy giảm tầng ôzôn ở Nam Cực.v.v đã là tiếng chuông cảnh báo cho sự phát triển hiện nay Nếu các Quốc gia không tìm được tiếng nói chung để giải quyết \ những vấn đề nóng bỏng nói trên thì sự suy thoái môi trường sẽ dẫn đến sự diệt vong của loài người
Để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực đến môi trường và tài nguyên Phát triển đương nhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao để môi trường vẫn làm đầy đủ ba chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các phế thải của hoạt động của con người Hay nói cách khác là giữ cân bằng giữa hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội
2 Khái niệm về phát triển bền vững
Theo Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển thì "Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế
hệ tương lai đáp ứng như cầu của bản thân họ"
3 Những nhân tố của phát triển bền vững
Phát triển hiện nay đã và đang được hiểu theo nghĩa phát triển bền vững, tức là cùng với việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống con người phải bảo vệ các hệ sinh thái thiên nhiên Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa được 03 nhân tố: kinh tế, xã hội và môi trường
3.1 Nhân tố kinh tế:
Ở những nước công nghiệp hoá, việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển Vì vậy ở những nước này, sự phát triển bền vững có
Trang 2nghĩa là phải từ bỏ những mô hình tiêu thụ có nguy cơ đe doạ môi trường và ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học
Giữa nghèo nàn, thoái hoá đất, suy thoái môi trường và sự tăng nhanh dân số có những mối liên hệ ràng buộc Những dân tộc mà nhu cầu sơ đẳng chưa được thoả mãn thì không thể nhận thức được sự cần thiết phải đầu tư cho tương lai của hành tinh và dĩ nhiên
họ chưa có điều kiện để quan tâm đến sự phát triển bền vững
3.2 Nhân tố xã hội
Sự phát triển bền vững được biểu hiện bằng bình đẳng, tiến bộ trong xã hội, trong một quốc gia và giữa các quốc gia
3.3 Nhân tố môi trường:
Sự phát triển bền vững đòi hỏi bắt buộc phải bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phải sử dụng có hiệu quả hơn các loại đất trồng trọt và các nguồn nước, sử dụng các công nghệ tiên tiến để tăng năng suất, tránh sử dụng qua mức các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu để hạn chế việc làm thoái hoá sông, hồ, không gây nhiễm độc thức ăn, nước uống
và tránh quảng canh trên đất dốc vì dễ có nguy cơ xói mòn nhanh chóng Sự phát triển bền vững đòi hỏi phải giảm mạnh và nếu có thể chấm dứt sự huỷ hoại hệ các sinh thái
Phát triển bền vững còn đòi hỏi phải đề phòng sự mất ổn định khí hậu và các hệ sinh
- địa - lý toàn cầu và sự phá hoại tầng ôzôn bảo vệ trái đất do các hoạt động của con người gây ra
4 8 nguyên tắc xây dựng xã hội phát triển bền vững:
Một xã hội có nền kinh tế và môi trường bền vững phải đảm bảo 8 nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng:
Đây là nguyên tắc vô cùng quan trọng, nói lên trách nhiệm phải quan tâm đến mọi người xung quanh Đó là một nguyên tắc đạo đức đối với lối sống Điều đó có nghĩa là, sự phát triển của nước này không làm thiệt hại đến quyền lợi của những nước khác cũng như không gây tổn hại đến thế hệ mai sau Chúng ta phải chia sẻ công bằng những phúc lợi và chi phí trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, giữa những con người và giữa thế hệ chúng ta với các thế hệ mai sau
Thứ hai: Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người:
Mục đích cơ bản của phát triển là cải thiện cất lượng cuộc sống của con người Mỗi dân tộc có những mục tiêu khác nhau trong sự nghiệp phát triển, nhưng lại có một điểm thống nhất Đó là mục tiêu xây dựng một cuộc sống lành mạnh, có một nền giáo dục tốt,
có đủ tài nguyên đảm bảo cho cuộc sống không những cho riêng mình mà cho cả thế hệ sau, có quyền tự do bình đẳng, được bảo đảm an toàn, mỗi thành viên trong xã hội có cuộc sống ngày càng tốt hơn
Thứ ba: Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất:
Sự phát triển trên cơ sở bảo vệ đòi hỏi phải có những hành động thích hợp, thận trọng để bảo tồn chức năng và tính đa dạng của các hệ sinh thái Đa dạng sinh học tích luỹ trong hệ thống thiên nhiên của trái đất mà loài người chúng ta đều phải lệ thuộc vào nó
