Đã có nhiều công trình nghiên cứu sáng tác văn chương của Carver trên thế giới, nhưng đi sâu xem xét và nghiên cứu truyện ngắn của ông từ góc nhìn của nghệ thuật phi trung tâm - một tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẠNH
PHI TRUNG TÂM TRONG
TRUYỆN NGẮN RAYMOND CARVER
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ HẠNH
PHI TRUNG TÂM TRONG
TRUYỆN NGẮN RAYMOND CARVER
Chuyên ngành: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Mã số: 62.22.02.45
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS LÊ HUY BẮC PGS.TS LÊ NGUYÊN CẨN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: GS.TS Lê Huy Bắc và PGS.TS Lê Nguyên Cẩn - những nhà khoa học đã tận tình hướng dẫn để Luận án được hoàn thành
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Trường Đại học sư phạm Hà Nội; Trường Đại học Hồng Đức, Khoa Khoa học xã hội, Bộ môn Văn học nước ngoài - Trường Đại học Hồng Đức - những cơ quan, đơn vị đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Những nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm 5
1.1.1 Nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm ở nước ngoài 5
1.1.2 Nghiên cứu về phi trung tâm ở Việt Nam 10
1.1.3 Những vấn đề đặt ra 12
1.2 Những công trình nghiên cứu về Raymond Carver 14
1.2.1 Nghiên cứu về Raymond Carver ở nước ngoài 14
1.2.2 Nghiên cứu về Raymond Carver ở Việt Nam 32
Tiểu kết 36
Chương 2: PHI TRUNG TÂM NHÂN VẬT 37
2.1 Đa trung tâm trong tổ chức nhân vật 37
2.1.1 Tính chất “đồng thời” trong thế giới nhân vật trung tâm 37
2.1.2 Dịch chuyển nhân vật trung tâm 47
2.2 Phá vỡ sự độc tôn về giới 50
2.2.1 Phi trung tâm nam giới 50
2.2.2 Phi trung tâm nữ giới 56
2.3 Nhân vật là những “mảnh vỡ” 62
2.3.1 Nhân dạng bất toàn sau mảnh ghép 63
2.3.2 Nhân vật là những mảnh vỡ không thể kết nối 69
Tiểu kết 73
Chương 3: PHÂN TÁN ĐIỂM NHÌN 75
3.1 Đa điểm nhìn song hành và lắp ghép 75
3.1.1 Nhiều điểm nhìn cùng hướng về một sự kiện 76
3.1.2 Các điểm nhìn song hành và lắp ghép xuyên suốt câu chuyện 80
3.2 Đối thoại và hoán vị điểm nhìn 87
3.2.1 Khách quan hóa điểm nhìn 88
3.2.2 Trò chơi luân chuyển điểm nhìn 93
Trang 63.3.2 Vật hóa điểm nhìn 105
Tiểu kết 110
Chương 4: PHÂN MẢNH CỐT TRUYỆN 112
4.1 Cốt truyện đa tầng và song song 112
4.1.1 Phân tầng cốt truyện không đồng bộ 113
4.1.2 Phân tầng cốt truyện theo lớp lang 121
4.2 Cốt truyện đứt đoạn và tái sinh 126
4.2.1 Đứt đoạn và tái sinh được tạo bởi sự sắp xếp phi logic 127
4.2.2 Cốt truyện gián đoạn và kết nối 134
4.2.3 Đứt đoạn và dư thừa trong cốt truyện tổng - phân - hợp 136
4.3 Cốt truyện kết nối tự do và ngẫu nhiên 138
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Raymond Carver (1939 - 1988) là nhà thơ, nhà văn viết truyện ngắn và thơ, được xem là “một Chekhov của nước Mỹ hậu hiện đại” [18,215], người đã “thổi một luồng gió mới vào thế giới truyện ngắn Mỹ, và ngay lập tức trở thành một bậc thầy về hình thức” (Philadelphia Inquire) [17,trang bìa cuối] có nhiều ảnh hưởng đến văn chương đương đại thế giới Là nhà văn của khuynh hướng tối giản (“minimalism”, còn được dịch là chủ nghĩa cực hạn, chủ nghĩa thiểu tố), Carver nhất quán với lối viết nghệ thuật đơn giản hóa tới mức tối đa và hết sức kiệm lời trong trần thuật Trong văn học, nhờ có ông mà “khái niệm cực hạn được dùng rộng rãi” (Lê Huy Bắc) và truyện của ông được xem là “cuốn ngụ ngôn cho cả thập kỉ
này” (Jayne Anne Phillips, New York) Nghiên cứu sáng tác của Raymond Carver
làm sáng tỏ hơn về khuynh hướng văn chương tối giản và góp phần minh định vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học thế giới
Đã có nhiều công trình nghiên cứu sáng tác văn chương của Carver trên thế giới, nhưng đi sâu xem xét và nghiên cứu truyện ngắn của ông từ góc nhìn của nghệ thuật phi trung tâm - một trong những lí thuyết cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, đến nay vẫn còn là khoảng trống Đề tài nghiên cứu truyện ngắn cực hạn của Carver dựa trên những định đề của lí thuyết hậu hiện đại và nền tảng của khuynh hướng tối giản sẽ là hướng tiếp cận có tính khoa học và có tính thực tiễn cao Mặc dù, Carver chưa bao giờ và không thích nhận mình là “nhà văn của chủ nghĩa tối giản”, song sáng tác của ông là minh chứng hiển nhiên không thể chối cãi cho khuynh hướng tối giản qua những nguyên tắc đặc trưng Vì vậy, đề tài của luận án góp thêm một hướng tiếp cận và nghiên cứu về tác phẩm của Raymond Carver
Kế thừa truyền thống nghệ thuật kể chuyện của A Chekhov, E Hemingway,… Raymond Carver đem lại một hình thức tự sự mới cho văn học Mỹ nửa sau thế kỷ
XX Bằng lối viết của khuynh hướng tối giản kết hợp với nguyên lí phi trung tâm, Carver xóa bỏ đặc tính một trung tâm duy nhất trong văn học trước đây, kiến tạo những trung tâm mới trên nhiều phương diện nghệ thuật, từ nhân vật, điểm nhìn cho đến cốt truyện,… tạo ra phong cách nghệ thuật độc đáo của riêng ông, góp phần làm nên tính chất dân chủ hóa trong đời sống văn chương Từ đó, tác giả đem lại cơ hội cho bạn đọc nhập cuộc và nhận ra một diễn ngôn mới của nước Mỹ dưới “thời đại
Trang 8Reagan”, những hoài nghi, bất ổn, những nguy cơ và sự tan vỡ “giấc mơ Mỹ” mà con người hậu công nghiệp đang hàng ngày, hàng giờ đang phải đối mặt và tìm kiếm lối đi
Ở Việt Nam, việc giới thiệu và nghiên cứu Carver cũng như tác phẩm của ông chưa nhiều Cho đến nay, ngoài một số luận văn thạc sĩ, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào xem xét truyện ngắn Carver từ những đặc trưng
cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại Hơn nữa, trong nhà trường hiện nay, nhất là trường đại học, việc tiếp cận với những vấn đề mới của văn học như văn học hậu hiện đại bên cạnh cơ hội bổ sung kiến thức, trau dồi hoạt động nghiên cứu khoa học, tích lũy kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy đang là một nhu cầu cần thiết Nghiên cứu truyện ngắn của một trong số các nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu như Raymond Carver, ở một phạm vi nhất định, đề tài sẽ đóng góp được nhu cầu trên
Tất cả những lí do trên là căn cứ khoa học cho phép chúng tôi thực hiện đề
tài: Phi trung tâm trong truyên ngắn Raymond Carver
2 Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, Luận án đặt ra những mục đích cơ bản sau đây:
2.1 Chỉ ra một cách hệ thống những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật phi
trung tâm, về sự tan rã của kiểu nhân vật trung tâm, nghệ thuật phân tán điểm nhìn
và phân mảnh cốt truyện trong truyện ngắn của Raymond Carver
2.2 Nhận diện những đóng góp của nghệ thuật phi trung tâm trong truyện
ngắn Raymond Carver trong xu hướng dân chủ hóa văn chương thế giới và cảm quan thời đại của sự đổ vỡ những “giấc mơ Mỹ dưới thời Reagan”, không những tạo ra dấu ấn riêng cho nhà văn mà còn góp phần làm nên diện mạo của văn học Mỹ nửa sau thế kỷ XX
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung tìm hiểu nghệ thuật phi trung tâm trong truyện ngắn của
Raymond Carver dựa trên ba phương diện: nhân vật, điểm nhìn và cốt truyện
3.2 Phạm vi tác phẩm nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyện ngắn của Raymond Carver Những
trích dẫn tác phẩm đưa vào luận án được chúng tôi trực tiếp dịch từ cuốn Raymond Carver (2009), Collected stories (Will you please be quiet, please?, What we talk
Trang 9about when we talk about love, Cathedral, Stories from Furious seasons, Fire and Where I`m calling from, Beginners, Other stories and Selected Essays), The Library
of America (gồm 82 truyện ngắn và 4 tiểu luận), tham khảo một số bản dịch Em làm
ơn im đi được không? (Lâm Vũ Thao dịch (2012), Nxb Văn học), Mình nói chuyện
gì khi mình nói chuyện tình (Dương Tường, Nguyễn Hạnh Quyên dịch (2012), Nxb Văn hoá Sài Gòn), Thánh đường (Phạm Minh Điệp dịch (2013), Nxb Văn học), một
số truyện ngắn được tuyển chọn trong Truyện ngắn Hậu hiện đại thế giới (Nxb Hội
nhà văn, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 1999)
4 Phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận: Chúng tôi dựa vào nền tảng lí thuyết phê bình
giải cấu trúc trong mối tương quan với mĩ học hậu hiện đại để triển khai đề tài
* Các phương pháp cụ thể: Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng phối hợp
các phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp lịch sử - loại hình: dùng để khảo sát sự hình thành và vận
động của lý thuyết truyện ngắn hậu hiện đại, đặc trưng và các quan niệm riêng của các nhà lý luận và Raymond Carver trong các lĩnh vực triết học, văn học, và các phương diện nghệ thuật trần thuật
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: dùng để tìm hiểu, nghiên cứu một cách
hệ thống các mô hình trần thuật phi trung tâm như nhân vật, điểm nhìn và cốt truyện theo nguyên tắc hậu hiện đại của Raymond Carver
- Phương pháp văn hóa - lịch sử: dùng để khảo sát quá trình hình thành
truyện ngắn Raymond Carver (điều kiện triết học, kinh tế - xã hội, văn hóa - nghệ thuật) và nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc trong truyện ngắn Raymond Carver
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: dùng để nghiên cứu những tương đồng
và riêng biệt trong tư duy nghệ thuật truyện ngắn Raymond Carver với tác giả văn xuôi theo xu hướng cổ điển, hiện đại và hậu hiện đại trong văn học thế giới
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: dùng để nghiên cứu những biểu hiện
làm nên giá trị nội dung cũng như hình thức nghệ thuật các tác phẩm của Carver
5 Đóng góp của luận án
5.1 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu truyện ngắn của Raymond Carver
- một nhà văn của khuynh hướng cực hạn dưới góc nhìn của lí thuyết phi trung tâm,
từ đó chỉ ra xu hướng dân chủ hóa trong lối viết truyện ngắn làm nên sức hấp dẫn
Trang 10của văn chương Mỹ những thập niên cuối thế kỉ XX và có sức lan tỏa đến văn chương đương đại thế giới ở ba bình diện lớn: nhân vật phi trung tâm, nghệ thuật phân tán điểm nhìn và phân mảnh cốt truyện
5.2 Từ việc nghiên cứu nghệ thuật phi trung tâm trong truyện ngắn của
Carver, luận án chỉ ra sự tương tác hai chiều giữa sáng tác và cảm quan thời đại Phi trung tâm không chỉ làm nên diện mạo, đặc trưng phong cách nghệ thuật của Carver
mà hơn thế, nó góp phần làm nên diễn ngôn về “mặt trái của nước Mỹ dưới thời Reagan”, một nước Mỹ “ngập ngụa trong sự phân hủy, bế tắc, mất niềm tin và những đổ vỡ” Từ đó, hình ảnh nước Mỹ - trung tâm một thời của thế giới, giấc mộng của con người Mỹ những thập niên cuối thế kỷ XX được thay thế bằng hành trình kiếm tìm một thế giới mới, thế giới của những cái bình dị, đời thường
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành bốn chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Phi trung tâm nhân vật
Chương 3 Phân tán điểm nhìn
Chương 4 Phân mảnh cốt truyện
