Trên cơ sở nghiên cứu những định nghĩa của nhiều nhà khoa học khác nhau, chúng tôi đã đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học như sau: Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trìn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BR-VT
Trang 2Những định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4khóa VII của Đảng (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) được thể chếhóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đàotạo Đặc biệt trong các văn kiện trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt
và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chỉ rõ: “chất lượng, hiệu quả giáo
dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệthống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và các phương thức giáo dục,đào tao; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học,sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng đúng mức việc giáo dụcđạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánhgiá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực chất Quản lí giáo dục và đào tạo có mặt còn yếu kém.Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu Đầu
tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đàotạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diệnGD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới
Trang 3phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện phápđổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
Thực tế việc đổi mới PPDH tại trường THPT Nguyễn Du trong thời gian qua cònnhiều bất cập và hạn chế, một số giáo viên chưa thực sự chịu khó, quyết tâm cải tiếnPPDH, vẫn còn hiện tượng “đọc - chép”, chưa chú trọng đến việc tạo hứng thú, kích thích
tư duy học sinh tiếp nhận, làm chủ kiến thức Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các GV đangtrực tiếp giảng dạy, là phải không ngừng đổi mới PPDH cho phù hợp với đặc trưng mônhọc Đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo và rèn luyện thóiquen vào khả năng tự học Tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tìnhhuống khác nhau và trong thực tiễn, tránh sự ỷ lại và phụ thuộc vào GV, đem lại niềm vui,
sự yêu thích qua từng tiết học, bài học đó nhiệm vụ hết sức cấp thiết
2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
Vấn đề vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học không phải là mộtvấn đề mới, mà từ trước đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên giatrong và ngoài nước đưa ra nhiều giải pháp đề cập ở những góc độ khác nhau
Vậy, trong công tác giáo dục điều quan trọng là nhà giáo phải làm cho học sinh hàohứng, phấn khởi, tích cực tiếp nhận tự sự giáo dục Nhà giáo dục chỉ là người hướng dẫn,gợi mở cho học sinh chứ không thể thay thế được tính tích cực chủ động, sáng tạo của họcsinh như nhà triết học, người thầy vĩ đại của Trung Quốc thời kỳ cổ đại là Khổng tử nói:
“Trò nào không hỏi làm thế nào? Làm thế nào? Thì ta cũng chẳng làm thế nào được” Vìvậy, nhà giáo dục phải tìm mọi biện pháp động viên, khơi dậy tính tích cực của chủ thể ôngnói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực mình vì không rõ đượcthì không bày vẽ cho Vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc khácthì không dạy nữa”
Ở Việt Nam tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học nhưtác giả Phan Huy Ngọ: “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giả đã đisâu nghiên cứu vấn đề lý luận dạy học, các phương pháp dạy học, kỹ thuật sử dụng phươngtiện dạy học trong nhà trường, điểm mạnh và hạn chế của các phương pháp dạy học, cácphương pháp đánh giá kết quả [33; 183] Cũng như Trần Bá Hoành: “Đổi mới phươngpháp dạy học, chương trình SGK” tác giả nghiên cứu và trình bày lý luận chung đổi mới
Trang 4phương pháp dạy học, chương trình và SGK phổ thông [19; 7,176] Còn Đặng ThànhHưng: “Tương tác và hoạt động của thầy trò trên lớp học” tác giả đã chú trọng trình bày kỹthuật sử dụng câu hỏi trong bài học, hành vi ứng xử của giáo viên, sử dụng lời nói trên lớp
và trình bày bảng như một phương tiện ngôn ngữ viết trên lớp [20; 28] Với Trần Bá Đoàn:
“Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực” tác giả nêu lên những vấn đề chung về thực trạngdạy và học hiện nay, sự cần thiết phải đổi mới, những định hướng đổi mới theo phươngpháp dạy và học tích cực [16; 3] và nhiều công trình khác Từ sự nghiên cứu lý luận dạyhọc và nêu lên hệ thống các PPDH theo hướng tích cực, chủ động của người học, khẳngđịnh vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học, các tác giả đã có cách viếtkhác nhau tạo ra sự đa dạng và phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định phương pháp dạy học tích cực có ýnghĩa và vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người lànhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnhhội tri thức, kỹ năng và hình thành thái độ Những giáo trình, tài liệu, công trình nghiên cứu
về lý luận phương pháp dạy học tích cực nói chung khá phong phú và đã định hướng mụctiêu tầm quan trọng về PPDH tích cực, đã cung cấp cho tôi về phương pháp lý luận làm cơ
sở, tiền đề nghiên cứu cho giải pháp
Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu, khảo sát về thực trạng việc vậndụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáodục công dân lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Du nhằm đưa ra phương hướng và giải phápcho vấn đề này Do vậy, trong đề tài này một mặt tác giả kế thừa những vấn đề lý luận vềPPDH tích cực nói chung Mặt khác, tôi đi sâu phân tích, triển khai áp dụng vào một vấn đềmới hơn, có ý nghĩa thực tế hơn, liên quan trực tiếp đến chuyên môn và nghiệp vụ của mình
thông qua đề tài mà tôi lựa chọn đó là: Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 trường THPT Nguyễn Du làm đề tài nghiên cứu.
3 Mục tiêu của giải pháp
Nghiên cứu thực trạng việc vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dânvới đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 trường THPT Nguyễn Du, Từ
Trang 5kết quả khảo sát, thực nghiệm của đề tài, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng dạy học môn Giáo dục công dân ở lớp 10 trường THPT Nguyễn Du.
4 Căn cứ để giải pháp của tác giả là đúng đắn
Thứ nhất, Xuất phát về mặt cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn GDCD lớp 10 4.1 Khái niệm phương pháp và phương pháp dạy học
+ Khái niệm phương pháp
Khái niệm phương pháp xuất phát từ thuật ngữ Hi Lạp “Methodos” có nghĩa chung
nhất là con đường nghiên cứu, cách thức làm việc, phương tiện mà chủ thể phương phápdạy học sử dụng tác động, chiếm lĩnh để tìm ra và chứng minh chân lý
G.Hêghen đưa ra định nghĩa về phương pháp và được Lênin nêu lên trong tác phẩmBút ký triết học: “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật Mỗi sự vật đều
có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định Hình thức không bao giờ tồntại riêng, tách rời nội dung Đồng thời nội dung cũng không tồn tại tách rời hình thức vậnđộng của nó Mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng của mình” [33; 142] Trongdạy học cần phải có phương pháp, phải làm cho HS tiếp thu kiến thức bằng con đườngngắn nhất, với sự nỗ lực của HS, dưới sự hướng dẫn giảng dạy của GV Kết quả trongtrường phổ thông được đánh giá không chỉ ở mặt nội dung mà còn cả về phương pháp
Theo quan điểm của C Mác (1818-1883): “Phương pháp là sức mạnh tuyệt đối, duynhất, cao nhất, vô cùng tận, không có vật thể nào có thể cưỡng lại nổi; đó là xu thế của lýtính đi đến chỗ tìm thấy lại, nhận thấy lại bản thân mình ở trong mọi sự vật” [24; 122].Trong công tác giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì GV phải được trang bị đầy đủ cả về
cơ sở lý luận khoa học lẫn kinh nghiệm thực tế Vì có kiến thức tốt chưa chắc đã cóphương pháp dạy học tốt, nhưng không thể có phương pháp giảng dạy tốt nếu GV chưanắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra
một định nghĩa về phương pháp như sau: Phương pháp là cách thức làm việc của
thầy và của trò để đạt được mục đích đặt ra.