Hệ thống này là những quá trình sinh thái đảm bảo sự nuôi dưỡng và phát triển sự sống, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều chỉnh khí hậu, cân bằng nước và làm cho không khí trong lành, điều hoà dòng chảy, cấu tạo và tái tạo đất màu phục hồi các hệ sinh thái Bảo vệ tính đa dạng sinh học có nghĩa là không chỉ bảo vệ tất cả các loài động vật, thực vật trên hành tinh mà còn bao gồm cả gene di truyền có trong mỗi loài Đa dạng sinh học giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp cũng như bảo
Trang 3vệ môi trường, đồng thời góp phần nâng cao trí thức, thúc đẩy tiến tới một xã hội văn minh
Thứ tư: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của Trái đất:
Mức độ chịu đựng của trái đất nói chung hay của một hệ sinh thái nào đó, dù là tự nhiên hay nhân tạo, đều có giới hạn Con người có thể mở rộng giới hạn đó bằng kỹ thuật truyền thống hay áp dụng công nghệ mới để thỏa mãn nhu cầu của mình Nhưng nếu không dựa trên quy luật phát triển nội tại của tự nhiên thì thường phải trả giá đắt bằng sự suy thoái, nghèo kiệt đa dạng sinh học hoặc suy giảm chức năng cung cấp Các nguồn tài nguyên không phải là vô tận mà bị giới hạn trong khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái, hoặc khả năng hấp thụ các chất thải một cách an toàn Sự bền vững không thể có được nếu mức độ dân số thế giới ngày càng tăng dẫn tới nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên ngày càng lớn, vượt quá khả năng chịu đựng của trái đất Vì vậy:
+ Những người sống ở các nuớc có thu nhập cao, tiêu thụ nhiều tài nguyên cần phải giảm bớt chi dùng và nên tiết kiệm
+ Các Quốc gia giàu phải có trách nhiệm giúp đỡ các nước nghèo
+ Quản lý các nguồn tài nguyên một cách bền vững
+ Thống nhất việc quản lý dân số và tiêu dùng tài nguyên
+ Giảm bớt việc tiêu dùng quá mức và lãng phí tài nguyên
+ Cung cấp thông tin, phương tiện chăm sóc y tế và kế hoạch hoá gia đình
+ Nâng cao dân trí, tiến hành các biện pháp để tất cả mọi người hiểu rằng khả năng chịu đựng của trái đất không phải là vô hạn
Thứ năm: Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân:
Việc thay đổi thái độ và hành vi của con người đòi hỏi phải có một chiến dịch tuyên truyền, giáo dục đồng bộ, để mọi người ý thức được rằng: nếu con người có thái độ hành
vi đúng đắn với môi trường thiên nhiên thì con người sẽ được tận hưởng những vẻ đẹp của thiên nhiên và chính bản thân thiên nhiên sẽ phục vụ lợi ích con người tốt hơn, lâu bền hơn Nhưng nếu con người có thái độ tàn nhẫn với thiên nhiên, thì sẽ gặp phải những bất hạnh do chính bản thân mình gây ra Vì lẽ đó, bất cứ kế hoạch hành động nào trong cuộc sống cũng phải dựa trên sự hiểu biết đúng đắn về môi trường
Thứ sáu: Để cho cộng đồng tự quản lý môi trường của mình:
Nguyên tắc này dựa trên cơ sở, không ai hiểu biết môi trường bằng dân bản địa Khi dân biết tự mình tổ chức cuộc sống bền vững trong cộng đồng của mình, họ sẽ có sức sống mạnh mẽ cho dù cộng đồng của họ là giàu hay nghèo, thành thị hay nông thôn
Một cộng đồng muốn được sống bền vững thì trước hết phải quan tâm bảo vệ cuộc sống của chính mình và không ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng khác Họ cần biết cách sử dụng tài nguyên của mình một cách tiết kiệm, bền vững và có ý thức về việc thải các chất phế thải độc hại và xử lý một cách an toàn, bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống và tính đa dạng của hệ sinh thái ở bản địa Chính dân hoàn toàn có khả năng thực hiện công việc qản lý môi trường sống của họ, nếu được giao đầy đủ quyền lực và trách nhiệm Tất nhiên Chính phủ cần phải quan tâm đến nhu cầu kinh tế và xã hội của họ cũng như hướng dẫn họ, đồng thời phải có những hành động ưu tiên như cho phép cộng đồng có thể điều khiển toàn bộ cuộc sống của mình bao gồm cả việc sử dụng tài nguyên, đồng thời