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Raymond Carver là nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ trong phạm vi nước Mỹ thế kỉ XX mà đến nay, sáng tác cũng như cuộc đời, tiểu sử của ông vẫn tiếp tục gây nhiều tranh cãi và là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều nước Tuy nhiên, do điều kiện sưu tầm cũng như khả năng tập hợp, xử lí tư liệu nên bước đầu chúng tôi mới chỉ khảo sát được một số tài liệu nhất định dưới đây
1.1 Những nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm
1.1.1 Nghiên cứu về lí thuyết phi trung tâm ở nước ngoài
Khái niệm hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại, đến nay, không còn mới
mẻ, tuy vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng không thể phủ nhận sự tồn tại của chúng là
có thật Từ Jean-François Lyotard (1924-1998) với Hoàn cảnh hậu hiện đại, J Derrida (1930-2004) với Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn các khoa học nhân văn cho đến Liviu Petrescu (1941-1999) với Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại đã được bàn luận một cách thấu đáo và hệ thống từ
hoàn cảnh ra đời cho đến những vấn đề về thuật ngữ, thi pháp
Không phải ngay từ đầu, khi khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xác lập
thì các khái niệm mang tính định đề như phi trung tâm, liên văn bản, đa trị, trò chơi cũng xuất hiện Trải qua quá trình phân tích, chứng minh trên nhiều bình
diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, thông tin, công nghệ, nghĩa là có sự tác động tổng hợp nhiều yếu tố, các nhà nghiên cứu hậu hiện đại đã rút ra được những khái niệm mang tính bản chất nhất, đặc thù nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại Nhà
nghiên cứu hậu hiện đại quan niệm thế giới là một khối hỗn độn (chaos) Các sự vật,
hiện tượng đan bện, gắn kết vào nhau, chúng tồn tại không theo một trật tự nào mà
mang tính ngẫu nhiên (contigency) Thừa nhận có sự tồn tại hỗn độn ấy nghĩa là
thừa nhận sự xuất hiện có tính ngẫu nhiên Do vậy, không có gì là trung tâm hoặc có
xu hướng trở thành trung tâm trong thế giới ấy Và đặc tính “phi trung tâm” ngay lập tức có mặt, thế chân cho tính “trung tâm” vốn tồn tại trong quan niệm trước kia
Đặc biệt, nguyên tắc trò chơi xuất hiện chính thức loại bỏ quan niệm cấu trúc có tính trung tâm - được trung tâm hoá, đồng thời xác lập sự tồn tại của khái niệm phi trung tâm bên cạnh khuynh hướng từ bỏ quan niệm tổng thể của tác
phẩm và xác lập quan niệm mới về tính đa trị của văn bản cùng một số nguyên tắc
Trang 12đặc thù khác của chủ nghĩa hậu hiện đại như: mảnh vỡ (phân mảnh), hỗn độn, hư
vô, rễ chùm Chặng mốc này có thể được xem là một cuộc cách mạng của chủ
nghĩa hậu hiện đại về nhận thức cũng như trong lí luận và khơi mở cho thực tiễn tiếp nhận văn bản sau này
Khái niệm “trung tâm” vốn xuất hiện trong chủ nghĩa cấu trúc như là một sự định danh, định tính của chủ nghĩa hiện đại J Derrida cho rằng: “trung tâm là phần cốt lõi có tính chất sinh tử của mọi hệ thống: đó là nơi mà chúng ta sẽ không có một phương cách nào thay thế nếu bị khiếm khuyết Tại trung tâm, một nhân tố duy nhất
có thể hiện hữu là yếu tố trung tâm: không có bất cứ một thành tố nào trong hệ thống có thể thay thế được nó - trung tâm bao giờ cũng mang tính tuyệt đối” (Dẫn lại theo Lã Nguyên) [172] Từ việc phân tích đặc điểm của vai trò trung tâm trong
hệ thống thần học Thiên Chúa giáo La Mã (lấy Thượng Đế làm minh hoạ) cho đến khuôn mẫu của lí thuyết ngôn ngữ Saussure, Derrida đi đến kết luận: “trung tâm của một hệ thống là yếu tố không có giá trị tương đương và không có bất cứ một yếu tố nào trong hệ thống có thể thay thế hay hoán đổi, nó là khởi thuỷ và cũng là chung cục cho mọi yếu tố trong hệ thống quy chiếu đến” Từ đó, ông chỉ ra, “trung tâm là một phần tạo nên hệ thống mà không thuộc về hệ thống, không phải là một thành
phần của tính toàn thể, tính chất trung tâm tự bản chất của nó đã bị phi trung tâm hoá (decentralization) (Bằng chứng là Thượng Đế sáng tạo thế giới và vũ trụ, điều
hành vũ trụ nhưng không phải là một yếu tố của vũ trụ) Thậm chí là “không thể và không bao giờ có một hệ thống lí thuyết mang tính chất toàn trị vì trong bất cứ một
hệ thống nào cũng đều có những nhân tố tự do vượt thoát ra ngoài sự chi phối của trung tâm mà ông gọi đó là trò chơi của ngôn ngữ (play of language)” [171]
Derrida đã tư duy về “trò chơi” từ phía không hiện hữu, phi trung tâm Ông viết: “Đã đến lúc phải nghĩ rằng không có trung tâm nào cả, không thể hình dung
về trung tâm trong hình thức của một hữu thể hiện hữu, trung tâm không phải là thứ tự nhiên, cũng không phải một tiêu điểm cố định mà là một chức năng, một phi tiêu điểm (nonfocus) cho phép vô số sự thay thế của các kí hiệu hoạt động Đó chính là lúc ngôn ngữ xâm lấn khắp cái phổ quát, là lúc mà, trong sự vắng mặt của một trung tâm hay nguồn gốc, mọi sự đều trở thành diễn ngôn - giả định như chúng ta có thể đồng ý về từ này - nghĩa là, một hệ thống, trong đó, cái được biểu đạt trung tâm, cái được biểu đạt khởi nguyên hay siêu nghiệm không bao giờ nằm hoàn toàn bên ngoài một hệ thống của những khác biệt Sự vắng mặt của cái được
Trang 13biểu đạt siêu nghiệm đã mở rộng phạm vi và trò chơi của sự biểu đạt nghĩa đến vô tận” [Dẫn lại 15,119-120]
Tiếp đến, trong Cấu trúc, kí hiệu và trò chơi trong diễn ngôn các khoa học nhân văn (Structure Sign and Play in the Discourse of Human Sciences), từ việc
nhận thấy trung tâm vừa chi phối cấu trúc đồng thời vừa thoát khỏi cấu trúc tính, J Derrida viết: “Trung tâm là điểm mà tại đó sự thay thế các nội dung, các thành tố hoặc các thuật ngữ không còn có thể nữa Tại trung tâm, phép hoán vị của sự thay đổi các thành tố (dĩ nhiên chúng có thể là những cấu trúc bao bọc bên trong một cấu trúc) bị ngăn cấm Ít nhất, phép hoán vị này luôn chứa đựng cái bị ngăn cấm Vì thế,
nó có thể được cho là, trung tâm được tạo nên từ sự xác định duy nhất là ngay chính cái ở bên trong một cấu trúc mà nó trong khi thống trị cấu trúc thì vượt thoát ra khỏi cấu trúc Điều này cắt nghĩa vì sao quan điểm cổ điển về cấu trúc cho rằng: thật nghịch lí, trung tâm ở bên trong cấu trúc và bên ngoài nó Trung tâm nằm tại trung tâm của tổng thể (không phải là một phần của tổng thể), tổng thể có trung tâm của
nó ở một nơi nào khác” Từ đó, Derrida đi đến khẳng định: “Trung tâm không phải
là trung tâm” (“Center is not the center”) [93,279] Khi ông đưa ra tiên đề (axiomatic) này, thực chất là cách ông khẳng định một điều trở thành hiển nhiên, không có “trung tâm” mà luôn là “phi trung tâm” Do vậy, phần cuối cùng ở trang này, J Derrida tiếp tục nhấn mạnh: “toàn bộ lịch sử của khái niệm cấu trúc phải được coi như là một chuỗi những thay thế của trung tâm cho trung tâm” (“the entire history of the concept of structure must be thought of as a series of substitutions of center for center”) [93,279] Và khi đề cập đến sự cần thiết phải giải trung tâm trong cấu trúc, J Derrida đã mở rộng khái niệm và vai trò của “trung tâm”, trong lịch sử
tư duy phương Tây: “Chức năng của trung tâm không chỉ là định hướng, giữ cân bằng, và tổ chức cấu trúc - cái không thể hình thành một cấu trúc không được tổ chức trong thực tế - mà hơn hết, nó tạo ra một sự chắc chắn rằng những nguyên tắc
tổ chức của một cấu trúc sẽ giới hạn những gì chúng ta vẫn gọi là trò chơi tự do của
cấu trúc” [93,278] Và Derrida phân biệt đặc thù của chủ nghĩa hiện đại là sự đồng
nhất của trung tâm bằng tư tưởng về chủ thể hay tư tưởng về tác giả thì đến chủ nghĩa hậu hiện đại là khuynh hướng giảm thiểu vai trò sáng tạo của tác giả trong tính độc đáo của văn bản văn học, dẫn tới tuyên bố sự biến mất của người kể chuyện Đồng thời, Jacques Derrida khi phê phán cơ sở của chủ nghĩa cấu trúc dựa vào nền tảng một trung tâm đã chỉ ra những hạn chế của quan niệm một trung tâm
Trang 14đối với trò chơi tự do, và tác giả so sánh, theo chủ nghĩa cấu trúc, trung tâm là không thể thay thế được, là “sự đóng khung” mang tính bền vững và giới hạn những khả năng của “trò chơi tự do” (“free play”), trong khi đó, thực tế là, ông chứng minh một trung tâm đã được thay thế cho một trung tâm khác, từ đó tạo nên sự thay
rộng ra có thể là nhân vật, tác giả, bạn đọc ) với việc “loại bỏ hoặc thay đổi chủ thể
cá nhân con người, chẳng hạn như tác giả của một văn bản khỏi một vị trí chính hoặc khỏi vai trò trung tâm” [184] Cũng có ý kiến cho rằng: “Tuy vậy, phi trung tâm hậu hiện đại được xác định không phải bằng sự vắng mặt của tất cả trung tâm
mà bằng đa trung tâm như là sự nổi bật của nhiều trung tâm và sự khẳng định trung tâm này hoặc trung tâm khác, bao gồm những nhóm và khu vực trước đây được xem là thứ yếu” [183]
Trong Encyclopedia of Contemporary Literary Theory: Approaches, Scholars, Terms (Bách khoa toàn thư về lí thuyết văn học đương đại: trường phái, học giả và thuật ngữ), khái niệm phi trung tâm không được định nghĩa riêng biệt
mà được đưa ra trong sự đối sánh với khái niệm “trung tâm”, như sau: “Mỗi xã hội
có xu hướng nhận thức hiện thực theo những cách ít hoặc nhiều mạch lạc và duy trì những giá trị hệ thống và giá trị mang tính hệ thống phổ quát Những giá trị này tạo thành các nền tảng hoặc các trung tâm của nó và thường được xem như những cấu trúc bền vững, là một phần của một hệ thống đóng kín Nếu giả định có sự tồn tại của một trung tâm, thì những cách nhận diện khác về hiện thực và những giá trị khác hẳn là phải bị bỏ qua, bị đàn áp hoặc bị loại ra ngoài lề Nói cách khác, hiện thực và giá trị (hiện tồn) không mang tính phổ quát mà phụ thuộc vào quan điểm văn hóa, xã hội, kinh tế, và chính trị đặc thù Thông qua việc xem xét lại theo các quan điểm này, một trung tâm đang tồn tại có thể trở nên bất ổn, bị biến chất, bị giải cấu trúc, tức là bị phi trung tâm” [127,518]
Xuất phát từ quan điểm nhìn nhận cấu tạo của một xã hội không phải chỉ có
Trang 15một nền tảng, một trung tâm mà là tầng tầng lớp lớp các khả năng trung tâm cùng tồn tại và hoàn toàn có thể chi phối lẫn nhau, nhà nghiên cứu đã khẳng định sẽ không có sự tồn tại của một trung tâm duy nhất khi con người sống trong trung tâm
đó nhận diện lại mọi thứ, về hiện thực cũng như về các giá trị đang được tôn thờ Vẫn trong phần trình bày này, tác giả còn chỉ rõ: “Phê bình hậu cấu trúc xem việc phi trung tâm các giá trị và các quan điểm trong văn học và trong các ngữ cảnh khai sinh ra nó như là nhiệm vụ cốt tử của nó” [127,518]
Và ngay sau đó, để làm rõ hơn quan điểm phi trung tâm, cuốn sách còn dẫn
quan điểm của Michel Foucault, “không có trung tâm mà luôn có những hành động giải trung tâm, là chuỗi hành động ghi nhận sự chuyển tiếp ngập ngừng từ hiện hữu sang vắng mặt, từ thừa thãi sang thiếu hụt” [127,518]
Từ đó, có thể hiểu, khái niệm phi trung tâm là sự phủ nhận quan niệm tồn tại