+ Khái niệm phương pháp dạy học
Trang 6Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Theo tác giảPhan Trọng Ngọ: “Định nghĩa chung nhất về phương pháp dạy học là những con đường,cách thức tiến hành hoạt động dạy học”[33; 145] Còn GS TS Đặng Thành Hưng:
“Phương pháp dạy học là những phương thức hoạt động trật tự có liên quan qua lại củagiáo viên và học sinh nhằm đạt những mục tiêu giáo dục” [21; 1] Tuy nhiên, có nhiềucách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung của định nghĩa trên đều có một tư tưởng chunglà: Phương pháp dạy học là sự tương tác trong tiến trình hoạt động của giáo viên và họcsinh, do đó phương pháp dạy học được xem xét trong mối liên hệ giữa phương pháp vớicác nhân tố khác của quá trình dạy học (mục đích, nội dung, hình thức tổ chức dạy học,kiểm tra, đánh giá, ) Trên cơ sở nghiên cứu những định nghĩa của nhiều nhà khoa học
khác nhau, chúng tôi đã đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học như sau: Phương pháp
dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, với sự tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích của quá trình dạy học
+ Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học là chủ thể của quá trìnhhọc tập cũng đã có từ lâu Tư tưởng chỉ đạo đổi mới về PPDH được phát biểu dưới nhiềuhình thức: “lấy học sinh làm trung tâm”, “phát huy tính tích cực”, “phương pháp dạy họctích cực”, “phương pháp giáo dục tích cực”, “tích cực hóa hoạt động học tập”, “ hoạt độnghóa người học”, cùng với điều đó là nhiều lý thuyết dạy học của nhiều tác giả bàn vềPPDH Nhưng quan niệm và cách trình bày, lý giải của các tác giả không phải đã hoàn toànthống nhất với nhau về PPDH
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, đểchỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của người học
“Tích cực” trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái
nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng với theo nghĩa trái với tiêu cực
Tác giả Trần Bá Hoành: “PPDH hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người họcchứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy
Trang 7theo PPDH tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụđộng” [19; 83] Còn cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “phương pháp dạy học màcác đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm Người ta thường đặt ranhững câu hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi, người nghe,người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó, suy nghĩ, tìm tòi PPDH tíchcực này có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi conngười Phương pháp này giúp người ta phương pháp tự học và ham học Đó là cái quý báunhất”[17; 5].Tuy nhiên, hiện nay cũng đang có nhiều quan niệm, tư tưởng của các giáo dụctrong và ngoài nước tập trung làm rõ “Phương pháp dạy học tích cực” Mỗi một khái niệm
có sự tiếp cận khác nhau về cách diễn đạt Nhưng hầu hết các tác giả đều khẳng định,phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc
Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi
đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học tích cực như sau:
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động sáng tạo tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung tâm trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy và kết hợp các phương tiện
kỹ thuật hiện đại nhằm đạt được các mục tiêu của bài học.
4.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh
PPDH tích cực dựa trên cơ sở tâm lý cho rằng, nhân cách của trẻ được hình thànhthông qua các hoạt động chủ động, có ý thức Trí thông minh của học sinh nhờ sự tác độnggiữa chủ thể hoạt động với đối tượng và môi trường Dạy học theo cách này không chỉ đơngiản cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn hành động Khả năng hành động là một yêu cầnđược đặt ra không chỉ đối với từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn
xã hội Trong PPDH tích cực, học "chữ" và học "làm" gắn với nhau Từ học làm đến biếtlàm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và phát triển như nhân cách một con người laođộng, tự chủ, năng động, sáng tạo
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
Trang 8Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Một yếu tố quantrọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịpthời và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Nếu rèn luyện cho ngườihọc có được kỹ năng, phương pháp thói quen tự học, biết linh hoạt ứng dụng những điều đãhọc vào những tình huống mới biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra thì sẽtạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quátrình tự lực giành lấy kiến thức mới Trong một lớp học, tư duy và trình độ kiến thức củahọc sinh không đều nhau Vì vậy buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ và tiến độhoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công táchọc tập Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng con đường hoạt động thuần túy cá nhân Lớp học là một môi trường giao tiếpthầy - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường chiếm lĩnh tri thức củanhân loại Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể ý kiến của mỗi cá nhân được điềuchỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài họcvận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp
- Kết hợp đánh giá của thầy và của trò.
Trong học tập, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động của trò, đồng thời tạo ra điều kiện nhận định thực trạng và điểuchỉnh hoạt động dạy của thầy
Như vậy, bốn đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực trên đã thể hiện tính
ưu việt của nó Vì vậy, để dạy học có hiệu quả thì giáo viên cần nắm vững bốn đặc trưngcủa các phương pháp dạy học tích cực
So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực như sau:
Phương pháp dạy học truyền thống
Phương pháp dạy học tích cực
Trang 9kiến thức, kỹ năng, tư tưởng và
tình cảm
học có được phương pháp, kĩ năng,thói quen, ý chí tự học bằng cáchtìm tòi, khám phá, thu nhận và xử lýthông tin từ môi trường xung quanh
Bản chất - Dạy là quá trình truyền thụ tri
thức, kỹ năng và chứng minh chân
lý theo cách của GV
- Dạy là quá trình tổ chức hoạtđộng nhận thức cho HS Dạy HStìm ra chân lý
Mục tiêu - Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo
- Học để đối phó với thi cử Tri thức
được truyền đạt đã quy định trong
chương trình và sách giáo khoa
- Hướng dẫn cho người học sớmthích ứng với đời sống xã hội hòanhập và phát triển cộng đồng, xãhội
- Tôn trọng nhu cầu và lợi ích khảnăng của HS
Nội dung - Trong sách giáo khoa và sách
+ Yêu cầu của chương trình quy định+ Tình huống thực tế, hoàn cảnh xungquanh
+ Nhu cầu xã hội+ Những vấn đề học sinh quan tâm
Trang 10- Người dạy chủ động truyền đạt
tri thức, người học thụ động tiếp
thu
- Người dạy truyền thụ một chiều
độc thoại hay phát vấn
- Người dạy giảng - Người học
ghi nhớ, học thuộc lòng Người
dạy độc quyền đánh giá cho điểm
- Người dạy là thầy dạy, dạy chữ,
dạy nghề và dạy người
- Dạy học hướng tập trung vàongười học, đề cao vai trò chủ động,
tự lực tích cực của người học.Người học tự mình tìm ra kiến thứcdưới sự hướng dẫn của GV
- Người dạy – người học, người học– người học
- Người dạy định hướng, hướngdẫn cho người học về phương pháp
tự học, cách ứng xử, giải quyết vấnđề
- Người dạy là thầy học cách dạycho người học, tự học chữ, tự họcnghề, tự học làm người
Ưu điểm - Dễ chuyển tải đến người học
một khối lượng thông tin cần thiết
cho số lượng lớn HS
- Trong một khoảng thời gian
ngắn, GV có thể cung cấp cho
người học một khối lượng thông
tin rất phong phú, được cấu trúc
- Phát huy tính chủ động, tích cựcnhận thức của HS và chú trọng đến
sự phát triển cá thể, giúp HS hứngthú học tập
- Chú trọng thực hành kỹ năng giaotiếp với mọi người
- Rèn luyện cho HS ý thức được
Trang 11theo một logic chặt chẽ.
- HS tiếp thu bằng con đường
ngắn nhất và ghi chép được đầy
đủ nội dung của bài học
- Trong một khoảng thời gian
ngắn, GV có thể cung cấp cho
người học một khối lượng thông
tin rất phong phú được GV cô
- Dạy học truyền thống không đòi
hỏi sử dụng nhiều phương tiện
nên đỡ tốn thời gian và công sức
cho GV
bản thân về quá trình tự học, tựnghiên cứu và nắm vững cácphương pháp làm việc trí tuệ đểhiểu, ghi nhớ tài liệu học tập, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo và thực hiệnviệc kiểm tra lĩnh hội kiến thức
- Mọi người học đều phải suy nghĩ,chia sẻ, học hỏi và giúp đỡ lẫnnhau, bình đẳng và tự tin hơn, chủđộng giải quyết vấn đề
- Không khí lớp học luôn sôi nổi
Hạn chế - Thu được rất ít thông tin phản
hồi từ phía người học
- Mức độ lưu giữ thông tin của
người học rất ít, do trí nhớ ngắn
hạn, trí nhớ làm việc của người
nghe thường xuyên bị quá tải
- Tính cá thể hóa trong dạy học
thấp, do giảng viên phải dùng một
số biện pháp chung cho cả lớp
- Học sinh gần như thụ động tiếp
- Đòi hỏi GV phải gia công về tựlực tài liệu và tốn nhiều thời gian,công sức đầu tư cho bài giảng
- Phải có đủ phương tiện và thiết bịdạy học phù hợp để đáp ứng quátrình dạy học
- HS sau khi tập trung vào suy nghĩ,bàn bạc, trao đổi phải tự đưa ra kếtluận và ghi bài dưới sự hướng dẫncủa GV
Trang 12nhận thông tin, ít có cơ hội thểhiện và áp dụng các ý tưởng củamình đối với tài liệu học tập,không phát huy được tính tích cựcchủ động sáng tạo của người học.
- GV thì phải biết áp dụng cácPPDH và PTDH một cách linhhoạt, phù hợp vào từng nội dungcủa bài học mới đạt hiệu quả
4.3 Một số phương pháp dạy học tích cực có thể vận dụng trong phần “Công dân với đạo
đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10.