có trách nhiệm quản lý nguồn tài nguyên ở địa phương mình cũng như tham gia bàn bạc thảo luận các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường chung, cho phép cộng đồng sử dụng tài nguyên trong vùng thoả mãn một số nhu cầu trong cuộc sống, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cộng đồng bảo vệ môi trường sống của mình
Trang 4Thứ bảy: Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và
bảo vệ:
Một xã hội muốn bền vững phải xây dựng được một sự đồng tâm nhất trí và đạo đức cuộc sống bền vững trong các cộng đồng Chính quyền trung ương cũng như địa phương phải có cơ cấu thống nhất về quản lý môi trường, bảo vệ các dạng tài nguyên Muốn có một cơ cấu quốc gia thống nhất, phải thống nhất kết hợp nhân tố con người, sinh thái và kinh tế Điều này rất quan trọng đối với việc xây dựng cuộc sống tốt đẹp về mọi mặt
Thứ tám: Xây dựng một khối liên minh toàn cầu :
Muốn bảo vệ môi trường để phát triển bền vững chúng ta không thể làm riêng lẻ mà phải có sự liên minh giữa các nước Sự bền vững trong liên minh phụ thuộc vào các hiệp ước quốc tế liên quan Do đó, các quốc gia phải nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường chung trên trái đất, cần tham gia
ký kết và thực hiện các Công ước quốc tế về Phát triển ền vững
5 Những thách thức của sự phát triển phát triển bền vững
5.1 Ô nhiễm tầng khí quyển:
Các chất làm ô nhiễm tầng khí quyển chủ yếu do 3 nguồn:
a- Khí thải của công nghiệp:
Trong khí thải của công nghiệp lượng khí thải lớn nhất là dầu hoả trong quá trình cháy đã sinh ra khí CO2, CO, Nox, SO2 Mỗi năm lượng khí CO2 do con người đốt nguyên liệu khoáng thể thải vào không khí là trên 5 tỷ tấn, đồng thời tốc độ tăng dần hàng năm là 0,5% Hàm lượng khí CO2 trong khí quyển của thế kỷ trước là 300ppm tăng dần lên, dự tính đến năm 2000 sẽ là 365 - 380ppm Ngoài ra, hàng năm công nghiệp còn thải vào khí quyển 200 triệu tấn SO2, 150 triệu tấn oxit nitơ và 110 triệu tấn bụi phấn
b- Khí thải gia đình:
Khí thải gia đình là một nguồn ô nhiễm không khí ở tầng thấp với lượng khí thải ra rất lớn, diện phân bố rộng, có tính nguy hại nhiều, nhất là ở những thành phố lớn mà mật
độ dân số tập trung
c- Khí thải của các xe có động cơ:
Các loại xe có động cơ đã thải vào trong không khí từ 150 - 200 loại hợp chất sunfua
và oxit nitơ, trong đó nguy hại nhất là khí CO, chì và các hợp chất sunfua Khí oxit cacbon trong không khí là 80% do ô tô thải ra
* Tác hại của ô nhiễm không khí:
- Trước hết là “Hiệu ứng nhà kính” (sẽ trình bày ở phần sau) - Làm cho mức nước biển dâng cao, vùng khí hậu sẽ chuyển dịch về hai cực Nam Bắc, dẫn tới việc làm đảo lộn dòng khí quyển, tăng thêm hạn hán, lũ lụt, đem lại ảnh hưởng xấu lớn cho môi trường sinh thái và xã hội
- Khi quyển bị ô nhiễm không những làm giảm cơ năng sinh lý của thực vật mà còn làm giảm sự sinh sôi của cây cối, biểu hiện chủ yếu là cây cối sinh trưởng chậm, sức đề kháng sâu bệnh suy giảm
- Khí quyển bị ô nhiễm có hại cho sức khoẻ con người chủ yếu thông qua 3 mặt: tiếp xúc bề mặt, ăn và uống những chất ô nhiễm, hít thở không khí ô nhiễm, trong đó việc hít thở phải những chất ô nhiễm là thường gặp nhất và cũng nguy hại nhất
5.2 Nguy cơ về nước đối với cuộc sống
* Các nguyên nhân chủ yếu hình thành nguy cơ về nước:
a- Nguồn tài nguyên nước là có hạn: Nước trên trái đất, 96,5% là nằm trong các đại dương, là nước mặn không thể dùng để uống hoặc để tưới cho cây trồng Tổng lượng nước
Trang 5trên thế giới là 1,4 tỷ km3, nhưng số nước ngọt có thể dùng được chỉ chiếm 2,53%, còn đại bộ phận nước đóng băng dự trữ ở hai cực của trái đất Trong lớp băng dầy đó, con người chỉ có thể dùng được khoảng 0,35% tổng trữ lượng
b- Nước phân bố không đều: Trong các châu lục của thé giới, lưu lượng của các dòng sông ở Nam Mỹ là lớn nhất, chiếm 27% tổng lượng của thế giới, còn châu Phi, châu Âu và châu Đại dương thì rất ít, chỉ bằng 11%, 11% và 5% Vùng nhiệt đới châu Phi thì mưa nhiều (lượng mưa hàng năm đạt 5000mm), còn ở vùng ả Rập thì khô hạn (lượng mưa hàng năm thường bằng 0)
c- Lượng dùng nước ngày càng tăng:
Đầu thế kỷ này, dân số toàn cầu có khoảng 1,6 tỷ người Dự tính đến năm 2000 sẽ là
6 tỷ người, tăng 3,75lần, như vậy lượng nước dùng sẽ tăng vọt
Cuối thế kỷ này, lượng nước dùng cho công nghiệp tăng 20 lần, dùng cho nông nghiệp tăng 7 lần, dùng cho sinh hoạt tăng gấp 10 lần