một trung tâm trước đó và khẳng định, tồn tại xã hội, hay tồn tại văn học lẫn các ngữ cảnh luôn được xác lập bởi đặc tính “phi trung tâm” bởi trong một hệ thống các giá trị, bản thân chúng đã có nhiều trung tâm tồn tại và chiếm giữ chức năng như nhau, chưa kể đến hệ thống ấy lại cũng mới chỉ là một phần của một hệ thống khác
có vai trò tương đương hoặc rộng lớn hơn
Trong cuốn A Dictionary of Literary and Thematic Terms (Từ điển thuật ngữ theo chủ đề và văn học) của Edward Quinn có mục “center / decenter” đã đưa ra sự
đối sánh giữa hai khái niệm này như sau: “Đây là những thuật ngữ cơ bản trong giải cấu trúc và chủ nghĩa hậu cấu trúc Theo những lí thuyết này, “trung tâm” là một nền tảng vững chắc dựa trên một sự nhận thức, một quan niệm, hoặc đơn giản là một trật tự các từ Nhiệm vụ của chủ nghĩa hậu cấu trúc là chỉ ra “trung tâm” này không phải là một điều kiện tự nhiên như thế nào mà là một cấu trúc xã hội có nguồn gốc trong một hệ thống nhị nguyên của những thuật ngữ đối lập, trong đó thuật ngữ này có sức mạnh hơn thuật ngữ kia, ví dụ, sự thiên vị mang tính truyền thống coi trọng nam hơn nữ hoặc văn nói hơn văn viết
Trong sự phân tích những giá trị này, chủ nghĩa hậu cấu trúc cố gắng phi trung tâm chúng, phá bỏ chúng từ địa vị cao của chúng như là một chân lý “để nó ra
đi mà không cần phải nói” Mặc dù, vấn đề phi trung tâm, một lần nữa bắt đầu mà
không có sự kết thúc, bởi vì nó không thể giản đơn là sự thay đổi vị trí một trung tâm này sang một trung tâm khác Vì thế, giải cấu trúc của văn bản văn học là sự vô
Trang 16tận, nó không bao giờ đạt tới SỰ KẾT THÚC (CLOSURE), mà chỉ sự bế tắc có đặc điểm giống như SỰ KHÓ KHĂN NAN GIẢI ” [139,70-71]
Tiếp đó, tác giả còn khẳng định: “Tác nhân của trung tâm/phi trung tâm không phải là tính trung tâm truyền thống nội tại, mà là chủ thể phi trung tâm, người mà không có sức mạnh mà cũng không tự do” [139,71]
Căn cứ vào những nguồn tư liệu trên, chúng tôi nhận thấy, tất cả các tác giả
đều khẳng định phi trung tâm là nguyên tắc nổi trội của chủ nghĩa hậu hiện đại
Song, cụ thể, nguyên tắc này được biểu hiện trên những phương diện nào trong văn bản thì chưa thấy được đề cập tới Có lẽ, không có ngoại lệ cho những biểu hiện được gắn với khái niệm “trung tâm” trước kia như nhân vật, nhà văn, bạn đọc, cốt
truyện, điểm nhìn Do đó, khi đối lập với nguyên tắc “trung tâm”, nguyên tắc phi trung tâm phủ nhận các biểu hiện trước đó đã có, nghĩa là sẽ có phi trung tâm nhân
vật, phi trung tâm tác giả (phi trung tâm điểm nhìn, giọng điệu, ngôi kể ), phi trung tâm bạn đọc, dẫn tới tính đa trị khi tiếp nhận văn bản tác phẩm
1.1.2 Nghiên cứu về phi trung tâm ở Việt Nam
Tác giả Phương Lựu phân biệt rất sáng rõ khái niệm hậu hiện đại, tính hậu
hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại trong cuốn Lý thuyết văn học hậu hiện đại
“Hậu hiện đại là một khái niệm lịch sử xã hội, có ý kiến cho đó là xã hội hậu công nghiệp hoặc xã hội thông tin xuất hiện sau Thế chiến II, có người cho đó là một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản phát triển Tính hậu hiện đại chỉ tính đặc trưng của thời kì hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu văn hóa kết tinh những đặc trưng của xã hội hậu hiện đại” [40,56] Ở Việt Nam, nếu khái
niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại có sự định hình ổn định hơn thì khái niệm phi trung tâm tuy không nhiều nhưng đã được một số nhà nghiên cứu bàn tới Một
trong những người đầu tiên nghiên cứu khá sâu về “hiện tượng phi trung tâm
hóa” là tác giả Lê Huy Bắc Từ năm 1999, công trình Ernest Hemingway - Núi băng và hiệp sĩ của ông khi tìm hiểu về kiểu nhân vật trung tâm (phần hai) đã
dành toàn bộ chương hai (54 trang) để làm rõ kiểu nhân vật trung tâm và hiện
tượng phi trung tâm hóa trong sáng tác của Hemingway Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới hai vấn đề mà cuốn sách đưa ra: Một là, tác giả khẳng định trước Hemingway, hiện tượng phi trung tâm đã có từ truyện ngắn của A Chekhov, tiểu thuyết Nông dân của O Balzac, Tội ác và hình phạt của Dostoievski, sau Hemingway có Trăm năm cô đơn của Marquez, Sự bất tử của Kundera, Ulysses
Trang 17của J Joyce, Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner,… “chứng tỏ phi trung tâm
nhân vật là một trong những nét thi pháp được nhiều nhà văn thế kỉ XX kế thừa
và phát huy” [6,180] nhưng điểm khác nhau giữa phi trung tâm thế kỉ XX với
trước kia là, đến thế kỉ XX, “dung lượng các tác phẩm thường ngắn” [6,179] Trong đó, với “kiểu nhân vật trung tâm gắn với ngôn từ đối thoại, Hemingway xứng đáng là một trong những bậc thầy của nghệ thuật phi trung tâm” [6,181]
Hai là, về khái niệm phi trung tâm, công trình khẳng định: “việc tăng nhân vật
trung tâm trong một tác phẩm nhìn từ góc độ khác ta có thể xem đấy chính là hiện tượng phi trung tâm hóa nhân vật trong văn chương” [6,178]
Sau này, Lã Nguyên, trong bài viết Giải cấu trúc luận theo cách hiểu của tôi,
diễn đạt và thâu tóm lại một cách dễ hiểu và khái quát Ông không đưa ra khái niệm
mà chỉ ra: “Quan điểm hiện đại đề cao tư duy lí tính, tinh thần hợp lí và nguyên tắc
“hướng tâm”, “tập quyền” Quan điểm giải cấu trúc luận, hậu hiện đại đề cao nguyên tắc “phi trung tâm”, nguyên tắc “tản quyền” không thể nào có một hệ thống tri thức theo kiểu bách khoa, tổng hợp vừa toàn diện lại vừa nhất quán Tri thức chỉ có thể là những “mảnh”, những “trích đoạn” của vô số ngữ cảnh văn hoá mang tính cục bộ” [171]
Tiếp đến, vào năm 2012, trong chương bốn của cuốn Văn học hậu hiện đại
- lí thuyết và tiếp nhận, Lê Huy Bắc tuy không bàn tới khái niệm phi trung tâm
nhưng tiếp tục chỉ ra rằng: “Hemingway là bậc thầy của nghệ thuật phi trung tâm hoá Trong sáng tác của mình, Hemingway đi ngược lại truyền thống hiện đại khi ông dành số trang rất ít để kể về nhân vật chủ chốt Toàn bộ truyện, ông dành cho một câu chuyện hấp dẫn nhưng chủ đích của ông không nằm ở nội dung được kể
mà nằm trong sự quan sát từ một nhân vật khác trong truyện Nhân vật này sau đó hiện lên với tư cách là “trung tâm”, đầu mối của mọi suy luận về nghĩa của truyện” [14,50] Nghĩa là, tác giả khẳng định có hơn một nhân vật trung tâm tồn tại trong tác phẩm Hướng phân tích này gợi mở và định hướng cụ thể cho chúng tôi khi triển khai lí luận phi trung tâm vào thực tiễn tiếp nhận tác phẩm
Đến năm 2013, bản chất của khái niệm này tiếp tục được Lê Nguyên Cẩn đề
cập trong bài viết Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại như sau: “phi
trung tâm hoá nghĩa là tạo ra nhiều trung tâm, mỗi nhân vật trong tác phẩm trở thành một trung tâm của một câu chuyện nào đó; giữa các câu chuyện này có thể hoặc không có mối liên hệ nào và không có khả năng kết hợp lại với nhau; tất cả tạo
Trang 18thành mảnh vỡ được khớp nối theo sở thích của tác giả Vì thế, khi đọc tác phẩm hậu hiện đại, người đọc sẽ phải phiêu lưu trôi dạt theo các mảnh vỡ mà không nắm bắt được câu chuyện vả lại cũng không có một câu chuyện nào theo mô hình kể chuyện truyền thống được đưa ra ở đây” [48,18] Và như vậy, theo tác giả, trong
văn học, chỉ khi nào vừa có phi trung tâm vừa có mảnh vỡ thì khi ấy mới tạo ra dấu
ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại Cách giải thích cụ thể, dễ hiểu này thực sự hữu ích giúp chúng tôi thông tỏ hơn bản chất của khái niệm
Theo Lê Văn Trung, trong bài Nhân vật hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986, “phi trung tâm hóa nhân vật nghĩa là trong tác phẩm, đôi khi người
đọc khó xác định được đâu là nhân vật trung tâm, hoặc cùng một lúc xuất hiện nhiều nhân vật có khả năng trung tâm đứng cạnh nhau, đối thoại nhau Mỗi nhân vật phải gánh vác một hoặc nhiều chủ đề chính” [45,92]
Tóm lại, khi nghiên cứu về khái niệm phi trung tâm, cho đến nay, các công
trình nghiên cứu thường quy về bốn phương diện cơ bản:
1 Làm rõ khái niệm phi trung tâm (có nhiều trung tâm) và chỉ ra sự gắn kết
của nó với tính đa trị và đa chủ đề trong tác phẩm
2 Hiện tượng phi trung tâm mới được xem xét ở phương diện nhân vật và
phương diện này đã có từ các tác phẩm văn chương thế kỉ XIX chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết, ngoại trừ thể loại truyện ngắn có Chekhov
3 Gắn với xu hướng phi trung tâm ở thế kỉ XX là đặc tính: dung lượng tác
phẩm ngắn và chủ yếu ở những tác phẩm có lời đối thoại chiếm ưu thế
4 Khẳng định nguyên tắc phi trung tâm chỉ trở thành dấu ấn riêng của chủ nghĩa hậu hiện đại khi nó gắn liền với nguyên tắc mảnh vỡ (theo tính chất sóng đôi)
1.1.3 Những vấn đề đặt ra
Dựa vào tất cả những khảo cứu trên, theo chúng tôi, phi trung tâm là hiện tượng phân tán trung tâm (phá vỡ chỉnh thể, không có tính đồng nhất, nguyên phiến) để tạo thành các trung tâm mà mỗi trung tâm mang một nghĩa độc lập, có sức sống nội tại và có khả năng tương tác với nhau
Từ đó, vấn đề đặt ra là, đa trung tâm có phải là phi trung tâm không? Khi trao đổi Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại, Lê Nguyên Cẩn khẳng
định: “Các nhà hậu cấu trúc dùng cách diễn giải phá hủy (destructif), chẳng hạn, J Derrida thay tư tưởng về một trung tâm bằng sự phi trung tâm hóa, chỉ ra khả năng không thể tích hợp lại của sự vật hiện tượng, trong khi đó các nhà giải thích học
Trang 19đưa ra cách giải thích xây dựng (constructif), tạo ra đa trung tâm (le pluricentrisme) nghĩa là các trung tâm đều tồn tại đồng thời, không loại trừ nhau… Chủ nghĩa hậu hiện đại tiếp nối sửa chữa các “khiếm khuyết” bằng các đặc điểm trái ngược,
mà đầu tiên là quan niệm về giải trung tâm hóa mà không phải là giải cấu trúc
hóa” [45,12] Theo đó, đa trung tâm hay phi trung tâm là cách gọi tên khái niệm
của các nhà nghiên cứu theo những hướng nghiên cứu khác nhau Về bản chất,
chúng có điểm giao thoa Theo chúng tôi, đa trung tâm là phi trung tâm khi nó có khả năng tương tác Về nguyên tắc, muốn tạo nghĩa phải có trung tâm, do đó, vấn
đề phi trung tâm không phải là phủ nhận trung tâm mà nó hướng tới một hoặc nhiều trung tâm mới
Cũng liên quan đến cách dịch khái niệm, chúng tôi xin được làm rõ thêm vấn đề lựa chọn từ dùng làm khái niệm trong luận án Những Từ điển mà chúng
tôi hiện có và tham khảo (A Dictionary of Literary and Thematic Terms (Từ điển thuật ngữ theo chủ đề và văn học) của Edward Quinn, Postmordern terms - Absence to Curtain Wall (Thuật ngữ hậu hiện đại - Sự thiếu vắng vách ngăn), Encyclopedia of Contemporary Literary Theory: Approaches, Scholars, Terms (Bách khoa toàn thư về lí thuyết văn học đương đại: trường phái, học giả và thuật ngữ), Từ điển Oxford đều sử dụng khái niệm decenter Đáng chú ý là, khái niệm decenter được dùng trong các Từ điển thuật ngữ hầu hết đều được đặt trong tương quan so sánh: center và decenter với mục đích chỉ rõ xu hướng dịch chuyển khái niệm này trong nghiên cứu phê bình văn học Center vốn được dùng với chức
năng từ loại vừa là danh từ vừa là động từ, cho nên chúng tôi cho rằng, trong mối
tương quan giữa chúng, khi thêm tiền tố de vào trước danh từ/động từ center thì decenter được sử dụng với chức năng vừa là động từ vừa có thể được hiểu như