Hiện nay, có rất nhiều PPDH tích cực có thể vận dụng vào tất cả các bài dạy học ởchương trình môn GDCD cấp THPT Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứumột số PPDH có nhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực của HS trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức”, thuộc chương trình môn GDCD lớp 10 như sau:
4.3.1 Phương pháp nêu vấn đề
Để có thể nêu tình huống vấn đề, GV phải nắm vững bản chất của vấn đề, nắm vữngnội dung bài học Nếu không GV chỉ có thể nêu ra câu hỏi mà HS chỉ cần đọc sách giáokhoa là có thể trả lời một cách dễ dàng, không đòi hỏi phải có hoạt động tư duy Yêu cầuđặt ra đối với việc vận dụng PPNVĐ và giải quyết vấn đề trong môn GDCD đòi hỏi GVphải tiến hành các bước sau:
Bước 1: Đặt vấn đề:
GV nêu vấn đề cho HS suy nghĩ GV hướng dẫn HS nhận dạng và thảo luận vấn đềcần giải quyết với sự giúp đỡ của GV
Bước 2: Giải quyết vấn đề:
GV hướng dẫn HS tiến hành nghiên cứu, để tìm ra cách giải quyết vấn đề được giao,
HS tự lực suy nghĩ, sáng tạo và lựa chọn giải pháp tối ưu, cho kết quả tốt nhất
Bước 3: Kết luận vấn đề:
GV cho các nhóm trình bày kết quả của nhóm mình Cả lớp cùng thảo luận, sosánh và đánh giá kết quả của từng cá nhân hay của nhóm, GV kết luận vấn đề đã được giảiquyết và đề xuất vấn đề mới
Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, chúng tôi nhận thấy tùy theo nội dung bài học
và trình độ HS, GV có thể vận dụng PPNVĐ theo các mức độ đã nêu trên cho phù hợp.Tuy nhiên, khi vận dụng, cho dù ở mức độ nào thì GV luôn phải có sự chuẩn bị chu đáo,trước các tình huống và cảm xúc của HS khi trả lời các câu hỏi, khi giải quyết các vấn đề
Vận dụng PPNVĐ vào dạy học môn GDCD cần lưu ý một số điểm như sau:
- Dạy học nêu vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Trang 13- Vấn đề nêu ra phải phù hợp với trình độ HS với mục tiêu bài học và gắn với thực tiễncuộc sống, huy động được vốn sống, kiến thức của HS, tránh tầm thường hóa hoặc thôthiển hóa làm mất định hướng chính trị.
- Mất nhiều thời gian, phải có tâm huyết, công sức và sự chuẩn bị kỹ lưỡng
- Phải phát huy được khả năng độc lập, suy nghĩ, năng lực tư duy sáng tạo của người học,vận dụng các tri thức của bản thân vào giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong thựctiễn
- Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác
Vận dụng phương pháp nêu vấn đề có những ưu điểm sau:
Một là, tạo ra môi trường lý tưởng cho người học, bộc lộ sự hiểu biết của mình một
cách tích cực và tự giác Đồng thời GV tổ chức hoạt động học tập để HS nắm vững được trithức và các phương pháp lĩnh hội khác nhau để đạt hiệu quả
Hai là: PPNVĐ giúp người học tiếp nhận tri thức một cách chủ động, là cơ hội để
HS thể hiện khả năng của bản thân trong việc áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn
đề các tình huống thực tiễn đặt ra
Ba là, PPNVĐ giúp người học phát huy khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển năng
lực tư duy, sáng tạo, kỹ năng vận dụng các tri thức của bản thân vào giải quyết các vấn đềhọc tập và trong thực tiễn Đồng thời PPNVĐ còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữacác thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác giải quyết tình huống, thông qua đó GV
có thể kiểm tra, đánh giá được năng lực của HS thông qua các hoạt động học tập
Ngoài những ưu điểm trên PPNVĐ còn có những hạn chế như sau:
Để xây dựng một tình huống có vấn đề, đòi hỏi GV phải có nhiều kinh nghiệm vềchuyên môn cũng như kỹ năng vận dụng PPDH, đó là việc không hề đơn giản đối với mọi
GV và mọi bài học; hơn nữa PPNVĐ còn đòi hỏi người học phải nắm vững tri thức liênquan đến vấn đề cần giải quyết
4.3.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dùng lời nói trong đó GV gợi mở,động viên và tổ chức cho HS tham gia trao đổi ý kiến chung của nhóm mình về một vấn,trên cơ sở đó rút ra kết luận, kiến thức mới, xác định và làm sáng tỏ vấn đề liên quan đếnnội dung bài học Phương pháp này có nhiều ưu thế trong việc tăng cường học tập của cánhân phối hợp với học tâp hợp tác giúp người học hiểu bài sâu hơn, phù hợp với nhữngvấn đề trong phần đạo đức, pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước
Trang 14PPTLN có thể tiến hành theo 2 cách là thảo luận lớp và thảo luận theo nhóm nhỏ.Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung làm rõ hình thức thảo luận nhómnhỏ trong một lớp học.
Dựa vào nội dung bài học, GV chuẩn bị các câu hỏi thảo luận, chia HS theo nhómnhỏ từ 4 - 8 em và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận 1 – 2 câu hỏi Mọi ý kiến củacác thành viên nêu lên trong nhóm phải được bàn bạc thống nhất Sau khi thảo luận, mỗinhóm cử một người lên trình bày kết quả trước cả lớp Sau phần trình bày của mỗi nhóm,
GV hướng dẫn, điều khiển để cả lớp được đóng góp ý kiến bổ sung Hệ thống câu hỏi củacác nhóm chính là cấu trúc nội dung của bài học, hoặc một phần của bài học
Là một trong những PPDH tích cực, PPTLN nếu được sử dụng rộng rãi sẽ giúp cho
HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, khuyến khích tính tích cực ngay cảvới những HS rụt rè, nhút nhát trong học tập, tạo cơ hội để các em được tự thể hiện mình,
HS có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay cùng giải quyết một vấn đề, một tình huống vềtriết học, đạo đức… trong chương trình môn GDCD Phương pháp này đòi hỏi người họctích cực động não, cho phép mọi thành viên trong nhóm được phát huy tối đa khả năng củabản thân trong hoạt động hợp tác, cộng tác, tương tác với mọi thành viên khác, được tạomọi điều kiện để tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học, được thể hiện quan điểm củamình
Áp dụng PPTLN vào dạy học môn GDCD cần phải theo các bước sau:
- GV giới thiệu chủ đề cần thảo luận và nêu các câu hỏi có liên quan đến chủ đề, thời gianthảo luận
- GV chia số HS của lớp thành các nhóm, chỉ định hoặc yêu cầu các nhóm bầu nhómtrưởng, thư ký và trong nhóm thư ký ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luận nhómmình để trình bày trước cả lớp HS cần luân phiên nhau làm “nhóm trưởng” và “thư ký”,đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận dưới nhiều hình thức: bằng lời, giấy khổ lớn,bảng phụ, bản trong hoặc phiếu học tập
- GV tổ chức cho các nhóm tiến hành thảo luận các nội dung đã được giao trong thời gianquy định
- Cử đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận trước lớp Các nhóm khác lắng nghe, chấtvấn, trao đổi, bổ sung ý kiến
- Trong thời gian học sinh thảo luận, GV cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiếncủa HS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết
- Giáo viên tổng kết các ý kiến theo nhóm nhỏ
Trang 15Đây là một PPDH được đưa vào dạy học trong các trường phổ thông Quá trình vậndụng chiếm nhiều thời gian của tiết học Vì vậy, đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm trongviệc tổ chức dạy học Khi vận dụng PPTLN cần lưu ý:
- Đưa ra câu hỏi thảo luận phải sát với nội dung bài học và phù hợp với trình độ HS, khôngđược thảo luận khái niệm, định nghĩa hay những nội dung đã được trả lời đầy đủ trongSGK
- Cách chia nhóm phải hết sức linh hoạt, luôn thay đổi để tạo điều kiện cho mỗi HS đượcgiao lưu với tất cả HS trong lớp học và quy định rõ thời gian thảo luận của các nhóm
- GV phải đi lại, quan sát hoạt động thảo luận, lắng nghe ý kiến của HS để kịp thời giúp đỡhoặc nhắc nhở một số HS có biểu hiện thiếu tập trung không muốn đóng góp ý kiến Cầnkhích lệ mọi HS cùng tham gia đóng góp ý kiến, không chê bai một ý kiến nào
- Kết quả thảo luận của các nhóm phải được trình bày trên bảng hoặc treo xung quanhtường lớp học để HS có cơ hội quan sát, ghi nhớ những điều mỗi em cần biết
- GV phải nhắc nhở HS chuẩn bị bài trước ở nhà, sau khi thảo luận xong, HS chỉ bổ sungthêm những ý còn thiếu vào bài, có như vậy mới đảm bảo thời gian cho một tiết học
- Chỉ sử dụng PPTLN ở những phần có nội dung khó, trọng tâm của bài học, chiếm nhiềuthời gian của tiết dạy học dễ làm “cháy” giáo án
- GV không nên sử dụng PPTLN hai lần trong một tiết học
Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong qua trình dạy học có rất nhiều ưu điểm nổi bật như sau:
Một là, PPTLN tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS với GV, giữa HS với HS
trong nhóm, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng thuyết phục người nghe Trong lớp, HS sẽ đượctrao đổi, hợp tác với nhau, để bộc lộ hiểu biết, quan điểm của mình về nội dung,phương pháp học tập, cũng như trong lĩnh vực khác; giúp họ có nhiều cơ hội rèn luyệncác khả năng diễn đạt cách thức tư duy, ý tưởng của mình
Hai là, PPTLN đã tạo yếu tố, kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và
giữa các nhóm, đặc biệt là trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao và nhiềungười trình bày được nhiều ý kiến dưới góc nhìn khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để cácthành viên học hỏi lẫn nhau với thái độ hiểu biết về trách nhiệm trong nhóm được nângcao
Ba là, PPTLN tạo ra nhiều cơ hội cho GV có thông tin phản hồi từ phía người
học, từ đó GV có thể đánh giá năng lực của HS, có thể thu được tri thức và kinh nghiệm
từ phía HS qua các ý kiến phát biểu sáng tạo của người học
Trang 16Bốn là, PPTLN tạo cơ hội bình đẳng trong cách trình bày ý kiến, quan điểm giữa HS
với HS, giữa HS với GV một cách thân thiện, nghiêm túc cũng như nhận xét, đánh giá ýkiến của người khác và điều chỉnh tư duy của mình Do đó, nếu GV tổ chức tốt PPTLN sẽgóp phần tăng sự hiểu biết, tin cậy, thân thiện, đoàn kết và trao đổi, học hỏi lẫn nhau giữacác thành viên
Ngoài những ưu điểm trên phương pháp thảo luận nhóm còn có những hạn chế như sau:
Dạy học bằng PPTLN sẽ làm mất nhiều thời gian của cả người dạy và người học.