Dân số tăng nhanh và lượng nước dùng ngày càng nhiều sẽ làm cho lượng nước bình quân đầu người gaỳ càng giảm
d- Con người gây ra ô nhiễm cũng là một nguyên nhân rất cơ bản của nguy cơ về nước, làm cho nguồn tài nguyên này vốn đã rất hạn chế nay lại càng thêm thiếu hụt
Theo dự đoán của Liên Hiệp Quốc thì cuối thế kỷ này, lượng nước bình quân đầu người toàn cầu sẽ giảm 24%,từ 3000m3 xuống còn 2280m3 Hiện nay trên thế giới có hơn
100 quốc gia và khu vực thiếu nước với mức độ khác nhau, trong số đó có 43 quốc gia thiếu nước nghiêm trọng, các vùng thiêu nước trên trái đất chiếm tới 60% diện tích châu lục
5.3 Ô nhiễm đại dương:
Nước của đại dương trên trái đất luôn luôn bị ô nhiễm bởi các chất phế thải do các dòng sông, bờ biển đổ rác rưởi xuống, như lời của Brazin Aotit, học giả người Anh đã nói: các đại dương đang trở thành một thùng rác của trái đất
* Những chất chủ yếu làm cho các đại dương bị ô nhiễm :
- Thuốc hoá học hữu cơ như ĐT, hợp chất có gốc Clo và Benzen (PCBS) và HCB Chúng theo nước bẩn, không khí và các chất khác chảy vào đại dương, tích tụ trong cơ thể các loài cá và động vật biển làm cho biển mất cân bằng sinh thái
- Các kim loại nặng như kẽm, đồng, thạch tín, selen, crôm, cadmium, thuỷ ngân , chì trong đó thuỷ ngân là nguy hại nhất Thuỷ ngân trong nước biển, duới tác động của mọt số vi sinh vật có thể chuyển hoá thành thuỷ ngân có gốc kali Hợp chất này dễ tan trong mỡ, ngấm vào trong tế bào của sinh vật và ức chế hoạt tính của các tế bào Theo dự báo, đến năm 2000, trong lớp nước dày 100m của bề mặt đại dương, nồng độ của thuỷ ngân sẽ tăng thêm 30%
- Các chất phóng xạ nhân tạo Các chất phóng xạ được thải vào biển chủ yếu là các chất phóng xạ mà con nguời dùng trong sản xuất Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc, đến năm 2000 tổng lượng chất phóng xạ có trong đại dương sẽ tăng lên rõ rệt so với năm 1970, trong đó chất thoát biến và chất phóng xạ sẽ tăng gấp 100 lần, chât triti (hydro siêu nặng)
sẽ tăng gấp 1000 lầ
- Dầu mỏ: Theo thống kê, từ 1970 - 1990, toàn cầu đã xảy ra hơn 1000 sự cố để rò rỉ dầu Mỗi năm số dầu bị rò rỉ trong quá trình vận chuyển, bị phun ra từ các giếng khai thác
đổ vào các đại dương từ 5 đến 10 triệu tấn, số dầu của các xí nghiệp công nghiệp mỗi năm
đổ xuống biển và dòng sông từ 3 đến 5 triệu tấn Những dầu đó chìm trong các vịnh, nơi
ẩm ướt, vùng đầm lầy gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh tồn và sinh sản của động vật biển
Trang 6- Nước thải sinh hoạt: Hàng ngày đại dương chứa đựng tất cả nước bẩn của các thành phố, các nông trường, nhà máy Trong nước bẩn này có chứa một lượng lớn các hợp chất của cacbon va thuỷ ngân, chât anbumin, chất béo, chất hữu cơ của gỗ Nó cung cấp cho cac loài thực vật biển những chất dinh duỡng cần thiết cho sự sinh trưởng nhưng lại quá liều lượng, làm cho thực vật biển phát triển mạnh, uy hiếp nghiêm trọng các động vật phù
du và các loại cá, thậm chí làm cho chúng chết vì bị ngạt thở; đồng htời, sau khi các chất hữu cơ phân giải đã hình thành một lượng lớn chất dinh dưỡng, khiến cho các loài tảo phat triển nhanh chóng, gây thành “thuỷ triều đỏ” nguy hại đến đời sống của các loài tôm, cua, ốc
- Nước thải công nghiệp: Hàng năm thế giới thải vào đại dương hàng trăm tỷ tấn nước phế thải, làm cho các khu vực gần bờ biển đều bị nhiễm bẩn Phần lớn các chất ô nhiễm, nhât là các chất khó phân giải chìm ngay tại chỗ, đe doạ sự cân bằng sinh thái của biển làm cho sinh vật biển bị bệnh, thậm chí bị diệt vong
- Chất thải rắn: Mỗi năm thế giới thải xuống biển 650 triệu tấn rác bao gồm cả rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp, làm cho một số cá lớn, rùa biển và những động vật
có vú chết vì vướng phải hoặc ăn nhầm các chât dẻo
- Mất cân bằng sinh thái: do khai thác quá lượng cho phép, nhanh chóng làm cho tài nguyên biển bị suy giảm, đe doạ sự diệt chủng của một số loài như sư rử biển, gấu bắc cực, bò biển
5.4 Biến đổi khí hậu
Nhiều biểu hiện của biến đổi khí hậu và trái đất; tan băng và mực nước biển dâng cao