danh từ Do đó, trong luận án, chúng tôi thống nhất cách lựa chọn thuật ngữ
decenter cho cả hai cách sử dụng từ loại này
Hai là, decenter nên dịch là phi trung tâm hay giải trung tâm? Thực ra, cách
chuyển dịch nghĩa từ tiếng Anh sang tiếng Việt, chúng tôi nghĩ, bản chất thuật ngữ không thay đổi, chỉ là cách chuyển dịch tên gọi sang tiếng Việt Bấy lâu, ở Việt
Nam, vẫn dịch deconstruction là giải cấu trúc hoặc “cái chết của chủ thể còn được các nhà nghiên cứu gọi là phản chủ thể, phi tôi, giải tôi” [2,26], nghĩa là giải được dùng giống như phi… Các nhà hậu hiện đại, khi đề xuất các định đề triết học của mình, “thường sử dụng với số nhiều thậm phồn, đa (hyper, multy) như đa nguyên,
Trang 20đa trị, đa điểm nhìn… Và đương nhiên để phát lộ được những cái đa đó, cần phải xuất hiện một phạm trù giải, đả phá (tiếp đầu ngữ de, giải cấu trúc, giải trung tâm,…), hiệu quả kéo theo là những cái độc tôn đều chết (dead, cái chết của tác giả,
cái chết của chủ thể…) Đặc tính phi trung tâm xuất hiện” [14,35-36] Theo cách
lí giải này, giải trung tâm là một phạm trù, còn phi trung tâm là đặc tính Chúng tôi nhận thấy, ranh giới trong cách dịch tiền tố de là phi hay giải thực ra cũng
chưa hoàn toàn phân định một cách rõ ràng, đôi khi, chúng vẫn được dùng theo
nghĩa tương đương, có thể thay thế cho nhau Vì vậy, theo chúng tôi, tiền tố de trong decenter có thể được dịch là phi hoặc giải cùng hiểu theo nghĩa, chúng
không phải là sự phủ nhận mà là xóa bỏ tính duy nhất của một trung tâm để thay thế và xác lập thêm những trung tâm mới Trong luận án, chúng tôi thống nhất
cách gọi là phi trung tâm
Như vậy là, khi bàn về phi trung tâm, ngoài việc làm rõ khái niệm, cách hiểu
(có thể được hiểu là tạo ra nhiều trung tâm cùng tồn tại song hành trong tác phẩm, không chỉ phi trung tâm về nhân vật mà còn về nhiều các phương diện nghệ thuật
khác như cốt truyện, giọng điệu, điểm nhìn, tác giả, bạn đọc ) thì cần thấy được phi trung tâm cùng với tính chất mảnh vỡ tạo nên dấu ấn đặc trưng của chủ nghĩa hậu
hiện đại Vấn đề này được manh nha từ thế kỉ XIX nhưng thực sự đến thế kỉ XX, nó mới được cắt nghĩa rõ nét trên nền tảng của các định đề triết học, chính trị, xã hội, kinh tế… Và sự phát triển của nó cũng mang những dấu ấn mới (dung lượng, mức
độ phổ biến - trở thành một xu hướng, khả năng tiếp nhận…)
1.2 Những công trình nghiên cứu về Raymond Carver
1.2.1 Nghiên cứu về Raymond Carver ở nước ngoài
Trên thế giới, nhiều công trình cung cấp cái nhìn toàn diện và hệ thống về Raymond Carver, từ cuộc đời cho đến tác phẩm của ông trên nhiều bình diện khác nhau
Từ góc độ tiểu sử học, William Stull, giáo sư Đại học Hartford, chuyên gia
về Raymond Carver ở Mỹ đã giới thiệu tương đối đầy đủ về con người, cuộc đời, sự nghiệp, khuynh hướng, phương pháp sáng tác và những nỗ lực cách tân nghệ thuật
của nhà văn qua tiểu luận Raymond Carver: Biographical Essay (Tiểu luận tiểu sử Raymond Carver) Bài này, ban đầu, được công bố trên Từ điển tiểu sử văn học, cho
đến nay được coi là cuốn tiểu sử chính xác nhất về Carver Sau này, khi tái bản
cuốn Tuyển tập truyện ngắn của Carver, năm 1999, phần cuối tuyển tập là 62 trang
viết của William L Stull và Maureen P Carroll về tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp
Trang 21của nhà văn (từ trang 957 – 1019) hết sức cụ thể, giúp bạn đọc có thể tiếp cận một cách chính xác và hệ thống những thông tin về Carver
Ngay sau khi Carver mất (1988), người ta ngày càng ngạc nhiên trước sức hấp dẫn của những truyện ngắn của ông Nhà phê bình Phillip Carson đi sâu vào các chi tiết rất riêng tư trong đời sống của nhà văn, đã cung cấp cho bạn đọc nhiều
thông tin thú vị về quan niệm sống và viết của Carver trong Nhãn quan của Raymond Carver (gồm hai kỳ) Khái quát một cách trọn vẹn nhất về Carver, Phillip
viết: “Tuổi trẻ lạc quan, lập gia đình sớm, nghiện rượu, suýt chết, hồi phục, bình tâm – tất cả đều không đơn giản, và tất cả đều có trong tác phẩm của ông” [167] Tác giả công trình chỉ ra sự nhất quán trong xu hướng vận động và thay đổi từ cuộc đời sang sáng tác của nhà văn theo hai giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất gắn liền với cảm quan bế tắc, bi quan, chán nản của Carver khi chìm đắm trong giai đoạn nghiện rượu Giai đoạn thứ hai là sự thay đổi bất ngờ và quyết liệt trong
cả cuộc đời và sáng tác gắn liền với Điều tốt lành nho nhỏ Đây chính là truyện
ngắn “được giới phê bình khen ngợi, nhận giải thưởng văn học năm 1983 và giải Pushcart cùng năm” [167,3]
Và cùng với Marshall Bruce Gentry, năm 1990, William Stull tiếp tục biên
soạn cuốn Conversations With Raymond Carver (Trò chuyện với Raymond Carver)
Cuốn sách này là công trình tập hợp 18 bài viết của 18 tác giả hoặc phỏng vấn hoặc nghiên cứu về Carver và tác phẩm của ông như Schumacher, Francesco Durante, Mono Simson and Lewis Buzbee, Kay Bonetti, Patricia Morrison Những công trình này hé lộ cho bạn đọc nhiều thông tin quan trọng về cuộc đời cũng như lối viết truyện
ngắn và thơ của nhà văn Đáng chú ý là trong bài After the Fire, into the Fire: An Interview with Raymond Carver (Sau đám lửa, vào trong lửa: Một cuộc phỏng vấn với Raymond Carver), Michael Schumacher đã khẳng định: “Trong hai thập niên gần
đây, Raymond Caver là một trong những ẩn số được lưu giữ tốt nhất trong thế giới văn chương Hầu hết truyện ngắn và thơ của ông được tạp chí văn học và những tờ báo nhỏ xuất bản, được đông đảo bạn đọc đón nhận đầy hứng thú, và dường như
Trong khi đó, đến năm 1990, Francesco Durante trong bài Raymond Carver and His World (Raymond Caver và thế giới của ông) lại gọi Carver là “nhà luyện
kim, người đã chưng cất ở một mức độ cao nhất của sự hoàn hảo, một thể loại văn học được xem là tinh hoa vốn chỉ mười năm trước đó dường như chẳng được
Trang 22mấy sự quan tâm …” [154,192] Tác giả này còn chỉ ra tiêu chí quan trọng bắt buộc duy nhất mà Carver đã từng tuyên bố khi viết văn là: “viết về cái thường nhật,
và nói không phải về những nhóm giai tầng mà về con người”, từ đó đi đến kết luận: “Carver là người đàn ông sở hữu những tác phẩm có giá trị” [154,193]
Năm 1995, trường Đại học Iowa cho tái bản cuốn sách Raymond Carver An Oral Biography (Raymond Carver – Bản tiểu sử bằng lời nói) Cuốn sách này dựa trên cuốn Khi chúng ta nói về Raymond Carver (When We Talk About Raymond Carver - Gibbs Smith, 1991) thêm vào nhiều cuộc trò chuyện bằng hình thức phỏng
vấn với các nhà văn là bạn của Carver (như Dick Day, Donald Justice, Richard Ford, Tobias Wolff…) và vợ đầu của ông, Maryann Từ đó, bạn đọc có cái nhìn đa chiều về Raymond Carver
Năm 1997, Gary William trong bài Raymond Carver đã giới thiệu khái quát
và hệ thống các tác phẩm của Carver cùng một số ảnh hưởng quan trọng trong cuộc đời riêng của nhà văn (con đường học vấn, hôn nhân, ảnh hưởng của một số nhà
văn đến Carver ) Đặc biệt, khi nghiên cứu tập truyện Em làm ơn im đi được không? của Carver, tác giả chỉ ra hệ thống nhân vật trong hầu hết các truyện trở
thành “những nhân vật đặc trưng của Carver là những nữ tiếp viên, người đưa thư, nhân viên bán hàng, công nhân sữa, thợ cơ khí, bộ sưu tập của những người thất nghiệp” [160,27] bên cạnh một vài người làm nghề được chú ý hơn trong xã hội như giáo viên, nhà văn, bác sĩ Do vậy, khá nhiều công trình đã khẳng định, thế giới nhân vật của Carver phản chiếu được “mặt tối của nước Mỹ thời Reagan”
Mười năm sau cái chết của Raymond (năm 1998), Richard Ford, nhà văn người Mỹ chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết, đã ghi lại những ấn tượng của mình về lần đầu tiên gặp Raymond Carver vào năm 1977, khi Raymond Carver chưa phải là nhà văn nổi tiếng và cảm nhận của bản thân về con người cũng như
tác phẩm của Carver qua bài viết Good Raymond Người đã có quá trình dài gắn
bó và thân thiết với Carver đã nhận xét: “Với tôi, chất lượng lớn nhất của những truyện ngắn của Raymond Carver không phải là chúng đã vẽ ra cuộc sống của con người được bao nhiêu, hoặc làm thế nào với cuộc sống của họ mà là làm thế nào
để lay chuyển được sự lựa chọn của họ từ những tác phẩm nghệ thuật - ấy là sự tiếp nhận cuộc sống từ những sẻ chia tích cực…” [100,70] Ông còn giả định rằng:
“Nếu trong những năm tới, Raymond trở thành nhà văn được mọi người yêu thích
là do những truyện ngắn của Raymond đã chia sẻ với bạn đọc một sự hiểu biết
Trang 23rằng, cuộc sống đôi khi có thể làm cho bạn muốn cắn vào chiếc ly rượu Scoth, nhưng rốt cục ta đều có thể hóa giải được những điều mà nó mang lại Đây là một trong những lí tưởng nghệ thuật lâu đời nhất và có vẻ như rất đơn giản nếu được thực hiện hoàn hảo” [100,72]
Theo một hướng nghiên cứu khác, vào năm 2002, Harold Bloom trong công
trình Bloom’s Major Short Story Writers: Raymond Carver (Những nhà văn viết truyện ngắn tiêu biểu của Bloom: Raymond Carver), tập trung vào sáu truyện ngắn tiêu biểu của Carver bao gồm: Mình đang gọi từ đâu, Nhà thờ, Cơn sốt, Dây cương, Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình theo hướng trình bày: tóm tắt
cốt truyện, hệ thống lại các nhân vật trong truyện và tập hợp lại các bài nghiên cứu phê bình của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn này Cuốn sách là nguồn tư liệu được tập hợp có hệ thống, giúp chúng tôi định dạng dễ dàng hơn một số vấn đề đang được quan tâm như Carver và chủ nghĩa tối giản, nhân vật trong mối quan hệ với người kể chuyện, điểm nhìn… mà đây đó chúng tôi đã có được từ một số tạp chí, bài báo nhưng chưa hệ thống và đầy đủ
Năm 2003, Kristin Dota trong Raymond Carver: Life and Works (Raymond Carver: cuộc đời và tác phẩm) không chỉ giới thiệu khái quát về cuộc đời nhà văn
mà còn dành phần lớn để trao đổi về các tác phẩm cùng những quan điểm phê bình của các nhà nghiên cứu khác về Carver Ngay từ những dòng giới thiệu đầu tiên, tác giả nhấn mạnh: “Raymond Carver được coi là một trong những nhà văn viết truyện ngắn và nhà thơ Mỹ quan trọng nhất của thời đại chúng ta Tác phẩm của ông phản ánh hai giai đoạn riêng biệt trong cuộc sống của mình”[94,2] Phần trao đổi về tác phẩm, Dota cũng thừa nhận một số ý kiến phê bình trước đó rằng nhân vật của
Carver ở tập Thánh đường đã có sự thay đổi so với những sáng tác trước kia Nếu
trước kia “nhân vật thường im lặng và hoang mang trước những biến cố…” thì sau này “nhân vật nói ra suy nghĩ hoặc hy vọng, dù cho cuộc sống của những con người lao động có khó khăn và phải tranh đấu Đến cuối truyện, nhân vật đang lập kế hoạch thay thế một cách có hiệu quả…” [94,14]
Đến năm 2006, cuốn What it Used to Be Like: A Portrait of My Marriage to Raymond Carver (Cái nó luôn giống là: Bức tranh hôn nhân của tôi với Raymond Carver) của Maryann Burk Carver - người vợ đầu tiên của R Carver ra mắt, cung
cấp cho bạn đọc nhiều thông tin về cuộc hôn nhân của họ cùng những nỗ lực mà Carver đã trải qua trong cuộc sống và sự nghiệp