Nên đòi hỏi phải có sự đầu tư kỹ lưỡng về bài giảng, GV phải lường trước được các tìnhhuống có thể xảy ra
Cần lưu ý khi thực hiện PPTLN đó là phương pháp này không thể áp dụng chomọi vấn đề, mọi trường hợp vì mục tiêu dạy học là một khoảng thời gian ngắn, cungcấp cho người học một lượng thông tin lớn, có hệ thống về một chủ đề nhất định, nênđòi hỏi GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn, có khả năng ứng xử những ý kiếntrái ngược nhau, nhấn mạnh kiến thức trọng tâm, mở rộng các hướng nghiên cứu, làmsáng tỏ thêm các vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu Đồng thời, GV phải cókinh nghiệm trong việc đặt ra chủ đề để HS thảo luận không bị lạc đề, kinh nghiệm vềkhả năng lắng nghe, kỹ năng điều khiển và kiểm soát lớp học để học sinh phát huy tínhtích cực, sáng tạo trong học tập của HS Nếu GV không nắm vững và thiếu kinh nghiệmtrên sẽ không thực hiện được mục tiêu dạy học
4.3.3 Phương pháp giải quyết vấn đề
PPGQVĐ là cách thức tổ chức của GV nhằm tạo ra tình huống có vấn đề và điềukhiển hoạt động của học sinh nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập Khi dạy học theoPPGQVĐ đã kích thích HS tự khám phá tri thức, phát hiện giải quyết vấn đề một cáchkhoa học, rất phù hợp với phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình lớp 10
Để áp dụng PPGQVĐ, GV cần tổ chức cho HS học tập theo các bước như sau:
- GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theohướng dẫn của GV, GV đánh giá kết quả làm việc của HS
- GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khicần GV và HS cần đánh giá
- GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện và xác định vấn đề nảysinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiện cách giải quyết vấn
đề GV và HS cần đánh giá
Trang 17- HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng, lựachọn vấn đề phải giải quyết HS giải quyết vấn đề.
Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, chúng tôi thấy tùy theo nội dung bài học vàtrình độ HS, GV có thể vận dụng PPGQVĐ theo các bước đã nêu trên cho phù hợp Tuynhiên, khi vận dụng cho dù ở bước nào thì GV luôn phải có sự chuẩn bị trước các tìnhhuống và cảm xúc của HS khi trả lời các câu hỏi, khi giải quyết các vấn đề Khi vận dụngPPGQVĐ cần lưu ý:
- Nêu vấn đề phải phù hợp với mục tiêu chương trình, mục tiêu bài học và gắn liền vớithực tiễn cuộc sống, phù hợp với trình độ HS, huy động được vốn sống, kiến thức của HS
- Phải kích thích được sự sáng tạo của HS
- Cách giải quyết vấn đề được lựa chọn phải là giải pháp tốt nhất và có hiệu quả
- Khi vận dụng cần kết hợp với các phương pháp dạy học khác
Vận dụng phương pháp giải quyết vấn đề có những ưu điểm sau:
Một là, PPGQVĐ giúp HS phát huy tối đa tính độc lập, tư duy sáng tạo, PPDH này
rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiện tại, thông qua kỹ năng biết giải quyết vấn
đề hợp lý nảy sinh trong quá trình học tập và trong cuộc sống thực tiễn
Hai là, PPGQVĐ giúp người học thấy được mối liên hệ giữa kiến thức cũ với kiến
thức mới để củng cố và vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống thực tiễn Mặt khác, HSthấy có nhu cầu và hứng thú trong việc tìm kiến thức mới
Bên cạnh những ưu điểm trên phương pháp giải quyết vấn đề còn có những hạn chế nhất định đó là:
Hạn chế cơ bản của PPGQVĐ là tốn nhiều thời gian và công sức của cả thầy và trò,không phải bài học nào cũng tạo được tình huống có vấn đề
Mặt khác, khi sử dụng PPGQVĐ vào dạy học GV phải nắm vững kiến thức chuyênmôn và tạo ra tình huống có vấn đề phải vừa sức với người học, liên quan đến nội dung bàihọc, nếu không người học sẽ dễ nản khi gặp tình huống khó, không nhiệt tình tham gia khitình huống thiếu hấp dẫn
Trang 18- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề trước cả lớp hoặc cho từng nhóm nhỏ qua phiếu giao việc.
- Động viên khích lệ HS trả lời vào phiếu học tập hoặc phát biểu
- GV hoặc lớp trưởng, thư ký lớp liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu của HS lên bảng, lênphiếu học tập, lên bản trong để tất cả HS trong lớp theo dõi (trừ các ý kiến trùng lặp) vàphân loại các ý kiến đúng, sai
- Tổng hợp các ý kiến của HS, cho HS được nêu những băn khoăn, thắc mắc và GV kếtluận vấn đề (nội dung cần làm rõ của bài học)
Khi vận dụng PPĐN trong dạy học môn GDCD cần đảm bảo các yêu cầu sư phạmsau:
- Chỉ sử dụng PPĐN khi dạy học các nội dung ít nhiều đã quen thuộc với HS
- Có thể sử dụng PPĐN khi mở đầu bài học, kết thúc bài học, tổng kết bài
- Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn Nếu trả lời vào phiếu học tập cần ngắn gọn bằng mộtcâu, một từ hay cụm từ
- Tất cả ý kiến của HS đều được GV, hoan nghênh, chấp nhận, không vội vàng cười chê,phê phán hay nhận xét đúng sai
- Khi kết luận vấn đề, nội dung bài học GV cần động viên, khích lệ HS bằng việc nhấnmạnh kết quả này là của tất cả mọi thành viên xây dựng nên
Phương pháp động não có những ưu điểm sau:
Một là, PPĐN giúp người học phát huy tư duy sáng tạo, khai thác được kiến thức
và kinh nghiệm của tập thể những phẩm chất của người hoạt động tự lực, độc lập suy nghĩ
Hai là, PPĐN khuyến khích người học tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề Kết
quả của các cuộc động não là những lý tưởng, các giải pháp có tính chất phát kiến củangười học
Ngoài những ưu điểm trên PPĐN còn có những hạn chế như sau:
Hạn chế của PPĐN là mất nhiều thời gian, nếu GV tổ chức không khéo đôi khi kếtquả thu được sau cuộc động não là các ý tưởng nghèo nàn, xa rời chủ đề cần nghiên cứu,học tập
Một số điều cần lưu ý khi thực hiện PPĐN là phương pháp không thích hợp với cácbài dạy có nội dung tường minh, khuôn mẫu, ít cần sự sáng tạo của người học Đòi hỏi GVphải nắm vững PPĐN và có trình độ và kinh nghiệm cao trong giảng dạy
4.3.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
PPNCTHĐH là một PPDH, trong đó HS tự lực nghiên cứu một tình huống thựctiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra Tình huống là một hoàn cảnh thực
Trang 19tế, trong đó chứa đựng những mâu thuẫn, xung đột Người ta phải đưa ra một quyết địnhtrên cơ sở cân nhắc các phương án khác nhau Tình huống cũng có thể là một hoàncảnh gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính phứchợp được viết ra để minh chứng một vấn đề hay một số vấn đề của cuộc sống thực tế.Tình huống trong dạy học là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huốngthực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học Dạy học theo PPNCTHĐH đã kíchthích HS tự khám phá tri thức, phát hiện giải quyết vấn đề một cách khoa học, rất phùhợp với phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình lớp 10.