do băng tan, ngập úng các vùng đất thấp và các đảo nhỏ trên biển; sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất, đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người; sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác; sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển; sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất
II HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG HẢI PHÒNG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Hải Phòng là thành phố cảng biển quốc tế, đô thị loại 1 cấp quốc gia có tính đặc thù cao (có biển, có rừng) Với hệ thống hạ tầng giao thông thuận lợi về đường biển, đường
bộ, đường sắt, đường hàng không và đường thủy, Hải Phòng được xác định là cửa chính ra biển của Miền Bắc Việt Nam và của 2 tuyến hành lang, 1 vành đai hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam Hải Phòng còn có nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế biển hàng đầu cả nước và là nơi tập trung nhiều ngành kinh tế biển mũi nhọn như công nghiệp đóng tàu, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thủy sản, dịch vụ cảng , vận tải biển và du lịch
Trong những qua, bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội đã đạt được, Hải Phòng đang đối mặt với tình trạng suy giảm về môi trường, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng Hiện trạng môi trường HP những năm gần đây có thể được khái quát qua 11 môi trường thành phần đặc trưng
1 Về môi trường đất:
Hải Phòng là địa phương có quỹ đất ít, tổng diện tích tự nhiên là 151.919 ha, bình quân khoảng 905 m2/người, và có xu hướng giảm do dân số tăng và nhu cầu đất chuyên
Trang 7dùng tăng Nguồn tài nguyên đất chưa được khai thác, sử dụng có hiệu quả đặc biệt là đối với đất dốc (đất đồi núi); năng suất trung bình của các loại cây trồng chính còn thấp
Bên cạnh đó, sự phân bố dân cư chưa hợp lý, tập trung chủ yếu ở đô thị Đất đô thị bình quân khoảng 264 m2/người và ngày càng giảm dần Thoái hoá đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn do phương thức canh tác lạc hậu, do việc lạm dụng hoá chất
và các loại thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, canh tác không đúng kỹ thuật gây ô nhiễm và suy thoái nhiều vùng đất Những kỹ thuật tiến bộ, thân thiện với môi trường chưa được phổ biến và áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp
2 Về môi trường nước:
Các sông Đa Độ, sông Rế và sông Giá là những nguồn cung cấp nước ngọt chính cho thành phố với trữ lượng nước 21.077.300 m3 và được cung cấp liên tục từ hệ thống sông thượng nguồn
Hiện nay chất lượng nguồn nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn và có độ cứng cao, có hàm lượng chất hữu cơ, dầu, quá tiêu chuẩn cho phép do nước thải đồng ruộng mang theo
dư lượng hoá chất của thuốc bảo vệ thực vật, phân đạm, do nước thải công nghiệp, đô thị
và từ các hoạt động giao thông thuỷ gây ra Nước sông Rế, sông Giá hiện có dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, đặc biệt tích luỹ cao trong trầm tích đáy sông
Ô nhiễm dầu trong môi trường nước mặt ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng đã vượt tiêu chuẩn cho phép và chủ yếu do các hoạt động giao thông thuỷ gây ra
Việc khai thác nước ngầm ở một số khu vực nội thành, ngoại thị đã gây nên hiện tượng hạ nhanh mực nước ngầm, làm giảm lưu lượng và làm ô nhiễm nguồn nước
3 Về môi trường không khí:
Môi trường không khí bị ô nhiễm chủ yếu ở khu vực nội thành do hoạt động công nghiệp, giao thông và sinh hoạt Các chỉ tiêu bụi đang xấp xỉ ở mức tiêu chuẩn cho phép, một số khu vực đã có nồng độ bụi vượt quy chuẩn Việt Nam về môi trường
Ô nhiễm khí độc hại và tiếng ồn có tính cục bộ, chủ yếu tại các nút giao thông chính của thành phố Trong tương lai, mức ô nhiễm do sinh hoạt sẽ được giảm xuống cùng với
sự tăng mức sống của nhân dân Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm do công nghiệp và giao thông
có xu hướng gia tăng nhanh cùng với tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá
Môi trường không khí vùng nông thôn, các khu du lịch, vùng ven biển và hải đảo của thành phố nhìn chung còn chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm
4 Về rừng và độ che phủ của thảm thực vật:
Hải Phòng có tổng diện tích rừng là 17.998,7 ha, trong đó: rừng đồi núi là 12.527 ha, rừng ngập mặn: 2.253 ha và rừng ven sông là 710 ha Hiện nay, diện tích rừng đang bị biến động, cả về số lượng loài do cây rừng chết tự nhiên hoặc chuyển mục đích canh tác
Tỷ lệ che phủ rừng trên đất đai tự nhiên đạt 28,8%, và độ che phủ bình quân là 0,15m2 / người Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu trên đảo Cát Bà, phổ biến là thực vật tự nhiên sống trên núi và các thung lũng đá vôi Vườn Quốc Gia Cát Bà thuộc loại hình rừng tự nhiên, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như Lát hoa, Trai Lý, Chò Đài, Kim Giao, Độc Nếp
Thực vật biển: ở Hải Phòng chủ yếu tập trung ở một số bộ rong tảo, rong câu và
thực vật phù du, trong đó có các loài thực vật biển có giá trị kinh tế cao như các loài rong câu, phân bố trên khu vùng triều giữa và độ sâu từ 0-1m Hàm lượng Agar trong rong câu
ở Đình Vũ và huyện Tiên Lãng tương đối cao Sự suy thoái đa dạng sinh học ở Hải Phòng gần đây đã đến mức báo động Nguyên nhân là do môi trường sống của sinh vật bị biến đổi, bị ô nhiễm, bị săn bắt trái mùa, bằng các phương tiện huỷ diệt, khai thác trái phép các động, thực vật quí hiếm
Trang 8Về động vật: có 28 loài thú, 37 loài chim và 20 loài bò sát lưỡng cư Có 186 loài và
phân loài chim Khu hệ chim ở Hải Phòng thể hiện tính đa dạng về cấu trúc, thành phần loài, đa dạng về sự phân bố theo sinh cảnh Khu vực núi Đấu, Kiến An đang là nơi tập trung khoảng 5 loài vạc về cư trú, sinh sản và đang phát triển (tuy nhiên do nạn săn bắt bẫy lưới theo hướng di chuyển của đàn từ phía An Hồng –An Dương đã làm số lượng đàn chim suy giảm đáng báo động)
Hải sản đa dạng và phong phú với khoảng 105 họ, số họ có từ 5 loài trở lên khoảng 20% Tôm ở vùng biển Hải Phòng có nhiều loài như tôm he, tôm hùm, tôm gỗ, tôm sú, tôm nương, trong đó tôm he là chủ yếu San hô ở vùng biển Hải Phòng gồm khoảng gần
150 loài, phân bố ở vùng biển Cát Bà, Bạch Long Vỹ Các rạn san hô này đang bị đe doạ khai thác bừa bãi làm nguyên liệu cho ngành thủ công mỹ nghệ, một phần bị chết do hậu quả của các lồng bè nuôi bào ngư (đã phủ lớp cát dày trên lớp san hô)
5 Về khoáng sản:
Tiềm năng khoáng sản ở Hải Phòng khá đa dạng, gồm một số loại khoáng sản như:
sa khoáng Titan - Ziriconi, đá vôi xây dựng, đá vôi ốp lát, phốt pho rit, silic hoạt tính, sét
Đá vôi xây dựng có trữ lượng lớn nhất, ước tính vào khoảng 500 triệu tấn, sét vào khoảng
65 triệu m3, các loại khoáng sản khác đều có trữ lượng nhỏ, không đáp ứng như cầu khai thác Các bãi cát lớn như cát sông Đá Bạc, cửa Nam Triệu, nam đảo Đình Vũ, cửa Cấm chủ yếu là cát đen, lượng cát vàng rất hiếm
Nhìn chung, các vùng khai thác hầu như chưa được hoàn nguyên môi trường và xử lý đất, đá thải nên đã ảnh hưởng đến môi trường nghiêm trọng
6 Về môi trường công nghiệp:
Tốc độ công nghiệp hoá thời gian qua ở Hải Phòng tương đối nhanh Năm 2000 có 10.094 cơ sở, đến năm 2002 có 11.606 cơ sở, trong đó cơ sở ngoài nhà nước chiếm xấp xỉ 90%
Các cơ sở công nghiệp đầu tư trong nước nhìn chung có quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất của các cơ sở công nghiệp cũ rất lạc hậu Đến nay chỉ có khoảng 10,2% cơ sở công nghiệp cũ đã đổi mới công nghệ Đây chính là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, nhất là các cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư nhiều năm nay bị khiếu kiện vì gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm do nước thải ra khu vực xung quanh Trong 6 khu/ cụm công nghiệp thì chỉ có khu công nghiệp NOMURA đã xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng
kỹ thuật và hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 10.800 m3/h, KCN Đình Vũ và
Đồ Sơn mới xây dựng được 01 modul côn suất 2.500 m3//h, Các cụm công nghiệp mới chỉ
có CCN Vĩnh Niệm và Tân Liên đã XD khu xử lý nước tập trung nhưng vẫn chưa đưa váo vận hành, xử lý Các KCN và CCN còn lại chưa xây dựng khu xử lý nước tập trung
7 Về môi trường đô thị:
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị còn rất yếu kém, đang bị quá tải nghiêm trọng Tình
hình môi trường nước đô thị vẫn đang là vấn đề nan giải
Khu vực nội thành, nước mưa, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp được thoát chung qua một hệ thống với các loại đường ống được xây dựng từ trước năm 1954 Hiện trạng chất lượng của hệ thống thoát nước nội thành còn chưa đáp ứng yêu cầu tiêu thoát nước do chưa được bảo dưỡng, sửa chữa đầy đủ, thường xuyên bị ngập lụt ở nhiều nơi do hệ thống thoát nước đã quá tải Do không được xử lý nên nước thải nội thành rất bẩn cùng với lượng bùn ga cống trực tiếp gây ô nhiễm cho nguồn nước tiếp nhận tại các
hồ, ao, kênh, mương thuỷ lợi và các con sông xung quanh khu vực nội thành Diện tích các
hồ điều hoà đang bị thu hẹp dần do bị lấn chiếm, bị bồi lắng không được khai thông Hiện nay, thành phố vẫn chưa có trạm xử lý nước thải đô thị tập trung
Trang 9Chất thải rắn phát sinh trong khu vực đô thị khoảng 1.100 m 3/ngày, được thu gom và
đổ ra bãi rác của thành phố Biện pháp xử lý chất thải rắn chủ yếu là chôn lấp nhưng không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật vệ sinh môi trường Chất thải bệnh viện khoảng 10 m3/ ngày (4,5 - 5 tấn / ngày) trong đó chất thải độc hại chiếm khoảng 20% Rác thải bệnh viện mới có một số bệnh viện lớn (Việt Tiệp, Phụ Sản, Nhi Đức, Kiến An, Lao và bệnh Phổi ) được phân loại, thu gom và chuyển giao cho Công ty TNHH MTV môi trường đô thị HP vận chuyển và xử lý đốt tại lò thiêu Tràng Cát, các bệnh viện khác chưa được thu gom, xử
lý đúng quy định (tự xử lý hoặc đổ ra bãi rác chung cùng với chất thải sinh hoạt, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh) Phần lớn các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải(trừ BV Việt Tiệp, Ngô Quyền, Kiến An) Có thể nói, cho đến thời điểm hiện nay, thành phố vẫn chưa quản lý triệt để được chất thải bệnh viện Ngoài ra, do đặc thù là thành phố cảng, hàng năm đô thị Hải Phòng còn phải đối mặt với một lượng chất thải rắn từ các hoạt động cảng như dầu cặn khoảng 3000-5000tấn / năm, hiện mới chỉ thu gom được xấp
xỉ 900 - 1000 tấn /năm (20 -30%), hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không xuất được do chủ hàng từ chối, bỏ hàng đặc biệt nghiêm rọng đối với mặt hàng thực phẩm đông lạnh
8 Về môi trường nông thôn, khu du lịch:
Khu vực nông thôn có mật độ cây xanh, hoạt động công nghiệp còn thấp Chất lượng môi trường không khí vùng nông thôn còn chưa bị ô nhiễm Tuy nhiên nước sinh hoạt nông thôn hiện nay đã trở thành một vấn đề bức xúc Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân hoá học đã và đang cục bộ gây ô nhiễm nguồn nước, đất, làm gia tăng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản thực phẩm, gây nhiễm độc và ngộ độc cho người sử dụng Việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật chưa chặt chẽ, kiểm tra và hướng dẫn sử dụng chưa đầy đủ, thuốc nhập lậu chưa kiểm soát nổi
Việc nuôi trồng thuỷ sản cũng gây ảnh hưởng đến môi trường, gây suy thoái rừng ngập mặn; phương thức nuôi có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất là nuôi thâm canh với mật độ vật nuôi thả dầy và sử dụng nhiều thức ăn Lượng thức ăn dư thừa, chất thải vật nuôi tích tụ dưới đáy ao, đầm cùng với việc quản lý ao nuôi kém, thiếu các biện pháp xử lý môi trường, là nguyên nhân gây nên sự bùng nổ về dịch bệnh cho các vật nuôi ( đặc biệt là nạn thủy triều đỏ đã xuất hiện nhiều lần/năm do phù dưỡng thức ăn, chất hữu
cơ trong nuôi trồng thủy sản)
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề vùng nông thôn của Hải Phòng đang
là vấn đề nghiêm trọng do công nghệ sản xuất rất lạc hậu, thủ công là chính, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, nằm xen kẽ trong dân cư và hầu hết là không có hệ thống xử lý nước thải và khí thải Điển hình là làng nghề Mỹ Đồng- huyện Thuỷ Nguyên chuyên đúc các mặt hàng như chân máy khâu, nồi gang, cối, tượng
Nước sinh hoạt ở nông thôn Hải Phòng đã có những tiến bộ đáng kể, trên 90% tổng