Trang 24Cùng năm, cuốn The Heath Anthology of American Literature (Tuyển tập văn học Mỹ Heath), do Paul Lauter chủ biên đã dành 5 trang, từ trang 886 đến 890 để giới
thiệu về Raymond Carver Phần về Carver, bên cạnh việc giới thiệu tác giả, cuốn sách đặc biệt chú ý đến nhân vật: “Nhân vật của Raymond Carver được gọi là mất mát, thiếu hụt Những nghiên cứu của Carver về nhân vật cho thấy một cái nhìn sắc lạnh
về đời sống nội tâm phức tạp của người nghèo làm việc tại Hoa Kỳ những năm 1970
và 1980: bất cứ lúc nào, bất cứ ai đều có thể mất tất cả mọi thứ: không chỉ bị mất địa
vị hiện tại mà còn bị mất cả lòng tin, tình yêu và sự thật” [121,886]
Sau này, tạp chí The New York Times đã tập hợp tương đối hệ thống những
bài giới thiệu tiêu biểu các công trình nghiên cứu về Raymond Carver và tác phẩm
của ông từ những năm 1988 cho đến năm 2007 như: For Raymond Carver, a Lifetime of Storytelling (Với Raymond Carver, suốt cuộc đời kể chuyện); Raymond Carver: A Still Small Voice (Raymond Carver:Một giọng điệu thì thầm); Media Talk, Esquire Editor Helps Uncover Carver Stories (Cuộc nói chuyện truyền thông, biên tập viên Esquire giúp khám phá truyện ngắn của Carver); The Real Carver: Expansive or Minimal?(Carver thực sự: mở rộng hay tối giản?) Trong đó, các tác
giả chủ yếu viết về cuộc đời và những ảnh hưởng từ cuộc đời của ông lên trang viết,
về giọng điệu văn chương và lối kể chuyện nhẹ nhàng, ngắn gọn mà chính xác, cụ thể của Carver…
Sự vinh danh nhà văn không chỉ dừng lại ở đó Năm 2009, cuốn Raymond Carver, A Writer’s Life (Raymond Carver, cuộc sống một nhà văn) của Carol
Sklenicka được tạp chí New York Times bình chọn là một trong mười cuốn sách hay nhất của năm, gồm 538 trang, viết về cuộc đời gắn liền với quá trình sáng tác của R Carver rất cụ thể, đặc biệt nhiều chương mục được lấy tên từ tác phẩm của ông Trong đó, tác giả cuốn sách còn trao đổi nhiều ý kiến với các nhà nghiên cứu
khác khi bàn về sáng tác của Carver
Năm 2012, Chad Wriglesworth (Regent College) nghiên cứu mối quan hệ
giữa Raymond Carver và Hiệp hội tự cai rượu: truyện bên dưới “bề mặt sự vật” (Raymond Carver and Alcoholics Anonymous: The narative under the “Surface of things”) và khẳng định mục tiêu của bài viết này là “để cung cấp một nghiên cứu minh hoạ so sánh các giai đoạn khác nhau của Alcoholics Anonymous (A.A) với đặc điểm và mô hình giải thích trong các tác phẩm sau khi cai rượu của Carver cuộc sống và tác phẩm của Carver song song với mô hình A.A cho thấy rằng chương
Trang 25trình phục hồi đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi tinh thần và tác phẩm của Carver” [164,167] (A A là một tổ chức quốc tế hỗ trợ lẫn nhau được thành lập
năm 1935 với hai người sáng lập là Bill Wilson và Dr Bob Smith ở Akron, Ohio, với mục đích chính là để giúp đỡ người nghiện rượu đạt được sự tỉnh táo Carver đã tham gia tổ chức này và hoàn thành việc cai rượu vào tháng 6 năm 1977) Cũng trong công trình này, tác giả khi phân tích tác phẩm của Carver làm rõ cho mục đích
của mình đã nhiều lần gọi nhân vật người chồng trong truyện Thánh đường là người
kể chuyện (“narrator”): “Người kể chuyện bất ngờ nhận thức được khoảng cách giao tiếp trong một loạt câu hỏi nhanh chóng, ông đã yêu cầu người mù bằng một loạt câu hỏi ” [164,168] Ở đây đã có sự đồng nhất giữa nhân vật và người kể chuyện Chúng tôi cũng nhận thấy có sự đồng nhất này và sẽ bàn sâu ở chương 3
Từ góc độ xã hội học, các công trình nghiên cứu đã bàn đến nhiều vấn đề
như tình yêu và sự không thấu hiểu, nước Mỹ hậu công nghiệp, nước Mỹ thời Reagan, thời đại khủng hoảng truyền thông, sự hoài nghi, tôn giáo, vấn đề bạo lực, tính nam, chứng nghiện rượu và mất ngủ của nhà văn… Đáng chú ý là, trong bài phỏng vấn của Mona Simson và Lewis Buzbee, năm 1983, Carver đã trao đổi và đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống riêng tư của nhà văn, lí do học đại học, việc xuất bản, về thói quen uống rượu và lí do cai rượu, về kiểu nhân vật, về công việc “vứt bỏ” số trang viết sau này so với dự thảo, quan niệm về tôn giáo Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới hai điều mà Carver đã chia sẻ Một là về kiểu nhân vật luôn cố gắng nhưng không thành công bởi ông cho rằng “cố gắng và thành công
là hai vấn đề khác nhau ” dẫu “hầu hết các nhân vật của tôi đều thích những hành
động của họ đạt được một điều gì đó” [150,41-42] Và hai là khi được hỏi về những
đổi thay trong lối viết của mình, Carver cho rằng tập truyện Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình và tập Thánh đường có những thiên hướng viết khác
nhau Ông nói: “Trong một bài nhận xét về những cuốn sách sau này, một số người gọi tôi là nhà văn của chủ nghĩa tối giản Với nhà phê bình, nó giống như một lời khen Nhưng tôi không thích nó Có gì đó về tính chất tối giản mà có chút hơi hướng của một tầm nhìn và việc thực hiện hạn hẹp nên tôi không thích” [150,44]
Cuốn Stories of Raymond Carver: A Critical Study (Truyện ngắn của Raymond Carver: Một nghiên cứu quan trọng) của Kirk Nesset, do Ohio University
ấn hành năm 1995, bàn tới nhiều vấn đề quan trọng trong truyện ngắn của nhà văn: việc “phản ánh một thế giới hậu công nghiệp với những nhân công làm thuê rẻ
Trang 26mạt”, sự phân chia sáng tác của Carver làm ba giai đoạn với ba đặc điểm riêng biệt,
nhưng đều tựu trung một điểm ấy là cái mà chính nhà văn gọi là “mặt tối của nước
Mỹ thời Reagan” (“the dark side of Reagan’s America”) Bên cạnh đó, Nesset còn
chỉ ra “mối quan hệ giữa khuynh hướng tối giản và các khuynh hướng hậu hiện đại
và sự trỗi dậy của chủ nghĩa hiện thực mới” (“the relationship of minimalism and postmodern trends and the rise of new realism”) [135,135]
Một số nhà nghiên cứu khác phát hiện truyện ngắn của Carver mang dấu ấn đậm nét của tôn giáo, vai trò của ngôn ngữ, hình ảnh, sự tưởng tượng Tạp chí
Nghệ thuật và tôn giáo của Mỹ trong năm 1998 đăng nhiều bài của các tác giả như
Edward Duffy, Paul C Doherty, Steve Mirarchi, và tác giả Paul Ricoeur với cuốn
Figuring the Sacred: Religion, Narrative and the Imagination (Định dạng sự linh thiêng: tôn giáo, tự sự và tưởng tượng) tập trung vào những vấn đề này
Sandra Lee Kleppe tập trung bàn về Phụ nữ và bạo hành trong truyện ngắn của Raymond Carver (Women and Violence in the Stories of Raymond Carver)
Bài viết xem xét nhân vật nữ của Carver trong mối liên quan với bạo lực Khác với những truyện ngắn trước kia, họ không chỉ là nạn nhân mà họ có thể hoặc là nạn nhân, nhân chứng hoặc là thủ phạm “Carver góp phần chuyển đổi biểu tượng trong văn học và văn hóa Mỹ, ở đó, phụ nữ bạo hành và được phép làm tan nát trái tim đàn ông” [114,111] Từ góc nhìn này, chúng tôi thấy có sự gặp gỡ quan điểm Bàn về nhân vật nữ trong truyện của Carver, ở chương 2, chúng tôi đã khẳng định rằng, nhân vật nữ dường như mang một sức mạnh mới, vị trí mới, có phần lấn át
so với nhân vật đàn ông, song họ vẫn là nạn nhân của những đau khổ trong gia đình và áp lực ngoài xã hội Bên cạnh đó, họ còn là nguyên nhân “làm tan nát trái tim đàn ông”
Năm 2010, April King trong bài viết Raymond Carver: những quan điểm phê bình (Raymond Carver: Critical Perspectives) khi tổng kết lại các công trình đã
nghiên cứu về Carver, nhận thấy các tác giả đều tập trung vào những chủ đề phổ biến là “những nỗi ám ảnh của Carver như tình yêu, đặc biệt là tình yêu gắn liền với hôn nhân, sự im lặng, sự hiển linh, khuynh hướng tối giản và sự đấu tranh và vẻ đẹp của cuộc sống tầng lớp người lao động” [179]
Vấn đề về tình yêu và sự không thấu hiểu trở đi trở lại trong khá nhiều các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Carver Tiêu biểu trong số đó là Dana
Carson với tiểu luận Raymond Carver: So sánh văn học giữa “Bọn mình nói gì khi
Trang 27bọn mình nói chuyện tình” và “Thánh đường” (Raymond Carver: A Literary Comparison of “What We Talk About When We Talk About Love” and “Cathedral”),
năm 2013, đã chỉ ra, khi lựa chọn chủ đề tình yêu, “trong hai truyện ngắn, Carver chứng thực mối quan hệ và cách mà những nhân vật hiểu được ý nghĩa thật sự của
tình yêu”, có điều là “câu hỏi về tình yêu chưa có lời giải đáp trong Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình sẽ được tìm thấy câu trả lời trong truyện ngắn Thánh đường” [178] Khép lại bài viết này, tác giả đi đến kết luận chung rằng:
“Vượt lên trên tất cả mọi điều khác, cả hai truyện ngắn đều đưa ra những thuyết lí
về lòng kiên trì và sự thấu hiểu, nơi mà những nhân vật xác định được điều tốt lành, cái xấu xa và sự không hiểu biết khi mà họ phải nỗ lực hết sức để nuôi dưỡng các mối quan hệ và tình bạn” [178] Đây là một chủ đề lớn không chỉ có mặt trong các truyện ngắn của nhà văn, chúng tôi nhận thấy nó cũng mới chỉ là một nhánh chủ đề song song tồn tại ngang nhau bên cạnh một “chùm” chủ đề khác
Cũng nghiên cứu về chủ đề này trong truyện ngắn của Carver, Fred
Moramarco viết Những cặp đôi của Carver nói về tình yêu (Carver’s Couple Talk About Love) Tác giả phát hiện có “hai motif được sử dụng như là những thành tố cấu trúc trong truyện là đồ uống và ánh sáng”, do vậy, hầu hết các cặp đôi khi nói
chuyện với nhau, hoặc ngay cả khi hướng về chủ đề tình yêu thì đều “dành nhiều thời gian cùng nhau giao tiếp xã hội, thường xuyên uống, thường xuyên tán tỉnh và hầu hết luôn luôn không thấu hiểu” [181], đặc biệt ông dùng một chuỗi các trạng từ chỉ tần suất “usually”, “always”, “often” để nhấn mạnh điều này cùng với việc phân tích sự chi phối của yếu tố thời gian (ánh sáng) tới hành động của các nhân vật…
Từ góc độ thi pháp học, trong suốt thập niên chín mươi cho đến nay, các nhà
nghiên cứu nhìn thấy vai trò của ngôn ngữ, hình ảnh, sự tưởng tượng, biểu tượng, chi tiết, sự im lặng, giọng điệu đơn lẻ, khuynh hướng tối giản, vấn đề có hay không
có ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, kiểu kết thúc mở và sự tiết chế ngôn ngữ… Claude Grimal (đại diện cho báo Le Point - Pháp) khi thực hiện phỏng vấn Raymond Carver nhân dịp tác phẩm của ông được dịch và xuất bản tại Pháp, tháng 4/1987 đã
lấy một câu trả lời của Carver làm tiêu đề cho bài phỏng vấn của mình: “Stories Don’t Come Out of Thin Air”(“Truyện ngắn không sinh ra từ không khí loãng”) Bài viết này, sau đó được tập hợp trong cuốn Prose as Architecture: Two Interviews with Raymond Carver (William L Stull dịch) Trong đó, Carver đã chia sẻ khá nhiều vấn
đề liên quan đến quan niệm về các hình thức sáng tác: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết
Trang 28cũng như các vấn đề cụ thể liên quan đến việc sáng tác truyện ngắn của nhà văn như: vấn đề hình ảnh, sự thay đổi lối viết, về ý tưởng tập hợp truyện ngắn trước khi viết,
về phần kết thúc các truyện, về yếu tố tự thuật, tầm quan trọng của đối thoại, chi tiết, lựa chọn chủ đề Đặc biệt, khi được hỏi về tầm quan trọng của đối thoại trong truyện ngắn, Carver cho rằng đối thoại rất quan trọng, “nó phải đẩy tới cốt truyện, minh họa