Vận dụng PPNCTHĐH vào dạy học môn GDCD cần phải theo các bước sau:
- Đọc (xem hoặc nghe) tình huống thực tế và suy nghĩ về nó (có thể viết một vài lĩnh vực
đó trước khi thảo luận điều đó với người khác)
- GV đưa ra một hay nhiều câu hỏi hướng dẫn liên quan đến tình huống (trong tài liệu viếthay từ GV
- Thảo luận tình huống thực tế
- Thảo luận vấn đề chung hay các vấn đề được minh chứng bằng thực tế
Khi vận dụng PPNCTHĐH trong dạy học môn GDCD cần đảm bảo các yêu cầu sưphạm sau:
- Tình huống có thể dài hay ngắn, tùy từng nội dung vấn đề
- Tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi như:
Bạn nghĩ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Bạn sẽ làm gì nếu bạn là nhân vật A? Nhân vật B? v.v… Vấn đề này có thể được ngăn chặn như thế nào? Lúc này cần phải làm gì để hạn chế tính trầm trọng của vấn đề?
- Vấn đề trả lời các câu hỏi này phải được dùng để khái quát một tình huống rộng hơn,khái quát hơn
- Tình huống cần liên hệ với kinh nghiệm hiện tại cũng như tình huống rộng hơn, với nghềnghiệp trong tương lai của người học
- Tình huống có thể diễn giải theo cách nhìn của người học và để mở nhiều hướng giảiquyết
- Tình huống cần chứa đựng mâu thuẫn, vấn đề có thể liên quan đến nhiều phương diện
- Tình huống cần vừa sức với HS và có thể giải quyết trong điều kiện cụ thể
- Tình huống cần có nhiều cách giải quyết khác nhau Trong việc giải quyết các tìnhhuống thực tiễn, không phải bao giờ cũng có giải pháp duy nhất đúng
Trang 20- Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng Sét mà không phải ở dạng chữ viết.
cát-Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình góp phần hỗ trợ cho các PPDH khác nên có những ưu điểm sau:
Một là, PPCNTHĐH giúp cho người học nâng cao tinh chủ động, sáng tạo, hứng thú
và cách giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống Do đó, nếu GV tổ chức tốtPPDH này sẽ góp phần tăng thêm sự hiểu biết, thân hiện và học hỏi lẫn nhau về kinhnghiệm giữa các thành viên trong lớp để mở ra nhiều hướng giải quyết trong các tìnhhuống thực tiễn
Hai là, PPCNTHĐH tạo cơ hội cho người học phát triển toàn diện các kỹ năng như
kỹ năng phân tích để xác định vấn đề, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng tranh
luận, đưa ra luận điểm và bảo vệ ý kiến của mình, qua đó người học sáng tạo khi đưa ra
các giải pháp cho vấn đề
Những hạn chế của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình là:
Dạy học bằng PPNCTHĐH sẽ mất nhiều thời gian cho cả người dạy và người học
Vì để tổ chức một buổi học có hiệu quả đỏi hỏi người dạy cần chuẩn bị chu đáo, đầu tưnhiều thời gian và công sức vào thiết kế bài dạy, trong thiết kế bài dạy những tình huốngphải luôn đổi mới và cập nhật thông tin
Ngoài ra, năng lực của người tổ chức thực hiện PPCNTHĐH cũng là một vấn đềđược quan tâm Vì là người hướng dẫn, tổ chức và là trọng tài khoa học, nên đòi hỏi ngườidạy phải nắm vững kiến thức chuyên môn để mở rộng các hướng nghiên cứu và giải quyếtcác tình huống mà người học đưa ra Để thực hiện tiết dạy thành công thì GV phải giám sátchặt chẽ người học như kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà của HS trước khi đến lớp phảimạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm của mình và GV phải lường trước được tìnhhuống tổ chức giờ dạy
- Hoạt động hóa người học
- Chủ động trong điều chỉnh nhận thức, hành vi hay kỹ năng của người học
- Có thế mạnh trong phân tích, tổng hợp, đánh giá và hướng giải quyết trường hợp
cụ thể trong đời sống thực tế, để Qua đó rút ra kiến thức nội dung của bài học
Trang 21Thứ hai, xuất phát về mặt thực tiễn việc sử dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Du.
Vài nét về trường THPT Nguyễn Du
Với sự hình thành và phát triển của trường THPT Nguyễn Du đã khẳng định được vịtrí trong sự nghiệp giáo dục của tỉnh nhà Đội ngũ CB-GV-CNV với lòng nhiệt huyết yêunghề, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, không ngừng tự học tập, rèn luyện và phấn đấuhoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy và công tác Vì vậy, hàng năm thu hút khá đông HSkhá, giỏi vào học, điểm thi tuyển đầu vào lớp 10 thường cao thứ 3 tỉnh Phần đông HS luôn
cố gắng học tập và rèn luyện, nên tỉ lệ HS khá giỏi chiếm hơn 60% Tỉ lệ HS đỗ tốt nghiệpTHPT luôn đạt 100% Hàng năm trường luôn có nhiều HS đạt giải cao trong các kì thichọn HS giỏi cấp tỉnh Trong quá trình giảng dạy đòi hỏi vấn đề đặt ra cho các thầy, cô làphải luôn tìm tòi giải pháp mới, tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vàobài giảng và không ngừng nâng cao trình độ vươn lên tự khẳng định chất lượng, làm tốtcông tác giảng dạy Để có được những thành tựu đó, thì đòi hỏi người GV, người làm côngtác quản lý phải tìm hiểu kỹ các PPDH tích cực và nắm vững được bản chất, quy trình thựchiện của các PPDH tích cực và đã thấy được những ưu điểm và hạn chế của các PPDH này.Đặc biệt, cần lưu ý khi vận dụng các PPDH tích cực trong tiết dạy học của từng bài cụ thể
vì không có phương pháp dạy học nào là tố ưu cho mọi trường hợp, nên việc nghiên cứu kỹnội dung bài giảng, đặc điểm riêng của từng môn học và đối tượng người học để có sự kếthợp đa dạng các phương pháp dạy học khác
Về Cấu trúc chương trình, mục tiêu, chuẩn của chương trình lớp 10
Do yêu cầu của đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, chương trình môn GDCDlớp 10 từ năm học 2006 - 2007 được cấu trúc thành hai phần :
- Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoahọc
- Phần thứ hai: Công dân với đạo đức
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung phân tích nội dung chươngtrình, giới thiệu tổng thể các bài ở phần hai “Công dân với đạo đức”
Về vị trí: Phần thứ hai của chương trình môn GDCD lớp 10 có vai trò quan trọng
trong việc trang bị cho HS những hiểu biết về các phạm trù cơ bản của Đạo đức học và có
Trang 22trách nhiệm đạo đức của người công dân trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là phần tổngkết những nội dung giáo dục đạo đức mà HS được học ở bậc tiểu học và THCS.