số dân nông dân được sử dụng nước sạch Các khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà, Núi Voi với các loại hoạt động dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, mật độ người tại đây tăng rất cao vào mùa hè đã nảy sinh một vấn đề bức xúc về rác thải đô thị và du lịch Rác thải từ trên
bờ, dầu mỡ thải từ các tàu thuyền đánh bắt hải sản trong khu vực làm giảm chất lượng nguồn nước, hoạt động du lịch quá tải về mùa hè đang gia tăng sức ép lên môi trường và tài nguyên
9 Về môi trường cảng, vùng cửa sông ven biển:
Chất lượng nước vùng cửa sông ven biển Hải Phòng đã có những dấu hiệu báo động:
Độ đục khu vực trong mùa lũ khá lớn, tăng lên rất rõ trong thời gian qua ở khu bãi tắm Đồ Sơn và vùng Đông Nam Cát Bà Khu vực biển Hải Phòng nhìn chung chưa bị ô nhiễm hữu
cơ Sự nhiễm bẩn dầu chủ yếu tại các cảng, bến bãi và dọc theo tuyến luồng giao thông
Trang 10Nguyên nhân do rác thải, nước thải từ hệ thống nước thải nội thành, nước thải khu du lịch không qua hệ thống xử lý Rò rỉ dầu và chất thải rắn do các hoạt động giao thông đường thuỷ ngày càng nhiều và chưa quản lý được, ngoài ra còn có lượng dầu tràn do các sự cố đắm tàu
Hoạt động phá dỡ tàu cũ đang ngày càng gia tăng với nhiều chủng loại tàu được phá
dỡ Phương pháp phá dỡ hầu hết là thủ công Chất thải từ hoạt động này chứa nhiều chất
dễ cháy, nổ, chất thải độc hại Hầu hết các bến bãi phá dỡ không có hệ thống xử lý nước thải, thậm chí không có cầu cảng, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, đất Hoạt động này hiện nay gần như là tự phát do nhu câu về nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp thép Thành phố đã có văn bản hạn chế cấp phép hoạt động cho một số loại hình, lĩnh vực, trong
dó có loại hình phá dỡ tàu cũ
Hoạt động chuyển tải xăng dầu tại Bạch Đằng 8, vịnh Lan Hạ là khu vực nhạy cảm môi trường đang có xu thế gia tăng Khu vực Lan Hạ gần như không có cơ sở hạ tầng cho hoạt động dịch vụ cảng, càng không có các phương tiện phòng chống sự cố dầu tràn Những hoạt động này tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố, tai biến môi trường rất nghiêm trọng
10 Về môi trường lao động:
Trình độ công nghệ của công nghiệp Hải Phòng còn thấp, máy móc, thiết bị cũ kỹ và thiếu hệ thống xử lý ô nhiễm, vì vậy, môi trường lao động hiện đang không đảm bảo theo tiêu chuẩn an toàn lao động Công tác an toàn, trang bị thiết bị bảo hộ lao động được nhiều đơn vị quan tâm nhưng chưa thoả đáng, đặc biệt những cơ sở có phát thải chất thải độc hại chưa đảm bảo môi trường an toàn để tái tạo sức sản xuất cho người lao động
11 Về sự cố môi trường:
- Tràn dầu: Hải Phòng có 14 cảng Các cảng chiếm trên diện tích lớn của khu vực
cửa sông đã gây nên hàng loạt các vấn đề về môi trường nguy hiểm nhất vẫn là sự cố tràn dầu do những vụ đắm tàu, bơm nước la canh trong khu vực cảng Thành phố chưa có kế hoạch ứng cứu tràn dầu, chưa đầu tư phương tiện ứng cứu ( hiện mới chỉ có thiết bị của Công ty 128 Hải quân, thuộc Ủy ban tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự có tràn dầu có thiết bị, phương tiện chuyên dùng)
- Rò rỉ và tồn đọng hoá chất độc hại: Các sự cố môi trường do rò rỉ hoá chất công
nghiệp xảy ra trên địa bàn thành phố không nhiều, nhưng đã để lại những hậu quả cho môi trường và xã hội Điển hình là vụ nổ kho xăng dầu K31 Thuỷ Nguyên
- Ô nhiễm môi trường tại bãi rác Tràng Cát: Bãi rác Tràng Cát gây ô nhiễm môi
trường nước, không khí (mùi khó chịu) do không tuân thủ yêu cầu kỹ thuật của bãi chôn lấp chất thải Cho đến nay vẫn chưa xử lý được
III MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI HẢI PHÒNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG
III.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TẠI HẢI PHÒNG
1 Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề tại Hải Phòng
Lịch sử làng nghề tại Hải Phòng đã có từ lâu đời, như làng tạc tượng Bảo Hà, huyện Vĩnh Bảo từ thế kỷ thứ 10, làng đan tre Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên đã trên 400 năm, làng chiếu cói Lật Dương, huyện Tiên Lãng từ thế kỷ 17, làng đúc kim loại Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên đã trên 200 năm Hải Phòng đã từng tồn tại 60 làng nghề với 20 loại hình khác nhau