nhân vật, ” Và ông khẳng định: “Tôi không thích người ta nói mà chẳng có lí do gì,
song tôi thật sự thích kiểu đối thoại mà chẳng ai nghe ai” [170,25] Đây là một gợi
mở quan trọng để chúng tôi tìm hiểu về cốt truyện và nhân vật của Carver thông qua ngôn ngữ đối thoại trước sau bất nhất
Ngay sau sự ra đi của Raymond Carver, năm 1988, Arthur M Saltzman, phó giáo sư của trường Đại học Missouri Southern State, người đã từng xuất bản nhiều
tiểu luận về văn học đương đại đã cho ra mắt cuốn Understanding Raymond Carver (Hiểu về Raymond Carver) gồm 190 trang với 6 chương Chương 1 có tên là
“Connoisseur of the Commonplace” (“Chuyên gia của những câu chuyện đời thường”) thay cho cách ông định danh về Carver Từ chương 2 đến chương 5 là những phân tích lần lượt về các tập truyện và thơ của Carver Trong đó, tác giả nhấn mạnh “nếu văn chương hậu hiện đại gia tăng lối kể có tính chất cộng hưởng của ý nghĩa một cách khó hiểu, có thể thảo luận thì truyện ngắn của Carver khó hiểu tương tự, theo đó, bạn đọc được thách thức để hoàn thành những mảnh vỡ được giao phó” [142,16] Đây là điểm rất gần gũi với cảm nhận của đa số độc giả khi đọc truyện của Carver và chúng tôi khi bàn đến vai trò của bạn đọc với vị trí trung tâm ngang bằng nhân vật trong truyện ở chương nhân vật và điểm nhìn
Bài viết “Raymond Carver’s Monologic Imagination” (Sự tưởng tượng một chiều của Raymond Carver) của Miriam Marty Clark, năm 1993, nhận thấy truyện ngắn của Carver có “những giọng điệu đơn lẻ” (“single voices”): “Tôi”(“I”) được rút ra từ sự hỗn độn của những giọng nói khác nhau, anh ấy (“he”) hay cô ấy (“she”) thì được vọng lại từ một thế giới đầy tiếng ồn” [98,240] Đáng chú ý, trong
phần tiếp theo, tác giả còn khẳng định: “Không có sự nhận biết rõ sự khác nhau giữa những phát ngôn của đàn ông và đàn bà trong hầu hết các truyện” và “cuộc nói chuyện của các nhân vật của Carver thường xuyên không hoà hợp, với nhiều lời thoại bó hẹp hoặc biệt ngữ chuyên ngành” [87,241] Điều này tạo nên kiểu không xác định giọng điệu trong ngôn từ đối thoại của Carver hay cũng chính là một biểu hiện cho sự phân rã điểm nhìn trung tâm
Trang 29Đến năm 1997, trong Nói điều gì: Sự im lặng trong truyện “Lông vũ” của Raymond Carver (What’s to Say: Silence in Raymond Carver’s “Feathers”), Laurie
Champion khẳng định “im lặng (silence) là một trong những motif quan trọng”
trong nhiều truyện ngắn của tập Thánh đường, và đặc biệt tập trung trong truyện ngắn Lông vũ Tác giả phân tích và khảo sát sự im lặng xuất hiện qua người kể và
nhân vật, và nhận thấy “trong khi việc giao tiếp với người khác giúp hàn gắn cảm giác lẻ loi thì những nhân vật của Carver lại trải nghiệm, thất bại trong giao tiếp, kể
cả trong khi thâm nhập vào cảm giác tuyệt vọng của nhân vật”, “việc hiểu được sự
im lặng của nhân vật là mang tính quyết định cho sự diễn dịch, dường như còn làm phức tạp cho việc hiểu kết thúc truyện” [85,195] Điều này chúng tôi sẽ còn đề cập tới trong chương 3 của luận án khi xem xét “im lặng” như là một phương thức nghệ thuật để tạo nên điểm nhìn phi trung tâm
Không đồng tình với quan điểm của một số khuynh hướng nghiên cứu phê bình cho rằng Carver là nhà văn của chủ nghĩa hậu hiện đại với khuynh hướng tối giản và nhà văn của chủ nghĩa nhân văn mới, năm 2006, Daniel W Lehman trong
bài viết “Symbolic Significance in the Stories of Raymond Carver” (Ý nghĩa biểu tượng trong truyện ngắn của Raymond Carver) đã tập trung bàn về ý nghĩa biểu
tượng (qua cấu trúc, sự kiện và các chi tiết mang tính biểu tượng) trong truyện ngắn của Carver Tác giả nhấn mạnh: “nhân vật có thể không hiểu ý nghĩa của chúng, nhưng Carver hy vọng bạn đọc lí tưởng của mình có thể hiểu được những ý nghĩa biểu tượng đó” [123,77] và chốt lại rằng: “Carver sẽ để lại tín hiệu bằng những nguồn sáng tốt nhất cho bạn đọc, giống như một nghệ sĩ buông máy điều chỉnh sự kiểm soát biểu tượng” [123,85], nghĩa là bản thân nhà văn đã chú ý đến vai trò của
độc giả ngay trong quá trình sáng tạo một cách có ý thức
Cuốn The Visual Poetics of Raymond Carver (Thi pháp thị giác của Raymond Carver) của Ayala Amir xuất bản năm 2010, gồm 197 trang, chia làm 3
phần (Part I: Movement (Sự dịch chuyển); Part II: The Eye of the Camera (Con mắt của máy quay phim); Part III: Seeing and Meaning (Quan sát và ý nghĩa) khảo sát rất kĩ các tác phẩm của Carver và bàn sâu đến việc tái hiện có mục đích sự vận động của nhân vật, hội thoại, giọng điệu, tầm nhìn, “kiểu người trong bao” của Carver (so sánh với Chekhov) và “tính duy nhất hay sự gia tăng gấp đôi - hiệu lực từ thực tế hay ý nghĩa biểu tượng” (Singularity or Doubleness - “Effet de réel or Symbol”?)
Đặc biệt, ở chương 3, tác giả cuốn sách bàn về Giọng điệu (Voice), trong đó tập
Trang 30trung phân tích ba truyện ngắn Tình thân (chưa dịch ở Việt Nam), Tại sao bạn không nhảy?, Thử đặt anh vào địa vị của tôi và đi đến kết luận: “không thể tách rời
được giọng điệu trần thuật” của Raymond Carver [71,60] bởi: “Không giống với Nathalie Sarraute, trần thuật nhìn theo kiểu của “sự trưng ra”- ví dụ như, vị trí trần thuật là nơi mà người kể bám chặt theo thời gian, địa điểm và điểm nhìn của nhân vật, tránh sự phán đoán và châm biếm, như là một sự đóng kín đến nhân vật Đối với Carver, sự đóng kín này là sự mở rộng bằng sự tương đồng và sự tương tác giữa trải nghiệm và chuyện kể…”, từ đó sẽ xuất hiện “người kể chuyện trung tính - nhân vật phân rã”, “nhân vật và người kể chuyện ẩn danh” [71,62], “giọng điệu im lặng”,
“giọng điệu nước đôi” giữa cái vừa là “tôi” vừa là “người khác”, “vừa gần với nhân vật vừa cách xa nhân vật” [71,52-53] Phần này là sự gợi mở thực sự hữu ích cho chúng tôi khi triển khai chương ba, bàn về sự phi trung tâm điểm nhìn…
Bên cạnh những hướng nghiên cứu trên, có thể thấy, điều nổi bật là, tên tuổi
của Raymond Carver gắn liền với khuynh hướng tối giản (chủ nghĩa cực hạn), thu
hút nhiều nhất các công trình nghiên cứu Năm 1986, bài phỏng vấn I’m Sort of Their Father (Tôi là một kiểu bố của chúng) của Silvia Del Pozzo cho tạp chí Panorama của Ý trao đổi tập trung vào việc Carver được gắn “nhãn mác là nhà văn
của “chủ nghĩa tối giản”, là “cha đẻ của làn sóng mới” Carver đã trả lời rất dí dỏm rằng: “Tôi chỉ là cha đẻ của con tôi” và một lần nữa, ông bày tỏ thái độ rõ ràng:
“các nhà phê bình thường sử dụng thuật ngữ tối giản khi thảo luận về văn xuôi của tôi Nhưng đó là một nhãn hiệu làm tôi bực mình: nó cho thấy ý tưởng về một tầm nhìn hạn hẹp của cuộc sống, tham vọng thấp và chân trời văn hoá hạn chế Chắc chắn, trang viết của tôi là phần cốt lõi và có xu hướng tránh sự dư thừa” [170,28]
Có thể, chủ ý của ông hoàn toàn không theo khuynh hướng tối giản, nhưng bản thân ông cũng tự nhận thấy “xu hướng tránh dư thừa” và trang viết chỉ là phần “cốt lõi” (“lean” - từ Carver dùng), ít nhiều gần gũi và liên quan tới những biểu hiện đặc trưng của khuynh hướng tối giản
Sau đó ba năm, Barbara Henning trong bài Minimalism and the American Dream: “Shiloh” by Bobbie Ann Mason and “Preservation” by Raymond Carver (Khuynh hướng tối giản và giấc mơ Mỹ: “Shiloh” của Bobbie Ann Mason và “Bảo quản” của Raymond Carver) (1989) chỉ ra điểm tương đồng giữa hai truyện ngắn
này là “cũng giống như những nhân vật khác trong truyện ngắn tối giản đương đại, các nhân vật chịu sự quản thúc của sự sinh tồn mà không có sự phản đối trong một
Trang 31thế giới với nền kinh tế và khả năng xúc cảm bị suy giảm” với một niềm tin về một giấc mơ Mỹ rằng, họ “có thể thành công và xây dựng một cuộc sống hạnh phúc cho chính mình và gia đình trong đất nước này nếu như họ theo kịp thời gian và làm việc chăm chỉ” [107,692]
Cuốn Đọc Raymond Carver (Reading Raymond Carver) của Randolph Paul
Runyon, xuất bản năm 1992, gồm 226 trang là một công trình nghiên cứu bổ ích khi
phân tích, đánh giá về ba tập truyện của Carver gồm tập Em làm ơn im lặng được không?, Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình, Thánh đường, và thêm 7 truyện ngắn mới của ông trong tập Mình đang gọi từ đâu Tiếp tục kế thừa
nhận định Carver là nhà văn của khuynh hướng tối giản, tác giả nhận thấy truyện ngắn của nhà văn có “những kết nối ẩn dụ phức tạp”, “sự chồng chéo cấu trúc”, sự
“sắp xếp có mục đích các truyện ngắn trong mỗi tập truyện mời gọi người đọc khám phá văn bản tác phẩm khác từ những khe hở trong truyện” [155], bên cạnh việc khai thác dấu ấn của tiềm thức, những ảnh hưởng của Freud, của Kinh thánh Còn
Sandra Lee Klepper thì khẳng định, tập “Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình là cuốn sách nền tảng cho khuynh hướng tối giản trong văn học, một
phong cách tối giản” [114,115] và Russell Banks cho rằng, đó là cuốn sách theo
“khuynh hướng tối giản triệt để nhất của Carver” [73,100]
Đến năm 1994, John Powell trong bài The Stories of Raymond Carver: The Menace of Perpetual Uncertainty (Truyện ngắn của Raymond Carver: Nguy cơ của sự bất ổn vĩnh viễn) đăng trên tạp chí Nghiên cứu truyện ngắn, (Vol 31, No 4
năm 1998) là một công trình nghiên cứu công phu về truyện ngắn cũng như khuynh hướng sáng tác của Carver Tác giả khẳng định: “Xuyên suốt sự nghiệp của mình, Carver đã đạt tới sự cảm nhận về nguy cơ thông qua sự chối bỏ, hoặc chỉ cung cấp mạch truyện, những khía cạnh cơ bản của truyện Cả nhân vật lẫn độc giả đều có cảm giác rằng có điều gì đó nguy hiểm và dự báo mối đe doạ, có thể là tình trạng sắp sửa xảy ra hoặc sắp bị dìm xuống nước, nhưng cả nhân vật và độc giả, không thể tìm được ý nghĩa được đưa ra trong mạch truyện, mà phải tự tìm từ việc đọc những mạch truyện ấy Mối đe dọa gia tăng bởi bản thân ý nghĩa của truyện trở nên mờ nhạt ” [138,647]
Cuốn Point of View in Raymond Carver’s Short Story “So Much Water So Close to Home” (Điểm nhìn trong truyện ngắn “Bao nhiêu nước ở ngay gần nhà” của Raymond Carver), năm 2003, của Thomas Dassler gồm 5 phần, trong đó tác giả
Trang 32dành toàn bộ phần 2 và 3 để tập trung bàn về điểm nhìn và khuynh hướng tối giản trong truyện ngắn này của Carver Phần 3 với tên gọi là khuynh hướng tối giản, tác giả đã phân tích và chứng minh rằng “có một sự kết nối giữa khuynh hướng tối giản
và điểm nhìn trong truyện ngắn của Carver” [90,126] và cuốn sách còn chỉ ra có rất nhiều điểm nhìn: điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn từ nhân vật Claire, từ nhân vật Stuart, và khả năng kéo dần điểm nhìn về cả bạn đọc Đây là phần phân tích rất hữu ích cho việc tiếp thu, triển khai luận án của chúng tôi ở chương 3
Năm 2006, Andra Stefanescu trong bài Postmodernism and Minimalism in Raymond Carver’s “Cathedral” (Chủ nghĩa hậu hiện đại và khuynh hướng tối giản trong “Thánh đường” của Raymond Carver) chỉ ra một số đặc trưng của chủ nghĩa