Mục tiêu của phần thứ hai là:
Học xong phần này, HS cần đạt được:
+ Về kiến thức: Hiểu được quan niệm đạo đức, một số phạm trù và giá trị đạo đức
cơ bản của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Có quyết tâm học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để trở thành người công dân tốt.Như vậy, mục tiêu môn GDCD ở bậc THPT: “Góp phần củng cố, phát triển hệ thốnggiá trị đạo đức, văn hóa, pháp luật, tư tưởng chính trị, lối sống mà HS đã được hình thành ởbậc tiểu học và học sinh THCS Đồng thời giúp họ nhận rõ trách nhiệm của thanh niên đốivới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trang bị cho họ phương pháp luận đúng đắn để
họ có đủ bản lĩnh, đủ năng lực chủ động và tự giác xác định phương hướng phát triển củabản thân sau khi tốt nghiệp THPT” [3; 6]
Chương trình môn GDCD lớp 10 phần: “Công dân với đạo đức” được cấu trúc
trong 7 bài nhưng do Bộ Giáo dục năm học 2011- 2012 giảm tải còn 6 bài vì:
Bài 10: Quan niệm về đạo đức (1 tiết)
Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học (2 tiết)
Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình (2 tiết)
Bài 13: Công dân với cộng đồng (2 tiết)
Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (2 tiết)
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại (1 tiết)
Trong chương trình cũ toàn bộ thời lượng của lớp 10 được dành cho việc dạy Triếthọc, nay chương trình mới có thêm phần đạo đức (được chuyển từ lớp 11 cũ xuống) Sở dĩ
có sự sắp xếp này vì kế hoạch dạy học THPT đã có thay đổi trước đây môn GDCD mỗi lớp
có số tiết là 1,5 tiết/ tuần, nay là 1 tiết/ tuần Do sự thay đổi này, phần Triết học và phần
Trang 23Đạo đức đều được tinh giảm, rút ngắn, bám sát hơn mục tiêu của chương trình mới Tuy
nhiên, phần thứ 2 của chương trình lớp 10 “Công dân với đạo đức” đều được cấu trúc với 2
+ Quan hệ với bản thân: Bài Tự hoàn thiện bản thân
+ Quan hệ với người khác: Bài Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình
+ Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại gồm các bài: Công dân với cộng đồng; Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
Từ nội dung chương trình, các bài cụ thể trong SGK được cấu trúc rất mới so với tàiliệu GDCD cũ theo trình tự sau:
- Phần mở đầu bài học: Trình bày một cách ngắn gọn, định hướng chú ý của HS về nhữngyêu cầu của bài học, bao gồm yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ
- Phần nội dung bài học: Trình bày các đơn vị kiến thức của bài dưới dạng các mục lớn,nhỏ để HS theo dõi Điều rất mới của SGK hiện nay là trong các phần bài học có nhữngphần in nghiêng, chữ nhỏ, chữ in đậm, có các tranh ảnh, để gợi ý phương pháp học tập của
HS và PPDH của GV Những dòng chữ in nghiêng, in nhỏ thường được dùng để nhấnmạnh kiến thức cần nhớ, các câu hỏi để dẫn dắt, cung cấp các thông tin, thuật ngữ, nhân vậtcần thiết trong bài học
- Tài liệu tham khảo: Rất đa dạng và phong phú bao gồm các câu chuyện, lời giải một số
từ, nội dung của bài học, các tài liệu, địa chỉ các nguồn tài liệu cần tham khảo giúp cho HStrong quá trình nghiên cứu, tự học được thuận lợi dễ dàng
- Câu hỏi và bài tập: Mục tiêu các câu hỏi và bài tập là giúp HS củng cố, khắc sâu, mở rộngkiến thức, trau dồi lý tưởng, đạo đức, rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực tư duy, vậndụng các tri thức đã được học vào lý giải những vấn đề của tự nhiên, xã hội và con người.Với các vấn đề đã nêu trên cần phải đổi mới PPDH để khai thác nội dung, các phần củaSGK Sử dụng PPDH tích cực vào dạy học để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ độngsáng tạo của HS Đổi mới kiểm tra, đánh giá, sử dụng trong các trường THPT hiện nay
5- Phương pháp thực hiện giải pháp
Trang 24Để thực hiện sáng kiến này, ngoài sử dụng phương pháp luận của việc nghiên cứu làchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh vềGDĐĐ cho thanh niên, trong đề tài tôi còn vận dụng các phương pháp mang tính đặc thùsau đây: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khảo sát, đánh giá thực tế, so sánh, thống kê,điều tra xã hội học và một số phương pháp khác.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢI PHÁP
Những định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết, được thể chếhóa trong Luật Giáo dục, Chỉ thị về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nhưngnhìn chung GV chưa nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học Vì phần nhiều tiết dạy học GVvẫn sử dụng PPDH thuyết trình, giảng giải là chủ yếu, thầy giảng – trò nghe và ghi chép,chưa khai thác hết được tài liệu dạy học, chưa tạo điều kiện cho HS làm việc cá nhân, làmviệc nhóm nên chưa phát huy hết năng lực, sự sáng tạo của HS trong các hoạt động họctập, dẫn đến việc học sinh ít có hứng thú trong học tập làm ảnh hưởng chất lượng dạy –học Mặt khác, khi vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”,nhiều GV trẻ khi lựa chọn PPDH, chưa có kinh nghiệm trong việc tìm hiểu kĩ nội dung bài
Trang 25học để lựa chọn phương pháp phù hợp, còn một số GV có thâm niên công tác có trình độ
và kiến thức vững chắc nhưng hạn chế về sử dụng công nghệ thông tin nên bảo thủ, thànhkiến trong việc vận dụng PPDH tích cực với quan niệm không nhất thiết phải sử dụngPPDH tích cực, dù dạy PPDH nào đi chăng nữa mục tiêu là HS nắm được nội dung bàihọc Nên dẫn đến HS không có thói quen tự học, tự nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp,sức ỳ và sự thụ động của HS quá lớn tron việc phát triển năng lực và phẩm chất thích ứngvới các PPDH phát huy tính tích cực học tập Mặc dù nhà trường luôn cố gắng đề ra nhữnggiải pháp trong việc chỉ đạo, triển khai các Tổ vận dụng PPDH tích cực trong các tiết dạyhọc Đặc biệt là thảo giảng cấp tổ, cấp trường, cấp tỉnh
nhưng chưa đạt được hiệu quả so với mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra Từ đó, tôi đãnhận thức được rằng, một trong những hạn chế của giải pháp nhà trường đề ra là chưa phùhợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường trong thực tiễn Nên tôi đã có ý tưởng đưa ra giải
pháp Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 trường THPT Nguyễn Du được hìnhthành từ năm học 2013- 2014, góp phần Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc vận dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chươngtrình môn Giáo dục công dân lớp 10 ở các trường THPT Trong quá trình giảng dạy
phần“Công dân với đạo đức” chương trình giáo dục công dân lớp 10” và đã áp dụng tronggiảng dạy cho 12 lớp 10/mỗi năm học tại trường THPT Nguyễn Du, từ năm học 2013 chođến năm học 2017 thì trong quá trình thực hiện giải pháp, chúng tôi luôn nhận được sự tínnhiệm Ban giám hiệu và hưởng ứng toàn thể Hội đồng giáo dục nhà trường Đối tượng HS
để chúng tôi thực nghiệm sư phạm có mặt bằng về năng lực học tập tương đối đồng đều,các em đều cộng tác rất tích cực trong hoạt động dạy học cũng như trong khảo sát hiệu quảcủa giải pháp
II Nội dung giải pháp
1 Giải pháp đối với giáo viên
* Về chuyên môn
Trang 26Việc vận dụng PPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chươngtrình môn Giáo dục công dân 10 đạt được hiệu quả, theo chúng tôi GV cần phải đạt nhữngđiều kiện sau đây:
- GV dạy học môn GDCD phải được đào tạo một cách chính quy, đạt chuẩn về chuyênmôn
- GV phải được trang bị cở sở lý luận vững vàng về các PPDH, hiểu rõ mục đích, bản chất
và cách tiến hành cũng như ưu, nhược điểm của từng phương pháp để có thể khai thác vàphối hợp chúng một cách thành thạo, nghệ thuật và khoa học; phải nắm vững nội dung củabài học để đưa ra PPDH phù hợp với từng đơn vị kiến thức của bài nhằm đạt hiệu quảtrong những giờ lên lớp dạy học theo hướng vận dụng các PPDH tích cực
- Hiện nay, xã hội có nhiều biến đổi sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực đời sống GV ngoàiviệc hiểu và nắm vững kiến thức trong SGK thì GV phải có kiến thức liên môn, tự bồidưỡng học tập công nghệ thông tin để mở rộng kiến thức, thiết kế được bài giảng điện tử và
sử dụng thành thạo các PTDH hiện đại phục vụ cho bài giảng của mình phong phú hơn.Ngoài ra GV phải thường xuyên cập nhật thông tin đại chúng để đưa ra được những tìnhhuống thực tế lồng ghép vào bài giảng, từ đó HS nắm bắt được những vấn đề diễn ra trongcuộc sống xung quanh mình, làm cho tiết học sinh động và gây được sự hứng thú trong họctập của HS là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện triết lý trong giáo dục
“lấy người học làm trung tâm”.
*
* Về mặt đạo đức nghề nghiệp của GV
GV phải có lòng yêu nghề thể hiện ở sự đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp,
có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu dạy học lòng yêu nghề thể hiện
ở sự vươn lên không ngừng tự học tập, nâng cao trình độ của bản thân, học mọi nơi, mọilúc, học tập qua bạn bè, đồng nghiệp, tự trau dồi thêm kiến thức khoa học và thực tiễn lênngang tầm đòi hỏi của cách mạng và sự nghiệp giáo dục đang đặt ra, phải không ngừng họctập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với người làmcông tác giáo dục
Đạo đức nghề nghiệp của người GV còn thể hiện sống có lý tưởng, có mục đích, ýchí vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo như
ở sự đầu tư, sáng tạo trong từng trang giáo án, cách thiết kế bài giảng cho phù hợp với từngđối tượng của việc lựa chọn và sử dụng PPDH, PTDH cho đến tiến trình giảng dạy và kiểmtra, đánh giá HS GV phải giúp HS hiểu rằng bản thân môn học có vai trò quan trọng trong
Trang 27việc định hướng hình thành nhân cách cho HS và những giá trị nhân văn cũng như kiếnthức về kinh tế - xã hội của đất nước và sự thành công của các em sẽ trọn vẹn hơn nếu các
em tiếp nhận được những tri thức từ môn học này Như vậy, muốn vận dụng PPDH tíchcực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn GDCD lớp 10 đạt đượchiệu quả, GV phải yêu thích bộ môn, hiểu một cách sâu sắc về kiến thức cơ bản của bộmôn và có ý thức quán triệt đổi mới về PPDH Bởi vì, có kiến thức bộ môn tốt chưa chắc
đã có phương pháp giảng dạy tốt, nhưng không thể có phương pháp giảng dạy tốt nếu GVchưa nắm vững kiến thức cơ bản bộ môn Vì thế, giữa nội dung và PPDH có mối quan hệtác động qua lại lẫn nhau làm nên tiết học sinh động và hiệu quả trong quá trình giảng dạy
2 Giải pháp đối với học sinh
2.1 Xác định động cơ và mục đích học tập đúng đắn
- GV phải xây dựng, xác định cho HS tầm quan trọng, ý nghĩa của bộ môn GDCD như các
môn học khác ngay từ đầu năm học như về cách học, cách đánh giá cho điểm, xếp loại họclực và hạnh kiểm phải theo đúng quy chế, xếp loại HS trung học phổ thông Vì Trongtrường phổ thông xảy ra 2 tình trạng đánh giá HS mâu thuẫn nhau:
+ Thứ nhất, GV chủ nhiệm thường "nới tay", thông cảm với HS, phần lớn các em đều
được xếp loại hạnh kiểm: tốt và khá, em nào quá đáng lắm mới bị trung bình
+ Thứ hai, có những lớp GV chủ nhiệm nhìn nhận, đánh giá HS quá khắt khe, không
toàn diện, siêu hình, theo kiểu chụp mũ, thầy bói xem voi, nhìn một cành khô lá úa màđánh giá cả cánh rừng không xanh, làm cho HS thiệt thòi, bi quan, triệt tiêu động lực họctập
- GV hình thành và phát triển cho các em những tình cảm, niềm tin từ thực tiễn cuộcsống và khi GV phân tích nội dung bài học phải liên hệ tình huống hiện thực của đời sống
xã hội và cho HS phát biểu chỉ ra những hành vi cụ thể đúng sai, để lôi cuốn các em vàoquá trình học tập như Hồ Chí Minh đã dạy:“Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độđúng và phương pháp đúng”.[31; Trang 96] Từ đó, HS nhận thức được vị trí, vai trò, chứcnăng và nhiệm vụ của môn GDCD đối với sự hình thành thế giới quan khoa học và nhânsinh quan, về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống hiện thực trong xã hội Để làm đượcđiều này, đòi hỏi GV đa dạng hóa các hình thức dạy học để thu hút, tạo hứng thú cho HS
Trang 28trong học tập để HS sẽ có cách nhìn nhận đúng về vai trò và tầm quan trọng của môn họcthì các em mới có thái độ học tập đúng đắn.
2.2 Đổi mới phương pháp học tập và tăng cường tính tự học của HS
Đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng coi trọng việc bồi dưỡng nănglực tự học, tự sáng tạo tự khám phá, tự nghiên cứu chiếm lĩnh kiến thức của HS GV trongquá trình dạy học phải phát huy tốt vai trò của người tổ chức, phân công và hướng dẫn,điều khiển quá trình nhận thức, biết cách khuyến khích, cổ vũ HS tham gia vào hoạt độngnhận thức tích cực trong dạy học theo Nghị quyết số 29-NQ/TW như sau:
* HS Chuẩn bị bài trước khi đến lớp, GV hướng dẫn HS khai thác nội dung trongsách giáo khoa, báo, tài liệu tham khảo, trên mạng internet có liên quan đến môn học Vìsách, tài liệu tham khảo chiếm một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống và tronghọc tập Học qua sách, tài liệu tham khảo, báo, mạng internet có nghĩa là thu thập, tìmhiểu nghiên cứu các kiến thức mà sách, báo mang lại cho HS Khi khai thác qua sách, tàiliệu tham khảo, báo, mạng internet HS phải biết vạch ra những ý chính của nội dung liênquan đến bài học
Ví dụ: Khi dạy bài 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức (tiết 2)
a, Mục 3: Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
a Thực tễn là cơ sở của nhận thức
- GV hướng dẫn HS khai thác nội dung trong sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,trên mạng internet là:
+ Siêu tầm những câu tục ngữ, ca dao như:
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm
Chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa
………
+ Nói lên những hiểu biết, tri thức, kinh nhiệm về dự báo thời tiết trong việc quansát các hiện tượng trong tự nhiên của người dân lao động đều nảy sinh từ hoạt động thựctiễn
Trang 29+ Nhờ có sự tiếp xúc, tác động vào sự vật, hiện tượng mà con người phát hiện ra cácthuộc tính, hiểu được bản chất, quy luật của chúng.
- GV hướng dẫn HS đọc sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, Bài 1: Sự xuất hiện của loàingười và bầy người nguyên thủy để khai thác quá trình hoạt động thực tiễn (hoạt động laođộng) là quá trình phát triển và hoàn thiện các giác quan của con người Nhờ đó khả năngnhận thức của con người này càng sâu sắc và đầy đủ hơn về sự vật, hiện tượng
* GV nên quy định cách thức làm việc cụ thể giữa GV và HS đối với môn học như:Học thuộc bài cũ, soạn bài trước ở nhà, làm bài tập Vì làm bài giúp chúng ta củng cố cáckiến thức đã học, nắm bắt được bản chất của vấn đề, tự học qua các bài tập giúp HS sángtạo hơn trong cách giải bài tập, muốn giải bài tập tốt thì HS phải học thuộc bài cũ vì khihọc, HS cần phải biết đang học cái gì? Nội dung của nó ra làm sao? Để áp dụng kiến thứcvào thực tế
* HS phải thay đổi cách học, phải luôn chủ động, tích cựclàm việc cá nhân, làm việcnhóm, tự giác trong học tập để tìm kiếm kiến thức, có ý thức trách nhiệm về kết quả họctập của mình, biết tự học và tranh thủ học mọi lúc, mọi nơi bằng mọi cách, phải luôn nắmbắt được ý chính của bài học Để việc tự học trở thành thói quen ăn sâu vào ý thức của HSthì GV phải kiểm tra thường xuyên việc làm bài tập ở nhà của HS, kiểm tra bài cũ trước khivào học bài mới hoặc kiểm tra bài cũ kiến thức liên quan đến bài mới trong quá trình dạy
và học
3 Giải pháp đối với Nhà trường và Tổ chuyên môn
- Tăng cường vai trò quản lý của nhà trường trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD
Ban giám hiệu nhà trường, nhất là Hiệu trưởng cần phải có quan điểm chỉ đạo tậptrung, ưu tiên đối với hoạt động đổi mới PPDH Cần phải xác định đây là hoạt động trọngtâm trong kế hoạch công tác của Tổ chuyên môn, của Nhà trường Kế hoạch này thể hiện ởhàng tuần, hàng tháng, hàng kỳ, tránh tình trạng một năm chỉ tổ chức hai đợt Hội giảng thểhiện tinh thần PPDH mới mang nặng tính phong trào Cho nên, trong quá trình chỉ đạo Tổchuyên môn, Hiệu trưởng phải chú trọng tất cả các khâu trong quy trình hoạt động; xácđịnh những yêu cầu đổi mới, bàn bạc, xây dựng thiết kế giáo án mẫu theo hướng đổi mới,lần lượt cử GV dạy thử nghiệm và tập thể dự giờ, quy định mỗi tháng phải tiến hành dự giờtiết dạy của các GV trong Tổ bộ môn, sự quy định dự giờ đó hướng vào mục tiêu đổi mớiPPDH, chỉ có như vậy GV bộ môn sẽ đầu tư nhiều hơn trong việc tìm tòi cách thức thựchiện liên tục đổi mới PPDH một cách có hiệu quả
Trang 30Nhiệm vụ của Tổ trưởng chuyên môn là phải xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể vềhoạt động chuyên môn của Tổ, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và theo dõi hoạt độngchuyên môn của các thành viên trong tổ Phân công, sắp xếp công việc giảng dạy chuyênmôn một cách hợp lý; tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho Tổ, thiết thực bàn bạc, trao đổi vềchuyên môn có hiệu quả theo tinh thần đổi mới, chứ không phải họp tổ mang nặng tínhhình thức chỉ thông báo kế hoạch của nhà trường cho thành viên trong tổ biết, rồi kết thúccuộc họp mà hiện nay hầu như các trường THPT đang làm Hơn nữa, Tổ bộ môn phải có
kế hoạch xây dựng và tổ chức thực hiện các chuyên đề đổi mới PPDH Khuyến khích GVmôn GDCD thường xuyên áp dụng PPDH tích cực trong bài giảng một cách hợp lý để đạthiệu quả cao Vì thế, Tổ trưởng phải có kế hoạch cụ thể hàng tháng thăm quan dự giờ tiếtdạy GV trong tổ và trao đổi kinh nghiệm một cách chân tình theo tinh thần giúp đỡ, học tậplẫn nhau thông qua dự giờ để rút kinh nghiệm cho tiết học sau
Tổ trưởng phải mạnh dạn đề nghị, trao đổi với Ban giám hiệu về những khó khăntrong tổ mình gặp phải, khi những GV muốn thực hiện tiết dạy học vận dụng PPDH tíchcực cần có hỗ trợ CNTT và các PTDH khác mà GV không thể tự tạo được Tổ trưởng phảithường xuyên đôn đốc tất cả các GV trong tổ tham gia thao giảng trường vận dụng PPDHtích cực và viết chuyên đề về những kinh nghiệm trong giảng dạy của GV, nhưng chính Tổtrưởng phải làm tấm gương trong việc thực hiện đổi mới PPDH, phải trực tiếp thao giảngtrường có sử dụng PPDH hiện đại để GV trong tổ thực hiện, học hỏi và rút kinh nghiệmcho bản thân Đồng thời, tổ chức lấy ý kiến về chất lượng giảng dạy của từng GV bộ môn,dựa trên những tiêu chi để đánh giá như: Tích cực đổi mới PPDH, hướng dẫn HS tự họcbước đầu đã có hiệu quả, tinh thần trách nhiệm cao trong chuyên môn GV nào thực hiệntốt thì cần được động viên khen thưởng, vì có như vậy mới tạo ra phong trào lan rộng họctập trong tổ và GV mới có tâm huyết cống hiến với nghề Để vận dụng các PPDH tích cựcvào quá trình dạy học đạt kết quả cao thì ngoài sự nỗ lực của GV và HS thì sự quan tâm,giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện của Nhà trường và Tổ bộ môn là rất cần thiết và quantrọng trong hoạt động dạy học và giáo dục HS