hậu hiện đại trong tác phẩm của Carver là “các câu đều ngắn, nhưng có nghĩa, thể hiện một lượng lớn thông tin trong một vài từ, hạn chế trình bày nhiều, và chi tiết không cần thiết” và lối sử dụng “kết thúc mở như một thiếu sót có chủ ý để người đọc tiếp tục câu chuyện và kết thúc nó theo cách của riêng mình”, bên cạnh đặc điểm khác nữa của chủ nghĩa hậu hiện đại và khuynh hướng tối giản là “sự bất định” biểu hiện qua “tính không xác định của nhân vật chính về việc liệu anh ta nên nói chuyện hay nên giữ im lặng” và sự khuyết thiếu giữa “điều muốn nói và thông tin giao tiếp” [153,17] Những đặc điểm này, theo chúng tôi, là những biểu hiện rất đậm nét trong các truyện ngắn của Carver, và chúng góp phần tạo nên nghệ thuật phi trung tâm qua nhiều phương diện được tiến hành khảo sát và phân tích trong các chương của luận án
Vẫn tập trung nghiên cứu truyện ngắn Thánh đường của Carver, Arthur A Brown nhận thấy có mối liên hệ giữa Raymond Carver và chủ nghĩa nhân văn hậu hiện đại (Raymond Carver and Postmodern Humanism) Trước hết, tác giả khẳng
định: “tác phẩm của Carver thuộc về chủ nghĩa hậu hiện đại, một sự nhận dạng rõ ràng hiển nhiên” và sau nữa, Brown nhìn thấy, dù truyện ngắn của ông có cách thức thể hiện mới mẻ của chủ nghĩa hậu hiện đại thì rốt cuộc “Carver không bao giờ làm mất đi hình ảnh của đối tượng, chính là cuộc sống hiện thực, thậm chí ngay cả khi đối tượng của ông cũng là sự sáng tạo của hư cấu” Rất thú vị khi đọc phần so sánh hấp dẫn và giàu hình ảnh của tác giả giữa việc tập trung trong khi vẽ đường viền của cái cây với
hư cấu hậu hiện đại Brown cho rằng “việc vẽ đường viền như là một ẩn dụ nghệ thuật cho hư cấu hậu hiện đại, với sự chú ý tới chi tiết bề mặt, sự phản ứng lại bề sâu, và các
Trang 33mặt của sự tự ý thức, ở đó, sự hợp nhất ở mức trung bình với đối tượng - sự sáng tạo của hư cấu chính là đối tượng của hư cấu” [79,125]
Cuốn Raymond Carver: A Study of Short Fiction (Raymond Carver: Nghiên cứu truyện ngắn) của Ewing Campbell, xuất bản năm 1992, gồm 177 trang, khảo sát
sự chuyển dịch và thay đổi trong lối viết của nhà văn qua các tập truyện, tác giả
khẳng định, tập truyện Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình vẫn là
chuẩn mực cho văn chương tối giản, cùng nhiều truyện ngắn được giải và thường xuyên được tuyển chọn đã đưa ông trở thành người mở rộng một truyền thống văn chương trải dài từ Chekhov đến Joyce và Hemingway
Như vậy, những công trình nghiên cứu về Carver cũng như truyện ngắn của ông với tư cách là nhà văn và sáng tác thuộc khuynh hướng cực hạn chiếm dung lượng nhiều nhất, chứng tỏ văn phong của nhà văn người Mỹ này mang đậm nét đặc trưng của khuynh hướng tối giản Chúng tôi cũng đồng tình với những quan điểm này khi cho rằng, Carver là nhà văn của chủ nghĩa hậu hiện đại và khác là, chúng tôi luận bàn và xem xét tác phẩm của Carver từ nghệ thuật phi trung tâm
Từ bình diện văn học so sánh, một số nhà nghiên cứu nhận thấy có mối liên
hệ đặc biệt giữa R Carver và A Chekhov, giữa Carver và F Kafka, giữa Carver và
E Hemingway, giữa Carver và Murakami Haruki, giữa Carver và R Altman
Không chỉ William Stull trong bài Tiểu sử Raymond Carver (Raymond Carver: Biogaphical Essay) nhìn thấy nhiều điểm tương đồng giữa R Carver và A
Chekhov mà Nasiliki Fachard và Robert Miltner trong phần mở đầu cuốn sách của họ cũng nhận định: “Raymond Carver được gọi là Chekhov của nước Mỹ,… là nhà văn viết truyện ngắn người Mỹ quan trọng nhất của thế kỷ XX sau Hemingway” [97,1]
Năm 1994, James Plath với “After the Denim” and “After the Storm”: Raymond Carver Comes to Terms with the Hemingway Influence (“Sau Denim” và “Sau cơn bão”: Raymond Carver tiếp cận thuật ngữ dưới ảnh hưởng của Hemingway), khẳng
định, hai truyện ngắn trên cho thấy “nguồn cảm hứng của Carver đã lan tỏa từ đặc điểm của người kể và đối tượng phản ánh, chủ đề và những thành tố hàm ý từ Hemingway” [137,37]
Năm 2004, G P Lainsbury dành hai chương trong tổng số bốn chương của
cuốn sách The Carver Chronotope - Inside the Life-world of Raymond Carver’s Fiction (Nghiên cứu theo niên đại của Carver - Bên trong thế giới đời sống của văn xuôi Raymond Carver) để so sánh Carver với Kafka và Hemingway
Trang 34Chương ba gồm 38 trang bàn về Thiên nhiên và sự hoang dã trong Hemingway
và Carver: Sự tan rã của cảnh điền viên (Wilderness and Natural in Hemingway and Carver: Degradation of the Idyll) ở cả hai thể loại truyện ngắn và thơ
Chương bốn với tên gọi: Sự tha hóa và hình thể nghịch dị trong văn xuôi
hư cấu của Franz Kafka và Raymond Carver (Alienation and Grotesque Body in the Fiction of Franz Kafka and Raymond Carver) Trong 29 trang này, khi so sánh lối viết văn của Carver với F Kafka qua hai truyện Sợi lông (The Hair) và Hóa thân, tác giả cuốn sách đã chỉ ra: “Trong khi Kafka sử dụng kiểu ngôn ngữ khô
khan và tỉnh táo để hạn chế cảm giác sốc, độc giả sẽ cảm thấy đó như là bằng chứng cho sự thay đổi căn bản trong đoạn đầu của sự biến đổi hình dáng và do đó
cố gắng đem lại những sự kiện quái dị của tác phẩm xuống địa hạt của cái bình thường và cái đáng tin, thì Carver sử dụng kiểu ngôn ngữ không có nhiều biến tố giống nhau cốt để gần đạt tới một hiệu quả hư cấu khác nhau” và “thay vì thỏa mãn sự mong muốn của bạn đọc, Carver để bạn đọc trong tình trạng của sự ngưng đọng, chờ đợi hành động thực sự của truyện, trái ngược với tình huống hư cấu, để bắt đầu cho kết thúc tự nó” [117,66]
Từ việc tìm hiểu, so sánh hai tác phẩm Em làm ơn im đi được không? của Carver và Rặng đồi tựa đàn voi trắng của Hemingway, năm 2007, tác giả Arthur F Bethea với bài Raymond Carver’s Inheritance from Ernest Hemingway’s Literary Technique (Sự kế thừa của Raymond Carver từ kĩ thuật văn chương của Ernest Hemingway) chỉ ra những điểm gần gũi giữa hai nhà văn qua “cách sử dụng những
đại từ phiếm chỉ, kết thúc mở, nghĩa biểu tượng mang tính truyền thống và kế thừa, cùng những sáng tạo kĩ thuật bao gồm biểu tượng cộng hưởng trong những con số
và sự thiếu vắng của những chi tiết quan trọng để tạo nghĩa theo những cách hoàn hảo, tinh tế” [74,100]
Cũng nhìn thấy sự gần gũi giữa nhân vật của Carver và E Hemingway, Kleppe cho rằng cùng viết về đề tài bạo lực và cùng sử dụng nghệ thuật tỉnh lược,
“trong khi Hemingway còn bận tâm với cuộc chiến tranh ở Châu Âu, thì Carver miêu tả những trận chiến diễn ra hằng ngày trên các mặt trận đời sống: bên trong nước Mỹ… Sự tồn tại bạo lực trong hôn nhân đã trở nên quá phổ biến trong xã hội
nước Mỹ” [114,116] Còn Libe Garcia Zarranz trong Passionate Fictions: Raymond Carver and Feminist Theory (Những câu chuyện nhiệt huyết: Raymond Carver và thuyết nữ quyền) nhìn thấy sự ảnh hưởng mang tính truyền thống của người anh
Trang 35hùng nam tính từ các nhân vật nam của Carver “được tạo ra bởi biểu tượng Mỹ như
E Hemingway trong thập kỉ đầu của thế kỉ XX” [165,26]
Ở góc nhìn so sánh khác, bài viết Murakami Haruki and Raymond Carver: The American Scene (Murakami Haruki and Raymond Carver: bối cảnh Mỹ) của Naomi Matsuoka và Existential Connection: The Influence of Raymond Carver on Haruki Murakami (Kết nối hiện sinh: Ảnh hưởng của Raymond Carver đến Haruki Murakami) của Brian Seeman lại so sánh nhà văn Mỹ và nhà văn Nhật Bản Nếu Naomi Matsuoka bằng việc phân tích và so sánh hai truyện ngắn A Will Sheep Chase (Cuộc săn cừu hoang) và Blackbird Pie (Chiếc bánh nhân chim đen) đã chỉ
ra “sự hội nhập giữa văn học Mỹ và văn học Nhật Bản đương đại” [129,423], thì Brian Seeman thông qua các phương diện điểm nhìn, sự kiện, nhân vật đã đánh giá “những ảnh hưởng của Carver đến truyện ngắn đương đại đã vượt ra khỏi biên giới của văn xuôi Mỹ” [148,91]
Carver còn được so sánh với Robert Altman (đạo diễn phim, nhà biên kịch nổi tiếng người Mỹ, sinh năm 1925 mất năm 2006, người đã có công đưa một số
truyện ngắn của nhà văn dựng thành phim có tên gọi Short Cuts (Những lối đi tắt),
từng được nhận giải Oscar danh dự do Viện hàn lâm nghệ thuật điện ảnh và khoa
học trao tặng) qua bài: Closer to Home: Carver Versus Altman (Gần nhà hơn: Carver chống lại Altman) Rusell Banks trân trọng và yêu mến tài năng của nhà văn
đã gọi “Raymond Carver: Stephen Crane của chúng ta” (Stephen Crane, 1871 -
1900, nhà văn, nhà thơ Mỹ đại diện cho trường phái ấn tượng, có nhiều tác phẩm thơ và tiểu thuyết được dịch sang tiếng Việt)
Tựu trung, các tác giả đều nhận thấy có mối liên hệ, sự ảnh hưởng từ Chekhov, F Kafka, Hemingway đến Carver, từ Carver đến Haruki qua các phương diện phong cách, ngôn ngữ, nhân vật bên cạnh những khác biệt vượt trội giữa họ Như thế, phần nào đó, thiên tài kể chuyện Carver là sự kết nối của nhiều tài năng văn xuôi của nhân loại trước đó và sau này Điều này cắt nghĩa phần nào căn nguyên, Carver và tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng lớn trong sáng tác văn chương sau này và trở thành nguồn đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu, phê bình
và nghiên cứu sinh
Từ góc độ nghiên cứu liên ngành, một số công trình lại khai thác mối quan
hệ và sự ảnh hưởng của hội họa trong truyện ngắn của Carver Tiêu biểu trong số đó
là Ayala Amir và Bill Mullen
Trang 36Bill Mullen nhìn thấy Một cảnh tượng tinh tế: Văn hóa truyền hình trong truyện ngắn của Raymond Carver (A Subtle Spectacle: Televisual Culture in the Short Stories of Raymond Carver, 1998) Tác giả chú ý tới dung lượng ngắn trung bình “chín trang cho mỗi câu chuyện” (cuốn Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình được tập trung khảo sát kĩ), “câu đơn giản không có các tính từ và
trạng từ,… các nhân vật nói những câu ngắn gọn hoặc bị lược bỏ” song song với hình ảnh “tivi chạy liên tục trong suốt câu chuyện, cung cấp một âm thanh đối lập với hành động của cuộc sống thực”[134,99] Bài viết chỉ ra “nền văn hoá truyền hình trong tác phẩm của Carver rõ ràng là một thế lực ức chế xu hướng tự quan sát
và tự phản tỉnh có tính phê phán của bất kì dạng thức nào ” [134,103]
Trong khi đó, năm 2010, Ayala Amir (nghiên cứu văn học đồng thời là nghệ
sĩ nhiếp ảnh, quay phim, giảng dạy tại trường Đại học Bar – llan) góp thêm tiếng
nói với cuốn Thi pháp thị giác của Raymond Carver (The Visual Poetics of Raymond Carver) dài 170 trang Cuốn sách đã bàn tới mối quan hệ giữa truyện
ngắn của Carver với hội họa Văn xuôi mang nhiều đặc điểm của hội họa là một trong những đặc điểm chính của chủ nghĩa hậu hiện đại Do vậy, đương nhiên kể cả khi Carver chối bỏ danh xưng “nhà văn của khuynh hướng tối giản” thì dấu ấn của
nó vẫn bao trùm khắp trong các sáng tác của ông Đặc biệt, bà đã phân tích kĩ thuật con mắt của máy ảnh (The eye of the camera) được Carver sử dụng qua chương hai (từ trang 47 đến trang 104), từ đó chỉ ra giọng điệu và cái nhìn trong những tác phẩm cụ thể Điều này được chúng tôi tiếp thu, vận dụng khi triển khai mục 3.3.2 ở chương 3 của luận án