4 Giải pháp đối với Gia đình và Đoàn thể thanh niên trong việc giáo dục học sinh
- Tăng cường vai trò quản lý của gia đình đối với giáo dục tự học của HS
Trang 31Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề giáo dục tự học của học sinh đó
là, gia đình phải thường xuyên khuyên bảo, nhắc nhở, gợi ý, động viên con em mình họctập, không nên trực tiếp chỉ thị, mệnh lệnh đối với các em trong vấn đề tự học, vì ở lứa tuổinày có một trình độ nhận thức nhất định, ý thức tự giáo dục, rèn luyện đang phát triểnmạnh mẽ, nên gia đình phải quan tâm nhắc nhở các em học tập Hơn nữa, gia đình phải tạođiều kiện về mọi mặt chủ yếu là phương tiện, tài liệu và quỹ thời gian học tập ở nhà để các
em học tập Việc giáo dục tự học cho con em mình một cách hợp lý phần lớn phụ thuộcvào tính chất tích cực tự lập của học sinh trong quá trình thực hiện công việc học tập Đồngthời quá trình giáo dục tự học cho con, em mình đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, uốn nắn sửachữa, bổ sung những kinh nghiệm học tập, những quy định rõ ràng chặt chẽ hợp lý thì sẽthúc đẩy các em tự giác học tập tốt
- Tăng cường vai trò của Đoàn thể thanh niên trong việc giáo dục học sinh học tập
Tổ chức Đoàn thể Thanh niên trong các trường học là những thầy, cô giáo trẻ, năng động,nhiệt tình và có trình độ nghiệp vụ chuyên môn phát huy được vai trò, thế mạnh của mìnhtrong việc giáo dục HS học tập như phối hợp chặt chẽ của lãnh đạo nhà trường, hội phụhuynh HS, GV chủ nhiệm…, để có biện pháp giúp đỡ các em HS có học lực yếu, trungbình, hoàn cảnh khó khăn bằng nhiều biện pháp như tìm hiểu sâu hơn về phương pháp họctập của các em, hoàn cảnh gia đình và những tình huống trong cuộc sống mà HS đang gặpkhó khăn là rào cản dẫn đến việc học tập của HS kém hiệu quả Từ những tìm hiểu tâm tưnguyện vọng của các em để có biện pháp tháo gỡ, chẳng hạn đối với HS có điều kiện họctập, nhưng học lực yếu, trung bình thì Đoàn thể Thanh niên sẽ có phương pháp hướng dẫn
HS về phương pháp học, về tài liệu học tập liên quan đến môn học; đối với HS không cóđiều kiện như hoàn cảnh khó khăn thì Đoàn thể Thanh niên phải phối hợp từ phía Lãnh đạonhà trường, Hội phụ huynh HS, GV chủ nhiệm… để giúp đỡ HS về mặt vật chất và tinhthần có thể Đặc biệt là Đoàn thể Thanh niên, GV, học sinh giỏi trong trường tổ chức phụđạo cho các em có kiến thức căn bản để theo kịp với HS trong lớp Những việc làm đó mớiđúng ý nghĩa với lời dạy của Bác Hồ đối với thanh niên: “Thanh niên phải xung phong vàgương mẫu, trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng Thanhniên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong kháng chiến và kiến quốc
Trang 325 Giải pháp đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Để nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD nói chung thì phụ thuộc nhiều vàonhững quyết định, chỉ thị về những hoạt động hướng dẫn, quan điểm chỉ đạo triệt để việcthực hiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực của Sở Giáo dục & Đào tạo
Sở Giáo dục & Đào tạo cần phải tiếp tục xây dựng được đội ngũ GV môn GDCDđúng chuyên ngành và tạo điều kiện cho GV học những bậc cao hơn để nâng cao trình độ.Duy trì tổ chức phong trào thi GV dạy giỏi cấp tỉnh và tổ chức thêm kỳ thi học sinh giỏitỉnh môn GDCD mỗi năm một lần để nhằm nâng cao tầm quan trọng của môn học GDCDnhư những môn học khác Quan điểm chỉ đạo về thực hiện PPDH phát huy tính tích cựcphải được thực hiện liên tục và lâu dài, có như vậy thì việc đổi mới PPDH mới thành công
Sở Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo các trường THPT trong địa bàn quản lý việc tổ chứcthường xuyên các chuyên đề về PPDH tích cực, cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập vàrèn luyện của HS, bồi dưỡng cho GV những kiến thức về chính trị, về kinh tế - xã hội củađịa phương, đường lối chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước để phục vụ cho việcgiảng dạy đạt hiệu quả
Sở Giáo dục & Đào tạo cần phải có đội ngũ GV cốt cán môn GDCD để thườngxuyên phụ trách xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
và kỹ năng vận dụng tốt PPDH tích cực và thực hiện tốt cách kiểm tra đánh giá khi về cáctrường THPT thanh tra, kiểm tra Đồng thời, đưa ra những yêu cầu, quy định cụ thể về cáctrường THPT và phối hợp với lãnh đạo nhà trường để thực hiện cụ thể như việc kiểm trasoạn giáo án, thao giảng, dự giờ, cách ra đề kiểm tra, cách chấm điểm, cho điểm và cần cóchính sách khen thưởng, khích lệ, hỗ trợ thỏa đáng khi GV thực hiện tốt công tác dạy học.Chính sự chỉ đạo đó của Sở Giáo dục & Đào tạo sẽ giúp cho việc dạy học đạt được kết quảngày càng cao hơn
Chương 3:
HIỆU QUẢ THỰC NGHIỆM
1 Thời gian thực nghiệm (áp dụng)
* Bài thực nghiệm: Phần “Công dân với đạo đức” - học phần thứ hai trong chươngtrình GDCD lớp 10 Tuy nhiên, để chọn nội dung kiến thức phù hợp cho hoạt động thực
Trang 33nghiệm và phù hợp với thời gian thực nghiệm, tôi xác định bài thực nghiệm tiết 1 của bài11: Một số phạm trù của đạo đức học và 1 tiết của bài 12: Công dân với Tình yêu, hônnhân và gia đình Kết hợp những nội dung kiến thức ở SGK môn GDCD lớp 10, tôi còntham khảo thêm một số tài liệu có liên quan khác đối với các nội dung giảng dạy
+ Tiết dạy thực nghiệm: Tiết 1 và tiết 2: Xác định thời gian thực nghiệm: Học kỳ 2của năm học 2016 - 2017 (tháng 3 năm 2016)
Xác định lớp thực nghiệm cụ thể: Việc xác định lớp thực nghiệm với những đốitượng học sinh cụ thể góp phần quan trọng cho quá trình thực nghiệm giảng dạy từ việcphân bổ thời gian trong bài giảng, khối lượng kiến thức, phương pháp và phương tiện giảngdạy, cho đến cách thức kiểm tra, đánh giá, …Ở đây tôi xác định lớp thực nghiệm là lớp10A1 và lớp đối chứng là lớp 10A3
2 Thiết kế giáo án thực nghiệm (phụ lục 1)
3 Đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh lần 2 (45 phút)
a Nghĩa vụ b Lương tâm c Nhân phẩm d Hạnh phúc
2 Nghĩa vụ là đối với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
a sự mất mát của cá nhân b nhiệm vụ của cá nhân
c trách nhiệm của cá nhân d hoạt động của cá nhân
3 Lương tâm dù tồn tại ở trạng thái nào cũng đối với cá nhân.
a không có tác dụng b có ý nhĩa tiêu cực c có ảnh hưởng xấu d có ý nhĩa tích cực
4 Lương tâm là làm nên giá trị đạo đức của con người
a Yếu tố quyết định b Yếu tố quan trọng
c nền tảng quan trọng d yếu tố nội tâm
5 Tình yêu chân chính đòi hỏi mỗi người phải biết……….để đạt được nững ước mơ, hoài bão tốt đẹp.
a sống vì nhau và hi sinh cho nhau c giúp đỡ và hợp tác với nhau
b quan tâm đến nhau d suy nghĩ, tính toán
6 Tình yêu sẽ không có………….nếu thiếu đi sự chân thành, tin cậy và tôn trọng từ cả hai phía.