Bên cạnh những hướng nghiên cứu trên, khi tìm hiểu những công trình của Raymond Carver ở nước ngoài, chúng tôi còn chú ý thêm một số những luận án về Carver của nghiên cứu sinh Âu Mỹ và những công trình được dịch sang tiếng Việt
Về những luận án nghiên cứu sinh ở Âu Mỹ, trong phạm vi bao quát của chúng
tôi, Carver và những sáng tác của ông cũng trở thành mảng đề tài nghiên cứu hấp dẫn
Năm 1996, G P Lainsbury nghiên cứu The Carver Chronotope: Contextualizing Raymond Carver (Không-thời gian của Carver: Văn cảnh Raymond Carver) Năm
2000, luận án của Dylan Arthur Black nghiên cứu Cái nhìn tuần tự của Raymond Carver trong “Em làm ơn im đi được không?” và “Thánh đường” (Raymond Carver`s Sequential Vision: Will You Please Be quiet, Please? And Cathedral) Năm 2005, Michael J Bittlingmaier hoàn thành luận án Raymond Carver and the
Trang 37Menacing Search for Identity and Intimacy (Raymond Carver và sự tìm tòi mang tính đe dọa đối với bản sắc và sự riêng biệt) tại trường Đại học Brockport của Mỹ
và Brian Charles Seeman với luận án What is it? Exploring the Roles of Women Throughout Raymond Carver`s Short Fiction (“Cái gì đấy?” - Sự khám phá vai trò của người phụ nữ thông qua truyện ngắn của Raymond Carver), tại trường Đại học
Wichita State Năm 2012, luận án 65 trang của John Yngve Flanagan nghiên cứu về
The Carver Canard: Textual Restoration As Authorial Effacer (Thông tin không chính thống về Carver: Khôi phục văn bản từ sự xóa bỏ của tác giả)… Những luận
án này dẫu không bàn về vấn đề phi trung tâm trong truyện ngắn của Carver, song ít
nhiều khơi mở cho chúng tôi những hiểu biết thêm về bản thân nhà văn và những biểu hiện đặc trưng trong tác phẩm với nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Về những công trình dịch sang tiếng Việt, nếu như những nghiên cứu
trong nước còn lẻ tẻ và mang tính khơi mở, giới thiệu thì những công trình nghiên cứu, phê bình, tiểu luận của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt đưa ra nhiều đánh giá, phân tích sâu sắc, hệ thống và bản chất hơn về truyện ngắn của ông
Trước hết, có thể thấy tiểu luận Nhãn quan của Raymond Carver của Phillip
Carson (Lâm Vũ Thao dịch) được đăng hai kì trên www.evan.com.vn đã phát hiện
ra nhãn quan mang cảm thức về nỗi âu lo, sự bất ổn, niềm tuyệt vọng đầy riêng tư trong thế giới nghệ thuật của nhà văn Xuất phát từ chính quan điểm của Raymond
Carver trong Gentry 80 rằng: “Phần lớn nhân vật trong truyện của tôi giống nhau ở
một điểm: đến một lúc họ hiểu ra rằng sự thoả hiệp và nhượng bộ đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống của họ Khoảnh khắc khai ngộ đó làm thay đổi cuộc sống thường ngày của họ Thế nhưng, sau đó họ nhận ra rằng chẳng có gì là thực sự thay đổi hết” nên Phillip Carson quan tâm tới những ảnh hưởng trong cuộc đời riêng của R Carver chi phối tới kiểu nhân vật của nhà văn với kiểu “hình thức khai ngộ được đưa vào trong hầu hết truyện của ông ” [167] Phát hiện này định hướng cho chúng tôi khi triển khai nguyên tắc phi trung tâm từ phương diện nhân vật
Kirk Nesset, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học trong tiểu
luận Sự cô biệt và mở rộng bản thể trong “Thánh đường” của Raymond Carver
(Bùi Kiến Quốc dịch) đã tiến hành phân tích các truyện ngắn một cách thấu đáo,
cụ thể bằng cái nhìn nhân văn và lạc quan hơn với khát vọng được giải phóng
mình và mở rộng bản thể Đặc biệt, ở kì 2, khi tìm hiểu truyện ngắn Điều tốt lành
Trang 38nho nhỏ, Nesset nhận thấy Ann và Howard Weiss là “những nhân vật trung tâm”
[170] Chúng tôi nghĩ rằng, nhận định này là kết quả mang tính tất yếu khi Carver, nhà văn của chủ nghĩa hậu hiện đại, dẫu đã từng không nhận mình thuộc trào lưu hay trường phái nào nhưng chắc hẳn đã chịu sự chi phối của một số nguyên tắc đặc thù của lối viết mới, mà chúng tôi sẽ tập trung bàn sâu ở chương phi trung tâm nhân vật Bởi tồn tại đồng thời nhiều nhân vật trung tâm chính là góp phần xác lập nguyên tắc phi trung tâm
Bên cạnh đó, các bài viết, phỏng vấn, tiểu luận của Raymond Carver (được
dịch đăng tải trên trang www.evan.com.vn như Thời của truyện ngắn, Kinh nghiệm viết truyện ngắn, Nguyên lí viết truyện ngắn) bước đầu giới thiệu cho bạn
đọc Việt Nam những cảm nhận và đánh giá của nhà văn cùng tác phẩm tương đối
hệ thống Trong những bài này, tác giả bộc lộ quan điểm và những nhận định sắc sảo về khuynh hướng sáng tác truyện ngắn đương thời cũng như lối viết truyện của riêng Raymond Carver
Từ công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài, chúng tôi thấy, truyện ngắn của Raymond Carver được khảo cứu trên nhiều bình diện Tuy chưa có
công trình nào trực tiếp bàn đến nghệ thuật phi trung tâm, nhưng những công
trình đó, ít nhiều đều có những gợi ý quý báu để chúng tôi tiếp thu, đối thoại khi triển khai đề tài
1.2.2 Nghiên cứu về Raymond Carver ở Việt Nam
Vấn đề “Raymond Carver”, ở Việt Nam, dường như vẫn còn mỏng, chưa có nhiều bài nghiên cứu về nhà văn này Dương Tường, khi viết lời giới thiệu về
Raymond Carver trên tạp chí Văn học nước ngoài số 5, 1999 và lời giới thiệu tập truyện Bọn mình nói chuyện gì khi bọn mình nói chuyện tình (2012) gọi Carver là
“một Chekhov của nước Mỹ hậu hiện đại” với “biệt tài nói nhiều nhất bằng ít lời nhất”, “chỉ bằng vài dòng, mươi mười lăm từ, ông đã có thể tạo nên một thế giới của tuyệt vọng và hiu hắt” [18,215]
Năm 2008, Đào Duy Hiệp trong khi bàn về sự “vắng mặt” của người viết hay
đúng ra là người kể chuyện trong mục Những quan niệm về truyện ngắn đã chỉ ra thi
pháp “ghìm nén, cộc lốc, rất lạ và nói chung rất Mỹ” của Raymond Carver Tác giả khẳng định: “Người kể chuyện trong sáng tác của Raymond Carver cũng “vắng mặt” đến mức tưởng như không biết kể chuyện”[29,86] Quan điểm này gần với quan điểm của chúng tôi khi bàn về điểm nhìn ở chương ba và cốt truyện ở chương bốn
Trang 39Lê Huy Bắc, người có nhiều cuốn sách, nhiều bài viết nghiên cứu về chủ
nghĩa hậu hiện đại và truyện ngắn của Raymond Carver như: tiểu luận Chủ nghĩa cực hạn và Raymond Carver trong cuốn Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, Những khuynh hướng chính trong văn chương hậu hiện đại trong cuốn Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận, Raymond Carver và truyện ngắn cực hạn trong cuốn Đặc trưng truyện ngắn Anh Mỹ, Raymond Carver trong cuốn Lịch sử văn học Hoa Kỳ, Raymond Carver và “Truyện biết nhiều hơn người kể” trong cuốn Đặc trưng truyện ngắn Hậu hiện đại Hoa Kỳ… Lê Huy Bắc khẳng định:
“Raymond Carver là người quy tụ thành công nhất các nguyên tắc tiêu biểu của chủ nghĩa cực hạn” [14,81] qua việc phân tích ngôi kể, việc hạn chế sử dụng các trạng từ và tính từ, cốt truyện Theo đó, “chủ nghĩa tối giản trong văn học đã đáp ứng được yêu cầu của chủ nghĩa hậu hiện đại ở chỗ đã chủ trương hạn chế tối đa khả năng hư cấu, khả năng tự sự chủ quan, khả năng bao quát mọi vấn đề ” [9,59] Nhà nghiên cứu còn chỉ ra một số điểm khác biệt lớn giữa Carver với các nhà hiện đại về cách đặt tên nhân vật, cách đặt nhan đề, cách trần thuật, quan hệ giữa người
kể và điều được kể, tính sự kiện trong bài Chủ nghĩa tối giản và Raymond Carver
Và “truyện ngắn của Raymond Carver là kiểu truyện không nói hết và không nói quá những gì người kể biết và trực tiếp trải nghiệm, đồng thời, khi viết, nhà văn
luôn tính đến vai trò của bạn đọc, tạo điều kiện cho họ tham gia đồng sáng tạo… Vậy nên, kiểu truyện này tự thân nó đã “biết nhiều hơn” người kể” [16,102]
Ngoài ra, nghiên cứu truyện ngắn của Raymond Carver còn có một số luận
văn thạc sĩ: Đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Raymond Carver của Phan Thị Vân Thanh, Tính chất cực hạn trong truyện ngắn của Raymond Carver của Đỗ Thanh Vân, Bức tranh cuộc sống trong truyện ngắn của Raymond Carver của Đỗ Thị
Minh Thủy Nếu Phan Thị Vân Thanh nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống những đặc sắc nổi bật của truyện ngắn Raymond Carver qua ba phương diện: xây dựng nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ, đặc biệt trong đó, tác giả luận văn nhấn mạnh đến “kiểu cốt truyện đơn giản, lỏng lẻo với sự tham chiếu của nhiều cốt truyện” thì luận văn của Đỗ Thanh Vân lại tập trung nghiên cứu về tính chất cực hạn qua đối thoại, ngôn từ người kể và cốt truyện của Carver, trong đó ở phương diện cốt truyện, luận văn chú ý tới “tình tiết đời thường”, sự “tiết giảm chi tiết” và tính mơ hồ và lối kết mở cùng kịch tính sau kết thúc Đỗ Thị Minh Thủy lí giải bức tranh đời sống được tái hiện trong tác phẩm của Carver dưới góc nhìn của cảm quan
Trang 40hậu hiện đại với sự phân tích từ ảnh hưởng của cái vô thức, tính dục, sự kiếm tìm bản thể, biểu tượng và một số motif… Những hướng nghiên cứu này ít nhiều gợi
mở cho chúng tôi khi tìm hiểu về cốt truyện và nhân vật của truyện ngắn Carver từ góc nhìn phi trung tâm
Càng về sau này, cách nhìn nhận và việc giới thiệu tác phẩm của Raymond Carver ở Việt Nam dường như đã cởi mở hơn Trần Hoàng Hoàng, trong bài viết
Raymond Carver, bậc thầy của truyện ngắn tối giản cho rằng: “R.Carver không
phải là người tiên phong của chủ nghĩa tối giản, nhưng có thể xem ông là một nhà văn thành công nhất với phong cách tối giản” nên “truyện của Carver không có nhiều tình tiết mà thường chỉ có một nhưng sức nặng, tính tượng trưng và tính dự báo của các tình tiết rất đáng kể” và “R Carver không bao giờ giải quyết triệt để xung đột trong truyện” [169] Thiết nghĩ, đây là cách thức để nhà văn có thể nói được nhiều nhất các chủ đề sau mỗi câu chuyện, do vậy, tính đa trị của tác phẩm sẽ được khai thác ở nhiều góc độ đa dạng hơn Và đương nhiên, độc giả sẽ được nhập cuộc đầy hứng thú và sáng tạo
Vẫn khẳng định Raymond Carver là nhà văn của khuynh hướng tối giản, Nguyễn Vĩnh Nguyên lại nhìn thấy “Raymond Carver trong bầu khí quyển nguy cơ” một lối viết truyện mà trong đó “dấu vết của người viết hoàn toàn triệt tiêu” và khẳng định: “Trên trang giấy là những khung cảnh quy mô rất nhỏ của đời thường được diễn ra trên nền ngôn từ tiết chế gọn gàng đến lạnh lẽo, đôi khi cộc lốc và sòng phẳng” [173]
Năm 2012, trên Quân đội nhân dân online, Thu Thuỷ đã giới thiệu Tập truyện ngắn mới của nhà văn Mỹ Raymond Carver nhân dịp tập truyện ngắn Em làm ơn im đi được không? ra mắt bạn đọc Trong đó, tác giả chỉ ra rằng: “Phong
cách đặc trưng của Raymond Carver là miêu tả những điều bình dị nhưng khiến người đọc cảm thấy lạ lùng, có khi ớn lạnh, thậm chí là sợ hãi nhưng có thể thấy, văn chương của ông không hẳn thuộc về trường phái tối giản Văn Carver sắc lẹm nhưng không thu mình lại quá mức” [176]
Còn Lâm Vũ Thao - người dịch cuốn Em làm ơn im đi được không? khi trả lời phỏng vấn ngày 28/9/2012 trên tuoitre.vn cho rằng: “Mỗi chữ, mỗi câu trong
truyện ngắn Carver đều có dụng ý, và truyện của ông qua mỗi lần đọc, ta đều có thể khám phá một cái gì đó mới mà lần đọc trước chưa nhận ra” [175] Và khi được hỏi
về điểm tương đồng giữa H Murakami và R Carver, dịch giả đã cho rằng: “Truyện